We were considering Jeremiah chapter fifty in the previous article, and in the passage the judgment upon Babylon, that begins at the soon coming Sunday law in the United States and ends with the wrath of God. The executive judgment is the day of the Lord’s vengeance that was represented by the destruction of Jerusalem in the year 70 AD. The destruction of Jerusalem accomplished by Rome in 70 AD, had been typified by the destruction of Jerusalem carried out by Nebuchadnezzar. Together they provided two witnesses of the Executive Judgment of the whore of Tyre, who is also the whore of Revelation chapter seventeen.
Trong bài viết trước, chúng ta đã xem xét Giê-rê-mi đoạn năm mươi, và trong đoạn ấy nói về sự phán xét trên Ba-by-lôn, bắt đầu từ đạo luật ngày Chúa nhật sắp đến tại Hoa Kỳ và kết thúc bằng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Sự phán xét thi hành là ngày báo thù của Đức Chúa Trời, được tượng trưng bởi sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công nguyên. Việc Rô-ma hủy diệt Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sau Công nguyên đã được làm hình bóng bởi sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem do Nê-bu-cát-nết-sa thực hiện. Cả hai hợp lại nêu ra hai nhân chứng cho Sự phán xét thi hành đối với dâm phụ của Ty-rơ, là dâm phụ trong Khải Huyền đoạn mười bảy.
Jeremiah informs us that when the Lord’s vengeance is accomplished upon modern Babylon, beginning with the soon-coming Sunday law, that “In those days, and in that time, saith the Lord, the iniquity of Israel shall be sought for, and there shall be none; and the sins of Judah, and they shall not be found: for I will pardon them whom I reserve.” In those days, the sealing of the one hundred and forty-four thousand will have already been accomplished.
Giê-rê-mi cho chúng ta biết rằng khi sự báo oán của Chúa được hoàn tất trên Ba-by-lôn hiện đại, bắt đầu với đạo luật Chủ nhật sắp đến, thì “Trong những ngày ấy, và trong thời đó, Đức Giê-hô-va phán, người ta sẽ tìm sự gian ác của Y-sơ-ra-ên mà sẽ chẳng có; và tội lỗi của Giu-đa, người ta sẽ không tìm thấy: vì Ta sẽ tha thứ cho những kẻ Ta chừa lại.” Trong những ngày ấy, sự ấn tín của một trăm bốn mươi bốn ngàn đã được hoàn tất.
“What are you doing, brethren, in the great work of preparation? Those who are uniting with the world are receiving the worldly mold and preparing for the mark of the beast. Those who are distrustful of self, who are humbling themselves before God and purifying their souls by obeying the truth these are receiving the heavenly mold and preparing for the seal of God in their foreheads. When the decree goes forth and the stamp is impressed, their character will remain pure and spotless for eternity.” Testimonies, volume 5, 216.
"Hỡi anh em, anh em đang làm gì trong công cuộc chuẩn bị trọng đại? Những ai đang kết hợp với thế gian thì nhận lấy khuôn mẫu thế gian và chuẩn bị cho dấu của con thú. Những người không tin cậy chính mình, hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời và thanh tẩy tâm hồn bằng cách vâng theo lẽ thật, ấy là những người đang nhận lấy khuôn mẫu thiên thượng và chuẩn bị cho ấn của Đức Chúa Trời trên trán họ. Khi sắc lệnh được ban hành và ấn tín được đóng, tính cách của họ sẽ còn tinh sạch và không tì vết đến đời đời." Testimonies, quyển 5, 216.
The executive judgment begins with the second voice of Revelation chapter eighteen, who calls men and women to flee from Babylon, and Jeremiah says, “their day is come, the time of their visitation. The voice of them that flee and escape out of the land of Babylon, to declare in Zion the vengeance of the Lord our God, the vengeance of his temple. Call together the archers against Babylon: all ye that bend the bow, camp against it round about; let none thereof escape: recompense her according to her work; according to all that she hath done, do unto her.” Her judgment is accomplished by the “archers.” The first reference to an archer in the Scriptures is concerning Ishmael.
