The last promise of the Old Testament is that before the great and terrible day of the Lord, Elijah would come.

Lời hứa cuối cùng của Cựu Ước là trước ngày lớn lao và đáng sợ của Chúa, Êlia sẽ đến.

Remember ye the law of Moses my servant, which I commanded unto him in Horeb for all Israel, with the statutes and judgments. Behold, I will send you Elijah the prophet before the coming of the great and dreadful day of the Lord: And he shall turn the heart of the fathers to the children, and the heart of the children to their fathers, lest I come and smite the earth with a curse. Malachi 4:4–5.

Hãy nhớ luật pháp của Môi-se, tôi tớ Ta, điều Ta đã truyền dạy cho người tại Hô-rếp cho cả Y-sơ-ra-ên, cùng với các luật lệ và phán quyết. Kìa, Ta sẽ sai tiên tri Ê-li đến với các ngươi trước khi ngày lớn và đáng khiếp sợ của Đức Giê-hô-va đến: Người sẽ làm cho lòng của các cha trở về với con cái, và lòng của con cái trở về với cha mình, kẻo Ta đến và giáng lời rủa sả trên đất. Ma-la-chi 4:4-5.

The Elijah that comes in advance of “the great and dreadful day of the Lord,” is an individual messenger, and also the movement associated with the message the messenger proclaims. The Elijah that is sent is therefore the one hundred and forty-four thousand who do not taste death, just as Enoch and Elijah represent. They are those who are lifted up as an ensign at the soon-coming Sunday law.

Ê-li đến trước “ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va” vừa là một sứ giả cá nhân, vừa là phong trào gắn liền với sứ điệp mà sứ giả ấy công bố. Vì vậy, Ê-li được sai đến chính là một trăm bốn mươi bốn nghìn người không nếm sự chết, như Hê-nóc và Ê-li tiêu biểu. Họ là những người sẽ được giương lên như một cờ hiệu khi luật Chủ nhật sắp đến.

The last day Elijah was also represented by John the Baptist, but John did not represent the one hundred and forty-four thousand. He represented those who join the movement and accept the message of the last day messenger, who are then murdered by the papacy in the hour of the Sunday law crisis that begins at the soon coming Sunday law and ends when Michael stands up and the papacy comes to its end with none to help.

Ê-li của thời kỳ sau rốt cũng được Giăng Báp-tít đại diện, nhưng Giăng không đại diện cho một trăm bốn mươi bốn ngàn. Ông đại diện cho những người gia nhập phong trào và chấp nhận sứ điệp của sứ giả thời kỳ sau rốt, là những người sau đó bị giáo hoàng quyền sát hại trong giờ khủng hoảng của luật ngày Chủ nhật, bắt đầu khi luật ngày Chủ nhật sắp được ban hành và kết thúc khi Mi-ca-ên đứng lên và giáo hoàng quyền đi đến chỗ tận cùng, không ai giúp nó.

Elijah is represented on Mount Carmel and John is represented in Herod’s banquet hall. Those two historical witnesses identify the two groups of God’s last day people represented in Revelation chapter seven. The one hundred and forty-four thousand and the great multitude align with Mount Carmel and Herod’s birthday party. Those two prophetic lines provide a sound point of reference to carefully identify the elements of the eighth head, that is of the seven heads in Revelation seventeen, with enough prophetic detail to clarify how and why the last president, which is the eighth president that is of the seven, becomes the great dictator of the United States in the last movements of the sixth kingdom of Bible prophecy.

Ê-li được tiêu biểu tại núi Cạt-mên và Giăng được tiêu biểu trong phòng yến tiệc của Hê-rốt. Hai nhân chứng lịch sử đó xác định hai nhóm dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, được đại diện trong Khải Huyền chương bảy. Một trăm bốn mươi bốn nghìn và đoàn dân rất đông tương ứng với núi Cạt-mên và tiệc sinh nhật của Hê-rốt. Hai dòng tiên tri ấy cung cấp một điểm tham chiếu vững chắc để cẩn trọng nhận diện các yếu tố của đầu thứ tám, là đầu thuộc về bảy đầu trong Khải Huyền chương mười bảy, với đủ chi tiết mang tính tiên tri để làm sáng tỏ cách thức và lý do vì sao vị tổng thống cuối cùng, là vị thứ tám nhưng cũng thuộc về bảy, trở thành nhà độc tài vĩ đại của Hoa Kỳ trong những diễn biến cuối cùng của vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh.

