Sister White identifies the soon-coming Sunday law as the “sign,” that was typified by the armies of Rome encompassing Jerusalem in the year 66, and in doing so, she identifies a class who have eyes that see not, and ears that hear not.
Bà White xác định luật ngày Chủ nhật sắp ban hành là "dấu hiệu" đã được làm hình bóng bởi các đạo quân La Mã vây quanh Giê-ru-sa-lem vào năm 66, và khi làm như vậy, bà chỉ ra một hạng người có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe.
“Eternity stretches before us. The curtain is about to be lifted. We who occupy this solemn, responsible position, what are we doing, what are we thinking about, that we cling to our selfish love of ease, while souls are perishing around us? Have our hearts become utterly callous? Cannot we feel or understand that we have a work to do for the salvation of others? Brethren, are you of the class who having eyes see not, and having ears hear not? Is it in vain that God has given you a knowledge of His will? Is it in vain that He has sent you warning after warning? Do you believe the declarations of eternal truth concerning what is about to come upon the earth, do you believe that God’s judgments are hanging over the people, and can you still sit at ease, indolent, careless, pleasure loving?
Cõi vĩnh hằng trải dài trước mắt chúng ta. Bức màn sắp được vén lên. Chúng ta, những người đang ở trong vị trí trang nghiêm, đầy trách nhiệm này, đang làm gì, đang nghĩ gì, mà lại bám víu vào tình yêu an nhàn ích kỷ của mình, trong khi các linh hồn đang hư mất xung quanh chúng ta? Chẳng lẽ lòng dạ chúng ta đã trở nên hoàn toàn chai đá? Chúng ta chẳng thể cảm nhận hay hiểu rằng mình có một công việc phải làm vì sự cứu rỗi của người khác sao? Hỡi anh em, anh em có phải thuộc hạng người có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe chăng? Lẽ nào việc Đức Chúa Trời ban cho anh em sự hiểu biết về ý muốn của Ngài lại là vô ích sao? Lẽ nào Ngài đã gửi đến anh em hết lời cảnh báo này đến lời cảnh báo khác chỉ là vô ích sao? Anh em có tin những lời tuyên bố của chân lý vĩnh cửu về những điều sắp giáng trên đất không, anh em có tin rằng các sự phán xét của Đức Chúa Trời đang treo lơ lửng trên dân chúng không, và vậy mà anh em vẫn có thể ngồi yên, an nhàn, biếng nhác, hờ hững, yêu chuộng sự khoái lạc sao?
“It is no time now for God’s people to be fixing their affections or laying up their treasure in the world. The time is not far distant, when, like the early disciples, we shall be forced to seek a refuge in desolate and solitary places. As the siege of Jerusalem by the Roman armies was the signal for flight to the Judean Christians, so the assumption of power on the part of our nation in the decree enforcing the papal sabbath will be a warning to us. It will then be time to leave the large cities, preparatory to leaving the smaller ones for retired homes in secluded places among the mountains.” Testimonies, volume 5, 464.
Bây giờ không phải là lúc để dân sự của Đức Chúa Trời đặt lòng mình nơi thế gian hay tích trữ của cải ở đó. Thời điểm ấy chẳng còn xa, khi chúng ta, như các môn đồ buổi đầu, sẽ bị buộc phải tìm nơi ẩn náu ở những chốn hoang vu, cô quạnh. Cũng như cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem bởi các đạo quân La Mã là tín hiệu để các Cơ Đốc nhân tại Giu-đê lánh nạn, thì việc quốc gia chúng ta nắm quyền lực bằng việc ban hành sắc lệnh cưỡng bách giữ ngày Sa-bát của Giáo hoàng sẽ là lời cảnh báo cho chúng ta. Bấy giờ sẽ là lúc rời bỏ các thành phố lớn, để chuẩn bị rời cả những thành nhỏ hơn, tìm về những nơi ở ẩn dật nơi hẻo lánh giữa miền núi. Chứng ngôn, tập 5, trang 464.
The soon coming Sunday law in the United States is the warning signal (sign), “to leave the large cities, preparatory to leaving the smaller ones for retired homes in secluded places among the mountains.” Laodicean Adventism is largely unaware that the Sunday law crisis in the United States, fulfills the “sign” spoken of in The Great Controversy. It is typified by the “sign” at the beginning of the three and a half years. The “sign” which was fulfilled in the first siege of Jerusalem that was brought in the year 66, and it typifies the “ensign” that is lifted up at the soon-coming Sunday law.