Sự phán xét thi hành bắt đầu với tiếng thứ hai của Khải Huyền đoạn mười tám, tiếng ấy kêu gọi nam nữ chạy trốn khỏi Ba-by-lôn, và Giê-rê-mi nói, "Ngày của họ đã đến, thời điểm thăm phạt của họ. Tiếng của những kẻ chạy trốn và thoát khỏi xứ Ba-by-lôn, để công bố tại Si-ôn sự báo thù của Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, sự báo thù của đền thờ Ngài. Hãy triệu tập các tay bắn cung chống lại Ba-by-lôn: hết thảy các ngươi là những kẻ giương cung, hãy đóng trại vây nó tứ phía; chớ để một ai thoát; hãy báo trả nó theo công việc của nó; theo mọi điều nó đã làm, hãy làm cho nó như vậy." Sự phán xét dành cho nó được hoàn thành bởi "các tay bắn cung." Lần đầu tiên Kinh Thánh nhắc đến một tay bắn cung là liên quan đến Ích-ma-ên.
And God heard the voice of the lad; and the angel of God called to Hagar out of heaven, and said unto her, What aileth thee, Hagar? fear not; for God hath heard the voice of the lad where he is. Arise, lift up the lad, and hold him in thine hand; for I will make him a great nation. And God opened her eyes, and she saw a well of water; and she went, and filled the bottle with water, and gave the lad drink. And God was with the lad; and he grew, and dwelt in the wilderness, and became an archer. Genesis 21:17–20.
Và Đức Chúa Trời nghe tiếng của cậu bé; thiên sứ của Đức Chúa Trời từ trời gọi Hagar và nói với nàng: Hagar, ngươi làm sao vậy? Đừng sợ, vì Đức Chúa Trời đã nghe tiếng của cậu bé ở nơi nó đang ở. Hãy đứng dậy, đỡ cậu bé lên và nắm tay nó, vì Ta sẽ làm cho nó thành một dân tộc lớn. Đức Chúa Trời bèn mở mắt nàng, và nàng thấy một giếng nước; nàng đi đến, múc nước đầy bình, và cho cậu bé uống. Đức Chúa Trời ở cùng cậu bé; cậu lớn lên, sống trong hoang mạc, và trở thành một tay bắn cung. Sáng thế ký 21:17-20.
The “hour of the great earthquake” in Revelation eleven identifies the beginning of the executive judgment upon the whore of Rome, that begins at the soon-coming Sunday law in the United States. In the “hour” “the third woe cometh quickly. And the seventh angel sounded.” The third woe, is the seventh trumpet. It is the archers of Islam that are employed to bring His judgment upon those who enforce the mark of papal authority (Sunday worship), and persecute those who uphold the mark of God’s authority (Sabbath worship).
“Giờ của cơn động đất lớn” trong Khải Huyền đoạn mười một đánh dấu sự khởi đầu của cuộc phán xét thi hành đối với dâm phụ của Rô-ma, bắt đầu với đạo luật Chủ nhật sắp đến tại Hoa Kỳ. Trong “giờ” ấy, “tai họa thứ ba đến mau chóng. Và thiên sứ thứ bảy thổi kèn.” Tai họa thứ ba chính là kèn thứ bảy. Chính các cung thủ của Hồi giáo được dùng để đem sự phán xét của Ngài trên những kẻ áp đặt dấu ấn thẩm quyền của giáo hoàng (thờ phượng ngày Chủ nhật), và bắt bớ những người tôn giữ dấu ấn thẩm quyền của Đức Chúa Trời (thờ phượng ngày Sa-bát).
In Luke chapter twenty-one Jesus in answering the disciple’s questions about the destruction of Jerusalem and the temple, provides an historical narrative that also represents the history of the last days. He references the “days of vengeance,” which was an essential prophetic attribute of His ministry as the Messiah, which He identified in His opening announcement of His ministry by reading from the prophet Isaiah to the church in Nazareth. The announcement at Nazareth, and the passage from Isaiah represented not only His ministry, but the message of His disciples, and more specifically the work and ministry of the movement of the one hundred and forty-four thousand.
Trong Lu-ca chương hai mươi mốt, khi trả lời những câu hỏi của các môn đồ về sự tàn phá Giê-ru-sa-lem và Đền thờ, Chúa Giê-su đưa ra một tường thuật lịch sử đồng thời phản ánh lịch sử của những ngày sau rốt. Ngài nhắc đến “những ngày báo thù”, điều vốn là một thuộc tính tiên tri cốt yếu của chức vụ Ngài với tư cách là Đấng Mê-si, điều mà Ngài đã xác định trong lời tuyên bố khai mạc chức vụ của mình khi đọc sách tiên tri Ê-sai tại nhà thờ ở Na-xa-rét. Lời tuyên bố tại Na-xa-rét và đoạn Ê-sai ấy không chỉ đại diện cho chức vụ của Ngài, mà còn cho sứ điệp của các môn đồ Ngài, và cụ thể hơn là cho công việc và chức vụ của phong trào một trăm bốn mươi bốn nghìn.
