The week that Christ confirmed the covenant represented the period from His baptism, until Christ in the heavenly sanctuary stood up at the stoning of Stephen.

Tuần lễ mà Đấng Christ xác nhận giao ước tượng trưng cho khoảng thời gian từ khi Ngài chịu phép báp-tem cho đến khi Đấng Christ đứng dậy trong đền thánh trên trời, vào lúc Ê-tiên bị ném đá.

But he, being full of the Holy Ghost, looked up stedfastly into heaven, and saw the glory of God, and Jesus standing on the right hand of God, And said, Behold, I see the heavens opened, and the Son of man standing on the right hand of God. Then they cried out with a loud voice, and stopped their ears, and ran upon him with one accord, And cast him out of the city, and stoned him: and the witnesses laid down their clothes at a young man’s feet, whose name was Saul. And they stoned Stephen, calling upon God, and saying, Lord Jesus, receive my spirit. And he kneeled down, and cried with a loud voice, Lord, lay not this sin to their charge. And when he had said this, he fell asleep. Acts 7:55–60.

Nhưng ông, đầy dẫy Đức Thánh Linh, ngước mắt chăm chú lên trời, thấy vinh quang của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Giê-xu đứng bên hữu Đức Chúa Trời, và nói: Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Đức Chúa Trời. Bấy giờ họ kêu lớn tiếng, bịt tai lại, đồng lòng xông vào ông, kéo ông ra ngoài thành và ném đá ông; các chứng nhân thì cởi áo, đặt dưới chân một người thanh niên tên là Sau-lơ. Họ ném đá Ê-tiên; còn ông thì kêu cầu Đức Chúa Trời mà nói: Lạy Chúa Giê-xu, xin nhận linh hồn tôi. Rồi ông quỳ gối, kêu lớn tiếng rằng: Lạy Chúa, xin đừng quy tội này cho họ. Nói xong, ông an giấc. Công Vụ Các Sứ Đồ 7:55-60.

When Stephen was stoned and Michael stood up, the gospel went to the Gentiles, for until that time the gospel was restricted to the Jews.

Khi Stephen bị ném đá và Michael đứng lên, Tin Mừng đã đến với dân ngoại, vì cho đến lúc đó Tin Mừng chỉ dành cho người Do Thái.

“Then, said the angel, ‘He shall confirm the covenant with many for one week [seven years].’ For seven years after the Saviour entered on His ministry, the gospel was to be preached especially to the Jews; for three and a half years by Christ Himself; and afterward by the apostles. ‘In the midst of the week He shall cause the sacrifice and the oblation to cease.’ Daniel 9:27. In the spring of A. D. 31, Christ the true sacrifice was offered on Calvary. Then the veil of the temple was rent in twain, showing that the sacredness and significance of the sacrificial service had departed. The time had come for the earthly sacrifice and oblation to cease.

Bấy giờ, thiên sứ nói: “Ngài sẽ làm vững bền giao ước với nhiều người trong một tuần lễ [bảy năm].” Trong bảy năm sau khi Đấng Cứu Thế khởi đầu chức vụ của Ngài, Tin Lành sẽ được rao giảng đặc biệt cho người Do Thái; ba năm rưỡi bởi chính Đấng Christ; và sau đó bởi các sứ đồ. “Giữa tuần lễ ấy, Ngài sẽ làm cho tế lễ và của lễ dứt đi.” Daniel 9:27. Vào mùa xuân năm 31 sau Công Nguyên, Đấng Christ, của lễ thật, đã được dâng trên đồi Can-vê. Bấy giờ màn trong đền thờ bị xé làm đôi, cho thấy rằng tính thiêng liêng và ý nghĩa của nghi lễ tế tự đã qua đi. Thời điểm đã đến để tế lễ và của lễ trần gian chấm dứt.

“The one week—seven years—ended in A. D. 34. Then by the stoning of Stephen the Jews finally sealed their rejection of the gospel; the disciples who were scattered abroad by persecution ‘went everywhere preaching the word’ (Acts 8:4); and shortly after, Saul the persecutor was converted, and became Paul, the apostle to the Gentiles.” The Desire of Ages, 233.

Tuần lễ ấy—bảy năm—kết thúc vào năm 34 SCN. Sau đó, qua việc ném đá Ê-tiên, người Do Thái cuối cùng đã dứt khoát khước từ Tin Lành; các môn đồ bị tản lạc vì sự bắt bớ 'đi khắp nơi rao giảng đạo' (Công Vụ 8:4); và chẳng bao lâu sau, Sau-lơ, kẻ bắt bớ, đã hoán cải và trở thành Phao-lô, sứ đồ cho các dân ngoại. The Desire of Ages, 233.

In the year 34, the sacred week (twenty-five hundred and twenty days), ended and ancient Israel was divorced from God, their probation had fully closed. At that point the retribution against ancient Israel for the rejection of the covenant, and for the crucifixion of the Son of God was subject to God’s executive judgment. God in His longsuffering mercy deferred the destruction of Jerusalem until the siege and destruction in 66 AD through to 70 AD.

Năm 34, tuần lễ thánh (hai nghìn năm trăm hai mươi ngày) đã kết thúc, và Israel cổ đại đã bị đoạn tuyệt với Đức Chúa Trời; thời kỳ ân huệ của họ đã hoàn toàn khép lại. Khi ấy, sự báo ứng đối với Israel cổ đại vì sự khước từ giao ước và vì việc đóng đinh Con Đức Chúa Trời nằm dưới sự phán xét thi hành của Đức Chúa Trời. Trong lòng nhân từ nhịn nhục của Ngài, Đức Chúa Trời đã hoãn lại việc hủy diệt Giê-ru-sa-lem cho đến cuộc vây hãm và tàn phá từ năm 66 CN đến năm 70 CN.

