All the prophets agree with one another, and they all testify more specifically about the end of the world than the days in which they lived. Their testimony is to be applied in the prophetic period of the sealing time of the one hundred and forty-four thousand, for that is where the effect of every vision occurs. Isaiah, in chapter six, in vision was allowed to look into the Most Holy Place, during the period of the sealing time of the one hundred and forty-four thousand, where He saw God’s glory. We know it was post-September 11, 2001, for he heard the angels in verse three, identify that the earth was then full of His glory.

Tất cả các tiên tri đều đồng thuận với nhau, và họ đều làm chứng về thời kỳ tận thế một cách cụ thể hơn là về những ngày họ đã sống. Lời chứng của họ được áp dụng trong thời kỳ tiên tri của giai đoạn niêm ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn, vì đó là lúc mọi khải tượng đều ứng nghiệm. Ê-sai, trong chương sáu, trong khải tượng đã được cho phép nhìn vào Nơi Chí Thánh, trong thời kỳ niêm ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn, nơi ông thấy vinh quang của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết đó là sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, vì ông nghe các thiên sứ trong câu ba xác nhận rằng khi ấy đất đầy dẫy vinh quang của Ngài.

“When God was about to send Isaiah with a message to His people, He first permitted the prophet to look in vision into the holy of holies within the sanctuary. Suddenly the gate and the inner veil of the temple seemed to be uplifted or withdrawn, and he was permitted to gaze within, upon the holy of holies, where even the prophet’s feet might not enter. There rose before him a vision of Jehovah sitting upon a throne high and lifted up, while the train of His glory filled the temple. Around the throne were seraphim, as guards about the great King, and they reflected the glory that surrounded them. As their songs of praise resounded in deep notes of adoration, the pillars of the gate trembled, as if shaken by an earthquake. With lips unpolluted by sin, these angels poured forth the praises of God. ‘Holy, holy, holy, is the Lord of hosts,’ they cried; ‘the whole earth is full of His glory.’ [See Isaiah 6:1–8.]

"Khi Đức Chúa Trời sắp sai Ê-sai đem một sứ điệp đến với dân Ngài, Ngài trước hết cho phép nhà tiên tri, trong khải tượng, nhìn vào Nơi Chí Thánh trong đền thờ. Bỗng nhiên, cửa và bức màn bên trong của đền thờ dường như được nhấc lên hoặc kéo ra, và ông được phép nhìn vào bên trong, vào Nơi Chí Thánh, nơi mà ngay cả chân của nhà tiên tri cũng không thể bước vào. Trước mặt ông hiện ra khải tượng về Đức Giê-hô-va ngự trên một ngai cao và được tôn lên, còn vạt áo vinh hiển của Ngài thì đầy dẫy đền thờ. Chung quanh ngai có các Sê-ra-phim, như những vệ binh quanh vị Đại Vương, và họ phản chiếu vinh quang bao phủ họ. Khi những bài ca ngợi khen của họ vang lên bằng những âm hưởng sâu thẳm của sự tôn thờ, các trụ cửa rung chuyển, như thể bị động đất lay. Với đôi môi không vẩn đục bởi tội lỗi, các thiên sứ ấy tuôn đổ lời ngợi khen Đức Chúa Trời. 'Thánh thay, thánh thay, thánh thay, là Đức Giê-hô-va vạn quân,' họ kêu lên; 'cả trái đất đầy dẫy vinh quang của Ngài.' [Xem Ê-sai 6:1-8.]"

“The seraphim around the throne are so filled with reverential awe as they behold the glory of God, that they do not for an instant look upon themselves with admiration. Their praise is for the Lord of hosts. As they look into the future, when the whole earth shall be filled with His glory, the triumphant song is echoed from one to another in melodious chant, ‘Holy, holy, holy, is the Lord of hosts.’ They are fully satisfied to glorify God; abiding in His presence, beneath His smile of approbation, they wish for nothing more. In bearing His image, in doing His bidding, in worshiping Him, their highest ambition is reached.” Gospel Workers, 21.

Các Sê-ra-phim xung quanh ngai tràn ngập lòng kính sợ tôn kính khi họ chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Chúa Trời, đến nỗi họ không một khoảnh khắc nào ngắm nhìn chính mình với sự tự khâm phục. Lời ngợi khen của họ dâng lên Đức Giê-hô-va vạn quân. Khi họ hướng về tương lai, khi cả trái đất sẽ đầy dẫy vinh quang của Ngài, bài ca khải hoàn vang dội từ vị này sang vị khác trong khúc xướng du dương: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay, là Đức Giê-hô-va vạn quân.” Họ hoàn toàn thỏa lòng khi tôn vinh Đức Chúa Trời; ở trong sự hiện diện của Ngài, dưới nụ cười ưng thuận của Ngài, họ chẳng ước muốn gì hơn. Trong việc mang hình ảnh của Ngài, làm theo ý chỉ của Ngài, thờ phượng Ngài, họ đã đạt tới chí nguyện cao nhất của mình. Gospel Workers, 21.

In agreement with Isaiah, the prophet Ezekiel was also allowed to see into the Most Holy Place. Ezekiel’s vision began in chapter one, verse one.

Giống như Ê-sai, tiên tri Ê-xê-chi-ên cũng được cho phép nhìn vào Nơi Chí Thánh. Khải tượng của Ê-xê-chi-ên bắt đầu ở chương một, câu một.

Now it came to pass in the thirtieth year, in the fourth month, in the fifth day of the month, as I was among the captives by the river of Chebar, that the heavens were opened, and I saw visions of God. Ezekiel 1:1.