At the Sunday law the threefold union is accomplished.

Khi luật ngày Chủ nhật được ban hành, liên minh ba bên được hoàn tất.

By the decree enforcing the institution of the Papacy in violation of the law of God, our nation will disconnect herself fully from righteousness. When Protestantism shall stretch her hand across the gulf to grasp the hand of the Roman power, when she shall reach over the abyss to clasp hands with Spiritualism, when, under the influence of this threefold union, our country shall repudiate every principle of its Constitution as a Protestant and republican government, and shall make provision for the propagation of papal falsehoods and delusions, then we may know that the time has come for the marvelous working of Satan and that the end is near.” Testimonies, volume 5, 451.

"Bởi sắc lệnh buộc thi hành thiết chế của chế độ giáo hoàng, vốn vi phạm luật của Đức Chúa Trời, quốc gia chúng ta sẽ hoàn toàn tự tách mình khỏi sự công chính. Khi Tin Lành vươn tay qua vực ngăn để nắm lấy tay quyền lực La Mã, khi nó với tay qua vực thẳm để bắt tay với Thuyết cầu hồn, khi, dưới ảnh hưởng của liên minh ba bên này, đất nước chúng ta chối bỏ mọi nguyên tắc của Hiến pháp của mình với tư cách là một chính quyền Tin Lành và cộng hòa, và tạo điều kiện cho việc truyền bá những điều dối trá và mê hoặc của giáo quyền La Mã, thì chúng ta có thể biết rằng thời điểm đã đến cho công việc lạ lùng của Sa-tan và rằng sự kết thúc đã gần." Testimonies, tập 5, 451.

Yet in this illustration there is a sequence, and that sequence is a subject of the inspired word. It is an event that happens at the decree, which in one sense is a singular event, but it is actually a very careful sequence of events. At the “decree” the United States ceases to be the sixth kingdom of Bible prophecy, which means that it is there that the seventh kingdom begins, but the seventh kingdom agrees to give their kingdom unto the beast. When the false prophet is defeated, the dragon takes its position, and immediately gives half its kingdom to the beast.

Tuy nhiên, trong minh họa này có một trình tự, và trình tự ấy được Lời linh hứng đề cập. Đó là một sự kiện xảy ra tại “sắc lệnh”, mà xét theo một nghĩa thì là một sự kiện đơn lẻ, nhưng thực ra là một chuỗi sự kiện được sắp xếp rất cẩn trọng. Tại “sắc lệnh” ấy, Hoa Kỳ không còn là vương quốc thứ sáu của lời tiên tri trong Kinh Thánh nữa, nghĩa là chính tại đó vương quốc thứ bảy bắt đầu, nhưng vương quốc thứ bảy đồng ý trao vương quốc của mình cho con thú. Khi tiên tri giả bị đánh bại, con rồng chiếm lấy vị trí của nó và lập tức trao nửa vương quốc của mình cho con thú.

At Mount Carmel, there were four hundred and fifty prophets of Baal, and there four hundred prophets of the grove who were in Samaria eating at Jezebel’s table.

Tại núi Carmel, có bốn trăm năm mươi tiên tri của Baal, và có bốn trăm tiên tri của lùm cây ở Samaria, ăn tại bàn của Jezebel.

Now therefore send, and gather to me all Israel unto mount Carmel, and the prophets of Baal four hundred and fifty, and the prophets of the groves four hundred, which eat at Jezebel’s table. 1 Kings 18:19.

Vậy bây giờ, hãy sai người đi, và triệu tập cho ta toàn thể Y-sơ-ra-ên đến núi Cạt-mên, cùng bốn trăm năm mươi tiên tri của Ba-anh, và bốn trăm tiên tri của A-sê-ra, là những kẻ ăn tại bàn của Giê-sa-bên. 1 Các Vua 18:19.

Elijah identifies the confrontation at Mount Carmel as a controversy, not only the question of who was the true God, but also that it was a controversy over who was the true prophet.

Êlia xác định cuộc đối đầu trên núi Cạt-mên là một cuộc tranh cãi, không chỉ về câu hỏi ai là Đức Chúa Trời chân thật, mà còn về việc ai là tiên tri chân thật.