The verses in Daniel chapter nine, that identified the week Christ confirmed the covenant, also identifies that pagan Rome (the prince that shall come) would destroy the city and sanctuary, but God in His longsuffering mercy, allowed the children of ancient Israel time to hear the gospel and make a decision as their fathers had done during the seven year period of Christ’s and the disciples’ ministry among them.

Những câu trong sách Đa-ni-ên chương chín, vốn xác định tuần lễ khi Đấng Christ xác nhận giao ước, cũng cho biết rằng La Mã ngoại giáo (vị hoàng tử sẽ đến) sẽ phá hủy thành và đền thánh; nhưng Đức Chúa Trời, trong lòng thương xót nhẫn nại của Ngài, đã cho con cái Israel xưa có thời gian để nghe Tin Lành và đưa ra quyết định trong thời kỳ bảy năm chức vụ của Đấng Christ và các môn đồ ở giữa họ, như cha ông họ đã làm.

“For nearly forty years after the doom of Jerusalem had been pronounced by Christ Himself, the Lord delayed His judgments upon the city and the nation. Wonderful was the long-suffering of God toward the rejectors of His gospel and the murderers of His Son. The parable of the unfruitful tree represented God’s dealings with the Jewish nation. The command had gone forth, ‘Cut it down; why cumbereth it the ground?’ (Luke 13:7) but divine mercy had spared it yet a little longer. There were still many among the Jews who were ignorant of the character and the work of Christ. And the children had not enjoyed the opportunities or received the light which their parents had spurned. Through the preaching of the apostles and their associates, God would cause light to shine upon them; they would be permitted to see how prophecy had been fulfilled, not only in the birth and life of Christ, but in His death and resurrection. The children were not condemned for the sins of the parents; but when, with a knowledge of all the light given to their parents, the children rejected the additional light granted to themselves, they became partakers of the parents’ sins, and filled up the measure of their iniquity.

Suốt gần bốn mươi năm sau khi sự diệt vong của Giê-ru-sa-lem đã được chính Đấng Christ tuyên bố, Chúa đã trì hoãn các sự phán xét của Ngài trên thành và trên dân tộc. Lạ lùng thay sự nhịn nhục lâu dài của Đức Chúa Trời đối với những kẻ khước từ Tin Lành của Ngài và những kẻ sát hại Con Ngài. Dụ ngôn về cây không sinh trái minh họa cách Đức Chúa Trời đối đãi với dân Do Thái. Mệnh lệnh đã được ban ra: 'Hãy chặt nó đi; nó choán đất làm chi?' (Lu-ca 13:7), nhưng lòng thương xót của Đức Chúa Trời đã còn dung tha nó thêm một thời gian nữa. Vẫn còn nhiều người trong dân Do Thái chưa hiểu biết về bản chất và công việc của Đấng Christ. Và con cái họ chưa hưởng được những cơ hội hay nhận lấy ánh sáng mà cha mẹ họ đã khước từ. Qua sự rao giảng của các sứ đồ và các cộng sự của họ, Đức Chúa Trời sẽ khiến ánh sáng soi trên họ; họ sẽ được thấy những lời tiên tri đã được ứng nghiệm như thế nào, không chỉ trong sự giáng sinh và đời sống của Đấng Christ, mà còn trong sự chết và sự sống lại của Ngài. Con cái không bị kết án vì tội lỗi của cha mẹ; nhưng khi, với sự hiểu biết về tất cả ánh sáng đã ban cho cha mẹ mình, con cái lại khước từ ánh sáng thêm nữa được ban cho chính họ, thì họ trở nên đồng phạm với tội lỗi của cha mẹ và làm cho tội ác của họ đầy trọn.

“The long-suffering of God toward Jerusalem only confirmed the Jews in their stubborn impenitence. In their hatred and cruelty toward the disciples of Jesus they rejected the last offer of mercy. Then God withdrew His protection from them and removed His restraining power from Satan and his angels, and the nation was left to the control of the leader she had chosen. Her children had spurned the grace of Christ, which would have enabled them to subdue their evil impulses, and now these became the conquerors. Satan aroused the fiercest and most debased passions of the soul. Men did not reason; they were beyond reason—controlled by impulse and blind rage. They became satanic in their cruelty. In the family and in the nation, among the highest and the lowest classes alike, there was suspicion, envy, hatred, strife, rebellion, murder. There was no safety anywhere. Friends and kindred betrayed one another. Parents slew their children, and children their parents. The rulers of the people had no power to rule themselves. Uncontrolled passions made them tyrants. The Jews had accepted false testimony to condemn the innocent Son of God. Now false accusations made their own lives uncertain. By their actions they had long been saying: ‘Cause the Holy One of Israel to cease from before us.’ Isaiah 30:11. Now their desire was granted. The fear of God no longer disturbed them. Satan was at the head of the nation, and the highest civil and religious authorities were under his sway.” The Great Controversy, 27, 28.

