When the light of Daniel chapter eleven, verses forty through forty-five was unsealed at the time of the end in 1989, the enemies of truth provided a resistance that allowed God to reveal truths to defend the basic premises of the passage in the book of Daniel that then became the subject and focus of Satan’s attacks. That controversy over truth and error in that history was used by the Holy Spirit to identify certain prophetic rules that would further increase the knowledge that had been unsealed and was thereafter to test the final generation of earth’s history. We have been considering “triple applications of prophecy,” and identifying those applications as a primary rule that was revealed from the process of resistance that was presented by Satan during those past days. That controversial process is identified as the “shaking,” by Sister White.

Khi ánh sáng của Đa-ni-ên chương mười một, câu bốn mươi đến bốn mươi lăm được mở ấn vào thời kỳ cuối cùng năm 1989, các kẻ thù của lẽ thật đã đưa ra sự chống đối, qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ những lẽ thật để bảo vệ những tiền đề căn bản của đoạn Kinh Thánh trong sách Đa-ni-ên, vốn sau đó trở thành chủ đề và trọng tâm của các cuộc tấn công của Sa-tan. Cuộc tranh luận giữa lẽ thật và sai lầm trong giai đoạn lịch sử ấy đã được Đức Thánh Linh dùng để xác định một số quy tắc tiên tri, nhằm gia tăng thêm sự hiểu biết đã được mở ấn và về sau sẽ thử thách thế hệ cuối cùng trong lịch sử của trái đất. Chúng ta đã và đang xem xét “những ứng dụng ba lần của lời tiên tri”, và xem những ứng dụng ấy như một quy tắc chủ đạo được bày tỏ qua tiến trình chống đối mà Sa-tan đã đưa ra trong những ngày trước đó. Tiến trình tranh cãi ấy được Bà White gọi là “sự rung chuyển”.

“I was pointed to the providence of God among His people and was shown that every trial made by the refining, purifying process upon professed Christians proves some to be dross. The fine gold does not always appear. In every religious crisis some fall under temptation. The shaking of God blows away multitudes like dry leaves. Prosperity multiplies a mass of professors. Adversity purges them out of the church. As a class, their spirits are not steadfast with God. They go out from us because they are not of us; for when tribulation or persecution arises because of the word, many are offended.” Testimonies, volume 4, 89.

"Tôi được chỉ cho thấy sự quan phòng của Đức Chúa Trời giữa dân Ngài và thấy rằng mọi thử thách do tiến trình luyện lọc, thanh tẩy trên những người xưng mình là Cơ Đốc nhân đều chứng tỏ có kẻ chỉ là cặn bã. Vàng ròng không phải lúc nào cũng lộ ra. Trong mỗi cơn khủng hoảng tôn giáo đều có người sa ngã trước cám dỗ. Sự lay động của Đức Chúa Trời cuốn phăng vô số người như lá khô. Sự thịnh vượng làm tăng lên một số đông những người xưng đạo. Hoạn nạn lọc họ ra khỏi hội thánh. Xét như một hạng người, tâm linh họ không kiên định với Đức Chúa Trời. Họ ra khỏi chúng ta vì họ không thuộc về chúng ta; vì khi hoạn nạn hay bắt bớ xảy ra vì lời, nhiều người vấp phạm." Chứng ngôn, quyển 4, 89.

The “shaking” is produced when truth is unsealed by the Lion of the tribe of Judah and thereafter introduced.

Sự "rung chuyển" xảy ra khi lẽ thật được Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ấn và sau đó được đưa ra.

“I asked the meaning of the shaking I had seen and was shown that it would be caused by the straight testimony called forth by the counsel of the True Witness to the Laodiceans. This will have its effect upon the heart of the receiver, and will lead him to exalt the standard and pour forth the straight truth. Some will not bear this straight testimony. They will rise up against it, and this is what will cause a shaking among God’s people.” Early Writings, 271.

Tôi hỏi về ý nghĩa của sự rúng động mà tôi đã thấy và được cho biết rằng nó sẽ do lời chứng thẳng thắn, được khơi dậy bởi lời khuyên của Chứng Nhân Chân Thật gửi đến người Lao-đi-xê, gây ra. Điều này sẽ tác động đến tấm lòng của người tiếp nhận và sẽ khiến người ấy nâng cao tiêu chuẩn và bày tỏ lẽ thật ngay thẳng. Một số người sẽ không chịu nổi lời chứng thẳng thắn này. Họ sẽ đứng lên chống lại nó, và chính điều này sẽ gây ra sự rúng động giữa dân sự của Đức Chúa Trời. Early Writings, 271.

The introduction of “truth” always causes a shaking, and the truth which was unsealed in 1989, did that very thing. One of the benefits of the resistance brought against the truth was the development of a set of rules to establish the increase of knowledge through the years that followed 1989. The development of the rules, parallel the development of a set of rules in the period of the Millerites. All the triple applications of Bible prophecy contribute to the clarity of the events of the last days.

Sự xuất hiện của “lẽ thật” luôn gây ra một sự rúng động, và lẽ thật được mở ấn vào năm 1989 đã gây ra chính điều đó. Một trong những lợi ích của sự chống đối đối với lẽ thật là sự hình thành một bộ quy tắc nhằm xác lập sự gia tăng hiểu biết trong những năm sau 1989. Sự phát triển của các quy tắc này song song với sự phát triển của một bộ quy tắc trong thời kỳ của những người Millerite. Tất cả các ứng dụng ba lần của lời tiên tri Kinh Thánh đều góp phần làm sáng tỏ các sự kiện của những ngày sau rốt.

The triple applications of Rome and Babylon establish the relationship of the woman and the beast she rides upon and reigns over during the history of the Sunday law crisis, which is also the history of God’s executive judgment upon the whore of Babylon.