The spirit of the Lord God is upon me; because the Lord hath anointed me to preach good tidings unto the meek; he hath sent me to bind up the brokenhearted, to proclaim liberty to the captives, and the opening of the prison to them that are bound; To proclaim the acceptable year of the Lord, and the day of vengeance of our God; to comfort all that mourn; To appoint unto them that mourn in Zion, to give unto them beauty for ashes, the oil of joy for mourning, the garment of praise for the spirit of heaviness; that they might be called trees of righteousness, the planting of the Lord, that he might be glorified. And they shall build the old wastes, they shall raise up the former desolations, and they shall repair the waste cities, the desolations of many generations. And strangers shall stand and feed your flocks, and the sons of the alien shall be your plowmen and your vinedressers. But ye shall be named the Priests of the Lord: men shall call you the Ministers of our God: ye shall eat the riches of the Gentiles, and in their glory shall ye boast yourselves. For your shame ye shall have double; and for confusion they shall rejoice in their portion: therefore in their land they shall possess the double: everlasting joy shall be unto them. For I the Lord love judgment, I hate robbery for burnt offering; and I will direct their work in truth, and I will make an everlasting covenant with them. And their seed shall be known among the Gentiles, and their offspring among the people: all that see them shall acknowledge them, that they are the seed which the Lord hath blessed. I will greatly rejoice in the Lord, my soul shall be joyful in my God; for he hath clothed me with the garments of salvation, he hath covered me with the robe of righteousness, as a bridegroom decketh himself with ornaments, and as a bride adorneth herself with her jewels. For as the earth bringeth forth her bud, and as the garden causeth the things that are sown in it to spring forth; so the Lord God will cause righteousness and praise to spring forth before all the nations. Isaiah 61:1–11.
Thần của Đức Giê-hô-va ở trên tôi, vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho tôi để rao truyền tin mừng cho kẻ khiêm nhường; Ngài đã sai tôi đi băng bó những người đau lòng, công bố sự tự do cho kẻ bị giam cầm, và mở cửa ngục cho những người bị trói buộc; để công bố năm ân huệ của Đức Giê-hô-va, và ngày báo trả của Đức Chúa Trời chúng ta; để an ủi mọi kẻ than khóc; để ban cho những kẻ than khóc ở Si-ôn: ban cho họ vòng hoa rực rỡ thay cho tro bụi, dầu vui mừng thay cho tang tóc, áo ngợi khen thay cho tâm thần u uất; để họ được gọi là những cây công chính, là những cây do Đức Giê-hô-va trồng, hầu Ngài được vinh hiển. Chúng sẽ xây lại những nơi hoang phế xưa, dựng dậy những đổ nát trước kia, và tu sửa các thành bị hoang tàn, là những chỗ đổ nát trải qua nhiều thế hệ. Người ngoại sẽ đứng chăn bầy của các ngươi, con cái kẻ lạ sẽ làm kẻ cày ruộng và người chăm vườn nho cho các ngươi. Nhưng các ngươi sẽ được gọi là những thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va; người ta sẽ xưng các ngươi là kẻ phục vụ Đức Chúa Trời chúng ta; các ngươi sẽ hưởng của cải của chư dân, và trong vinh quang của họ các ngươi sẽ tự hào. Thay cho nỗi hổ thẹn, các ngươi sẽ được phần gấp đôi; thay cho ô nhục, họ sẽ vui mừng về phần mình; bởi thế, trong đất mình họ sẽ nhận phần gấp đôi; niềm vui đời đời sẽ thuộc về họ. Vì ta, Đức Giê-hô-va, yêu sự công lý, ghét sự cướp bóc dùng làm của lễ thiêu; ta sẽ hướng dẫn công việc của họ trong lẽ thật, và lập cùng họ một giao ước đời đời. Dòng dõi họ sẽ được biết giữa chư dân, và hậu tự họ giữa các dân; hết thảy ai thấy họ sẽ nhận biết họ là dòng giống mà Đức Giê-hô-va đã ban phước. Tôi sẽ rất vui mừng trong Đức Giê-hô-va, linh hồn tôi sẽ hân hoan trong Đức Chúa Trời của tôi; vì Ngài đã mặc cho tôi áo cứu rỗi, khoác cho tôi áo choàng công chính, như chú rể tự trang sức mình bằng mũ miện, và như cô dâu tô điểm mình bằng châu báu. Vì như đất làm nảy lộc, như vườn khiến hạt giống gieo trong đó đâm chồi, thì Chúa, là Đức Giê-hô-va, cũng sẽ làm cho sự công chính và lời ngợi khen nảy nở trước mặt muôn dân. Ê-sai 61:1-11.