Sự nhẫn nại lâu dài của Đức Chúa Trời đối với Giê-ru-sa-lem chỉ càng củng cố người Do Thái trong sự không chịu ăn năn ngoan cố của họ. Trong lòng thù hận và tàn nhẫn đối với các môn đồ của Chúa Giê-xu, họ đã khước từ lời đề nghị thương xót cuối cùng. Bấy giờ Đức Chúa Trời rút lại sự bảo vệ của Ngài khỏi họ và cất đi quyền năng kiềm chế của Ngài đối với Sa-tan và các thiên sứ của hắn, và dân tộc ấy bị bỏ mặc dưới sự kiểm soát của vị lãnh đạo mà họ đã chọn. Con cái của họ đã khinh dể ân điển của Đấng Christ, vốn có thể giúp họ chế ngự những xung động gian ác của mình, và nay chính những điều ấy đã trở thành kẻ chiến thắng. Sa-tan khơi dậy những dục vọng dữ dội và đồi bại nhất của linh hồn. Con người không còn lý luận; họ vượt khỏi lý trí—bị điều khiển bởi bốc đồng và cơn thịnh nộ mù quáng. Trong sự tàn ác, họ trở nên mang tính Sa-tan. Trong gia đình và trong quốc gia, giữa các tầng lớp cao nhất cũng như thấp nhất, đều có sự nghi kỵ, ghen tị, thù ghét, tranh chấp, phản loạn, giết người. Không nơi nào còn an toàn. Bạn bè và bà con thân thích phản bội lẫn nhau. Cha mẹ giết con, và con cái giết cha mẹ. Những người cai trị dân chúng không có quyền lực để cai trị chính mình. Những dục vọng không được kiềm chế biến họ thành những kẻ bạo ngược. Người Do Thái đã chấp nhận lời chứng gian để kết án Con Đức Chúa Trời vô tội. Giờ đây những lời cáo buộc dối trá khiến chính mạng sống họ trở nên bấp bênh. Bằng hành động của mình, từ lâu họ đã nói: “Hãy khiến Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên lìa khỏi chúng ta.” Ê-sai 30:11. Bấy giờ điều họ mong muốn đã được cho phép. Sự kính sợ Đức Chúa Trời không còn làm họ bận lòng nữa. Sa-tan đứng đầu dân tộc ấy, và các nhà cầm quyền dân sự và tôn giáo cao nhất đều ở dưới quyền chi phối của hắn. Cuộc Đại Tranh Chiến, 27, 28.

As the Messenger of the Covenant, Christ first dealt exclusively with the Jews. In the year 34, at the stoning of Stephen, the gospel then went to the Gentiles, and the time of God’s executive judgment arrived, though God in His mercy deferred that point in time for about forty years.

Là Sứ giả của Giao ước, Đấng Christ trước hết chỉ đến với người Do Thái. Vào năm 34, khi Ê-tiên bị ném đá, Tin Lành sau đó được rao truyền cho dân ngoại, và thời điểm của sự phán xét thi hành của Đức Chúa Trời đã đến, tuy nhiên vì lòng thương xót, Ngài đã hoãn thời điểm ấy lại khoảng bốn mươi năm.

As the Messenger of the Covenant, in fulfillment of Malachi chapter three, Christ twice cleansed the temple. He did so in a period that was especially set apart for the covenant people who were then being passed by and divorced, and also for those who would then become the new chosen people. When that period of time concluded, the time of God’s executive judgment began. John the Baptist was the messenger who prepared the way for Christ’s work of raising up a new chosen people that He would enter into covenant with.

Với tư cách là Sứ giả của Giao ước, ứng nghiệm Ma-la-chi chương ba, Đấng Christ đã hai lần thanh tẩy đền thờ. Ngài đã làm điều đó trong một thời kỳ được biệt riêng đặc biệt cho dân giao ước—những người khi ấy đang bị bỏ qua và bị ly hôn—cũng như cho những người rồi sẽ trở thành dân được chọn mới. Khi thời kỳ ấy kết thúc, thời điểm phán xét thi hành của Đức Chúa Trời bắt đầu. Giăng Báp-tít là sứ giả dọn đường cho công việc của Đấng Christ trong việc dựng nên một dân được chọn mới mà Ngài sẽ lập giao ước với họ.

The two temple cleansings were object lessons identifying Christ’s work of cleansing the soul temple. When the Messenger of the Covenant suddenly arrives in Malachi chapter three, He purifies and also purges the sons of Levi, for the purpose of creating an offering, as in days of old.

Hai lần thanh tẩy Đền Thờ là những bài học minh họa cho thấy công việc của Đấng Christ trong việc thanh tẩy đền thờ của linh hồn. Khi Sứ giả của Giao ước thình lình đến trong Ma-la-chi đoạn ba, Ngài thanh luyện và cũng tẩy sạch các con cái Lê-vi, để họ dâng của lễ như thuở xưa.

But who may abide the day of his coming? and who shall stand when he appeareth? for he is like a refiner’s fire, and like fullers’ soap: And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years. Malachi 3:2–3.

Nhưng ai có thể chịu nổi ngày Ngài đến? Ai sẽ đứng vững khi Ngài hiện ra? Vì Ngài như lửa của thợ luyện, và như thuốc tẩy của thợ giặt. Ngài sẽ ngồi như thợ luyện và thanh luyện bạc; Ngài sẽ thanh tẩy các con trai của Lê-vi, và luyện sạch họ như vàng và bạc, để họ dâng lên Chúa một của lễ trong sự công chính. Bấy giờ của lễ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Chúa, như trong những ngày xưa, như trong các năm trước kia. Ma-la-chi 3:2-3.

Malachi chapter three, and the two temple cleansings represent a perfection of the faith of the sons of Levi that is accomplished by the Messenger of the Covenant. The perfection of the faith of the sons of Levi is represented by the purification of the gold.

Ma-la-chi chương ba và hai lần thanh tẩy Đền Thờ biểu trưng cho sự kiện toàn đức tin của con cái Lê-vi do Sứ giả của Giao ước thực hiện. Sự kiện toàn đức tin của con cái Lê-vi được biểu trưng bằng sự tinh luyện vàng.

“There must be, with all who have any influence in the sanitarium, a conforming to God’s will, a humiliation of self, an opening of the heart to the precious influence of the Spirit of Christ. The gold tried in the fire represents love and faith. Many are nearly destitute of love. Self-sufficiency blinds their eyes to their great need. There is a positive necessity for a daily conversion to God, a new, deep, and daily experience in the religious life.” Testimonies, volume 4, 558.