Then said Elijah unto the people, I, even I only, remain a prophet of the Lord; but Baal’s prophets are four hundred and fifty men. 1 Kings 18:22.

Bấy giờ Ê-li nói với dân chúng: Tôi, chỉ mình tôi, còn lại là tiên tri của Đức Giê-hô-va; nhưng các tiên tri của Ba-anh thì có bốn trăm năm mươi người. 1 Các Vua 18:22.

When Elijah’s offering was consumed by the fire that came down out of heaven, he then slew the four hundred and fifty prophets of Baal with his own hands.

Khi lửa từ trời giáng xuống thiêu rụi của lễ mà Ê-li-a dâng, ông liền tự tay giết bốn trăm năm mươi tiên tri của Ba-anh.

And Elijah said unto them, Take the prophets of Baal; let not one of them escape. And they took them: and Elijah brought them down to the brook Kishon, and slew them there. 1 Kings 18:40.

Ê-li bảo họ rằng: Hãy bắt các tiên tri của Ba-anh; đừng để một người nào trong bọn họ thoát. Người ta bèn bắt họ; Ê-li đem họ xuống khe Ki-sôn và giết họ tại đó. 1 Các Vua 18:40.

Baal was a false masculine deity, and the four hundred prophets of the grove, who were still with Jezebel, eating at her table in the city of Samaria were the prophets of the female deity, Ashtaroth. The female deity survived Elijah’s slaughter of the prophets of Mount Carmel.

Baal là một tà thần nam, và bốn trăm tiên tri của lùm cây, những người vẫn còn ở với Jezebel, ăn tại bàn của bà trong thành Samaria, là những tiên tri của nữ thần Ashtaroth. Nữ thần ấy đã sống sót sau cuộc tàn sát các tiên tri trên núi Carmel do Elijah thực hiện.

“The people upon the mountain prostrate themselves in terror and awe before the unseen God. They cannot look upon the bright, consuming fire sent from Heaven. They fear that they will be consumed in their apostasy and sins. They cry out with one voice, which resounds over the mountain, and echoes to the plains below them with terrible distinctness, ‘The Lord, he is the God; the Lord, he is the God.’ Israel is at last aroused and undeceived. They see their sin and how greatly they have dishonored God. Their anger is aroused against the prophets of Baal. With fearful terror, Ahab and Baal’s priests witnessed the wonderful exhibition of Jehovah’s power. Again is heard, in startling words of command, the voice of Elijah to the people, ‘Take the prophets of Baal; let not one of them escape.’ And the people were ready to obey the word of Elijah. They seized the false prophets who had deluded them, and brought them to the brook Kishon, and there Elijah, with his own hand, slew these idolatrous priests.” Review and Herald, October 7, 1873.

Dân chúng trên núi phủ phục trong kinh hoàng và kính sợ trước Đức Chúa Trời vô hình. Họ không thể nhìn vào ngọn lửa rực sáng, thiêu đốt được sai xuống từ trời. Họ sợ rằng mình sẽ bị thiêu rụi vì sự bội đạo và tội lỗi của mình. Họ đồng thanh kêu lên, tiếng vang dội khắp núi và vọng xuống các đồng bằng phía dưới họ với sự rành rẽ khủng khiếp, ‘Chúa là Đức Chúa Trời; Chúa là Đức Chúa Trời.’ Israel cuối cùng cũng bừng tỉnh và không còn bị lừa dối. Họ thấy tội lỗi của mình và nhận ra họ đã xúc phạm Đức Chúa Trời lớn lao biết bao. Cơn giận của họ bùng lên chống lại các tiên tri của Baal. Trong nỗi kinh hoàng khiếp đảm, Ahab và các thầy tế của Baal đã chứng kiến màn biểu dương kỳ diệu quyền năng của Jehovah. Lại vang lên, bằng những lời mệnh lệnh khiến người ta sững sờ, tiếng của Elijah truyền cho dân chúng: ‘Hãy bắt các tiên tri của Baal; đừng để một ai trong chúng thoát.’ Và dân chúng sẵn sàng vâng theo lời của Elijah. Họ bắt các tiên tri giả đã lừa dối họ, đưa chúng đến khe suối Kishon, và tại đó Elijah, tự tay mình, đã giết những thầy tế thờ hình tượng ấy. Review and Herald, ngày 7 tháng 10, 1873.