Vào năm thứ ba mươi, tháng thứ tư, ngày mồng năm trong tháng, khi tôi đang ở giữa những người lưu đày bên bờ sông Kê-ba, trời mở ra, và tôi thấy những khải tượng của Đức Chúa Trời. Ê-xê-chi-ên 1:1.

His vision continues on for chapters, and it is a continuation of the same vision in chapters eight and nine, which identifies the sealing of the one hundred and forty-four thousand. We know this by his careful testimony.

Thị kiến của ông tiếp diễn qua nhiều chương, và đó là sự tiếp nối của cùng một thị kiến trong các chương tám và chín, trong đó chỉ ra việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Chúng ta biết điều này nhờ lời chứng cẩn thận của ông.

And it came to pass in the sixth year, in the sixth month, in the fifth day of the month, as I sat in mine house, and the elders of Judah sat before me, that the hand of the Lord God fell there upon me. Then I beheld, and lo a likeness as the appearance of fire: from the appearance of his loins even downward, fire; and from his loins even upward, as the appearance of brightness, as the colour of amber. And he put forth the form of an hand, and took me by a lock of mine head; and the spirit lifted me up between the earth and the heaven, and brought me in the visions of God to Jerusalem, to the door of the inner gate that looketh toward the north; where was the seat of the image of jealousy, which provoketh to jealousy. And, behold, the glory of the God of Israel was there, according to the vision that I saw in the plain. Ezekiel 8:1–4.

Vào năm thứ sáu, tháng thứ sáu, ngày mồng năm trong tháng, khi tôi đang ngồi trong nhà mình, còn các trưởng lão của Giu-đa ngồi trước mặt tôi, thì bàn tay của Chúa Giê-hô-va giáng trên tôi tại đó. Tôi nhìn, kìa có một hình dáng như lửa: từ thắt lưng trở xuống thì là lửa; còn từ thắt lưng trở lên thì như vẻ sáng chói, như màu hổ phách. Ngài đưa ra hình như một bàn tay, nắm lấy tôi bởi một lọn tóc trên đầu tôi; và Thần cất tôi lên giữa đất và trời, đem tôi trong khải tượng của Đức Chúa Trời đến Giê-ru-sa-lem, đến cửa của cổng bên trong quay về hướng bắc, nơi đặt hình tượng ghen tuông, là vật khiến ghen tuông. Và kìa, vinh quang của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ở đó, đúng như khải tượng mà tôi đã thấy tại đồng bằng. Ê-xê-chi-ên 8:1-4.

The vision of chapters eight and nine that identify the two classes that are developed during the sealing of the one hundred and forty-four thousand, was, “according to the vision that” Ezekiel had seen “in the plain.” The vision he had seen in the plain is identified in chapter three.

Khải tượng ở các chương tám và chín, những chương xác định hai nhóm được hình thành trong thời kỳ đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là “theo khải tượng mà” Ê-xê-chi-ên đã thấy “trên đồng bằng.” Khải tượng ông đã thấy trên đồng bằng được xác định ở chương ba.

And the hand of the Lord was there upon me; and he said unto me, Arise, go forth into the plain, and I will there talk with thee. Then I arose, and went forth into the plain: and, behold, the glory of the Lord stood there, as the glory which I saw by the river of Chebar: and I fell on my face. Ezekiel 3:22, 23.

Và ở đó, tay của Chúa ở trên tôi; Ngài phán với tôi: Hãy đứng dậy, đi ra đồng bằng, và tại đó Ta sẽ phán với ngươi. Bấy giờ tôi đứng dậy, đi ra đồng bằng; kìa, vinh quang của Chúa ở đó, giống như vinh quang mà tôi đã thấy bên bờ sông Chebar; tôi bèn sấp mặt xuống. Ê-xê-chi-ên 3:22, 23.

Ezekiel’s vision of the “plain,” was as the “glory which” Ezekiel “saw by the river of Chebar,” and that was the vision of chapter one, verse one. The vision of the sealing in chapter nine, and the vision of the “plain,” were simply continuations of the vision of the river Chebar. It was a vision of the glory of God in the Most Holy Place, during the sealing of the one hundred and forty-four thousand, just as was Isaiah’s vision. Isaiah’s vision was identifying God’s work of raising up messengers during the sealing time, and in chapter two and three, Ezekiel identifies that very work in greater detail than Isaiah, for he illustrates a messenger who is to carry a message to Laodicean Adventism, and in order to understand the message he is to carry to the rebellious people who are being passed by, Ezekiel is commanded to eat the little book, that was in the angel’s hand when He descended on September 11, 2001.

Khải tượng của Ê-xê-chi-ên về “đồng bằng” giống như “vinh quang mà” Ê-xê-chi-ên “đã thấy bên bờ sông Kê-ba”; và đó là khải tượng ở chương một, câu một. Khải tượng về việc đóng ấn trong chương chín và khải tượng về “đồng bằng” đơn giản chỉ là sự tiếp nối của khải tượng bên sông Kê-ba. Đó là một khải tượng về vinh quang của Đức Chúa Trời trong Nơi Chí Thánh, trong thời kỳ đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn, giống như khải tượng của Ê-sai. Khải tượng của Ê-sai xác định công việc của Đức Chúa Trời là dấy lên các sứ giả trong thời kỳ đóng ấn; và trong chương hai và ba, Ê-xê-chi-ên xác định chính công việc ấy chi tiết hơn Ê-sai, vì ông minh họa một sứ giả sẽ mang một sứ điệp đến cho Phục Lâm Laodicea. Và để hiểu sứ điệp mà ông phải mang đến cho dân phản nghịch đang bị bỏ qua, Ê-xê-chi-ên được truyền phải ăn cuốn sách nhỏ, cuốn ở trong tay thiên sứ khi Ngài giáng xuống vào ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Moreover he said unto me, Son of man, eat that thou findest; eat this roll, and go speak unto the house of Israel. So I opened my mouth, and he caused me to eat that roll. And he said unto me, Son of man, cause thy belly to eat, and fill thy bowels with this roll that I give thee. Then did I eat it; and it was in my mouth as honey for sweetness. And he said unto me, Son of man, go, get thee unto the house of Israel, and speak with my words unto them. For thou art not sent to a people of a strange speech and of an hard language, but to the house of Israel; Not to many people of a strange speech and of an hard language, whose words thou canst not understand. Surely, had I sent thee to them, they would have hearkened unto thee. But the house of Israel will not hearken unto thee; for they will not hearken unto me: for all the house of Israel are impudent and hardhearted. Behold, I have made thy face strong against their faces, and thy forehead strong against their foreheads. As an adamant harder than flint have I made thy forehead: fear them not, neither be dismayed at their looks, though they be a rebellious house. Ezekiel 3:1–9.