"Đối với tất cả những ai có bất kỳ ảnh hưởng nào trong dưỡng viện, cần có sự thuận theo ý muốn của Đức Chúa Trời, sự tự hạ mình, sự mở lòng ra trước ảnh hưởng quý báu của Thánh Linh của Đấng Christ. Vàng đã được thử luyện trong lửa tượng trưng cho tình yêu thương và đức tin. Nhiều người hầu như thiếu vắng tình yêu thương. Sự tự cậy mình làm mù mắt họ đối với nhu cầu lớn lao của họ. Có một nhu cầu tất yếu là mỗi ngày quay trở lại với Đức Chúa Trời, có một kinh nghiệm mới mẻ, sâu sắc và hằng ngày trong đời sống thuộc linh." Testimonies, tập 4, 558.

Malachi chapter three, and the two temple cleansings represent a perfection of the understanding of the increase of knowledge within the wise, who are the sons of Levi, that is accomplished by the Messenger of the Covenant. The perfection of the sons of Levi’s represented by the purification of the silver.

Chương ba sách Ma-la-chi và hai lần thanh tẩy đền thờ biểu thị sự hoàn hảo trong nhận thức về sự gia tăng tri thức nơi những người khôn ngoan, là con cái Lê-vi, điều này được Sứ giả của Giao ước thực hiện. Sự hoàn hảo của con cái Lê-vi được biểu trưng bằng sự tinh luyện bạc.

The words of the Lord are pure words: as silver tried in a furnace of earth, purified seven times. Psalm 12:6.

Lời của Chúa là lời tinh sạch: như bạc được thử trong lò đất, được tinh luyện bảy lần. Thi Thiên 12:6.

The Messenger of the Covenant was to purify the sons of Levi as silver and gold. The Word of God is what purifies, for to be purified is to be justified and sanctified.

Sứ giả của Giao Ước được định sẽ tinh luyện con cái Lê-vi như bạc và vàng. Chính Lời Đức Chúa Trời thanh tẩy, vì được thanh tẩy tức là được xưng công chính và được thánh hóa.

Sanctify them through thy truth: thy word is truth. John 17:17.

Xin Cha thánh hóa họ trong lẽ thật; lời Cha là lẽ thật. Giăng 17:17.

John the Baptist was the messenger that prepared the way for the Messenger of the Covenant in the first fulfillment of Malachi chapter three, and his message in that regard was fourfold in nature. His work included the identification of the work of purification that was to be accomplished by the Messenger of the Covenant, and that the work of purification accomplished was represented as an act of sweeping a threshing-floor. He identified that the former chosen people were then in the process of being passed by. He also presented the Laodicean message to God’s people, thus showing them their sins and the sins of their fathers. He placed all these realities in the context of the “wrath to come.” The work of the messenger who prepared the way, represented a work by one who had never received an education in the educational system of the people who were being passed by.

Giăng Báp-tít là vị sứ giả dọn đường cho Sứ giả của Giao Ước trong sự ứng nghiệm đầu tiên của sách Ma-la-chi đoạn ba, và sứ điệp của ông về điều đó gồm bốn khía cạnh. Công việc của ông bao gồm việc chỉ ra công cuộc thanh tẩy sẽ được Sứ giả của Giao Ước thực hiện, và công cuộc thanh tẩy ấy được mô tả như hành động quét sạch sân đập lúa. Ông chỉ ra rằng dân được chọn trước đây khi ấy đang trong tiến trình bị bỏ qua. Ông cũng trình bày sứ điệp Lao-đi-xê cho dân của Đức Chúa Trời, qua đó chỉ ra tội lỗi của họ và tội lỗi của cha ông họ. Ông đặt tất cả những thực tại này trong bối cảnh của "cơn thịnh nộ sắp đến." Công việc của sứ giả dọn đường là công việc do một người chưa từng được đào tạo trong hệ thống giáo dục của dân đang bị bỏ qua thực hiện.

“In John the Baptist the Lord raised up for Himself a messenger to prepare the way of the Lord. He was to bear to the world an unflinching testimony in reproving and denouncing sin. Luke, in announcing his mission and work, says, ‘And he shall go before Him in the spirit and power of Elias, to turn the hearts of the fathers to the children, and the disobedient to the wisdom of the just; to make ready a people prepared for the Lord’ (Luke 1:17).

Trong Giăng Báp-tít, Chúa đã dấy lên cho chính Ngài một sứ giả để dọn đường cho Chúa. Ông phải mang đến cho thế gian một lời chứng không khoan nhượng trong việc quở trách và lên án tội lỗi. Lu-ca, khi công bố sứ mạng và công việc của ông, nói rằng: "Người sẽ đi trước Ngài trong tâm linh và quyền năng của Ê-li, để khiến lòng cha quay về cùng con cái, và những kẻ không vâng phục quay về sự khôn ngoan của người công chính; để sắm sẵn cho Chúa một dân đã được chuẩn bị" (Lu-ca 1:17).

“Many of the Pharisees and Sadducees came to the baptism of John, and addressing these, he said, ‘O generation of vipers, who hath warned you to flee from the wrath to come? Bring forth therefore fruits meet for repentance: and think not to say within yourselves, We have Abraham to our father: for I say unto you, that God is able of these stones to raise up children unto Abraham. And now also the ax is laid unto the root of the trees: therefore every tree which bringeth not forth good fruit is hewn down, and cast into the fire. I indeed baptize you with water unto repentance: but He that cometh after me is mightier than I, whose shoes I am not worthy to bear: He shall baptize you with the Holy Ghost, and with fire: whose fan is in His hand, and He will throughly purge His floor, and gather His wheat into the garner; but He will burn up the chaff with unquenchable fire’ (Matthew 3:7–12).