Luật ngày Chủ nhật sắp tới tại Hoa Kỳ là tín hiệu cảnh báo (dấu hiệu), “hãy rời bỏ các thành phố lớn, chuẩn bị để rời bỏ các thành phố nhỏ hơn, lui về những chốn ẩn cư ở những nơi hẻo lánh giữa núi non.” Cơ Đốc Phục Lâm Laodicê phần lớn không nhận biết rằng cuộc khủng hoảng luật ngày Chủ nhật tại Hoa Kỳ ứng nghiệm “dấu hiệu” được nói đến trong The Great Controversy. Điều ấy được tượng trưng bởi “dấu hiệu” ở phần đầu của giai đoạn ba năm rưỡi. “Dấu hiệu” ấy đã được ứng nghiệm trong cuộc vây hãm thứ nhất của Giê-ru-sa-lem vào năm 66, và nó tiêu biểu cho “tiêu kỳ” sẽ được giương lên vào thời điểm luật ngày Chủ nhật sắp tới.
The actual destruction of Jerusalem was accomplished by Titus in the year 70 AD, and the siege of Titus had been first typified in the 66 AD siege of Cestius, for Jesus always illustrates the end of a thing with the beginning of a thing. It was the beginning siege of Cestius that was the “sign” to flee that Jesus had given, not the siege of Titus. One was the siege at the beginning, the other was the siege at the end.
Sự hủy diệt thực sự của Jerusalem được Titus thực hiện vào năm 70 sau Công nguyên, và cuộc vây hãm của Titus đã được báo trước bởi cuộc vây hãm năm 66 của Cestius, vì Jesus luôn minh họa sự kết thúc của một điều bằng sự khởi đầu của điều ấy. Chính cuộc vây hãm ban đầu của Cestius mới là “dấu hiệu” để chạy trốn mà Jesus đã đưa ra, chứ không phải cuộc vây hãm của Titus. Một cuộc là cuộc vây hãm lúc khởi đầu, còn cuộc kia là cuộc vây hãm lúc kết thúc.
“Not one Christian perished in the destruction of Jerusalem. Christ had given His disciples warning, and all who believed His words watched for the promised sign. ‘When ye shall see Jerusalem compassed with armies,’ said Jesus, ‘then know that the desolation thereof is nigh. Then let them which are in Judea flee to the mountains; and let them which are in the midst of it depart out.’ Luke 21:20, 21. After the Romans under Cestius had surrounded the city, they unexpectedly abandoned the siege when everything seemed favorable for an immediate attack. The besieged, despairing of successful resistance, were on the point of surrender, when the Roman general withdrew his forces without the least apparent reason. But God’s merciful providence was directing events for the good of His own people. The promised sign had been given to the waiting Christians, and now an opportunity was offered for all who would, to obey the Saviour’s warning. Events were so overruled that neither Jews nor Romans should hinder the flight of the Christians. Upon the retreat of Cestius, the Jews, sallying from Jerusalem, pursued after his retiring army; and while both forces were thus fully engaged, the Christians had an opportunity to leave the city. At this time the country also had been cleared of enemies who might have endeavored to intercept them. At the time of the siege, the Jews were assembled at Jerusalem to keep the Feast of Tabernacles, and thus the Christians throughout the land were able to make their escape unmolested. Without delay they fled to a place of safety—the city of Pella, in the land of Perea, beyond Jordan.” The Great Controversy, 30.
Không một tín hữu Cơ Đốc nào thiệt mạng trong cuộc tàn phá Giê-ru-sa-lem. Đấng Christ đã báo trước cho các môn đồ Ngài, và tất cả những ai tin lời Ngài đều trông đợi dấu hiệu đã được hứa. “Khi các ngươi thấy Giê-ru-sa-lem bị các đạo quân vây quanh,” Đức Chúa Giê-su phán, “thì hãy biết rằng sự hoang tàn của nó đã gần. Bấy giờ những kẻ ở Giu-đê hãy trốn lên núi; còn những kẻ ở giữa thành hãy ra khỏi đó.” Lu-ca 21:20, 21. Sau khi quân La Mã dưới quyền Cestius đã bao vây thành, họ bất ngờ bỏ dở cuộc vây hãm vào lúc mọi điều dường như thuận lợi cho một cuộc tấn công tức thì. Những người bị vây hãm, tuyệt vọng về khả năng chống cự thành công, đã sắp sửa đầu hàng, thì vị tướng La Mã rút quân mà không vì một lý do hiển nhiên nào. Nhưng sự quan phòng đầy thương xót của Đức Chúa Trời đang điều khiển các biến cố vì ích lợi của dân Ngài. Dấu hiệu đã hứa đã được ban cho các Cơ Đốc nhân đang trông đợi, và giờ đây cơ hội đã mở ra cho tất cả những ai muốn vâng theo lời cảnh báo của Cứu Chúa. Các biến cố đã được sắp đặt đến nỗi cả người Do Thái lẫn người La Mã đều không thể cản trở cuộc chạy thoát của các tín hữu. Khi Cestius rút lui, người Do Thái từ Giê-ru-sa-lem xông ra truy kích đạo quân đang rút của ông; và trong khi cả hai lực lượng đều bận giao chiến như thế, các Cơ Đốc nhân có cơ hội rời khỏi thành. Lúc ấy, khu vực xung quanh cũng đã được quét sạch những kẻ thù có thể tìm cách chặn họ. Vào thời điểm bị vây hãm, người Do Thái tụ họp tại Giê-ru-sa-lem để giữ Lễ Lều Tạm, vì vậy các Cơ Đốc nhân khắp trong xứ đã có thể trốn thoát mà không bị quấy nhiễu. Không chậm trễ, họ chạy đến nơi an toàn - thành Pella, thuộc xứ Perea, ở bên kia sông Giô-đanh. Cuộc Đại Tranh Chiến, 30.