Mount Carmel typifies the soon-coming Sunday law in the United States. It is then that the ensign of the one hundred and forty-four thousand (typified by Elijah), is lifted up. It is there that the genuine Protestant horn is distinctly manifested in contrast with the counterfeit Protestant horn, who is in Samaria, eating Jezebel’s diet. It is there that the Republican horn that had become the horn of both church and state leading up to Mount Carmel comes to its end as the sixth kingdom of Bible prophecy. What remains then is Ahab, and his tenfold nation, and Jezebel, who has been hiding in Samaria, while she dines with apostate Protestants. The sixth kingdom is finished, and the rain then comes without measure.

Núi Cạt-mên tiêu biểu cho luật Chủ Nhật sắp đến tại Hoa Kỳ. Chính khi ấy cờ hiệu của một trăm bốn mươi bốn nghìn (được Ê-li làm hình bóng) được giương lên. Chính tại đó, sừng Tin Lành chân chính được bày tỏ cách rõ rệt, đối nghịch với sừng Tin Lành giả mạo, kẻ ở Sa-ma-ri, ăn đồ ăn của Giê-sa-bên. Cũng tại đó, sừng Cộng hòa, vốn đã trở thành sừng của cả giáo hội lẫn nhà nước trong giai đoạn dẫn đến Núi Cạt-mên, chấm dứt với tư cách là vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh. Khi ấy còn lại A-háp và nước mười chi phái của ông, cùng Giê-sa-bên, kẻ đã ẩn náu tại Sa-ma-ri, trong khi bà ăn uống với những người Tin Lành bội đạo. Vương quốc thứ sáu đã kết thúc, và rồi mưa đổ xuống cách không lường.

At Herod’s birthday party, Elijah, represented by John the Baptist is in the Roman prison awaiting deliverance or death. There are no prophets of Baal to accomplish the dance of deception, just Salome, Jezebel’s daughter. Herod and his royal friends are drunk with the wine of Babylon, for his birthday also represents the Sunday law, and all nations began to drink the wine of Babylon on September 11, 2001, well before the soon coming Sunday law.

Trong bữa tiệc sinh nhật của Herod, Elijah, được đại diện bởi John the Baptist, đang ở trong nhà tù La Mã chờ được giải cứu hoặc phải chết. Không có các tiên tri của Baal để thực hiện điệu múa lừa dối, chỉ có Salome, con gái của Jezebel. Herod và bạn bè trong hoàng tộc của ông say sưa với rượu của Babylon, vì sinh nhật của ông cũng tượng trưng cho đạo luật Chủ nhật, và mọi quốc gia đã bắt đầu uống rượu của Babylon vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, từ lâu trước khi đạo luật Chủ nhật sắp đến.

And after these things I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory. And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird. For all nations have drunk of the wine of the wrath of her fornication, and the kings of the earth have committed fornication with her, and the merchants of the earth are waxed rich through the abundance of her delicacies. Revelation 18:1–3.

Và sau những điều ấy, tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người ấy. Người kêu lớn tiếng, nói rằng: Ba-by-lôn lớn đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của các quỷ, sào huyệt của mọi tà linh ô uế, và chuồng của mọi loài chim ô uế và đáng ghét. Vì muôn dân đều đã uống rượu của cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó, các vua trên đất đã phạm tà dâm với nó, và các thương gia trên đất đã trở nên giàu có nhờ sự xa hoa dư dật của nó. Khải Huyền 18:1-3.

These three verses were fulfilled when the great buildings of New York, the twin towers were thrown down by a touch of God.

Ba câu này đã được ứng nghiệm khi những tòa nhà vĩ đại ở New York, cặp tháp đôi, bị đánh sập bởi một cái chạm của Chúa.

“Now comes the word that I have declared that New York is to be swept away by a tidal wave? This I have never said. I have said, as I looked at the great buildings going up there, story after story, ‘What terrible scenes will take place when the Lord shall arise to shake terribly the earth! Then the words of Revelation 18:1–3 will be fulfilled.’ The whole of the eighteenth chapter of Revelation is a warning of what is coming on the earth. But I have no light in particular in regard to what is coming on New York, only that I know that one day the great buildings there will be thrown down by the turning and overturning of God’s power. From the light given me, I know that destruction is in the world. One word from the Lord, one touch of his mighty power, and these massive structures will fall. Scenes will take place the fearfulness of which we cannot imagine.” Review and Herald, July 5, 1906.