Nhiều người Pha-ri-sêu và Sa-đu-xê đến chịu phép báp-têm của Giăng, và ông nói với họ: “Hỡi dòng dõi rắn độc, ai đã cảnh báo các ngươi phải trốn khỏi cơn thịnh nộ sắp đến? Vậy hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nhủ rằng: ‘Chúng ta có Áp-ra-ham là tổ phụ,’ vì ta nói cho các ngươi hay: Đức Chúa Trời có thể từ những hòn đá này dựng nên con cháu cho Áp-ra-ham. Hiện nay cái rìu cũng đã đặt kề gốc cây; vậy hễ cây nào không kết quả tốt đều bị chặt xuống và quăng vào lửa. Phần ta, ta làm báp-têm cho các ngươi bằng nước để ăn năn; nhưng Đấng đến sau ta thì quyền năng hơn ta, ta không đáng xách giày cho Ngài; chính Ngài sẽ làm báp-têm cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa. Cái nia ở trong tay Ngài; Ngài sẽ dọn sạch sân đạp lúa của Ngài, và thu lúa của Ngài vào kho; còn rơm rạ thì Ngài sẽ đốt bằng lửa chẳng hề tắt” (Ma-thi-ơ 3:7-12).

“The voice of John was lifted up like a trumpet. His commission was, ‘Shew My people their transgression, and the house of Jacob their sins’ (Isaiah 58:1). He had obtained no human scholarship. God and nature had been his teachers. But one was needed to prepare the way before Christ who was bold enough to make his voice heard like the prophets of old, summoning the degenerate nation to repentance.” Selected Messages, book 2, 147, 148.

Tiếng nói của Giăng vang lên như tiếng kèn. Sứ mạng của ông là: “Hãy chỉ cho dân Ta biết sự vi phạm của họ, và cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi của họ” (Ê-sai 58:1). Ông không có nền học vấn của loài người. Đức Chúa Trời và thiên nhiên đã là thầy dạy của ông. Nhưng cần có một người để dọn đường cho Đấng Christ, người đủ can đảm để cất tiếng như các tiên tri thuở xưa, kêu gọi dân tộc đã bại hoại ăn năn. Selected Messages, quyển 2, trang 147, 148.

William Miller was the second messenger that prepared the way for the Messenger of the Covenant, and Miller’s person and work had been typified by John the Baptist.

William Miller là sứ giả thứ hai dọn đường cho Sứ giả của Giao ước, và con người cùng công việc của Miller đã được Gioan Tẩy Giả báo trước qua hình bóng.

“Thousands were led to embrace the truth preached by William Miller, and servants of God were raised up in the spirit and power of Elijah to proclaim the message. Like John, the forerunner of Jesus, those who preached this solemn message felt compelled to lay the ax at the root of the tree, and call upon men to bring forth fruits meet for repentance.” Early Writings, 233.

“Hàng ngàn người đã được dẫn dắt tiếp nhận lẽ thật do William Miller rao giảng, và những tôi tớ của Đức Chúa Trời đã được dấy lên trong tinh thần và quyền năng của Ê-li để công bố sứ điệp. Như Giăng, vị tiền hô của Đức Chúa Giê-su, những người rao giảng sứ điệp trọng thể này cảm thấy buộc phải kề rìu vào gốc cây và kêu gọi người ta sinh bông trái xứng đáng với sự ăn năn.” Early Writings, 233.

The quibbling Jews in the time of Christ had been led to trust in a false message of the Messiah. “Messiah” is the Hebrew word for the Greek word “Christ” which means “anointed”.

Những người Do Thái ưa tranh cãi vào thời của Đấng Christ đã bị dẫn dắt tin vào một thông điệp sai lạc về Đấng Mêsia. “Messiah” là từ tiếng Do Thái tương ứng với từ tiếng Hy Lạp “Christ”, nghĩa là “được xức dầu”.

The word which God sent unto the children of Israel, preaching peace by Jesus Christ: (he is Lord of all:) That word, I say, ye know, which was published throughout all Judaea, and began from Galilee, after the baptism which John preached; How God anointed Jesus of Nazareth with the Holy Ghost and with power: who went about doing good, and healing all that were oppressed of the devil; for God was with him. Acts 10:36–38.

Lời mà Đức Chúa Trời đã sai đến cho con cái Y-sơ-ra-ên, rao giảng sự bình an bởi Đức Chúa Jêsus Christ (Ngài là Chúa của hết thảy): Lời ấy, tôi nói, anh em đều biết, đã được rao truyền khắp cả xứ Giu-đê và khởi từ Ga-li-lê, sau phép báp-tem mà Giăng đã giảng; rằng Đức Chúa Trời đã xức dầu Đức Chúa Jêsus người Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền năng; Ngài đi khắp nơi làm điều lành và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ áp bức, vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài. Công vụ 10:36-38.

Both “messiah” and “Christ” mean “the anointed one”. Christ was anointed at His baptism, so technically He was not the Messiah or the Christ until His baptism. His baptism prophetically aligns with the descent of the angel in Revelation chapter ten, that descended on August 11, 1840, and it also aligns with the descent of the mighty angel of Revelation chapter eighteen, who descended on September 11, 2001. The three prophetic waymarks identify the manifestation of the Holy Spirit in the latter rain.