Ba lần áp dụng liên quan đến La Mã và Ba-by-lôn xác lập mối quan hệ giữa người đàn bà và con thú mà bà cưỡi và thống trị trong giai đoạn lịch sử của cuộc khủng hoảng luật ngày Chúa Nhật, vốn cũng là lịch sử về sự phán xét thi hành của Đức Chúa Trời giáng trên dâm phụ Ba-by-lôn.

The triple applications of “the messenger that prepares the way for the Messenger of the Covenant,” and also of “Elijah,” identify the work, and the message in the two periods that illustrate the close of probation in the last days. The first period begins with the first voice of Revelation chapter eighteen, which represents the beginning of the investigative judgment of the living for Laodicean Adventism, and the last period begins with the second voice of Revelation chapter eighteen, which represents the executive judgment of the whore of Babylon.

Ba lần áp dụng của “sứ giả dọn đường cho Sứ Giả của Giao Ước” và của “Ê-li” xác định công việc và sứ điệp trong hai giai đoạn minh họa sự đóng cửa ân điển vào những ngày sau rốt. Giai đoạn thứ nhất bắt đầu với tiếng thứ nhất trong Khải Huyền chương 18, tượng trưng cho sự khởi đầu của phán xét điều tra đối với người còn sống trong Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê; và giai đoạn sau cùng bắt đầu với tiếng thứ hai trong Khải Huyền chương 18, tượng trưng cho phán xét thi hành đối với đại dâm phụ Ba-by-lôn.

The triple applications of Rome and Babylon represent the external history of God’s last-day people, while the triple applications of Elijah and the messenger who prepares the way represent the internal history of God’s last day people. The triple application of the three Woes, identifies the message that runs through both periods that together represent the closing period of judgment, which begins with the house of God, and thereafter upon those outside God’s house. The three Woes identify that Islam is the message of the latter rain, and also the tool of judgment God employs for those who enforce the worship of the sun upon all mankind. The close of judgment represents “the days of God’s vengeance,” both upon His apostate church and the wicked outside of His church.

Những sự áp dụng ba lần về La Mã và Ba-by-lôn đại diện cho lịch sử bên ngoài của dân ngày sau rốt của Đức Chúa Trời, trong khi những sự áp dụng ba lần về Ê-li và sứ giả dọn đường đại diện cho lịch sử bên trong của dân ngày sau rốt của Đức Chúa Trời. Sự áp dụng ba lần của Ba Tai Hoạ xác định sứ điệp xuyên suốt cả hai thời kỳ, là những thời kỳ hợp lại để biểu thị giai đoạn kết thúc của sự phán xét, vốn bắt đầu từ nhà Đức Chúa Trời, rồi sau đó đến những người ở ngoài nhà Ngài. Ba Tai Hoạ cho thấy rằng Hồi giáo là sứ điệp của mưa cuối mùa, và cũng là khí cụ phán xét mà Đức Chúa Trời dùng đối với những kẻ áp đặt việc thờ phượng mặt trời trên toàn nhân loại. Sự kết thúc của sự phán xét biểu thị “những ngày báo thù của Đức Chúa Trời,” cả trên hội thánh bội đạo của Ngài lẫn trên những kẻ ác ở ngoài hội thánh của Ngài.

When Jesus first began His ministry at the church in Nazareth He employed Isaiah chapter sixty-one to define His ministry, message and work, which included the identification of the time of God’s vengeance. His ministry, message and work prefigured the ministry, message and work of the one hundred and forty-four thousand, for they prophetically follow the Lamb whithersoever He goeth.

Khi Chúa Giê-su khởi đầu chức vụ của Ngài tại Hội thánh ở Na-xa-rét, Ngài đã dùng Ê-sai chương sáu mươi mốt để xác định chức vụ, sứ điệp và công việc của Ngài, trong đó bao gồm cả việc xác định thời kỳ báo thù của Đức Chúa Trời. Chức vụ, sứ điệp và công việc của Ngài làm hình bóng cho chức vụ, sứ điệp và công việc của một trăm bốn mươi bốn nghìn, vì, theo lời tiên tri, họ theo Chiên Con bất cứ nơi nào Ngài đi.

The Spirit of the Lord God is upon me; because the Lord hath anointed me to preach good tidings unto the meek; he hath sent me to bind up the brokenhearted, to proclaim liberty to the captives, and the opening of the prison to them that are bound; To proclaim the acceptable year of the Lord, and the day of vengeance of our God; to comfort all that mourn; To appoint unto them that mourn in Zion, to give unto them beauty for ashes, the oil of joy for mourning, the garment of praise for the spirit of heaviness; that they might be called trees of righteousness, the planting of the Lord, that he might be glorified. And they shall build the old wastes, they shall raise up the former desolations, and they shall repair the waste cities, the desolations of many generations. And strangers shall stand and feed your flocks, and the sons of the alien shall be your plowmen and your vinedressers. But ye shall be named the Priests of the Lord: men shall call you the Ministers of our God: ye shall eat the riches of the Gentiles, and in their glory shall ye boast yourselves. Isaiah 61:1–6.