"Giờ đây lại có tin rằng tôi đã tuyên bố New York sẽ bị quét sạch bởi một cơn sóng thần? Điều đó tôi chưa hề nói. Tôi đã nói rằng, khi nhìn những tòa nhà lớn mọc lên ở đó, tầng này chồng tầng kia, ‘Những cảnh tượng kinh hoàng nào sẽ diễn ra khi Chúa trỗi dậy để làm rung chuyển dữ dội trái đất! Bấy giờ những lời trong Khải Huyền 18:1–3 sẽ được ứng nghiệm.’ Toàn bộ chương mười tám của sách Khải Huyền là một lời cảnh báo về những điều sắp đến trên đất. Nhưng tôi không có ánh sáng cụ thể nào về điều gì sẽ xảy ra cho New York, chỉ biết rằng một ngày nào đó những tòa nhà lớn ở đó sẽ bị lật đổ bởi sự xoay chuyển và đảo lộn của quyền năng Đức Chúa Trời. Từ ánh sáng đã được ban cho tôi, tôi biết rằng sự hủy diệt hiện diện trong thế gian. Chỉ một lời từ Chúa, một chạm của quyền năng vĩ đại của Ngài, là những công trình đồ sộ này sẽ đổ sụp. Những cảnh tượng sẽ diễn ra, sự kinh khiếp của chúng vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta." Review and Herald, ngày 5 tháng 7, 1906.

The soon coming Sunday law is represented by the second voice of Revelation chapter eighteen, and it represents Ahab’s Mount Carmel, and Herod’s birthday party. Herodias, who is also Jezebel, is not present at Herod’s drunken party, just as Jezebel was absent from Mount Carmel. Until the Sunday law, she has been forgotten during the seventy symbolic years of the reign of the earth beast, the sixth kingdom of Bible prophecy. When Jezebel received her deadly wound in 1798 and 1799, the sixth kingdom (the United States) began its term as the sixth kingdom of Bible prophecy. When the sixth kingdom ends, she then returns and begins to sing her songs and commits fornication with all the nations on earth.

Đạo luật Ngày Chủ nhật sắp đến được đại diện bởi tiếng nói thứ hai trong Khải Huyền đoạn mười tám, và nó cũng tượng trưng cho núi Cạt-mên của Ahab và bữa tiệc sinh nhật của Hê-rốt. Hê-rô-đia, cũng chính là Giê-sa-bên, không hiện diện trong bữa tiệc say sưa của Hê-rốt, cũng như Giê-sa-bên đã vắng mặt trên núi Cạt-mên. Cho đến khi đạo luật Ngày Chủ nhật được ban hành, bà đã bị lãng quên suốt bảy mươi năm tượng trưng của thời kỳ trị vì của con thú từ đất, tức vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh. Khi Giê-sa-bên nhận vết thương chí tử vào các năm 1798 và 1799, vương quốc thứ sáu (Hoa Kỳ) bắt đầu thời kỳ của mình với tư cách là vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh. Khi vương quốc thứ sáu kết thúc, bà sẽ trở lại, bắt đầu cất lên những bài ca của mình và phạm tà dâm với mọi dân tộc trên đất.

Her songs of fornication and wine was prophetically initiated on September 11, 2001, but that was simply the period of preparation, as had been represented by the thirty years from 508, unto 538, the first time she took the throne. Up until the Sunday law, when the sixth kingdom is slain by the hands of Elijah, she has been hidden in Samaria. At that point John the Baptist is being held in her prison, awaiting either deliverance or death.

Những khúc ca về tà dâm và rượu nho của nàng đã khởi đầu theo lời tiên tri vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, nhưng đó chỉ là thời kỳ chuẩn bị, như đã được tượng trưng bởi ba mươi năm từ 508 đến 538, khi nàng lần đầu tiên lên ngôi. Cho đến khi có Luật Chủ nhật, khi vương quốc thứ sáu bị giết bởi tay Ê-li, nàng vẫn ẩn mình ở Sa-ma-ri. Vào lúc đó, Giăng Báp-tít bị giam trong ngục của nàng, chờ đợi hoặc được giải cứu, hoặc chết.

Herod and his noble friends were drunk with the wine of Babylon, when Salome, the daughter of Herodias (Jezebel), performed her highly seductive dance, and Herod manifests his lustful and incestual desires. He is fully captivated by his step-daughters’ sexual overtures, and offers her up to half his kingdom.