Cả “Đấng Mê-si-a” và “Đấng Christ” đều có nghĩa là “Đấng được xức dầu”. Đấng Christ đã được xức dầu khi Ngài chịu báp-têm, vì vậy xét theo nghĩa chặt chẽ, Ngài chưa phải là Đấng Mê-si-a hay Đấng Christ cho đến khi Ngài chịu báp-têm. Sự báp-têm của Ngài, theo ý nghĩa tiên tri, tương ứng với sự giáng xuống của thiên sứ trong Khải Huyền chương mười, đã giáng xuống vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, và cũng tương ứng với sự giáng xuống của thiên sứ quyền năng trong Khải Huyền chương mười tám, đấng đã giáng xuống vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Ba dấu mốc tiên tri ấy xác định sự bày tỏ của Đức Thánh Linh trong cơn mưa muộn.

The quibbling Jews held to a misconception, a false prophetic message that the Messiah would bring about a literal earthly kingdom where the nation of Israel would govern the world. It was a false message that promised “peace and prosperity”.

Những người Do Thái hay bắt bẻ đã giữ lấy một quan niệm sai lầm, một sứ điệp tiên tri giả dối rằng Đấng Mêsia sẽ thiết lập một vương quốc trần gian hữu hình, nơi quốc gia Israel sẽ cai trị thế giới. Đó là một sứ điệp giả dối hứa hẹn "hòa bình và thịnh vượng".

William Miller’s message had two major elements. The first was the application of the time prophecies that identified the cleansing of the sanctuary, and the second was his rejection of the Catholic interpretation of the thousand-year millennium that the Protestants were prone to believe. That false view of the millennium identified as a thousand years of peace and prosperity, had been represented by the false view of the Messiah’s kingdom that was held by the quibbling Jews.

Thông điệp của William Miller có hai yếu tố chính. Thứ nhất là việc áp dụng các lời tiên tri về thời gian để xác định sự thanh tẩy đền thánh; thứ hai là ông bác bỏ cách giải thích của Công giáo về thiên niên kỷ một nghìn năm, điều mà người Tin Lành vốn dễ tin theo. Quan niệm sai lầm ấy về thiên niên kỷ — coi đó là một nghìn năm hòa bình và thịnh vượng — vốn đã được thể hiện qua quan niệm sai lầm về vương quốc của Đấng Mêsia mà những người Do Thái hay bắt bẻ từng nắm giữ.

Those two witnesses identify a counterfeit latter rain message promising “peace and prosperity” in the third and final fulfillment of the history of the messenger who prepares for the Messenger of the Covenant to suddenly come to His temple. That false latter rain message is identified as a “peace and safety” message, in contrast to the message of John the Baptist who identified that “every tree which bringeth not forth good fruit is hewn down, and cast into the fire,” when “the wrath to come” arrives. It was also represented by Miller’s identification that there would be no thousand years of peace, as Catholicism teaches, for when the Lord returns, He will destroy the earth with the brightness of His coming.

Hai chứng nhân ấy xác định một sứ điệp mưa muộn giả mạo hứa hẹn “hòa bình và thịnh vượng” trong lần ứng nghiệm thứ ba và cuối cùng của lịch sử về người sứ giả dọn đường để Sứ Giả của Giao Ước bất thình lình đến đền thờ của Ngài. Sứ điệp mưa muộn giả dối ấy được nhận diện là một sứ điệp “bình an và yên ổn”, trái ngược với sứ điệp của Giăng Báp-tít, người đã nói rằng “mọi cây không sinh trái tốt đều bị chặt và quăng vào lửa” khi “cơn thịnh nộ sắp đến” giáng xuống. Điều đó cũng được minh họa bằng nhận định của Miller rằng sẽ không có một ngàn năm hòa bình như Công giáo dạy, vì khi Chúa trở lại, Ngài sẽ hủy diệt trái đất bằng sự rực rỡ khi Ngài đến.

And to you who are troubled rest with us, when the Lord Jesus shall be revealed from heaven with his mighty angels, In flaming fire taking vengeance on them that know not God, and that obey not the gospel of our Lord Jesus Christ: Who shall be punished with everlasting destruction from the presence of the Lord, and from the glory of his power. 2 Thessalonians 1:7–9.

Và còn anh em là những người đang chịu hoạn nạn, sẽ được yên nghỉ với chúng tôi, khi Chúa Giê-xu được tỏ ra từ trời cùng với các thiên sứ quyền năng của Ngài, trong lửa cháy bừng, giáng sự báo trả trên những kẻ không biết Đức Chúa Trời và không vâng theo Tin Lành của Chúa chúng ta là Đức Chúa Giê-xu Christ; những kẻ ấy sẽ bị hình phạt bằng sự hủy diệt đời đời, xa cách mặt Chúa và khỏi vinh quang quyền năng của Ngài. 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:7-9.

The first two messengers who prepared for the Messenger of the Covenant to enter into covenant with a new chosen people, demonstrate that a false “peace and safety” latter rain message, which was formulated in the third generation of Laodicean Adventism, has been designed by Satan to prevent Laodicean Adventism in the fourth generation from recognizing the role of Islam, as represented in the third Woe.

Hai sứ giả đầu tiên, những người đã chuẩn bị cho Sứ giả của giao ước lập giao ước với một dân được chọn mới, chứng tỏ rằng một sứ điệp "mưa cuối mùa" giả mạo về "bình an và yên ổn", vốn được hình thành trong thế hệ thứ ba của Phục Lâm Laodicê, đã do Sa-tan bày ra để ngăn Phục Lâm Laodicê ở thế hệ thứ tư nhận ra vai trò của Hồi giáo, như được thể hiện trong Tai họa thứ ba.

In the purification process that is accomplished for those represented by the sons of Levi, the one who comes after John the Baptist was to thoroughly sweep and “purge” His floor, with the fan that is in His hand. That work is accomplished by His Word.