Thần của Chúa Giê-hô-va ở trên tôi; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho tôi để rao tin mừng cho kẻ khiêm nhu; Ngài đã sai tôi băng bó những người lòng tan vỡ, công bố tự do cho kẻ bị giam cầm, và mở cửa ngục cho những người bị trói buộc; để công bố năm ân huệ của Đức Giê-hô-va và ngày báo oán của Đức Chúa Trời chúng ta; để an ủi mọi kẻ than khóc; để ban cho những kẻ than khóc tại Si-ôn: mão vinh quang thay cho tro bụi, dầu vui mừng thay cho tang chế, áo ngợi khen thay cho thần u uất; để họ được gọi là những cây công chính, sự trồng của Đức Giê-hô-va, hầu cho Ngài được vinh hiển. Họ sẽ xây lại những chốn hoang phế xưa, dựng lên những đổ nát thuở trước, và tu sửa các thành phế tích, là nơi đổ nát của nhiều thế hệ. Người ngoại sẽ đứng chăn bầy chiên của các ngươi, con trai của kẻ ngoại quốc sẽ làm thợ cày và thợ trồng nho cho các ngươi. Còn các ngươi sẽ được gọi là các Tư Tế của Đức Giê-hô-va; người ta sẽ gọi các ngươi là tôi tớ của Đức Chúa Trời chúng ta; các ngươi sẽ hưởng của cải của chư dân, và trong vinh quang của họ các ngươi sẽ tự hào. Ê-sai 61:1-6.

Jesus was anointed at His baptism, and that waymark typifies September 11, 2001 when the anointing of the Holy Spirit began to descend upon those who recognized that the outpouring of the latter rain in the last days had been typified by the history of the Millerites, which were the old waste places that the one hundred and forty-four thousand would build again, once they returned to Jeremiah’s old paths.

Chúa Giê-su được xức dầu khi chịu phép báp-tem, và cột mốc ấy tượng trưng cho ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi sự xức dầu của Đức Thánh Linh bắt đầu giáng trên những người nhận ra rằng sự đổ xuống của mưa cuối mùa trong những ngày sau rốt đã được biểu trưng qua lịch sử của phong trào Miller, vốn là những nơi hoang phế xưa mà một trăm bốn mươi bốn ngàn sẽ xây lại, một khi họ trở về những nẻo xưa mà Giê-rê-mi nói đến.

The message of Christ’s righteousness from the rebellion of 1888 again became present truth, and the message from the rebellion of 1888 was the good tidings that has the power to bind up broken hearts, but which is powerless to open the hard hearts of those who have eyes to see, but perceive not, and who have ears to hear, but understand not. The message of Christ’s righteousness from the rebellion of 1888 was also the message to Laodicea which then arrived again to open the prison door of those who were captives of sin by the One who has the power to open the doors that no man can open, and shut the doors that no man can close.

Sứ điệp về sự công chính của Đấng Christ từ cuộc nổi loạn năm 1888 lại trở thành chân lý hiện tại, và sứ điệp từ cuộc nổi loạn năm 1888 ấy là tin mừng có quyền băng bó những tấm lòng tan vỡ, nhưng bất lực trong việc mở những lòng chai đá của những kẻ có mắt để thấy mà chẳng nhận biết, có tai để nghe mà chẳng hiểu. Sứ điệp về sự công chính của Đấng Christ từ cuộc nổi loạn năm 1888 cũng là sứ điệp gửi cho Laodicea, lại đến một lần nữa để mở cửa ngục cho những kẻ bị tội lỗi giam cầm, bởi Đấng có quyền mở những cánh cửa không ai có thể mở, và đóng những cánh cửa không ai có thể đóng.

On September 11, 2001 those who were to present those good tidings, were also to proclaim the acceptable year of the Lord and the day of God’s vengeance. The year of the Lord’s acceptance also began at that time, and He is fully willing to accept a Laodicean’s repentance, until the day of God’s vengeance arrives at the soon coming Sunday law in the United States. Then His vengeance will be manifested upon a church that refused to know the time of her visitation, and simultaneously the progressive judgment upon the whore of Babylon begins.

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những người được giao trình bày những tin lành ấy cũng phải công bố năm đẹp lòng Chúa và ngày báo oán của Đức Chúa Trời. Năm đẹp lòng Chúa cũng bắt đầu vào lúc đó, và Ngài hoàn toàn sẵn lòng chấp nhận sự ăn năn của một người thuộc La-ô-đi-xê, cho đến khi ngày báo oán của Đức Chúa Trời đến vào dịp đạo luật Ngày Chủ nhật sắp được ban hành tại Hoa Kỳ. Bấy giờ, sự báo oán của Ngài sẽ được bày tỏ trên một hội thánh đã từ chối nhận biết thì giờ được thăm viếng của mình, và đồng thời, tiến trình phán xét đối với đại dâm phụ Ba-by-lôn bắt đầu.

In the day of His acceptance, He promises to comfort all that mourn, and those who mourn in Jerusalem are illustrated in Ezekiel chapter nine. Their comfort is brought about by the Comforter, through the reception of the latter rain message which is then being poured upon them. But only if they recognize the rain. Once they possess the Comforter, and accomplish the work of building the old waste places, through the methodology of “line upon line,” that is illustrated in the passage of Isaiah as the work of placing the line of prophecy that represents the desolation of sacred history, upon another line of prophecy which illustrates a desolation. In that work they raise up the desolations of many generations. Then the “strangers” will respond to those that mourn, who are lifted up as an ensign, for the strangers to see.

Trong ngày Ngài được chấp nhận, Ngài hứa sẽ an ủi mọi kẻ than khóc, và những người than khóc tại Giê-ru-sa-lem được minh họa trong Ê-xê-chi-ên chương chín. Sự an ủi của họ được mang đến bởi Đấng An Ủi, qua việc tiếp nhận thông điệp mưa cuối mùa đang được đổ trên họ. Nhưng chỉ nếu họ nhận biết cơn mưa ấy. Khi họ đã có Đấng An Ủi và hoàn thành công việc xây dựng lại những nơi hoang phế xưa, bằng phương pháp “dòng trên dòng,” điều được minh họa trong đoạn trong Sách Ê-sai như là công việc đặt dòng tiên tri đại diện cho sự hoang phế của lịch sử thánh lên trên một dòng tiên tri khác minh họa một sự hoang phế. Trong công việc đó, họ dựng lại những chốn hoang phế của nhiều thế hệ. Bấy giờ những “người ngoại bang” sẽ đáp lại những người than khóc, là những người được giương lên như một kỳ hiệu để người ngoại bang nhìn thấy.