The siege of Jerusalem by Cestius in the year 66 fulfilled the warning “sign” which Christ had recorded for the Christians of that history, but the siege of Titus in 70 AD provided no “sign” to flee. In that siege there were no Christians left in the city, and that last siege led to the destruction of Jerusalem, and in the destruction of Jerusalem “not one Christian perished,” for the Christians had fled at the beginning of the history.
Cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem do Cestius tiến hành vào năm 66 đã ứng nghiệm “dấu hiệu” cảnh báo mà Chúa Kitô đã ghi lại cho các Kitô hữu trong bối cảnh lịch sử ấy, nhưng cuộc vây hãm của Titus vào năm 70 sau Công nguyên thì không đưa ra “dấu hiệu” nào để chạy trốn. Trong cuộc vây hãm đó, không còn Kitô hữu nào ở lại trong thành, và cuộc vây hãm cuối cùng ấy đã dẫn đến sự tàn phá Giê-ru-sa-lem, và trong sự tàn phá Giê-ru-sa-lem “không một Kitô hữu nào thiệt mạng,” vì các Kitô hữu đã chạy trốn ngay từ đầu sự kiện.
“The Jewish forces, pursuing after Cestius and his army, fell upon their rear with such fierceness as to threaten them with total destruction. It was with great difficulty that the Romans succeeded in making their retreat. The Jews escaped almost without loss, and with their spoils returned in triumph to Jerusalem. Yet this apparent success brought them only evil. It inspired them with that spirit of stubborn resistance to the Romans which speedily brought unutterable woe upon the doomed city.
Quân Do Thái, truy kích Cestius và đạo quân của ông, đã đánh ập vào hậu quân của họ với sự mãnh liệt đến mức đe dọa tiêu diệt hoàn toàn họ. Người La Mã phải rất chật vật mới rút lui được. Người Do Thái hầu như không tổn thất, và mang theo chiến lợi phẩm khải hoàn trở về Jerusalem. Thế nhưng thắng lợi bề ngoài ấy chỉ mang lại tai họa cho họ. Nó thổi bùng ở họ tinh thần kháng cự ngoan cố chống người La Mã, tinh thần ấy đã sớm giáng xuống thành phố bị định cho diệt vong nỗi tai ương khôn tả.
“Terrible were the calamities that fell upon Jerusalem when the siege was resumed by Titus. The city was invested at the time of the Passover, when millions of Jews were assembled within its walls.” The Great Controversy, 31.
Khi Titus nối lại cuộc vây hãm, những tai ương giáng xuống Giê-ru-sa-lem thật khủng khiếp. Thành bị vây vào dịp Lễ Vượt Qua, khi hàng triệu người Do Thái tụ họp bên trong tường thành. Cuộc xung đột vĩ đại, 31.
From the feast of Tabernacles in the year 66 unto the Passover in the year 70 is three and a half years, which prophetically is twelve hundred and sixty days. From the year 66 to the year 70 pagan Rome trampled down the sanctuary and host, just as papal Rome tread down the holy city for forty-two months from the year 538 unto 1798.
Từ Lễ Lều Tạm năm 66 đến Lễ Vượt Qua năm 70 là ba năm rưỡi, mà theo ý nghĩa tiên tri là 1.260 ngày. Từ năm 66 đến năm 70, La Mã ngoại giáo đã giày đạp đền thánh và đạo binh, cũng như La Mã giáo hoàng đã giày đạp thành thánh suốt bốn mươi hai tháng, từ năm 538 đến 1798.