Hơn nữa, Ngài lại phán với ta: Hỡi con người, hãy ăn điều ngươi thấy; hãy ăn cuộn sách này, rồi đi nói với nhà Israel. Vậy ta mở miệng ra, và Ngài khiến ta ăn cuộn sách ấy. Ngài phán với ta: Hỡi con người, hãy ăn cho đầy bụng, và làm đầy lòng dạ ngươi bằng cuộn sách này mà ta ban cho ngươi. Bấy giờ ta ăn nó; trong miệng ta, nó ngọt như mật. Ngài lại phán với ta: Hỡi con người, hãy đi đến nhà Israel, và dùng lời ta mà nói với họ. Vì ngươi không được sai đến một dân có tiếng nói lạ và ngôn ngữ khó, nhưng đến nhà Israel; không phải đến với nhiều dân có tiếng nói lạ và ngôn ngữ khó, những lời nói mà ngươi không thể hiểu được. Quả thật, nếu ta sai ngươi đến với họ, họ ắt đã lắng nghe ngươi. Nhưng nhà Israel sẽ không lắng nghe ngươi; vì họ chẳng chịu lắng nghe ta: cả nhà Israel đều chai mặt và cứng lòng. Này, ta đã làm cho mặt ngươi cứng rắn đương đầu với mặt họ, và trán ngươi cứng rắn đương đầu với trán họ. Ta đã làm cho trán ngươi như kim cương, cứng hơn đá lửa; đừng sợ họ, cũng đừng khiếp sợ trước nét mặt họ, dẫu họ là một nhà phản nghịch. Ê-xê-chi-ên 3:1-9.

A Gentile in the Bible is a stranger, and a stranger speaks strange speech. Ezekiel was sent to the house of modern Israel, which in the sealing time is the Laodicean Seventh-day Adventist church, which is being passed by. The message during the sealing time of the one hundred and forty-four thousand is for God’s church, which is first judged, and then at the soon-coming Sunday law, the second voice of Revelation chapter eighteen, calls God’s Gentile flock out of Babylon. When Isaiah, in chapter six, is representing those who accept the calling of being sent to the rebellious house with the Laodicean message, he is forewarned that they are a people who in seeing, do not perceive, and in hearing, do not understand. Isaiah records the very attribute that Jesus quoted from Isaiah, chapter six, when He assigned that very attribute to the quibbling Jews who were being passed by in the history of Christ.

Trong Kinh Thánh, dân ngoại là người lạ, và người lạ thì nói lời lẽ lạ lùng. Ê-xê-chi-ên đã được sai đến nhà của Y-sơ-ra-ên hiện đại, mà trong thời kỳ đóng ấn chính là Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy ở tình trạng Lao-đi-xê, và đang bị Chúa bỏ qua. Sứ điệp trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn là dành cho hội thánh của Đức Chúa Trời, là nơi bị phán xét trước hết; rồi đến khi luật ngày Chủ nhật sắp đến, tiếng nói thứ hai của Khải Huyền chương mười tám kêu gọi bầy chiên dân ngoại của Đức Chúa Trời ra khỏi Ba-by-lôn. Khi Ê-sai, trong chương sáu, đại diện cho những người chấp nhận sự kêu gọi được sai đến nhà phản nghịch với sứ điệp Lao-đi-xê, ông được báo trước rằng đó là một dân, thấy mà không nhận biết, nghe mà không hiểu. Ê-sai ghi lại chính đặc điểm mà Chúa Giê-xu đã trích từ Ê-sai chương sáu, khi Ngài gán đặc điểm ấy cho những người Do Thái hay cãi lý, là những người đang bị Chúa bỏ qua trong lịch sử của Đấng Christ.

In chapter twelve, Ezekiel also employs the very same terminology, thus specifically placing chapter twelve, into the sealing time of the one hundred and forty-four thousand.

Trong chương mười hai, Ezekiel cũng sử dụng chính những thuật ngữ y hệt, qua đó đặc biệt đặt chương mười hai vào thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn.

The word of the Lord also came unto me, saying, Son of man, thou dwellest in the midst of a rebellious house, which have eyes to see, and see not; they have ears to hear, and hear not: for they are a rebellious house. Ezekiel 12:1, 2.

Lời của Chúa cũng đến cùng tôi, phán rằng: Hỡi con người, ngươi ở giữa một nhà phản nghịch; chúng có mắt để thấy mà không thấy; có tai để nghe mà không nghe; vì chúng là một nhà phản nghịch. Ê-xê-chi-ên 12:1, 2.

Ezekiel chapter twelve, is identifying the sealing time of the one hundred and forty-four thousand, and in so doing he addresses the counterfeit latter rain message that is offered by the drunkards of Ephraim who rule the people of Jerusalem, the drunkards who cannot read the book that is sealed. Their counterfeit latter rain message is based upon placing the prophetic visions of God’s Word far off into the future.