Trong tiến trình thanh tẩy được thực hiện cho những người được con cháu Lê-vi đại diện, Đấng đến sau Gioan Tẩy Giả sẽ quét dọn kỹ lưỡng và “thanh tẩy” sàn của Ngài, bằng chiếc quạt ở trong tay Ngài. Công việc ấy được thực hiện bởi Lời của Ngài.

“‘Whose fan is in His hand, and He will throughly purge His floor, and gather His wheat into the garner.’ Matthew 3:12. This was one of the times of purging. By the words of truth, the chaff was being separated from the wheat. Because they were too vain and self-righteous to receive reproof, too world-loving to accept a life of humility, many turned away from Jesus. Many are still doing the same thing. Souls are tested today as were those disciples in the synagogue at Capernaum. When truth is brought home to the heart, they see that their lives are not in accordance with the will of God. They see the need of an entire change in themselves; but they are not willing to take up the self-denying work. Therefore they are angry when their sins are discovered. They go away offended, even as the disciples left Jesus, murmuring, ‘This is an hard saying; who can hear it?’” The Desire of Ages, 392.

"'Cái nia ở trong tay Ngài, Ngài sẽ dọn sạch sân lúa Ngài, và thu lúa mình vào lẫm.' Ma-thi-ơ 3:12. Đây là một trong những thời kỳ sàng sảy. Qua lời của lẽ thật, trấu đang được tách khỏi lúa. Vì họ quá phù phiếm và tự cho mình là công chính để nhận lời quở trách, quá yêu thế gian để chấp nhận một đời sống khiêm nhường, nhiều người đã quay lưng khỏi Chúa Giê-su. Nhiều người vẫn đang làm như thế. Các linh hồn hôm nay cũng được thử thách như các môn đồ trong hội đường tại Capernaum. Khi lẽ thật chạm đến tấm lòng, họ thấy đời sống mình không phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ thấy cần có một sự thay đổi toàn diện nơi chính mình; nhưng họ không sẵn lòng chấp nhận đời sống tự bỏ mình. Bởi vậy họ giận dữ khi tội lỗi mình bị phơi bày. Họ phật ý bỏ đi, cũng như các môn đồ đã lìa bỏ Chúa Giê-su, lẩm bẩm: 'Lời này thật khó; ai nghe được?'" Khát vọng của các thời đại, 392.

The message of the latter rain is the “debate” of Habakkuk chapter two, and it is the words of truth, that separate the chaff from the wheat. That separation is the purging accomplished by the Messenger of the Covenant. In Millerite history, the message of Daniel chapter eight, verse fourteen, produced a purging when it first failed and brought about the tarrying time of Habakkuk chapter two and the parable of the ten virgins in Matthew chapter twenty-five. When the message of the Midnight Cry was ultimately fulfilled on October 22, 1844, it produced an even greater purging. Then it was that the Messenger of the Covenant suddenly arrived and began the final purging and purification. The movement that had passed through the first two of three purifications and purging’s, failed the third and was sent to the wilderness of Laodicea in 1863.

Sứ điệp của mưa muộn là “cuộc tranh luận” của Ha-ba-cúc chương hai, và đó là những lời của lẽ thật, tách trấu khỏi lúa mì. Sự phân rẽ ấy là cuộc gạn lọc do Sứ giả của Giao ước thực hiện. Trong lịch sử Millerite, sứ điệp của Đa-ni-ên chương tám, câu mười bốn, đã tạo ra một cuộc gạn lọc khi ban đầu nó thất bại và đưa đến thời kỳ trì hoãn của Ha-ba-cúc chương hai và dụ ngôn mười trinh nữ trong Ma-thi-ơ chương hai mươi lăm. Khi sứ điệp của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm được ứng nghiệm trọn vẹn vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, nó đã tạo ra một cuộc gạn lọc còn lớn hơn nữa. Bấy giờ Sứ giả của Giao ước bỗng đến và khởi sự cuộc gạn lọc và thanh tẩy sau cùng. Phong trào ấy, sau khi đã trải qua hai trong ba cuộc thanh tẩy và gạn lọc, đã thất bại ở lần thứ ba và bị đưa vào đồng vắng của Lao-đi-xê vào năm 1863.

In the Millerite history the Protestants were first purged by the words of truth, thereafter the movement of the first angel was purged at the arrival of the third testing message. But those who had been the builders of the Millerite temple during the forty-six years from 1798 unto 1844, failed the third test, which arrived on October 22, 1844, though they perfectly fulfilled the parable of the ten virgins.

Trong lịch sử của phong trào Millerite, những người Tin Lành trước hết đã được thanh lọc bởi lời chân lý; sau đó, phong trào của thiên sứ thứ nhất được thanh lọc khi sứ điệp thử nghiệm thứ ba đến. Nhưng những người đã xây dựng đền thờ Millerite suốt bốn mươi sáu năm từ 1798 đến 1844 lại thất bại trong kỳ thử nghiệm thứ ba, vốn đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, mặc dù họ đã ứng nghiệm trọn vẹn dụ ngôn mười trinh nữ.

Many who went forth to meet the Bridegroom under the messages of the first and second angels, refused the third, the last testing message to be given to the world, and a similar position will be taken when the last call is made.

Nhiều người đã đi ra đón Chàng Rể theo các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai, đã khước từ sứ điệp thứ ba, sứ điệp thử thách cuối cùng được ban cho thế gian; và khi lời kêu gọi cuối cùng được đưa ra, người ta cũng sẽ có thái độ tương tự.

Every specification of this parable should be carefully studied. We are represented either by the wise or by the foolish virgins.” Review and Herald, October 31, 1899.