The one hundred and forty-four thousand who are sealed in Ezekiel chapter nine, are those who are mourning over the sins in the church and in the world. “The acceptable year of the Lord, and the day of vengeance of our God,” is when those who mourn in Zion are comforted, and become “trees of righteousness” in order to “glorify the Lord.” They glorify the Lord, for “in those days, and in that time, saith the Lord, the iniquity of Israel shall be sought for, and there shall be none.” Those who mourn are those who have been sealed and they are those who “shall build the old wastes,” who “shall raise up the former desolations, and” who “shall repair the waste cities, the desolations of many generations.” They shall “be named the Priests of the Lord,” and men shall call them “the Ministers of our God.”
Một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đóng ấn trong Ê-xê-chi-ên đoạn chín là những người đang than khóc về các tội lỗi trong hội thánh và trong thế gian. "Năm đẹp lòng Chúa, và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta," là khi những người than khóc tại Si-ôn được an ủi và trở nên "cây công bình" để "tôn vinh Chúa." Họ tôn vinh Chúa, vì "trong những ngày ấy, vào thời đó, Chúa phán: người ta sẽ tìm kiếm sự gian ác của Y-sơ-ra-ên, nhưng sẽ chẳng thấy." Những người than khóc ấy chính là những người đã được đóng ấn, và họ là những người "sẽ xây lại những nơi hoang phế xưa," "sẽ dựng lên những chỗ đổ nát trước kia," và "sẽ sửa sang các thành hoang vu, sự hoang tàn của nhiều thế hệ." Họ sẽ "được gọi là các thầy tế lễ của Chúa," và người ta sẽ gọi họ là "các tôi tớ của Đức Chúa Trời chúng ta."
The righteousness of the one hundred and forty-four thousand is to “spring forth before all nations,” when they are lifted up as an ensign in the hour of the great earthquake. Their righteousness is caused progressively, for it is “as the earth bringeth forth her bud, and as the garden causeth the things that are sown in it to spring forth; so the Lord God will cause righteousness and praise to spring forth.” The sealing of the one hundred and forty-four thousand began at the arrival of the latter rain on September 1, 2001. It is then that the buds of earth were brought forth. Isaiah identifies when the buds spring forth.
Sự công chính của một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ “trổ ra trước mặt muôn dân” khi họ được giương lên như một cờ hiệu trong giờ của trận động đất lớn. Sự công chính của họ được hình thành dần dần, vì nó “như đất làm chồi của mình nẩy mầm, và như vườn khiến những vật đã gieo trong đó trổ lên; thì Chúa, Đức Chúa Trời, cũng sẽ khiến sự công chính và lời ngợi khen trổ ra.” Việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn bắt đầu khi mưa cuối mùa giáng xuống vào ngày 1 tháng 9 năm 2001. Chính khi đó các chồi non của đất được trổ ra. Ê-sai xác định thời điểm các chồi ấy trổ ra.
In measure, when it shooteth forth, thou wilt debate with it: he stayeth his rough wind in the day of the east wind. By this therefore shall the iniquity of Jacob be purged; and this is all the fruit to take away his sin; when he maketh all the stones of the altar as chalkstones that are beaten in sunder, the groves and images shall not stand up. Isaiah 27:8, 9.
Theo chừng mực, khi nó nảy nở, ngươi sẽ tranh tụng với nó; Ngài cầm giữ cơn gió dữ của Ngài trong ngày gió đông. Bởi điều này, tội ác của Gia-cốp sẽ được tẩy sạch; và đây là tất cả kết quả để cất bỏ tội lỗi của Gia-cốp: khi nó làm cho mọi hòn đá của bàn thờ như đá vôi bị đập vỡ ra, thì các lùm cây và hình tượng sẽ không còn đứng vững. Ê-sai 27:8, 9.
In “the day of the east wind” which is His “rough wind” that “He stayeth,” the “shooting forth” of the buds will begin when the rain is “measured.” “Stayeth” means restrained. When the four winds are restrained by the four angels of Revelation chapter seven, the sealing of the one hundred and forty-four thousand begins. At that time the latter rain begins to “sprinkle” in moderation, for the word “measure” in the verse means moderation. At the beginning of the period of the sealing of the one hundred and forty-four thousand the latter rain is measured, and at the end of the period it is without measure.