Christ’s proclamation of His work and ministry, as set forth in Isaiah chapter sixty-one, is the work and ministry of the one hundred and forty-four thousand. That work has been illustrated in the sacred reform movements, and in 1989, the time of the end arrived that all the previous “times of the end” had prefigured. Just as one verse, Daniel chapter eight, verse fourteen was identified as the foundation and central pillar of the Millerite movement, the verse that is the foundation and central pillar of the movement of Future for America is Daniel chapter eleven, verse forty. For the Millerites, the light of the central pillar was represented as the light of the vision of the Ulai River, and for the movement of Future for America the light of the central pillar was represented as the light of the vision of the Hiddekel River.

Sự công bố của Đấng Christ về công việc và chức vụ của Ngài, như được trình bày trong Ê-sai đoạn sáu mươi mốt, chính là công việc và chức vụ của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Công việc ấy đã được minh họa trong các phong trào cải chánh thiêng liêng, và vào năm 1989 đã đến “thời kỳ cuối cùng” mà mọi “thời kỳ cuối cùng” trước đó đã báo trước. Cũng như một câu, Đa-ni-ên đoạn tám, câu mười bốn, đã được xác định là nền tảng và trụ cột trung tâm của phong trào Miller, thì câu làm nền tảng và trụ cột trung tâm của phong trào Future for America là Đa-ni-ên đoạn mười một, câu bốn mươi. Đối với những người Miller, ánh sáng của trụ cột trung tâm được biểu trưng như ánh sáng của khải tượng về sông Ulai, và đối với phong trào Future for America, ánh sáng của trụ cột trung tâm được biểu trưng như ánh sáng của khải tượng về sông Hiddekel.

“The light that Daniel received from God was given especially for these last days. The visions he saw by the banks of the Ulai and the Hiddekel, the great rivers of Shinar, are now in process of fulfillment, and all the events foretold will soon come to pass.” Testimonies to Ministers, 112.

"Ánh sáng mà Daniel nhận từ Đức Chúa Trời đã được ban đặc biệt cho những ngày sau rốt này. Những khải tượng ông thấy bên bờ sông Ulai và Hiddekel, những con sông lớn của Shinar, hiện đang được ứng nghiệm, và mọi sự kiện đã được báo trước sẽ sớm xảy ra." Testimonies to Ministers, 112.

The light of both the visions represented by the two rivers is linked together, and comes to pass in the last days. Their mutual “link” represents the combination of human and divine, which is the message that Sister White repeatedly identifies as Christ’s message in the context that humanity combined with divinity does not sin. The two rivers represent that very linkage.

Ánh sáng của cả hai khải tượng, được biểu trưng bởi hai con sông, được liên kết với nhau và sẽ ứng nghiệm trong những ngày sau rốt. “Mối liên kết” lẫn nhau của chúng tượng trưng cho sự kết hợp giữa nhân tính và thần tính, là sứ điệp mà Bà White nhiều lần xác định là sứ điệp của Đấng Christ trong bối cảnh nhân tính kết hợp với thần tính thì không phạm tội. Hai con sông tượng trưng chính cho mối liên kết ấy.

“Nothing less than perfect obedience can meet the standard of God’s requirement. He has not left His requirements indefinite. He has enjoined nothing that is not necessary in order to bring man into harmony with Him. We are to point sinners to His ideal of character and to lead them to Christ, by whose grace only can this ideal be reached.

Chỉ có sự vâng phục trọn vẹn mới có thể đáp ứng tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời đòi hỏi. Ngài không để những yêu cầu của Ngài mơ hồ. Ngài không truyền dạy điều gì là không cần thiết để đưa con người vào sự hòa hợp với Ngài. Chúng ta phải chỉ cho tội nhân thấy lý tưởng về phẩm cách của Ngài và dẫn họ đến với Đấng Christ; chỉ nhờ ân điển của Đấng Christ, lý tưởng này mới có thể đạt được.

“The Saviour took upon Himself the infirmities of humanity and lived a sinless life, that men might have no fear that because of the weakness of human nature they could not overcome. Christ came to make us ‘partakers of the divine nature,’ and His life declares that humanity, combined with divinity, does not commit sin.

Đấng Cứu Thế đã mang lấy những yếu đuối của nhân loại và sống một đời sống không phạm tội, để con người không còn sợ rằng vì sự yếu đuối của bản tính nhân loại mà họ không thể thắng hơn. Đấng Christ đã đến để làm cho chúng ta trở nên 'những người dự phần vào bản tính thần linh', và đời sống của Ngài khẳng định rằng nhân tính, khi kết hợp với thần tính, không phạm tội.

“The Saviour overcame to show man how he may overcome. All the temptations of Satan, Christ met with the word of God. By trusting in God’s promises, He received power to obey God’s commandments, and the tempter could gain no advantage. To every temptation His answer was, ‘It is written.’ So God has given us His word wherewith to resist evil. Exceeding great and precious promises are ours, that by these we ‘might be partakers of the divine nature, having escaped the corruption that is in the world through lust.’ 2 Peter 1:4.

Đấng Cứu Thế đã chiến thắng để chỉ cho con người cách họ có thể chiến thắng. Đấng Christ đã dùng Lời Đức Chúa Trời để đối phó với mọi cơn cám dỗ của Sa-tan. Bởi tin cậy các lời hứa của Đức Chúa Trời, Ngài đã nhận được quyền năng để vâng giữ các điều răn của Ngài, và kẻ cám dỗ không thể chiếm được ưu thế nào. Trước mỗi cơn cám dỗ, câu đáp của Ngài là: “Có lời chép rằng.” Vì vậy, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta Lời của Ngài, nhờ đó chúng ta chống cự điều ác. Những lời hứa rất lớn và quý báu thuộc về chúng ta, để nhờ đó chúng ta “được dự phần bản tính thần linh, đã thoát khỏi sự hư nát ở thế gian bởi dục vọng.” 2 Phi-e-rơ 1:4.