Herod và những người bạn quyền quý của ông say sưa với rượu của Babylon, khi Salome, con gái của Herodias (Jezebel), trình diễn vũ điệu vô cùng quyến rũ, và Herod bộc lộ những ham muốn dâm đãng và loạn luân của mình. Ông hoàn toàn bị mê hoặc bởi những động thái gợi dục của cô con gái riêng của vợ mình, và hứa ban cho nàng đến nửa vương quốc của ông.

And when a convenient day was come, that Herod on his birthday made a supper to his lords, high captains, and chief estates of Galilee; And when the daughter of the said Herodias came in, and danced, and pleased Herod and them that sat with him, the king said unto the damsel, Ask of me whatsoever thou wilt, and I will give it thee. And he sware unto her, Whatsoever thou shalt ask of me, I will give it thee, unto the half of my kingdom. And she went forth, and said unto her mother, What shall I ask? And she said, The head of John the Baptist. And she came in straightway with haste unto the king, and asked, saying, I will that thou give me by and by in a charger the head of John the Baptist. And the king was exceeding sorry; yet for his oath’s sake, and for their sakes which sat with him, he would not reject her. And immediately the king sent an executioner, and commanded his head to be brought: and he went and beheaded him in the prison, And brought his head in a charger, and gave it to the damsel: and the damsel gave it to her mother. Mark 6:21–28.

Đến ngày thuận tiện, nhân sinh nhật Hê-rốt, vua mở tiệc khoản đãi các đại thần, các tướng lĩnh và những người quyền thế bậc nhất của Ga-li-lê. Khi con gái của Hê-rô-đia bước vào múa, làm đẹp lòng Hê-rốt và những người cùng ngồi với ông, vua nói với thiếu nữ: Hãy xin ta điều gì ngươi muốn, ta sẽ cho ngươi. Vua lại thề với nàng: Dù ngươi xin điều gì nơi ta, ta cũng sẽ cho, dầu đến nửa nước ta. Nàng ra ngoài, hỏi mẹ mình: Con nên xin gì? Bà đáp: Đầu của Giăng Báp-tít. Lập tức nàng vội trở vào gặp vua và xin: Con muốn vua ngay bây giờ cho con, đặt trên một mâm, đầu của Giăng Báp-tít. Vua rất buồn rầu; nhưng vì đã thề, và vì những người cùng ngồi với mình, vua không muốn từ chối nàng. Tức khắc vua sai một đao phủ và truyền đem đầu ông đến; người ấy đi chặt đầu ông trong ngục, đem đầu ông trên một mâm trao cho thiếu nữ; thiếu nữ lại đưa cho mẹ mình. Mác 6:21-28.

The first voice of Revelation eighteen sounded on September 11, 2001, and the second voice sounds at the soon coming Sunday law. In the history represented in John chapter six, the first voice of 2001 was the voice of Christ informing His disciples that they must eat His flesh and drink His blood, for He was the true Bread of Heaven. That period began in Galilee and ended with a purging of His disciples who turned away from Him in John chapter SIX, verse SIXTY-SIX. That history began at Galilee with a dietary test, and ended at the enforcement of the mark of the beast, as typified by the number of the pope’s name, which is SIX, SIX, SIX. Galilee means “turning point,” and September 11, 2001 was a prophetic “turning point” (Galilee), and Herod’s birthday was with the leadership of Galilee. The beginning voice of Revelation chapter eighteen, and the ending voice of Revelation eighteen, are both represented by Galilee, which is a turning point.

Tiếng thứ nhất của Khải Huyền đoạn mười tám đã vang lên vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và tiếng thứ hai sẽ vang lên khi luật Chủ nhật sắp được ban hành. Trong lịch sử được trình bày ở Giăng đoạn sáu, tiếng thứ nhất của năm 2001 là tiếng của Đấng Christ cho các môn đồ biết rằng họ phải ăn thịt Ngài và uống huyết Ngài, vì Ngài là Bánh từ trời thật. Giai đoạn đó bắt đầu tại Ga-li-lê và kết thúc bằng sự sàng lọc các môn đồ khi họ quay lưng bỏ Ngài trong Giăng đoạn SÁU, câu SÁU MƯƠI SÁU. Lịch sử ấy bắt đầu ở Ga-li-lê với một bài thử về chế độ ăn uống và kết thúc tại việc áp đặt dấu của con thú, được tượng trưng bởi con số của tên giáo hoàng, tức là SÁU, SÁU, SÁU. Ga-li-lê có nghĩa là “bước ngoặt”, và ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một “bước ngoặt” mang tính tiên tri (Ga-li-lê), và sinh nhật của Hê-rốt diễn ra với giới lãnh đạo của Ga-li-lê. Tiếng mở đầu của Khải Huyền đoạn mười tám, và tiếng kết thúc của Khải Huyền đoạn mười tám, đều được biểu trưng bởi Ga-li-lê, là một bước ngoặt.