Trong "ngày của gió đông", tức cơn "gió dữ" của Ngài mà "Ngài ghìm lại", sự "đâm chồi nảy lộc" của các chồi non sẽ bắt đầu khi mưa được "đo lường". "Stayeth" có nghĩa là bị kiềm giữ. Khi bốn luồng gió bị bốn thiên sứ trong Khải Huyền chương bảy kiềm giữ, sự niêm ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn bắt đầu. Lúc ấy mưa cuối mùa bắt đầu "rưới" một cách điều độ, vì từ "measure" trong câu có nghĩa là sự điều độ. Ở buổi đầu thời kỳ niêm ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn, mưa cuối mùa được đo lường; và ở cuối thời kỳ ấy, nó không còn bị đo lường.
“The great outpouring of the Spirit of God, which lightens the whole earth with his glory, will not come until we have an enlightened people, that know by experience what it means to be laborers together with God. When we have entire, whole-hearted consecration to the service of Christ, God will recognize the fact by an outpouring of his Spirit without measure; but this will not be while the largest portion of the church are not laborers together with God. God cannot pour out his Spirit when selfishness and self-indulgence are so manifest; when a spirit prevails that, if put into words, would express that answer of Cain,—‘Am I my brother’s keeper?’ If the truth for this time, if the signs that are thickening on every hand, that testify that the end of all things is at hand, are not-sufficient to arouse the sleeping energy of those who profess to know the truth, then darkness proportionate to the light which has been shining will overtake these souls. There is not the semblance of an excuse for their indifference that they will be able to present to God in the great day of final reckoning. There will be no reason to offer as to why they did not live and walk and work in the light of the sacred truth of the word of God, and thus reveal to a sin-darkened world, through their conduct, their sympathy, and their zeal, that the power and reality of the gospel could not be controverted.” Review and Herald, July 21, 1896.
"Sự tuôn đổ vĩ đại của Thánh Linh của Đức Chúa Trời, Đấng làm rạng rỡ cả đất bằng vinh quang của Ngài, sẽ chưa đến cho tới khi chúng ta có một dân sự được soi sáng, những người biết qua kinh nghiệm thế nào là đồng công với Đức Chúa Trời. Khi chúng ta hoàn toàn, hết lòng dâng hiến cho sự phục vụ Đấng Christ, Đức Chúa Trời sẽ xác nhận điều ấy bằng sự tuôn đổ Thánh Linh của Ngài không hạn lượng; nhưng điều đó sẽ không xảy ra chừng nào phần lớn hội thánh chưa đồng công với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không thể tuôn đổ Thánh Linh của Ngài khi tính ích kỷ và sự chiều chuộng bản thân quá hiển nhiên; khi một tinh thần lấn át mà, nếu diễn thành lời, sẽ nói ra câu trả lời của Ca-in: 'Há tôi là kẻ canh giữ anh tôi sao?' Nếu lẽ thật cho thời này, nếu những dấu hiệu ngày càng dày đặc ở khắp nơi, làm chứng rằng sự cuối cùng của muôn vật đã gần, vẫn không đủ để đánh thức năng lực đang ngủ mê của những kẻ xưng mình biết lẽ thật, thì bóng tối, tương xứng với ánh sáng đã chiếu soi, sẽ bao trùm các linh hồn ấy. Sẽ không có chút cớ bào chữa nào cho sự dửng dưng của họ mà họ có thể trình bày trước Đức Chúa Trời trong ngày phán xét cuối cùng. Sẽ chẳng có lý do nào để biện minh vì sao họ đã không sống, bước đi và làm việc trong ánh sáng của lẽ thật thánh khiết của Lời Đức Chúa Trời, và nhờ đó bày tỏ cho một thế gian bị tội lỗi làm tối tăm, qua hạnh kiểm, lòng cảm thông và lòng sốt sắng của họ, rằng quyền năng và tính chân thực của phúc âm không thể bị phủ nhận." Review and Herald, ngày 21 tháng 7, 1896.
The testing period of the latter rain and sealing of the one hundred and forty-four thousand begins with the measuring of the outpouring of the Holy Spirit for the wheat and tares have reached the time of the harvest. The rain brings both classes to maturity, then at the end of the testing period the wheat and tares are separated, and the wheat will then “know by experience what it means to be laborers together with God” They will then “have entire, whole-hearted consecration to the service of Christ, God will recognize the fact by an outpouring of his Spirit without measure.”