“Bid the tempted one look not to circumstances, to the weakness of self, or to the power of temptation, but to the power of God’s word. All its strength is ours. ‘Thy word,’ says the psalmist, ‘have I hid in mine heart, that I might not sin against Thee.’ ‘By the word of Thy lips I have kept me from the paths of the destroyer.’ Psalm 119:11; 17:4.” The Ministry of Healing, 181.

Hãy bảo người đang bị cám dỗ đừng nhìn vào hoàn cảnh, vào sự yếu đuối của chính mình, hay vào sức mạnh của cám dỗ, nhưng hãy nhìn vào quyền năng của Lời Đức Chúa Trời. Tất cả sức mạnh của Lời ấy là của chúng ta. “Lời Ngài,” tác giả Thi Thiên nói, “tôi đã giấu trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Ngài.” “Bởi lời từ môi Ngài tôi đã giữ mình khỏi các nẻo của kẻ hủy diệt.” Thi Thiên 119:11; 17:4. Chức Vụ Chữa Lành, 181.

The increase of knowledge in 1798 and in 1989, represented an unsealing of God’s prophetic Word. His Word supplies the power to overcome as He overcame, and “His life declares that humanity, combined with divinity, does not commit sin.” The vision of the Ulai River is the marah vision of His appearance, that is represented by the prophecy of the twenty-three hundred days. The vision of the Hiddekel River is the chazon vision of prophetic history, that is represented by the twenty-five hundred and twenty year prophecy. The marah vision represents divinity and the chazon vision represents humanity.

Sự gia tăng hiểu biết vào năm 1798 và năm 1989 đã đánh dấu việc mở ấn Lời tiên tri của Đức Chúa Trời. Lời của Ngài ban quyền năng để chiến thắng như Ngài đã chiến thắng, và “đời sống của Ngài tuyên bố rằng nhân tính, khi kết hợp với thần tính, thì không phạm tội.” Khải tượng về sông Ulai là khải tượng marah về sự xuất hiện của Ngài, được biểu thị bởi lời tiên tri hai nghìn ba trăm ngày. Khải tượng về sông Hiddekel là khải tượng chazon về lịch sử tiên tri, được biểu thị bởi lời tiên tri hai nghìn năm trăm hai mươi năm. Khải tượng marah đại diện cho thần tính và khải tượng chazon đại diện cho nhân tính.

Both the rivers of ancient Shinar, which are the Ulai and the Hiddekel, or what is known today as the Tigris and the Euphrates ultimately merge into the Shatt al-Arab waterway in southern Iraq, and the Shatt al-Arab then empties into the Persian Gulf. Jesus employs the physical and natural to represent the spiritual, and the visions associated with the two rivers that are now in the process of fulfillment, represent a linkage of the human and the divine that occurs as they are reaching the conclusion of their travel to the sea. This truth is established in the beginning of the two prophecies that are represented by the two visions of Daniel chapter eight, verses thirteen and fourteen. One vision is the question, the other is the answer, and logically they cannot be separated.

Cả hai con sông của xứ Shinar cổ xưa, là Ulai và Hiddekel, hay nói theo tên gọi ngày nay là Tigris và Euphrates, rốt cuộc hợp lưu vào sông Shatt al-Arab ở miền nam Iraq, và sông Shatt al-Arab sau đó đổ ra Vịnh Ba Tư. Chúa Giê-su dùng những điều thuộc thể và tự nhiên để biểu trưng cho điều thuộc linh, và những khải tượng gắn với hai con sông hiện đang trong tiến trình ứng nghiệm, tượng trưng cho sự kết nối giữa con người và thần linh diễn ra khi chúng sắp kết thúc hành trình đổ ra biển. Chân lý này được xác lập ngay ở phần mở đầu của hai lời tiên tri được thể hiện qua hai khải tượng trong Đa-ni-ên chương tám, câu mười ba và mười bốn. Một khải tượng là câu hỏi, khải tượng kia là câu trả lời, và theo lô-gic, chúng không thể tách rời.

The vision of humanity, identifying the trampling down of the sanctuary and host, began in the year 677 BC, and the vision of divinity, that identifies the appearance of Christ, began in the year 457 BC. The linkage of divinity and humanity is represented by the two hundred and twenty years, that connects the two starting points of the two visions. Two hundred and twenty is a symbol of “the linkage of humanity with divinity,” and is also represented by the linkage of the increase of knowledge at the time of the end in 1798, with the increase of knowledge at the time of the end in 1989.

Khải tượng về nhân tính, xác định sự giày đạp nơi thánh và đạo binh, bắt đầu vào năm 677 TCN, và khải tượng về thần tính, xác định sự xuất hiện của Đấng Christ, bắt đầu vào năm 457 TCN. Mối liên kết giữa thần tính và nhân tính được biểu trưng bởi khoảng thời gian hai trăm hai mươi năm, kết nối hai điểm khởi đầu của hai khải tượng. Hai trăm hai mươi là biểu tượng của “mối liên kết giữa nhân tính với thần tính”, và cũng được thể hiện qua mối liên kết giữa sự gia tăng hiểu biết vào thời kỳ cuối cùng năm 1798 và sự gia tăng hiểu biết vào thời kỳ cuối cùng năm 1989.