Ê-xê-chi-ên chương mười hai xác định thời điểm đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn, và qua đó ông đề cập đến sứ điệp mưa cuối mùa giả mạo do những kẻ say sưa của Ép-ra-im, là những kẻ cai trị dân Giê-ru-sa-lem, rao giảng, những kẻ say sưa không thể đọc quyển sách đã được niêm phong. Sứ điệp mưa cuối mùa giả mạo của họ dựa trên việc đặt các khải tượng tiên tri của Lời Đức Chúa Trời vào một tương lai xa.

In verses three through fifteen, Ezekiel is instructed to illustrate God’s people going into the captivity in Babylon. The captivity in Babylon represents the soon-coming Sunday law, and then in verses sixteen through twenty, he identifies the famine that accompanies the destruction of the cities that begins at the hour of the great earthquake, which is the soon-coming Sunday law. The benefits of country living during that crisis time are there represented, and then in verses twenty-one to twenty-eight, we have the passage that was recognized as present truth in Millerite history. The passage is quoted word for word in The Great Controversy in the description of Millerite history in the book.

Trong các câu từ ba đến mười lăm, Ê-xê-chi-ên được chỉ dẫn để minh họa dân sự của Đức Chúa Trời bị đưa vào cảnh lưu đày tại Ba-by-lôn. Cảnh lưu đày tại Ba-by-lôn tượng trưng cho đạo luật Chủ nhật sắp đến, và rồi trong các câu mười sáu đến hai mươi, ông nêu rõ nạn đói đi kèm với sự hủy diệt các thành, vốn bắt đầu vào giờ của trận động đất lớn, tức là đạo luật Chủ nhật sắp đến. Những lợi ích của đời sống nông thôn trong thời kỳ khủng hoảng ấy cũng được trình bày ở đó, và rồi trong các câu hai mươi mốt đến hai mươi tám, chúng ta có đoạn đã được nhìn nhận là lẽ thật hiện tại trong lịch sử Millerite. Đoạn này được trích nguyên văn trong The Great Controversy trong phần mô tả lịch sử Millerite trong sách.

And the word of the Lord came unto me, saying, Son of man, what is that proverb that ye have in the land of Israel, saying, The days are prolonged, and every vision faileth? Tell them therefore, Thus saith the Lord God; I will make this proverb to cease, and they shall no more use it as a proverb in Israel; but say unto them, The days are at hand, and the effect of every vision. For there shall be no more any vain vision nor flattering divination within the house of Israel. For I am the Lord: I will speak, and the word that I shall speak shall come to pass; it shall be no more prolonged: for in your days, O rebellious house, will I say the word, and will perform it, saith the Lord God. Again the word of the Lord came to me, saying, Son of man, behold, they of the house of Israel say, The vision that he seeth is for many days to come, and he prophesieth of the times that are far off. Therefore say unto them, Thus saith the Lord God; There shall none of my words be prolonged any more, but the word which I have spoken shall be done, saith the Lord God. Ezekiel 12:21–28.

Và lời của Chúa đến cùng tôi, phán rằng: Hỡi con người, câu tục ngữ nào mà các ngươi có trong đất Israel, rằng: Các ngày kéo dài, và mọi khải tượng đều không ứng nghiệm? Vậy hãy nói với họ: Chúa là Đức Chúa Trời phán như vầy: Ta sẽ làm cho câu tục ngữ này chấm dứt, và họ sẽ không còn dùng nó làm câu tục ngữ trong Israel nữa; nhưng hãy nói với họ: Các ngày đã gần, và sự ứng nghiệm của mọi khải tượng. Vì sẽ không còn khải tượng hư không, cũng chẳng còn bói toán nịnh hót trong nhà Israel. Vì Ta là Chúa: Ta sẽ phán, và lời Ta phán sẽ xảy ra; nó sẽ không còn bị trì hoãn nữa; vì trong những ngày của các ngươi, hỡi nhà phản nghịch, Ta sẽ nói lời ấy và sẽ làm thành, Chúa là Đức Chúa Trời phán. Lại có lời của Chúa đến cùng tôi, phán rằng: Hỡi con người, này, nhà Israel nói: Khải tượng người ấy thấy là cho nhiều ngày nữa, và người ấy nói tiên tri về những thời kỳ còn xa. Vậy hãy nói với họ: Chúa là Đức Chúa Trời phán: Không một lời nào của Ta sẽ còn bị trì hoãn nữa, nhưng lời nào Ta đã phán sẽ được làm thành, Chúa là Đức Chúa Trời phán. Ê-xê-chi-ên 12:21-28.

The counterfeit latter rain message that is presented in the sealing time of the one hundred and forty-four thousand claims “the days are prolonged, and every vision faileth.” After all, did not those messengers represented by Moses, Elijah, Ezekiel, Isaiah and John fail in their prediction of July 18, 2020? The Laodicean Adventist’s message at that time is “the vision that he seeth is for many days to come, and he prophesieth of the times that are far off.” In that history not only will every vision come to pass, but the messenger is to tell the lost house of modern Israel, “Thus saith the Lord God,” “I will make” the counterfeit “proverb” of Laodicean Adventism “to cease.” Tell them, “The days are at hand, and the effect of every vision.” “There shall none of my words be prolonged any more, but the word which I have spoken shall be done, saith the Lord God.”