Thời kỳ thử luyện của mưa muộn và việc ấn tín một trăm bốn mươi bốn nghìn bắt đầu bằng việc đo lường sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh, vì lúa mì và cỏ lùng đã đến mùa gặt. Cơn mưa khiến cả hai hạng người đều chín muồi; rồi đến cuối thời kỳ thử luyện, lúa mì và cỏ lùng được tách ra, và khi ấy lúa mì sẽ "biết qua kinh nghiệm điều gì có nghĩa là làm đồng lao với Đức Chúa Trời". Bấy giờ họ sẽ "có sự tận hiến trọn vẹn, hết lòng cho sự phục vụ Đấng Christ; Đức Chúa Trời sẽ công nhận điều đó bằng việc tuôn đổ Thánh Linh của Ngài không chừng mực."
The “day of the rough east wind” arrived on September 11, 2001, and Habakkuk’s debate over the counterfeit peace and safety message of the latter rain message, as opposed to the message identifying the day of God’s vengeance, began. At that point the plants, both wheat and tares began to bud and bring forth the fruit they would manifest at the judgment of the soon-coming Sunday law.
“Ngày của cơn gió đông dữ dội” đã đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và cuộc tranh luận của Habakkuk về sứ điệp “bình an và an toàn” giả mạo gắn với sứ điệp mưa cuối mùa—trái ngược với sứ điệp xác định ngày báo thù của Đức Chúa Trời—đã bắt đầu. Vào thời điểm đó, các cây—cả lúa mì lẫn cỏ dại—bắt đầu đâm chồi và sinh ra thứ quả mà chúng sẽ bộc lộ trong cuộc phán xét của luật Chủ nhật sắp đến.
“Again, these parables teach that there is to be no probation after the judgment. When the work of the gospel is completed, there immediately follows the separation between the good and the evil, and the destiny of each class is forever fixed.” Christ’s Object Lessons, 123.
"Lại nữa, các dụ ngôn này dạy rằng sẽ không còn thời kỳ ân xá sau cuộc phán xét. Khi công việc của Tin Lành được hoàn tất, lập tức sẽ diễn ra sự phân rẽ giữa người lành và kẻ dữ, và số phận của mỗi hạng người được ấn định vĩnh viễn." Bài học qua các dụ ngôn của Đấng Christ, 123.
One class bows to the sun in Ezekiel chapter eight, and the other receives the seal of God in Ezekiel chapter nine. In Luke chapter twenty-one, Christ is identifying the one hundred and forty-four thousand, and He sets forth a sign that marks the final generation of earth’s history. He identified the sign that Christians must recognize in order to flee the destruction of Jerusalem.
Một nhóm thờ lạy mặt trời trong Ê-xê-chi-ên chương tám, còn nhóm kia nhận ấn của Đức Chúa Trời trong Ê-xê-chi-ên chương chín. Trong Lu-ca chương hai mươi mốt, Đấng Christ đang xác định nhóm một trăm bốn mươi bốn nghìn, và Ngài nêu ra một dấu hiệu đánh dấu thế hệ cuối cùng của lịch sử trái đất. Ngài đã chỉ ra dấu hiệu mà Cơ Đốc nhân phải nhận biết để chạy trốn sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem.
And when ye shall see Jerusalem compassed with armies, then know that the desolation thereof is nigh. Then let them which are in Judaea flee to the mountains; and let them which are in the midst of it depart out; and let not them that are in the countries enter thereinto. For these be the days of vengeance, that all things which are written may be fulfilled. Luke 21:20–22.
Và khi các ngươi thấy Giê-ru-sa-lem bị các đạo quân vây kín, thì hãy biết rằng sự hoang tàn của nó đã gần. Bấy giờ, những người ở Giu-đê hãy chạy trốn lên núi; những người đang ở giữa thành hãy ra khỏi; và những người ở các miền quê chớ vào đó. Vì ấy là những ngày báo thù, để mọi điều đã chép được ứng nghiệm. Lu-ca 21:20-22.
Jesus identified, “line upon line,” more prophetic characteristics of the sign, for His words are recorded not only by Luke, but also by Matthew and Mark.
Chúa Giê-su đã “từng dòng một” chỉ ra thêm những đặc điểm mang tính tiên tri của dấu hiệu ấy, vì lời Ngài được ghi lại không chỉ bởi Lu-ca mà còn bởi Ma-thi-ơ và Mác.
And this gospel of the kingdom shall be preached in all the world for a witness unto all nations; and then shall the end come. When ye therefore shall see the abomination of desolation, spoken of by Daniel the prophet, stand in the holy place, (whoso readeth, let him understand:) Then let them which be in Judaea flee into the mountains. Matthew 24:14–16.