The formalized message derived from the increase of knowledge in 1798, was first presented by Miller in 1831 (and then in the Vermont Telegraph newspaper in 1833). 1831 is two hundred and twenty years after the publishing of the King James Bible in the year 1611. The King James Bible represented a twofold document of the Old and New Testaments. The beginning and ending of the two hundred-and twenty-years “linked” a divine publication with a human publication. The human publication’s information was derived from the divine light that was unsealed at the time the end in 1798, and then was formalized through the work of a human instrument, who had begun to publish it in 1831. It was a divine publication, with a divinely sealed message, that was afterward unsealed by humanity, and thereafter presented by a human instrument. The Hebrew word translated as “publish” in God’s word means to call out to cry (unto), (be) famous, guest, invite, mention, (give) name, preach, proclaim, pronounce, publish. Miller began to publish his message in 1831, then in 1833 it was literally published in the Vermont Telegraph.

Thông điệp được hệ thống hóa, bắt nguồn từ sự gia tăng tri thức vào năm 1798, lần đầu được Miller trình bày vào năm 1831 (và sau đó trên tờ báo Vermont Telegraph vào năm 1833). Năm 1831 là hai trăm hai mươi năm sau khi Kinh Thánh King James được xuất bản vào năm 1611. Kinh Thánh King James là một bản văn gồm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước. Điểm đầu và điểm cuối của khoảng hai trăm hai mươi năm đã “liên kết” một ấn phẩm thiêng liêng với một ấn phẩm của con người. Thông tin của ấn phẩm của con người được rút ra từ ánh sáng thiêng liêng đã được mở ấn vào “thời kỳ cuối cùng” năm 1798, rồi được hệ thống hóa thông qua công việc của một công cụ con người; người ấy đã bắt đầu công bố nó vào năm 1831. Đó là một ấn phẩm thiêng liêng, với một thông điệp được đóng ấn cách thiêng liêng, sau đó được nhân loại mở ấn và rồi được trình bày bởi một công cụ con người. Từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là “publish” trong Lời của Đức Chúa Trời có nghĩa là: gọi, kêu (đến), (trở nên) nổi tiếng, khách, mời, nhắc đến, (đặt) tên, rao giảng, công bố, tuyên xướng, xuất bản. Miller bắt đầu công bố thông điệp của mình vào năm 1831, rồi đến năm 1833 nó đã được xuất bản theo nghĩa đen trên tờ Vermont Telegraph.

The formalized message derived from the increase of knowledge in 1989 was first published in 1996 (in The Time of the End magazine), two hundred and twenty years after the publishing of the two sacred documents known as the Declaration of Independence in 1776 (and thereafter the Constitution of the United States) in 1789. The beginning and ending of the two hundred-and twenty-years links divinity with humanity, and it does so through the publishing of the two divine documents, beginning in 1776. When the book of Daniel was unsealed at the time of the end in 1989, the formalized message which had been brought about through the work of a human instrument was published in 1996. The sequence was a divine publication, then an unsealing, and then a human publication.

Thông điệp đã được chính thức hóa, phát sinh từ sự gia tăng tri thức vào năm 1989, được xuất bản lần đầu vào năm 1996 (trên tạp chí The Time of the End), hai trăm hai mươi năm sau khi hai văn kiện thiêng liêng là Tuyên ngôn Độc lập (1776) và sau đó là Hiến pháp Hoa Kỳ (1789) được công bố. Điểm khởi đầu và kết thúc của khoảng thời gian hai trăm hai mươi năm ấy liên kết thần tính với nhân loại, và điều đó được thực hiện qua việc công bố hai văn kiện thiêng liêng, bắt đầu từ năm 1776. Khi sách Đa-ni-ên được mở ấn vào thời kỳ tận cùng năm 1989, thông điệp đã được chính thức hóa, vốn được hình thành qua công việc của một khí cụ con người, đã được xuất bản vào năm 1996. Trình tự là: một sự công bố thiêng liêng, rồi đến một sự mở ấn, và sau đó là một sự công bố của con người.

In both times of the end, the three steps of truth are identified. They both begin with a divine publication as the first step, and a human publication explaining a divine message is the last step. The middle step is when the Lion of the tribe of Judah unseals the divine message for that particular history, and thereafter selects a human instrument to gather up the light that was unsealed from the divine document. When the unsealing occurs there is rebellion manifested by the wicked who do not understand the increase of knowledge. Thus, a divine publication is represented by the first letter of the Hebrew alphabet, the increase of knowledge is represented by the thirteenth letter where rebellion is manifested, and the human publication of the special divine message for that history is the last letter of the Hebrew alphabet, and taken together the three letters mean “truth”.

Trong cả hai thời kỳ cuối cùng, ba bước của chân lý được xác định. Cả hai đều bắt đầu bằng một sự công bố thần linh như là bước thứ nhất, và bước cuối cùng là một ấn phẩm của con người giải thích một sứ điệp thần linh. Bước ở giữa là khi Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ấn sứ điệp thần linh cho lịch sử cụ thể ấy, và sau đó chọn một khí cụ con người để thu góp ánh sáng đã được mở ra từ văn kiện thần linh. Khi việc mở ấn diễn ra, sự phản loạn bộc lộ nơi những kẻ ác, là những người không hiểu sự gia tăng hiểu biết. Vì thế, một sự công bố thần linh được biểu trưng bởi chữ cái thứ nhất của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ, sự gia tăng hiểu biết được biểu trưng bởi chữ cái thứ mười ba, nơi sự phản loạn được bộc lộ, và ấn phẩm của con người về sứ điệp thần linh đặc biệt cho lịch sử ấy là chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ; và khi ghép lại, ba chữ cái ấy có nghĩa là "chân lý".

The visions of the Ulai and Hiddekel Rivers that are now in the process of fulfillment identify that in the last days the increase of knowledge from both rivers merge together to prove that divinity combined with humanity does not sin. Daniel received the vision that represents the appearance of Christ at the conclusion of the twenty-three hundred year prophecy in 1844 while by the Ulai River.