Thông điệp mưa cuối mùa giả mạo được trình bày trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn cho rằng “những ngày bị kéo dài, và mọi khải tượng đều chẳng thành.” Rốt cuộc, chẳng phải những sứ giả được đại diện bởi Môi-se, Ê-li, Ê-xê-chi-ên, Ê-sai và Giăng đã thất bại trong lời dự đoán về ngày 18 tháng 7 năm 2020 sao? Thông điệp của người Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê lúc bấy giờ là “khải tượng mà người ấy thấy là cho nhiều ngày sau nữa, và người ấy nói tiên tri về những thời kỳ còn xa.” Trong lịch sử ấy, không những mọi khải tượng sẽ ứng nghiệm, mà sứ giả còn phải nói với nhà Y-sơ-ra-ên hiện đại đã lạc mất rằng: “Chúa Giê-hô-va phán như vầy,” “Ta sẽ làm cho” câu “tục ngữ” giả mạo của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê “chấm dứt.” Hãy nói với họ: “Những ngày đã gần kề, và sự ứng nghiệm của mọi khải tượng.” “Sẽ không còn lời nào của Ta bị trì hoãn nữa, nhưng lời mà Ta đã phán sẽ được làm thành,” Chúa Giê-hô-va phán.

The Laodicean message requires that the message identifies that the days are at hand when the effect of every vision is to take place, and those days are the days of the sealing of the one hundred and forty-four thousand. The essential point that should not be missed in the passage is that God directly states that in the “days,” which represent the period of the sealing time, He would cause Laodicean Adventism’s “vain vision,” their “flattering divination,” and their counterfeit “proverb” to cease. God causes their counterfeit latter rain message to cease before the soon-coming Sunday law, for He causes it to cease in the days He is addressing. He causes it to cease, by confirming the true latter rain message as He is lifting up those who are chosen to be the ensign at the soon coming Sunday law. Those chosen ones are sealed before the “earthquake”.

Sứ điệp Laodicea đòi hỏi rằng sứ điệp phải chỉ ra rằng những ngày đã gần kề, khi lời của mọi khải tượng sẽ ứng nghiệm, và những ngày ấy là những ngày của sự đóng ấn một trăm bốn mươi bốn ngàn. Điểm cốt lõi không nên bỏ qua trong đoạn văn là Đức Chúa Trời tuyên bố trực tiếp rằng trong những “ngày” ấy, vốn tượng trưng cho thời kỳ đóng ấn, Ngài sẽ làm cho “khải tượng hư không” của Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea, “bói toán nịnh hót” của họ, và “châm ngôn” giả mạo của họ chấm dứt. Đức Chúa Trời khiến sứ điệp mưa muộn giả mạo của họ chấm dứt trước luật ngày Chủ nhật sắp đến, vì Ngài khiến nó chấm dứt trong những ngày Ngài đang nói đến. Ngài khiến nó chấm dứt bằng cách xác nhận sứ điệp mưa muộn chân thật khi Ngài giương cao những người được chọn làm tiêu kỳ vào thời điểm luật ngày Chủ nhật sắp đến. Những người được chọn ấy được đóng ấn trước “trận động đất”.

The other way He causes the vain proverb of the counterfeit latter rain message to cease is by the arrival of the unexpected and escalating judgments of God, that come as an overwhelming surprise to the children of darkness, but are part of the very message the children of light will have been predicting. The history we are now entering into is about to be confronted by God’s judgments. Those judgments are represented repeatedly in God’s Word, and the period of the sealing, which began on September 11, 2001, is where every vision, including the visions of God’s judgments, must arrive, for His Word never fails.

Cách khác Ngài làm cho câu tục ngữ hão huyền của sứ điệp mưa rào muộn giả mạo chấm dứt là bằng sự xuất hiện của các sự phán xét bất ngờ và ngày càng gia tăng của Đức Chúa Trời; chúng đến như một sự kinh ngạc choáng ngợp đối với con cái sự tối tăm, nhưng lại là một phần của chính sứ điệp mà con cái sự sáng đã tiên báo. Lịch sử mà chúng ta đang bước vào sắp đối diện với các sự phán xét của Đức Chúa Trời. Những sự phán xét ấy được trình bày lặp đi lặp lại trong Lời Đức Chúa Trời, và thời kỳ đóng ấn, khởi đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, là thời điểm mọi khải tượng, kể cả các khải tượng về những sự phán xét của Đức Chúa Trời, đều phải ứng nghiệm, vì Lời Ngài không hề sai trật.

In previous articles we demonstrated that the first three chapters in the book of Daniel, represent the three angel’s messages of Revelation chapter fourteen. Chapter two, is the second angel’s message, and is therefore an illustration of the second test in the sealing period. The first test was chapter one, and it was the dietary test of whether a person would choose heavenly food or the food of Babylon. Chapter two, was represented by the hidden truth within Nebuchadnezzar’s dream of the image of beasts, which are kingdoms.

Trong các bài viết trước, chúng tôi đã cho thấy rằng ba đoạn đầu trong sách Đa-ni-ên biểu thị ba sứ điệp của ba thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười bốn. Đoạn hai là sứ điệp của thiên sứ thứ hai, nên là một minh họa cho sự thử thách thứ hai trong thời kỳ đóng ấn. Sự thử thách thứ nhất là đoạn một, và đó là thử thách về ăn uống: liệu một người sẽ chọn lương thực thiên thượng hay đồ ăn của Ba-by-lôn. Đoạn hai được thể hiện qua lẽ thật ẩn giấu trong giấc mơ của Nê-bu-cát-nết-sa về hình ảnh các con thú, là các vương quốc.

Daniel two, represents the image of the beast test during the sealing of the one hundred and forty-four thousand, and it contains an understanding that is hidden, for Nebuchadnezzar was unable to remember the dream. It represents a hidden truth that is unsealed in the history of the one hundred and forty-four thousand, and a hidden truth concerning the kingdoms of Bible prophecy represented in the image. It represented a life-or-death test for Daniel and the three worthies, and also for the Chaldean wise men who ate of the Babylonian diet.