Và Tin Lành này về Nước Trời sẽ được rao giảng khắp thế giới để làm chứng cho muôn dân; rồi bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến. Vậy khi các ngươi thấy sự gớm ghiếc gây hoang tàn, mà nhà tiên tri Đa-ni-ên đã nói đến, đứng nơi thánh (ai đọc, hãy hiểu), thì bấy giờ ai ở Giu-đê hãy trốn lên núi. Ma-thi-ơ 24:14-16.
And the gospel must first be published among all nations. But when they shall lead you, and deliver you up, take no thought beforehand what ye shall speak, neither do ye premeditate: but whatsoever shall be given you in that hour, that speak ye: for it is not ye that speak, but the Holy Ghost. Now the brother shall betray the brother to death, and the father the son; and children shall rise up against their parents, and shall cause them to be put to death. And ye shall be hated of all men for my name’s sake: but he that shall endure unto the end, the same shall be saved. But when ye shall see the abomination of desolation, spoken of by Daniel the prophet, standing where it ought not, (let him that readeth understand,) then let them that be in Judaea flee to the mountains. Mark 13:10–14.
Và trước hết, Tin Lành phải được rao giảng cho muôn dân. Nhưng khi họ dẫn các ngươi đi và nộp các ngươi, thì đừng lo trước phải nói gì, cũng đừng toan tính; nhưng điều gì được ban cho các ngươi trong giờ đó, hãy nói điều ấy, vì chẳng phải các ngươi nói, bèn là Đức Thánh Linh. Bấy giờ, anh sẽ nộp em đến chết, cha nộp con; con cái sẽ nổi dậy chống lại cha mẹ và khiến họ bị giết chết. Và các ngươi sẽ bị mọi người ghét vì danh ta; nhưng ai bền đỗ đến cùng thì sẽ được cứu. Nhưng khi các ngươi thấy sự gớm ghiếc tàn phá mà tiên tri Đa-ni-ên đã nói đến, đứng nơi không nên đứng (ai đọc thì hiểu), bấy giờ những ai ở Giu-đê hãy trốn lên núi. Mác 13:10-14.
Before the seven last plagues, which is the final and perfect fulfillment of the “days of vengeance,” is accomplished upon two classes the gospel of the kingdom must be preached and published among all nations. The gospel message is given to the nations at the soon-coming Sunday law in the United States, when the one hundred and forty-four thousand are lifted up as an ensign. The “days of vengeance” represents the period of the Executive Judgment of the whore of Babylon, which begins with the Sunday law in the United States and ends when Michael stands up and human probation closes, and the wrath of God is poured out in the seven last plagues.
Trước khi bảy tai vạ sau cùng, vốn là sự ứng nghiệm cuối cùng và trọn vẹn của "những ngày báo thù," được hoàn tất trên hai hạng người, thì Tin Lành về vương quốc phải được rao giảng và công bố cho mọi dân tộc. Thông điệp Tin Lành được ban cho các dân tộc vào dịp luật ngày Chủ nhật sắp đến tại Hoa Kỳ, khi một trăm bốn mươi bốn nghìn người được giương lên như một tiêu kỳ. "Những ngày báo thù" tượng trưng cho thời kỳ phán xét thi hành đối với con điếm Ba-by-lôn, bắt đầu với luật ngày Chủ nhật tại Hoa Kỳ và kết thúc khi Mi-ca-ên đứng dậy, thời kỳ ân điển của loài người chấm dứt, và cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời được trút đổ trong bảy tai vạ sau cùng.
The period of time is the “hour” which Mark identifies, and the “hour” of the “great earthquake,” and the “hour” the ten kings agree to give their seventh kingdom unto the papacy. When the last soul has accepted the gospel that is published to all nations, probation closes, and God’s wrath is poured out without mercy. That period begins with the gospel being proclaimed to all nations as the ensign is lifted up, and ends when the last person responds to the gospel message proclaimed and preached and published by the ensign. That period of time is the “days of vengeance.”
Khoảng thời gian ấy là "giờ" mà Mark xác định, là "giờ" của "trận động đất lớn", và là "giờ" khi mười vua đồng ý trao vương quốc thứ bảy của họ cho chế độ giáo hoàng. Khi linh hồn cuối cùng đã chấp nhận phúc âm được công bố cho mọi dân tộc, thời kỳ ân điển khép lại, và cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời được đổ ra không chút thương xót. Giai đoạn ấy bắt đầu khi phúc âm được công bố cho mọi dân tộc lúc cờ hiệu được giương lên, và kết thúc khi người cuối cùng đáp lại sứ điệp phúc âm do cờ hiệu ấy công bố, rao giảng và phổ biến. Khoảng thời gian ấy là "những ngày báo oán."