But the court which is without the temple leave out, and measure it not; for it is given unto the Gentiles: and the holy city shall they tread under foot forty and two months. Revelation 11:2.
Nhưng cái sân ở ngoài đền thờ thì hãy bỏ ra, đừng đo; vì nó đã được phó cho các dân ngoại; và thành thánh sẽ bị họ giày đạp trong bốn mươi hai tháng. Khải Huyền 11:2.
Both pagan Rome and papal Rome trampled down Jerusalem for twelve hundred and sixty days (years), thus identifying that modern Rome would trample down spiritual Jerusalem of the last days for a symbolic period of twelve hundred and sixty days. That symbolic period would commence at the soon-coming Sunday law in the United States, when the deadly wound is healed.
Cả La Mã ngoại giáo lẫn La Mã giáo hoàng đã giày xéo Giê-ru-sa-lem trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày (năm), qua đó cho thấy rằng La Mã hiện đại sẽ giày xéo Giê-ru-sa-lem thuộc linh của những ngày sau rốt trong một khoảng thời gian tượng trưng là một nghìn hai trăm sáu mươi ngày. Khoảng thời gian tượng trưng ấy sẽ bắt đầu với luật Ngày Chủ nhật sắp tới tại Hoa Kỳ, vào lúc vết thương chí tử được chữa lành.
And I saw one of his heads as it were wounded to death; and his deadly wound was healed: and all the world wondered after the beast. And they worshipped the dragon which gave power unto the beast: and they worshipped the beast, saying, Who is like unto the beast? who is able to make war with him? And there was given unto him a mouth speaking great things and blasphemies; and power was given unto him to continue forty and two months. Revelation 13:3–5.
Và tôi thấy một trong các đầu của nó như bị thương chí tử; nhưng vết thương chí tử ấy đã được chữa lành; và cả thế gian đều lấy làm lạ mà theo con thú. Người ta thờ lạy con rồng vì nó đã ban quyền cho con thú; họ cũng thờ lạy con thú, mà nói rằng: Ai sánh được như con thú? Ai có thể giao chiến với nó? Nó lại được ban cho một cái miệng nói những lời kiêu ngạo và những điều phạm thượng; và nó được ban quyền hành động trong bốn mươi hai tháng. Khải Huyền 13:3-5.
The symbolic forty-two months of papal persecution is the “hour,” of the Sunday law crisis. That “hour” begins with a “sign” (the ensign), and ends with “signs.” The “sign” of the ensign at the Sunday law, will cause any Christians still in Babylon to flee to the glorious holy mountain that has been exalted (lifted up) above the other hills.
Bốn mươi hai tháng mang tính biểu tượng của sự bách hại của giáo hoàng là “giờ” của cuộc khủng hoảng luật ngày Chủ nhật. “Giờ” đó bắt đầu bằng một “dấu hiệu” (hiệu kỳ), và kết thúc bằng “các dấu hiệu”. “Dấu hiệu” của hiệu kỳ vào thời điểm luật ngày Chủ nhật sẽ khiến bất kỳ Cơ Đốc nhân nào còn ở trong Ba-by-lôn chạy trốn đến núi thánh vinh hiển đã được tôn cao (nâng lên) vượt trên các ngọn đồi khác.
And it shall come to pass in the last days, that the mountain of the Lord’s house shall be established in the top of the mountains, and shall be exalted above the hills; and all nations shall flow unto it. And many people shall go and say, Come ye, and let us go up to the mountain of the Lord, to the house of the God of Jacob; and he will teach us of his ways, and we will walk in his paths: for out of Zion shall go forth the law, and the word of the Lord from Jerusalem. Isaiah 2:2, 3.
Và sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt rằng, núi của nhà Đức Chúa Trời sẽ được lập trên đỉnh các núi, và được tôn cao hơn các đồi; mọi dân tộc sẽ tuôn đến đó. Nhiều dân sẽ đi và nói: Hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Đức Chúa Trời, đến nhà Đức Chúa Trời của Gia-cốp; Ngài sẽ dạy chúng ta về đường lối của Ngài, và chúng ta sẽ bước đi trong các nẻo của Ngài; vì từ Si-ôn luật pháp sẽ ra, và lời của Đức Chúa Trời từ Giê-ru-sa-lem. Ê-sai 2:2, 3.
The flight from the cities at the decree enforcing Sunday worship was typified by both the flight of the Christians in the year 66, and the flight of the church in the year 538 that fled into the wilderness.
Cuộc rời bỏ các thành phố khi có sắc lệnh buộc thờ phượng vào ngày Chủ nhật đã được minh họa bởi cả cuộc chạy trốn của các tín hữu Cơ Đốc vào năm 66 và cuộc chạy trốn của Hội thánh vào năm 538, khi họ lánh vào đồng vắng.