Những khải tượng về sông Ulai và sông Hiddekel, hiện đang trong tiến trình ứng nghiệm, cho thấy rằng trong những ngày sau rốt, sự gia tăng hiểu biết từ cả hai dòng sông sẽ hợp lại để chứng minh rằng thần tính kết hợp với nhân tính thì không phạm tội. Daniel đã nhận được khải tượng mô tả sự xuất hiện của Đấng Christ vào lúc kết thúc lời tiên tri hai ngàn ba trăm năm, vào năm 1844, khi ông đang ở bên sông Ulai.

And I saw in a vision; and it came to pass, when I saw, that I was at Shushan in the palace, which is in the province of Elam; and I saw in a vision, and I was by the river of Ulai. Daniel 8:2.

Và tôi thấy trong một khải tượng; và đã xảy ra rằng, khi tôi thấy, tôi đang ở trong cung điện tại Shushan, thuộc tỉnh Elam; và tôi thấy trong một khải tượng, và tôi ở bên sông Ulai. Daniel 8:2.

Daniel received the vision that represents the vision of the twenty five hundred and twenty years of prophetic history while by the Hiddekel River.

Daniel đã nhận được khải tượng tượng trưng cho khải tượng về hai nghìn năm trăm hai mươi năm lịch sử tiên tri khi đang ở bên bờ sông Hiddekel.

And in the four and twentieth day of the first month, as I was by the side of the great river, which is Hiddekel. Daniel 10:4.

Và vào ngày hai mươi bốn của tháng thứ nhất, khi tôi đang ở bên bờ sông lớn, tức là sông Hiddekel. Đa-ni-ên 10:4.

Gabriel thereafter identified the purpose of the chazon vision of the Hiddekel River in verse fourteen.

Sau đó, Gabriel nêu rõ mục đích của khải tượng chazon về Sông Hiddekel trong câu mười bốn.

Now I am come to make thee understand what shall befall thy people in the latter days: for yet the vision is for many days. Daniel 10:14.

Bây giờ ta đến để làm cho ngươi hiểu điều gì sẽ xảy đến cho dân ngươi trong những ngày sau rốt: vì khải tượng ấy còn thuộc về nhiều ngày nữa. Daniel 10:14.

The vision given by the Ulai River identifies Christ’s “appearance”, (divinity) when He suddenly came unto His temple on October 22, 1844. It represented “divinity” entering into the temple of the Millerites (humanity) on that date, for the Day of Atonement, meaning the day of “at one-ment”, represents the combination of divinity with humanity. The vision given by the Hiddekel River identifies what shall befall God’s people (humanity) in the latter days.

Khải tượng tại sông Ulai xác định “sự xuất hiện” (thần tính) của Đấng Christ khi Ngài thình lình đến đền thờ của Ngài vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Điều đó tượng trưng cho “thần tính” bước vào đền thờ của những người Millerite (nhân loại) trong ngày ấy, vì Ngày Chuộc Tội, nghĩa là ngày của “at one-ment”, đại diện cho sự kết hợp của thần tính với nhân tính. Khải tượng tại sông Hiddekel xác định điều gì sẽ xảy đến cho dân sự của Đức Chúa Trời (nhân loại) trong những ngày sau rốt.

The beginning of the vision of the “appearance” was the year 457 BC. Two hundred and twenty years after the prophetic period identifying the trampling down of the sanctuary and the host which began in 677 BC. The ending of the two hundred and twenty years that were linked together at the starting point of the two visions, was marked by the Wonderful Numberer, who is also the Wonderful Linguist in Habakkuk 2:20.

Sự khởi đầu của khải tượng về “sự xuất hiện” là năm 457 TCN. Hai trăm hai mươi năm sau thời kỳ tiên tri xác định sự chà đạp đền thánh và đạo binh, vốn bắt đầu vào năm 677 TCN. Sự kết thúc của hai trăm hai mươi năm, vốn được liên kết với nhau tại điểm khởi đầu của hai khải tượng, đã được đánh dấu bởi Đấng Đếm Lạ Lùng, cũng là Đấng Ngôn Ngữ Lạ Lùng trong Ha-ba-cúc 2:20.

But the Lord is in his holy temple: let all the earth keep silence before him. Habakkuk 2:20.

Nhưng Chúa ngự trong đền thánh của Ngài: toàn cõi đất hãy nín lặng trước mặt Ngài. Ha-ba-cúc 2:20.

The link of humanity and divinity represented in the beginning by the starting points of the two prophecies was identified at their mutual endings by the chapter and verse that described the appearance of divinity suddenly coming into the temple He had constructed during the forty-six years beginning at the time of the end in 1798, and ending forty-six years later on October 22, 1844.

Mối liên kết giữa nhân tính và thần tính, vốn được biểu thị ngay từ đầu bởi các điểm khởi đầu của hai lời tiên tri, đã được xác định tại điểm kết thúc chung của chúng bởi chương và câu mô tả sự xuất hiện của Đấng Thiêng Liêng đột ngột bước vào đền thờ mà Ngài đã xây dựng suốt bốn mươi sáu năm, bắt đầu từ thời kỳ cuối cùng năm 1798 và kết thúc bốn mươi sáu năm sau, vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.

Know ye not that ye are the temple of God, and that the Spirit of God dwelleth in you? If any man defile the temple of God, him shall God destroy; for the temple of God is holy, which temple ye are. 1 Corinthians 3:16, 17.

Anh em há chẳng biết rằng anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong anh em sao? Nếu ai làm ô uế đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt người ấy; vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, và đền thờ ấy chính là anh em. 1 Cô-rinh-tô 3:16, 17.