In Luke, chapter twenty-one, Jesus is pinpointing that history, for He is identifying the final generation, that will not die before His second coming. He identifies a sign, which is represented as the abomination of desolation spoken of by Daniel the prophet. The sign is when the abomination of desolation stands in the “holy place,” and when it is “standing where it ought not,” which is also when Jerusalem is “compassed with armies.”
Trong Lu-ca, chương hai mươi mốt, Chúa Giê-su đang chỉ rõ mốc lịch sử ấy, vì Ngài đang xác định thế hệ cuối cùng, thế hệ sẽ không qua đời trước khi Ngài tái lâm. Ngài nêu ra một dấu hiệu, được gọi là “sự gớm ghiếc gây hoang tàn” như tiên tri Đa-ni-ên đã nói đến. Dấu hiệu ấy là khi “sự gớm ghiếc gây hoang tàn” đứng trong “nơi thánh”, và khi nó “đứng nơi không nên đứng”, cũng là lúc Giê-ru-sa-lem bị “các đạo quân vây quanh”.
When Jerusalem was compassed by armies in the year 66 by Cestius, the Christians in Jerusalem fled the city, and Sister White identifies that not one Christian died during the destruction that ultimately ended in the year 70. Cestius initiated a siege, and then withdrew for apparently unknown reasons, and the Christians in the city fled in agreement with the warning associated with the sign. In the year 70 Titus completed the destruction by once again instituting a siege. The siege of Cestius was the beginning of what is called the First Jewish-Roman War, and the siege and destruction accomplished by Titus was the end of the First Jewish-Roman War.
Khi Jerusalem bị các đạo quân của Cestius bao vây vào năm 66, các Cơ Đốc nhân ở Jerusalem đã rời khỏi thành, và Bà White cho biết rằng không một Cơ Đốc nhân nào thiệt mạng trong cuộc tàn phá rốt cuộc kết thúc vào năm 70. Cestius khởi sự một cuộc vây hãm rồi rút quân vì những lý do dường như không ai biết, và các Cơ Đốc nhân trong thành đã tháo chạy theo đúng lời cảnh báo gắn liền với dấu hiệu ấy. Đến năm 70, Titus hoàn tất sự tàn phá bằng cách một lần nữa tiến hành vây hãm. Cuộc vây hãm của Cestius là khởi đầu của cái gọi là Chiến tranh Do Thái–La Mã lần thứ nhất, và cuộc vây hãm cùng sự hủy diệt do Titus thực hiện là sự kết thúc của Chiến tranh Do Thái–La Mã lần thứ nhất.
The entire history lasted three and a half years, began and ended with a siege, and the beginning contained a sign for God’s people. That history was identified as the days of God’s vengeance by Christ, which was a specific element that He was to identify in His ministry. Those days represent the executive judgment upon the whore of Rome that begins at the soon-coming Sunday law, and ends when human probation closes. At the beginning of the executive judgment of the whore of Babylon, the one hundred and forty-four thousand are lifted up as an ensign, which is a sign. When God’s other flock see the sign, they are to flee out of Babylon, whose destruction was typified by the destruction of Jerusalem.
Toàn bộ lịch sử ấy kéo dài ba năm rưỡi, bắt đầu và kết thúc bằng một cuộc vây hãm, và ở phần khởi đầu có một dấu hiệu dành cho dân của Đức Chúa Trời. Lịch sử ấy đã được Đấng Christ xác định là những ngày báo oán của Đức Chúa Trời, một yếu tố cụ thể mà Ngài phải nêu rõ trong chức vụ của mình. Những ngày đó tượng trưng cho sự phán xét thi hành giáng trên con điếm của La Mã, bắt đầu từ luật ngày Chủ nhật sắp đến, và kết thúc khi thời kỳ ân huệ của loài người khép lại. Vào lúc khởi đầu sự phán xét thi hành đối với con điếm của Ba-by-lôn, một trăm bốn mươi bốn nghìn được giương lên như một cờ hiệu, tức là một dấu hiệu. Khi bầy chiên khác của Đức Chúa Trời thấy dấu hiệu ấy, họ phải chạy ra khỏi Ba-by-lôn, mà sự hủy diệt của nó đã được tiêu biểu bởi sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem.
We will continue to consider Luke chapter twenty-one in the next article.
Chúng ta sẽ tiếp tục xem xét Lu-ca chương hai mươi mốt trong bài viết tiếp theo.