And the woman fled into the wilderness, where she hath a place prepared of God, that they should feed her there a thousand two hundred and threescore days. Revelation 12:6.
Người đàn bà trốn vào đồng vắng, tại đó Đức Chúa Trời đã dọn sẵn cho nàng một nơi, để người ta nuôi nàng ở đó một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Khải Huyền 12:6.
The destruction of Jerusalem from the first siege to the last siege lasted three and a half years, but a warning message of the coming destruction was given for seven years, three and a half years before the first siege and three and a half years after.
Sự tàn phá Giê-ru-sa-lem từ cuộc vây hãm đầu tiên đến cuộc vây hãm cuối cùng kéo dài ba năm rưỡi, nhưng một thông điệp cảnh báo về sự tàn phá sắp đến đã được đưa ra suốt bảy năm, ba năm rưỡi trước cuộc vây hãm đầu tiên và ba năm rưỡi sau đó.
“All the predictions given by Christ concerning the destruction of Jerusalem were fulfilled to the letter. The Jews experienced the truth of His words of warning: ‘With what measure ye mete, it shall be measured to you again.’ Matthew 7:2.
Tất cả những lời tiên tri do Đấng Christ đưa ra về sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem đã được ứng nghiệm đúng từng chữ. Người Do Thái đã trải nghiệm chân lý trong lời cảnh báo của Ngài: “Các ngươi đong bằng đấu nào thì cũng sẽ được đong lại bằng đấu ấy.” Ma-thi-ơ 7:2.
“Signs and wonders appeared, foreboding disaster and doom. In the midst of the night an unnatural light shone over the temple and the altar. Upon the clouds at sunset were pictured chariots and men of war gathering for battle. The priests ministering by night in the sanctuary were terrified by mysterious sounds; the earth trembled, and a multitude of voices were heard crying: ‘Let us depart hence.’ The great eastern gate, which was so heavy that it could hardly be shut by a score of men, and which was secured by immense bars of iron fastened deep in the pavement of solid stone, opened at midnight, without visible agency.—Milman, The History of the Jews, book 13.
Những điềm lạ và phép lạ xuất hiện, báo trước tai họa và diệt vong. Giữa đêm, một ánh sáng dị thường chiếu rọi lên đền thờ và bàn thờ. Trên những đám mây lúc hoàng hôn hiện lên những chiến xa và các chiến binh tụ họp để giao chiến. Các tư tế phụng sự ban đêm trong thánh điện kinh hãi trước những âm thanh bí ẩn; đất rung chuyển, và người ta nghe vô số giọng kêu lên: 'Chúng ta hãy rời khỏi đây.' Cổng lớn phía đông, nặng đến mức hai chục người còn khó mà đóng lại, lại được gia cố bằng những then sắt khổng lồ gắn sâu vào nền đá rắn chắc, đã mở ra vào lúc nửa đêm, không do bất kỳ tác động hữu hình nào. - Milman, Lịch sử người Do Thái, quyển 13.
“For seven years a man continued to go up and down the streets of Jerusalem, declaring the woes that were to come upon the city. By day and by night he chanted the wild dirge: ‘A voice from the east! a voice from the west! a voice from the four winds! a voice against Jerusalem and against the temple! a voice against the bridegrooms and the brides! a voice against the whole people!’—Ibid. This strange being was imprisoned and scourged, but no complaint escaped his lips. To insult and abuse he answered only: ‘Woe, woe to Jerusalem!’ ‘woe, woe to the inhabitants thereof!’ His warning cry ceased not until he was slain in the siege he had foretold.” The Great Controversy, 29, 30.
"Suốt bảy năm, một người đàn ông cứ đi ngược xuôi trên các đường phố Giê-ru-sa-lem, loan báo những tai họa sẽ giáng xuống thành. Ngày cũng như đêm, ông cất lên khúc ai ca rùng rợn: 'Một tiếng từ phương đông! một tiếng từ phương tây! một tiếng từ bốn phương! một tiếng chống lại Giê-ru-sa-lem và chống lại đền thờ! một tiếng chống lại các chú rể và các cô dâu! một tiếng chống lại cả dân chúng!'-Ibid. Con người kỳ lạ này bị bỏ tù và bị đánh đòn, nhưng ông không hề thốt ra lời than phiền nào. Trước sự sỉ nhục và hành hạ, ông chỉ đáp: 'Khốn thay, khốn thay cho Giê-ru-sa-lem!' 'khốn thay, khốn thay cho dân cư của thành ấy!' Tiếng kêu cảnh báo của ông không dứt cho đến khi ông bị giết trong cuộc vây hãm mà ông đã báo trước." The Great Controversy, 29, 30.