"Mọi chi tiết của dụ ngôn này nên được nghiên cứu cẩn thận. Chúng ta được tượng trưng hoặc bởi các trinh nữ khôn ngoan, hoặc bởi các trinh nữ dại." Review and Herald, ngày 31 tháng 10, 1899.

The prophetic history that began at the arrival of the third angel on October 22, 1844, was a failure, and it ended with the rebellion of 1863. By 1850 Sister White penned the following message.

Lịch sử tiên tri bắt đầu từ sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 đã thất bại, và kết thúc với cuộc nổi loạn năm 1863. Đến năm 1850, Bà White đã viết thông điệp sau đây.

“The Lord gave me a view, January 26, which I will relate. I saw that some of the people of God were stupid and dormant; and were but half awake, and did not realize the time we were now living in; and that the ‘man’ with the ‘dirt-brush’ had entered, and that some were in danger of being swept away. I begged of Jesus to save them, to spare them a little longer, and let them see their awful danger, that they might get ready before it should be forever too late. The angel said, ‘Destruction is coming like a mighty whirlwind.’ I begged of the angel to pity and to save those who loved this world, and were attached to their possessions, and were not willing to cut loose from them, and sacrifice them to speed the messengers on their way to feed the hungry sheep, who were perishing for want of spiritual food.

Chúa đã cho tôi một khải tượng vào ngày 26 tháng Một, mà tôi sẽ thuật lại. Tôi thấy rằng một số dân sự của Đức Chúa Trời ngu dại và mê ngủ; chỉ tỉnh một nửa, và không nhận ra thời kỳ chúng ta hiện đang sống; và rằng 'người đàn ông' với 'cái chổi quét bụi' đã bước vào, và một số người đang có nguy cơ bị quét đi. Tôi nài xin Chúa Giê-su cứu họ, dung tha họ thêm một thời gian nữa, và cho họ thấy sự nguy hiểm khủng khiếp của mình, để họ kịp sẵn sàng trước khi sẽ vĩnh viễn quá muộn. Thiên sứ nói: 'Sự hủy diệt đang đến như một trận cuồng phong mạnh mẽ.' Tôi nài xin thiên sứ thương xót và cứu những người yêu mến thế gian này, còn vương vấn với tài sản của họ, không sẵn lòng cắt đứt khỏi chúng, và dâng hiến chúng để giục giã các sứ giả lên đường nuôi dưỡng những chiên đói khát, là những kẻ đang hư mất vì thiếu lương thực thuộc linh.

“As I viewed poor souls dying for want of the present truth, and some who professed to believe the truth were letting them die, by withholding the necessary means to carry forward the work of God, the sight was too painful, and I begged of the angel to remove it from me. I saw that when the cause of God called for some of their property, like the young man who came to Jesus, [Matthew 19:16–22.] they went away sorrowful; and that soon the overflowing scourge would pass over and sweep their possessions all away, and then it would be too late to sacrifice earthly goods, and lay up a treasure in heaven.” Review and Herald, April 1, 1850.

Khi tôi nhìn thấy những linh hồn khốn khổ đang chết vì thiếu lẽ thật hiện tại, và một số người xưng mình tin lẽ thật lại để mặc họ chết, bằng cách giữ lại những phương tiện cần thiết để đẩy mạnh công việc của Đức Chúa Trời, cảnh tượng ấy quá đau đớn, và tôi nài xin thiên sứ cất cảnh ấy khỏi tầm mắt tôi. Tôi thấy rằng khi sự nghiệp của Đức Chúa Trời kêu gọi dùng đến một phần tài sản của họ, thì giống như chàng thanh niên đến cùng Chúa Jêsus [Ma-thi-ơ 19:16-22.], họ buồn bã bỏ đi; và rằng chẳng bao lâu tai vạ tràn lan sẽ đi qua và quét sạch hết của cải của họ, và lúc ấy thì đã quá muộn để hy sinh của cải trần thế và tích lũy một kho báu ở trên trời. Review and Herald, ngày 1 tháng 4, 1850.

In 1850, the dirt-brush man had already arrived. On October 22, 1844, the Messenger of the Covenant had suddenly come to His temple, and He began the work of purging and purifying the sons of Levi.

Vào năm 1850, người cầm chổi quét bụi đã đến rồi. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, Sứ giả của Giao ước đã đột ngột đến đền thờ của Ngài, và Ngài bắt đầu công việc tẩy sạch và thanh luyện các con trai của Lê-vi.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“Today souls are being tested and tried, and many are passing over the same ground trodden by those who forsook Christ. When tested by the Word, they reject the divine Teacher. When rebuked because their lives are not in harmony with truth and righteousness, they turn from the Saviour; and their decision, like that of the offended disciples, is never reversed. They walk no more with Christ. Thus are the words fulfilled, ‘Whose fan is in His hand, and He will throughly purge His floor, and gather His wheat into the garner.’” Signs of the Times, May 15, 1901.

Ngày nay các linh hồn đang bị thử thách và khảo nghiệm, và nhiều người đang đi lại trên cùng nẻo đường mà những kẻ đã lìa bỏ Đấng Christ từng dẫm bước. Khi bị Lời thử thách, họ khước từ Vị Thầy thần linh. Khi bị quở trách vì đời sống của họ không hòa hợp với lẽ thật và sự công bình, họ quay lưng khỏi Đấng Cứu Chuộc; và quyết định của họ, như của các môn đồ bị vấp phạm, không bao giờ thay đổi. Họ không còn bước đi với Đấng Christ nữa. Như thế lời đã được ứng nghiệm: “Cái nia ở trong tay Ngài, và Ngài sẽ dọn sạch sân đạp lúa của Ngài, và thu lúa của Ngài vào kho.” Signs of the Times, ngày 15 tháng 5 năm 1901.