Đa-ni-ên chương hai trình bày bài thử về hình tượng con thú trong thời kỳ niêm ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn, và nó chứa đựng một sự hiểu biết bị ẩn giấu, vì Nê-bu-cát-nết-sa đã không thể nhớ giấc mộng. Nó tượng trưng cho một lẽ thật ẩn giấu được mở ấn trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn, và một lẽ thật ẩn giấu liên quan đến các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh được biểu trưng trong hình tượng. Nó là một phép thử sinh tử cho Đa-ni-ên và ba người bạn trung tín, cũng như cho các nhà thông thái người Canh-đê đã ăn theo chế độ ăn của Ba-by-lôn.

Ellen White was shown that the image of the beast would be formed “before probation closes, for it is the great test for the people of God, by which their eternal destiny will be decided.” The hidden dream of Nebuchadnezzar represents that test. The hidden truth of the image that has been revealed in these days, when the effect of every vision is no longer prolonged, is that Jesus, as Alpha and Omega, identified in the first and the last references to the kingdoms of Bible prophecy that the eighth beast is of the seven.

Ellen White được tỏ cho biết rằng ảnh tượng của con thú sẽ được hình thành "trước khi thời kỳ ân điển kết thúc, vì đó là kỳ thử thách lớn cho dân sự của Đức Chúa Trời, qua đó vận mệnh đời đời của họ sẽ được quyết định." Giấc mơ ẩn giấu của Nebuchadnezzar tượng trưng cho thử thách ấy. Lẽ thật ẩn giấu của ảnh tượng đã được bày tỏ trong những ngày này, khi hiệu nghiệm của mọi khải tượng không còn bị trì hoãn nữa, ấy là rằng Chúa Giê-su, là Alpha và Omega, đã xác định trong các tham chiếu đầu tiên và sau cùng đến các vương quốc của lời tiên tri Kinh Thánh rằng con thú thứ tám thuộc về bảy.

The eighth beast of Revelation chapter seventeen, that is of the seven, is the papal power who has been returned to the throne of the earth, and the deeper hidden secret that has been revealed is that as the United States forms an image of the beast in this nation, it also will represent the phenomenon of the eighth, being of the seven. The sixth president since the time of the end in 1989, who is the rich president who stirred up all the realm of the dragon received a deadly political wound at the hands of the progressive, woke, liberal globalists in 2020, as the Republican horn was assassinated in the streets by the atheistic beast of Revelation chapter eleven.

Con thú thứ tám trong Khải Huyền chương mười bảy, tức là thuộc về bảy, chính là quyền lực giáo hoàng đã được phục hồi lên ngai cai trị trên đất; và bí mật sâu kín hơn đã được bày tỏ là, khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hình thành hình tượng của con thú trong quốc gia này, nó cũng sẽ biểu thị hiện tượng của con thứ tám, vốn thuộc về bảy. Vị tổng thống thứ sáu kể từ thời kỳ tận cùng năm 1989, người là vị tổng thống giàu có đã khuấy động toàn cõi của con rồng, đã nhận một vết thương chính trị chí tử dưới tay những người theo chủ nghĩa toàn cầu cấp tiến, woke, tự do vào năm 2020, khi chiếc sừng Cộng hòa bị ám sát trên đường phố bởi con thú vô thần trong Khải Huyền chương mười một.

At the same time the movement of the third angel, received a deadly wound on July 18, 2020, at the hands of the atheistic beast of Revelation chapter eleven. That movement had been made up of Laodicean Seventh-day Adventists, and in 2023, the movement was raised up as the Philadelphian movement of the third angel. Both horns were slain in 2020, and both horns stand up after three and a half symbolic days. The formation of the political image of the beast consists of the combination of Church and State in the United States, and the beast they make an image of in the last days is the eighth beast, that is of the seven. When the image beast is formed in the United States it will possess that very prophetic attribute of the eighth beast of Rome.

Cùng lúc đó, phong trào của thiên sứ thứ ba đã nhận một vết thương chí tử vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, bởi tay con thú vô thần trong Khải Huyền chương mười một. Phong trào ấy vốn gồm những người Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy theo khuynh hướng La-ô-đi-xê, và đến năm 2023, phong trào được dựng dậy như phong trào Phi-la-đen-phi của thiên sứ thứ ba. Cả hai sừng đều bị tiêu diệt vào năm 2020, và cả hai sừng đều trỗi dậy sau ba ngày rưỡi mang tính biểu tượng. Việc hình thành hình tượng chính trị của con thú bao gồm sự kết hợp giữa Giáo hội và Nhà nước tại Hoa Kỳ, và con thú mà họ dựng nên hình tượng trong thời kỳ sau rốt là con thú thứ tám, vốn thuộc về bảy con. Khi hình tượng của con thú được hình thành tại Hoa Kỳ, nó sẽ mang chính thuộc tính tiên tri của con thú thứ tám của Rô-ma.

When the image of the beast test is fulfilled upon the true Protestant horn, those who recognize the prophetic truths associated with the formation of the image of the beast in both horns of the earth beast, will be sealed for eternity with the image of Christ. Those foolish virgins that have accepted the vain and flattering vision will have formed the image of the beast for eternity.

Khi kỳ thử thách về hình tượng của con thú được ứng nghiệm trên chiếc sừng Tin Lành chân chính, những ai nhận ra các lẽ thật tiên tri liên hệ đến sự hình thành hình tượng của con thú nơi cả hai sừng của con thú từ đất sẽ được ấn chứng đời đời theo hình ảnh của Đấng Christ. Những trinh nữ dại đã chấp nhận khải tượng hư không và tâng bốc sẽ lập nên hình tượng của con thú đến đời đời.