The final destruction of literal Jerusalem in the year 70 was preceded by “signs and wonders” which identified “disaster and doom.” The warning “signs” were manifested for three and a half years before the first siege and for the three and a half years that led to the destruction. The “signs” (in the plural) that identified the coming destruction was not the “sign” of warning to flee, but a pronouncement of the imminent close of probation.
Sự hủy diệt cuối cùng của thành Giê-ru-sa-lem theo nghĩa đen vào năm 70 đã được báo trước bởi những “dấu lạ và phép lạ” báo hiệu “thảm họa và diệt vong.” Những “dấu hiệu” cảnh báo này đã xuất hiện suốt ba năm rưỡi trước cuộc vây hãm đầu tiên và suốt ba năm rưỡi dẫn đến sự hủy diệt. Những “dấu hiệu” (ở số nhiều) cho biết sự hủy diệt sắp đến không phải là “dấu hiệu” cảnh báo phải chạy trốn, mà là một lời tuyên bố về sự kết thúc gần kề của thời kỳ ân điển.
In the trampling down of spiritual Jerusalem from 538 to 1798, the “sign” of warning to flee, was when the abomination of desolation was when “that man of sin” was “revealed,” as “the son of perdition; Who opposeth and exalteth himself above all that is called God, or that is worshipped; so that he as God sitteth in the temple of God, showing himself that he is God.”
Trong thời kỳ Giê-ru-sa-lem thuộc linh bị chà đạp từ năm 538 đến 1798, "dấu hiệu" cảnh báo phải chạy trốn là khi sự gớm ghiếc gây ra hoang tàn xuất hiện, tức là khi "người tội ác" được "bày tỏ", tức là "con của sự hư mất; kẻ chống đối và tôn mình lên trên mọi sự gọi là Đức Chúa Trời, hoặc được thờ phượng; đến nỗi chính y như Đức Chúa Trời ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời, tỏ mình ra rằng y là Đức Chúa Trời."
When ye therefore shall see the abomination of desolation, spoken of by Daniel the prophet, stand in the holy place, (whoso readeth, let him understand.) Matthew 24:15.
Vậy, khi các ngươi thấy sự gớm ghiếc hoang tàn, điều mà tiên tri Đa-ni-ên đã nói đến, đứng nơi thánh, (ai đọc thì hãy hiểu.) Ma-thi-ơ 24:15.
When the Christians of that history recognized that “sign” they fled into the wilderness for twelve hundred and sixty years.
Khi các tín hữu Cơ Đốc trong giai đoạn lịch sử ấy nhận ra "dấu hiệu" đó, họ đã chạy trốn vào hoang mạc suốt một nghìn hai trăm sáu mươi năm.
“It required a desperate struggle for those who would be faithful to stand firm against the deceptions and abominations which were disguised in sacerdotal garments and introduced into the church. The Bible was not accepted as the standard of faith. The doctrine of religious freedom was termed heresy, and its upholders were hated and proscribed.
Để những ai quyết giữ lòng trung tín có thể đứng vững trước những sự lừa dối và điều ghê tởm được ngụy trang dưới lớp áo giáo sĩ và đưa vào giáo hội, đã cần một cuộc đấu tranh quyết liệt. Kinh Thánh không được chấp nhận làm tiêu chuẩn đức tin. Giáo lý về tự do tôn giáo bị coi là tà giáo, và những người ủng hộ nó bị căm ghét và bị cấm đoán.
“After a long and severe conflict, the faithful few decided to dissolve all union with the apostate church if she still refused to free herself from falsehood and idolatry. They saw that separation was an absolute necessity if they would obey the word of God. They dared not tolerate errors fatal to their own souls, and set an example which would imperil the faith of their children and children’s children. To secure peace and unity they were ready to make any concession consistent with fidelity to God; but they felt that even peace would be too dearly purchased at the sacrifice of principle. If unity could be secured only by the compromise of truth and righteousness, then let there be difference, and even war.” The Great Controversy, 45.