On October 22, 1844, in agreement with the vision of the “appearance”, Habakkuk identified that the Lord was in His holy temple. He had erected the temple that had been destroyed and trampled down for twenty-five hundred and twenty years, in forty-six years.

Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, phù hợp với thị kiến về "sự xuất hiện", Habakkuk nhận ra rằng Chúa đang ở trong đền thánh của Ngài. Ngài đã dựng lại đền thờ, vốn đã bị phá hủy và giày xéo suốt hai nghìn năm trăm hai mươi năm, trong bốn mươi sáu năm.

And speak unto him, saying, Thus speaketh the Lord of hosts, saying, Behold the man whose name is The BRANCH; and he shall grow up out of his place, and he shall build the temple of the Lord: Even he shall build the temple of the Lord; and he shall bear the glory, and shall sit and rule upon his throne; and he shall be a priest upon his throne: and the counsel of peace shall be between them both. And the crowns shall be to Helem, and to Tobijah, and to Jedaiah, and to Hen the son of Zephaniah, for a memorial in the temple of the Lord. And they that are far off shall come and build in the temple of the Lord, and ye shall know that the Lord of hosts hath sent me unto you. And this shall come to pass, if ye will diligently obey the voice of the Lord your God. Zechariah 6:12–15.

Hãy nói với người rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Kìa, người có tên là Chồi; người sẽ mọc lên từ chỗ mình và sẽ xây cất đền thờ của Đức Giê-hô-va. Chính người sẽ xây cất đền thờ của Đức Giê-hô-va; người sẽ mang lấy vinh hiển, sẽ ngồi và cai trị trên ngai mình; người sẽ làm thầy tế lễ trên ngai mình; và sẽ có sự bàn luận bình an giữa hai bên. Các mão triều sẽ để cho Hê-lem, Tô-bi-gia, Giê-đa-gia, và Hên, con trai của Xê-pha-nia, làm kỷ niệm trong đền thờ của Đức Giê-hô-va. Những kẻ ở xa sẽ đến và xây cất trong đền thờ của Đức Giê-hô-va; và các ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va vạn quân đã sai ta đến cùng các ngươi. Điều ấy sẽ xảy ra, nếu các ngươi siêng năng vâng theo tiếng của Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi. Xa-cha-ri 6:12-15.

In John 2:20, after Christ had cleansed the temple, which according to Sister White was a fulfillment of Malachi chapter three, as was October 22, 1844, the Messenger of the Covenant suddenly came to His temple.

Trong Giăng 2:20, sau khi Đấng Christ đã thanh tẩy đền thờ, điều mà theo Bà White là sự ứng nghiệm của Ma-la-chi đoạn ba, cũng như ngày 22 tháng 10 năm 1844, Sứ giả của Giao ước đã thình lình đến đền thờ của Ngài.

Jesus answered and said unto them, Destroy this temple, and in three days I will raise it up. Then said the Jews, Forty and six years was this temple in building, and wilt thou rear it up in three days? But he spake of the temple of his body. John 2:19–20.

Đức Giê-su đáp và nói với họ: Hãy phá đền thờ này đi, và trong ba ngày ta sẽ dựng lại. Bấy giờ người Do Thái nói: Đền thờ này xây mất bốn mươi sáu năm, mà ông lại dựng lại trong ba ngày sao? Nhưng Ngài nói về đền thờ thân thể Ngài. Giăng 2:19-20.

In fulfillment of Malachi chapter three, Christ suddenly came to His temple when He cleansed the temple at the beginning of His ministry in John chapter two, which typified October 22, 1844. The temple cleansing by Christ in John chapter two, and October 22, 1844, were a fulfillment of Malachi chapter three. In John chapter TWO and verse TWENTY, we are informed that the human temple had been erected in forty-six years, and the divine temple was raised up in three days. The human temple only becomes Habakkuk’s “holy temple” when divinity suddenly comes into it, as it did on October 22, 1844, for divinity combined with humanity does not sin. The visions of the two great rivers of Shinar represent the truth that humanity combined with divinity does not sin.

Để ứng nghiệm Ma-la-chi chương ba, Đấng Christ đã đột ngột đến đền thờ của Ngài khi Ngài thanh tẩy đền thờ vào lúc khởi đầu chức vụ của mình trong Giăng chương hai, điều này tiêu biểu cho ngày 22 tháng 10 năm 1844. Việc Đấng Christ thanh tẩy đền thờ trong Giăng chương hai, và ngày 22 tháng 10 năm 1844, là sự ứng nghiệm của Ma-la-chi chương ba. Trong Giăng chương HAI, câu HAI MƯƠI, chúng ta được cho biết rằng đền thờ loài người đã được xây dựng trong bốn mươi sáu năm, còn đền thờ thần linh đã được dựng lên trong ba ngày. Đền thờ loài người chỉ trở thành “đền thánh” của Ha-ba-cúc khi thần tính đột nhiên ngự vào đó, như đã xảy ra vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, vì thần tính kết hợp với nhân tính thì không phạm tội. Những khải tượng về hai con sông lớn của Shinar biểu thị chân lý rằng nhân tính kết hợp với thần tính thì không phạm tội.

We will continue our consideration of verse forty of Daniel chapter eleven in the next article.

Chúng ta sẽ tiếp tục xem xét câu 40 của sách Đa-ni-ên đoạn 11 trong bài viết tiếp theo.

Ye also, as lively stones, are built up a spiritual house, an holy priesthood, to offer up spiritual sacrifices, acceptable to God by Jesus Christ. 1 Peter 2:5.

Anh em cũng vậy, như những viên đá sống, được xây dựng nên một nhà thuộc linh, một chức tế lễ thánh, để dâng những của lễ thuộc linh, nhờ Đức Chúa Giê-xu Christ mà đẹp lòng Đức Chúa Trời. 1 Phi-e-rơ 2:5.