“It was this that the prophet Ezekiel saw when before his astonished gaze were portrayed symbols that revealed a Power overruling the affairs of earthly rulers. Wheels intersecting one another were moved by four living beings. High above all these ‘was the likeness of a throne, in appearance like sapphire; and seated above the likeness of a throne was a likeness as it were of a human form.’ Ezekiel 1:26, RSV.

Đó chính là điều mà tiên tri Ê-xê-chi-ên đã thấy, khi trước ánh mắt kinh ngạc của ông hiện ra những biểu tượng bày tỏ một Quyền Năng đang tể trị vượt trên mọi việc của những nhà cầm quyền trần gian. Những bánh xe đan xen nhau được bốn sinh vật sống làm chuyển động. Cao hơn hết thảy những điều đó, “có hình dạng của một ngai, trông như đá lam ngọc; và ngồi trên hình dạng của ngai là một hình dạng dường như là hình người.” Ê-xê-chi-ên 1:26, RSV.

“The wheels, so complicated that at first sight they appeared to be in confusion, moved in perfect harmony. Heavenly beings were impelling those wheels. The complicated play of human events is under divine control. Amidst the strife and tumult of nations He that sits above the cherubim still guides the affairs of this earth. To every nation and individual God has assigned a place in His great plan. Today men and nations are by their own choice deciding their destiny, and God is overruling all for the accomplishment of His purposes.

Những bánh xe, phức tạp đến nỗi thoạt nhìn tưởng như hỗn loạn, lại vận hành trong sự hài hòa hoàn hảo. Các hữu thể thiên giới đang thúc đẩy những bánh xe ấy. Sự diễn biến phức tạp của các biến cố loài người nằm dưới quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Giữa cảnh tranh chấp và náo động của các dân tộc, Đấng ngự trên các Kê-ru-bim vẫn dẫn dắt thời cuộc trên đất này. Cho mỗi dân tộc và từng cá nhân, Đức Chúa Trời đã chỉ định một chỗ trong kế hoạch vĩ đại của Ngài. Hôm nay, con người và các quốc gia đang tự lựa chọn định mệnh của mình, và Đức Chúa Trời đang tể trị trên hết thảy để hoàn thành các mục đích của Ngài.

The prophecies which the great I AM has given in His Word tell us where we are in the procession of the ages. All that prophecy has foretold until the present time has been traced on the pages of history, and all which is yet to come will be fulfilled in its order.

Những lời tiên tri mà Đấng TA LÀ vĩ đại đã ban trong Lời Ngài cho chúng ta biết chúng ta đang ở đâu trong diễn trình của các thời đại. Mọi điều mà lời tiên tri đã báo trước cho đến hiện nay đều đã được ghi lại trên những trang sử, và mọi điều còn sẽ đến sẽ được ứng nghiệm theo đúng trình tự.

“The signs of the times declare that we are standing on the threshold of great and solemn events. Everything in our world is in agitation. The Saviour prophesied of events to precede His coming: ‘Ye shall hear of wars and rumors of wars… . Nation shall rise against nation, and kingdom against kingdom: and there shall be famines, and pestilences, and earthquakes, in divers places.’ Matthew 24:6, 7. Rulers and statesmen recognize that something great and decisive is about to take place—that the world is on the verge of a stupendous crisis.

Những dấu hiệu của thời đại cho thấy chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa của những biến cố trọng đại và nghiêm trọng. Mọi sự trong thế giới chúng ta đều đang náo động. Đấng Cứu Thế đã tiên báo về những biến cố sẽ xảy ra trước khi Ngài đến: “Các ngươi sẽ nghe nói về chiến tranh và tin đồn chiến tranh... Dân này sẽ nổi lên chống dân kia, nước này chống nước nọ; và sẽ có đói kém, dịch lệ và động đất ở nhiều nơi.” Ma-thi-ơ 24:6,7. Các nhà cầm quyền và chính khách nhận ra rằng điều gì đó lớn lao và mang tính quyết định sắp diễn ra—rằng thế giới đang trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng kinh thiên động địa.

“The Bible, and the Bible only, gives a correct view of events that already are casting their shadows before, the sound of their approach causing the earth to tremble and men’s hearts to fail them for fear. ‘Behold, the Lord will lay waste the earth and make it desolate, and He will twist its surface and scatter its inhabitants.’ ‘For they have transgressed the laws, violated the statutes, broken the everlasting covenant. Therefore a curse devours the earth, and its inhabitants suffer for their guilt.’ Isaiah 24:1, 5, 6, RSV.

Kinh Thánh, và chỉ riêng Kinh Thánh, mới đem lại cái nhìn đúng đắn về những biến cố đã sớm phủ bóng báo trước; tiếng bước tiến của chúng khiến đất rung chuyển và lòng người vì sợ hãi mà rụng rời. “Kìa, Chúa sẽ tàn phá đất và làm nó thành hoang vu, Ngài sẽ làm vặn vẹo mặt đất và làm tản lạc các cư dân của nó.” “Vì chúng đã phạm các luật, vi phạm các điều lệ, bẻ gãy giao ước đời đời. Bởi vậy, lời nguyền rủa nuốt chửng đất, và cư dân của nó phải chịu khổ vì tội lỗi của mình.” Isaiah 24:1, 5, 6, RSV.

“‘Alas! for that day is great, so that none is like it: it is even the time of Jacob’s trouble; but he shall be saved out of it.’ Jeremiah 30:7.

"'Khốn thay! vì ngày ấy là ngày lớn, đến nỗi chẳng có ngày nào giống như nó: ấy chính là thời kỳ hoạn nạn của Gia-cốp; nhưng nó sẽ được cứu khỏi đó.' Giê-rê-mi 30:7."