"Sau một cuộc xung đột lâu dài và khốc liệt, số ít người trung tín quyết định cắt đứt mọi liên hệ với hội thánh bội đạo nếu hội thánh ấy vẫn từ chối tự giải thoát khỏi sự giả dối và thờ hình tượng. Họ nhận thấy rằng sự tách biệt là điều tuyệt đối cần thiết nếu họ muốn vâng theo lời Đức Chúa Trời. Họ không dám dung túng những sai lầm chí tử cho chính linh hồn mình, và nêu một tấm gương có thể khiến đức tin của con cái họ và con cháu họ lâm nguy. Để bảo đảm hòa bình và hiệp nhất, họ sẵn sàng đưa ra mọi nhượng bộ miễn là vẫn phù hợp với lòng trung thành đối với Đức Chúa Trời; nhưng họ cho rằng ngay cả hòa bình cũng là cái giá quá đắt nếu phải mua bằng sự hy sinh nguyên tắc. Nếu sự hiệp nhất chỉ có thể đạt được bằng sự thỏa hiệp với lẽ thật và sự công chính, thì thà có sự chia rẽ, thậm chí là chiến tranh." Đại Tranh Chiến, 45.
Approaching the conclusion of the twelve hundred and sixty years of papal persecution there were “signs” (in the plural), and as with the “signs” at the end of the twelve hundred and sixty days that pagan Rome trampled down literal Jerusalem; those “signs” were not signs to flee.
Khi sắp kết thúc một nghìn hai trăm sáu mươi năm bách hại của quyền giáo hoàng, đã có những "dấu hiệu" (ở số nhiều), và cũng như các "dấu hiệu" vào cuối một nghìn hai trăm sáu mươi ngày khi La Mã ngoại giáo giày xéo Giê-ru-sa-lem thật; những "dấu hiệu" đó không phải là dấu hiệu để chạy trốn.
“The Saviour gives signs of His coming, and more than this, He fixes the time when the first of these signs shall appear: ‘Immediately after the tribulation of those days shall the sun be darkened, and the moon shall not give her light, and the stars shall fall from heaven, and the powers of the heavens shall be shaken: and then shall appear the sign of the Son of man in heaven: and then shall all the tribes of the earth mourn, and they shall see the Son of man coming in the clouds of heaven with power and great glory. And He shall send His angels with a great sound of a trumpet, and they shall gather together His elect from the four winds, from one end of heaven to the other.’
Đấng Cứu Thế ban cho những dấu hiệu về sự tái lâm của Ngài, và hơn thế nữa, Ngài còn ấn định thời điểm khi dấu hiệu thứ nhất trong số những dấu hiệu ấy sẽ xuất hiện: "Ngay sau cơn hoạn nạn của những ngày ấy, mặt trời sẽ tối đi, mặt trăng sẽ không chiếu sáng, các vì sao sẽ từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị rúng động; và bấy giờ dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; và bấy giờ mọi chi tộc trên đất sẽ than khóc, và họ sẽ thấy Con Người ngự đến trên mây trời với quyền năng và vinh quang lớn lao. Rồi Ngài sẽ sai các thiên sứ của Ngài với tiếng kèn rất lớn, và họ sẽ nhóm hiệp những người được chọn của Ngài từ bốn phương, từ đầu này trời cho đến đầu kia."
“At the close of the great papal persecution, Christ declared, the sun should be darkened, and the moon should not give her light. Next, the stars should fall from heaven. And He says, ‘Learn a parable of the fig tree; When his branch is yet tender, and putteth forth leaves, ye know that summer is nigh: so likewise ye, when ye shall see all these things, know that He is near, even at the doors.’ Matthew 24:32, 33, margin.
Vào lúc kết thúc cuộc bách hại lớn của chế độ giáo hoàng, Đấng Christ phán rằng: mặt trời sẽ tối tăm, và mặt trăng sẽ không tỏa ánh sáng. Kế đó, các ngôi sao sẽ từ trời sa xuống. Và Ngài phán: “Hãy học thí dụ về cây vả; khi cành nó còn mềm và đâm lá, các ngươi biết mùa hè đã gần; cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, hãy biết rằng Ngài đã gần, ngay trước cửa.” Ma-thi-ơ 24:32, 33, ghi chú bên lề.
“Christ has given signs of His coming. He declares that we may know when He is near, even at the doors. He says of those who see these signs, ‘This generation shall not pass, till all these things be fulfilled.’ These signs have appeared. Now we know of a surety that the Lord’s coming is at hand. ‘Heaven and earth shall pass away,’ He says, ‘but My words shall not pass away.’” The Desire of Ages, 631, 632.
Đấng Christ đã ban cho chúng ta những dấu hiệu về sự tái lâm của Ngài. Ngài khẳng định rằng chúng ta có thể biết khi Ngài ở gần, thậm chí đã ở ngay trước cửa. Ngài phán về những người thấy các dấu hiệu ấy rằng: 'Thế hệ này sẽ chẳng qua đi trước khi mọi điều này được ứng nghiệm.' Các dấu hiệu ấy đã xuất hiện. Giờ đây chúng ta biết chắc rằng sự tái lâm của Chúa đã gần. 'Trời và đất sẽ qua đi,' Ngài phán, 'nhưng lời Ta sẽ không qua đi.' The Desire of Ages, 631, 632.