“’Because thou hast made the Lord, which is my refuge, Even the most High, thy habitation; There shall no evil befall thee, Neither shall any plague come nigh thy dwelling.’ Psalm 91:9, 10.

'Vì ngươi đã lấy Đức Giê-hô-va, là nơi nương náu của ta, tức Đấng Chí Cao, làm nơi ở của ngươi; nên chẳng có tai họa nào giáng trên ngươi, cũng chẳng có dịch lệ nào đến gần nhà ngươi.' Thi Thiên 91:9, 10.

“God will not fail His church in the hour of her greatest peril. He has promised deliverance. The principles of His kingdom will be honored by all beneath the sun.” Historical Sketches 277–279.

"Đức Chúa Trời sẽ không bỏ rơi Hội Thánh của Ngài trong giờ phút hiểm nguy lớn nhất. Ngài đã hứa sẽ giải cứu. Các nguyên tắc của Nước Ngài sẽ được mọi người dưới gầm trời tôn trọng." Historical Sketches 277-279.

The “complicated play of human events” is what was represented by the wheels intersecting the wheels in Ezekiel’s vision of the Most Holy Place, during the sealing time. Those events are under divine control, for those events are the fulfillment of all the visions of God’s Word, that find their final and perfect effect in the sealing time. There is a “sound” that identifies “a stupendous crisis” which the “world is on the verge” of realizing. That “sound” causes “the earth to tremble and men’s hearts to fail them for fear.” Both the shaking of the earth, and the causing of men’s hearts to fail for fear are symbols of the sound of the seventh and final Trumpet, which is the third woe.

"‘Sự đan xen phức tạp của các biến cố nhân loại’ là điều được thể hiện bởi những bánh xe lồng vào bánh xe trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên về Nơi Chí Thánh, trong thời kỳ ấn chứng. Những biến cố ấy nằm dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời, vì chúng là sự ứng nghiệm của mọi khải tượng trong Lời Đức Chúa Trời, đạt đến thành tựu cuối cùng và trọn vẹn trong thời kỳ ấn chứng. Có một “âm thanh” báo hiệu “một cuộc khủng hoảng kinh thiên động địa” mà “thế giới đang trên bờ vực” sắp nhận ra. “Âm thanh” ấy khiến “đất rung chuyển và lòng người ta vì sợ hãi mà thất đảm.” Cả sự rung chuyển của đất lẫn việc lòng người ta vì sợ hãi mà thất đảm đều là những biểu tượng cho tiếng kèn thứ bảy, tiếng kèn sau cùng, tức là khốn nạn thứ ba."

The angering of the nations by Islam of the third woe, is as a woman in travail, thus representing an increasing, escalating crisis. That escalating crisis began on September 11, 2001; and on October 7, 2023, the next extreme birth pain hit, and because God’s Word never fails, the next birth pang is coming very soon, and it will be even more destructive. Are you still living in a city?

Việc Hồi giáo trong tai họa thứ ba làm các dân tộc nổi giận như một người đàn bà đang chuyển dạ, qua đó biểu thị một cuộc khủng hoảng ngày càng tăng và leo thang. Cuộc khủng hoảng leo thang ấy bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001; và vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, cơn đau chuyển dạ dữ dội tiếp theo đã ập đến; và bởi vì Lời của Đức Chúa Trời không bao giờ thất bại, cơn đau chuyển dạ kế tiếp sắp đến rất sớm, và sẽ còn tàn khốc hơn nữa. Bạn vẫn đang sống trong thành phố chứ?

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“To the prophet the wheel within a wheel, the appearance of living creatures connected with them, all seemed intricate and unexplainable. But the hand of Infinite Wisdom is seen among the wheels, and perfect order is the result of its work. Every wheel, directed by the hand of God, works in perfect harmony with every other wheel. I have been shown that human instrumentalities are liable to seek after too much power and try to control the work themselves. They leave the Lord God, the Mighty Worker, too much out of their methods and plans, and do not trust to Him everything in regard to the advancement of the work. No one should for a moment fancy that he is able to manage those things that belong to the great I AM. God in His providence is preparing a way so that the work may be done by human agents. Then let every man stand at his post of duty, to act his part for this time and know that God is his instructor.” Testimonies, volume 9, 259.

"Đối với vị tiên tri, bánh xe ở trong bánh xe, dáng vẻ của các sinh vật sống gắn liền với chúng, tất cả dường như rắc rối và không thể giải thích. Nhưng bàn tay của Sự Khôn Ngoan Vô Hạn được thấy ở giữa các bánh xe, và trật tự hoàn hảo là kết quả của công việc của Ngài. Mỗi bánh xe, được bàn tay của Đức Chúa Trời điều khiển, vận hành trong sự hòa hợp hoàn hảo với mọi bánh xe khác. Tôi đã được chỉ cho thấy rằng các phương tiện nhân loại dễ có khuynh hướng tìm kiếm quá nhiều quyền lực và cố gắng tự mình kiểm soát công việc. Họ gạt Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng Làm Việc Quyền Năng, ra khỏi các phương pháp và kế hoạch của mình quá nhiều, và không phó thác cho Ngài tất cả mọi điều liên quan đến sự tiến triển của công việc. Không ai nên, dù chỉ trong chốc lát, tưởng rằng mình có thể quản trị những điều thuộc về Đấng 'Ta Là' vĩ đại. Đức Chúa Trời, trong sự quan phòng của Ngài, đang dọn đường để công việc có thể được thực hiện bởi các tác nhân nhân loại. Vậy hãy để mỗi người đứng ở vị trí bổn phận của mình, thi hành phần việc của mình cho thời điểm này, và biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng dạy dỗ mình." Lời Chứng, tập 9, 259.