When “the three and half years of Jerusalem being trampled down” by papal Rome was ending there was a series of “signs,” which identified the coming of Christ and ushered in the Millerite history. Millerite history is to be repeated to the very letter in the last days. Those “signs,” which appeared at “the close of the great papal persecution,” had been typified by “signs” that appeared as the closing of the three and a half years of the trampling down of Jerusalem from the year 66 to 70 by pagan Rome. Therefore, based upon two witnesses there will be a “sign” of the ensign which is lifted up at the hour of the great earthquake which is the sign of warning to flee in the history of modern Rome, and there will also be “signs” in the plural which occur at the closing of modern Rome’s period of persecution in the last days.
Khi "ba năm rưỡi Giê-ru-sa-lem bị Rôma giáo hoàng giày xéo" sắp kết thúc, đã có một loạt "dấu hiệu" báo hiệu sự đến của Đấng Christ và mở ra lịch sử Phong trào Miller. Lịch sử Phong trào Miller sẽ được lặp lại đúng từng chi tiết trong những ngày sau rốt. Những "dấu hiệu" xuất hiện vào "sự kết thúc của cuộc bách hại giáo hoàng vĩ đại" đã được báo trước bằng những "dấu hiệu" xuất hiện khi kết thúc ba năm rưỡi Giê-ru-sa-lem bị Rôma ngoại giáo giày xéo từ năm 66 đến 70. Vì vậy, dựa trên hai chứng nhân, sẽ có một "dấu hiệu" về cờ hiệu được giương lên vào giờ của trận động đất lớn, là dấu hiệu cảnh báo phải chạy trốn, trong lịch sử Rôma hiện đại; và cũng sẽ có những "dấu hiệu" (ở số nhiều) xảy ra khi kết thúc thời kỳ bách hại của Rôma hiện đại trong những ngày sau rốt.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“Read the 21st chapter of Luke. In it Christ gives the warning, ‘Take heed to yourselves, lest at any time your hearts be overcharged with surfeiting, and drunkenness, and cares of this life, and so that day come upon you unawares. For as a snare shall it come on all them that dwell on the face of the whole earth. Watch ye therefore, and pray always, that ye may be accounted worthy to escape all these things, and to stand before the Son of man’ (Luke 21:34–36).
Hãy đọc chương 21 của sách Lu-ca. Trong đó, Đấng Christ đưa ra lời cảnh báo: “Hãy coi chừng chính mình, kẻo lúc nào lòng anh em bị đè nặng bởi chè chén quá độ, say sưa, và những lo toan của đời này, đến nỗi ngày ấy thình lình đến trên anh em mà không hay biết. Vì ngày ấy sẽ đến như chiếc bẫy trên hết thảy những người cư ngụ trên khắp mặt đất. Vậy hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để anh em được kể là xứng đáng thoát khỏi mọi điều này và đứng trước mặt Con Người” (Lu-ca 21:34-36).
“The signs of the times are fulfilling in our world, yet the churches generally are represented as slumbering. Shall we not take warning from the experience of the foolish virgins, who when the call came, ‘Behold the bridegroom cometh; go ye out to meet him,’ found that they had no oil in their lamps? And while they went to buy oil, the bridegroom went in to the marriage supper with the wise virgins, and the door was shut. When the foolish virgins reached the banqueting hall, they received an unexpected denial. The master of the feast declared, ‘I know you not.’ They were left standing without in the empty street, in the blackness of the night.” Manuscript Releases, volume 15, 229.
Các dấu chỉ thời cuộc đang được ứng nghiệm trong thế giới chúng ta, thế mà nói chung các hội thánh lại được mô tả như đang ngủ mê. Há chúng ta lại không nhận cảnh báo từ kinh nghiệm của những trinh nữ dại, là những người khi tiếng gọi vang lên: “Kìa chàng rể đến; hãy đi ra đón Ngài,” thì mới nhận ra rằng họ không có dầu trong đèn? Và trong khi họ đi mua dầu, chàng rể đã cùng với những trinh nữ khôn ngoan bước vào dự tiệc cưới, và cửa đóng lại. Khi những trinh nữ dại đến phòng tiệc, họ nhận một lời từ chối bất ngờ. Chủ tiệc tuyên bố: “Ta chẳng biết các ngươi.” Họ bị bỏ lại đứng bên ngoài, trên con phố vắng, trong đêm đen tăm tối. Bản Thảo Phát Hành, tập 15, 229.