“There are lessons to be learned from the history of the past; and attention is called to these, that all may understand that God works on the same lines now that He ever has done. His hand is seen in His work and among the nations now, just the same as it has been ever since the gospel was first proclaimed to Adam in Eden.

Có những bài học cần rút ra từ lịch sử quá khứ; và chúng ta được kêu gọi chú ý đến những điều ấy, để ai nấy đều hiểu rằng Đức Chúa Trời hiện nay vẫn hành động theo cùng những đường lối như xưa nay Ngài từng làm. Bàn tay của Ngài được thấy trong công việc của Ngài và giữa các dân tộc ngày nay, y như vậy kể từ khi Tin Lành lần đầu được rao giảng cho A-đam trong vườn Ê-đen.

“There are periods which are turning points in the history of nations and of the church. In the providence of God, when these different crises arrive, the light for that time is given. If it is received, there is spiritual progress; if it is rejected, spiritual declension and shipwreck follow. The Lord in His word has opened up the aggressive work of the gospel as it has been carried on in the past, and will be in the future, even to the closing conflict, when Satanic agencies will make their last wonderful movement.” Bible Echo, August 26, 1895.

"Có những thời kỳ là những bước ngoặt trong lịch sử của các dân tộc và của Hội Thánh. Trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, khi những cuộc khủng hoảng khác nhau này xảy đến, ánh sáng cho thời điểm ấy được ban ra. Nếu nó được tiếp nhận, sẽ có sự tiến bộ thuộc linh; nếu nó bị từ chối, sự suy thoái thuộc linh và sự đắm tàu sẽ theo sau. Trong lời Ngài, Chúa đã bày tỏ hoạt động mạnh mẽ của Tin Lành như đã được tiến hành trong quá khứ, và sẽ còn trong tương lai, cho đến tận cuộc xung đột cuối cùng, khi các thế lực của Sa-tan sẽ thực hiện động thái lạ lùng cuối cùng của chúng." Bible Echo, ngày 26 tháng 8, 1895.

Galilee at 2001, and Galilee at the soon coming Sunday law, identify when the light of the latter rain is poured out. In 2001 it was a measured outpouring, but at the second voice it is poured out without measure, as represented by the tremendous outpouring after Elijah slew the prophets of Baal, which occurred at Herod’s birthday party. Herod’s birthday identifies the birth of the seventh kingdom of Bible prophecy, which immediately follows the death of the preceding kingdom. The United States began to reign in 1798, at the death of the fifth kingdom, and at the death of the prophets of Baal, the seventh kingdom’s birthday has arrived. That seventh kingdom is represented by Ahab’s tenfold kingdom of the north, and by Herod, a representative of the tenfold northern kingdom of pagan Rome.

Galilê vào năm 2001, và Galilê tại thời điểm luật Chủ nhật sắp đến, xác định khi nào ánh sáng của mưa cuối mùa được đổ ra. Năm 2001 đó là một sự tuôn đổ có chừng mực, nhưng đến tiếng nói thứ hai thì nó được đổ ra không hạn lượng, như được tượng trưng bởi sự tuôn đổ lớn lao sau khi Ê-li giết các tiên tri của Ba-anh, điều xảy ra tại tiệc sinh nhật của Hê-rốt. Sinh nhật của Hê-rốt xác định sự ra đời của vương quốc thứ bảy trong lời tiên tri Kinh Thánh, điều này ngay lập tức nối tiếp sự sụp đổ của vương quốc liền trước. Hoa Kỳ bắt đầu trị vì vào năm 1798, khi vương quốc thứ năm sụp đổ, và khi các tiên tri của Ba-anh chết, ngày sinh của vương quốc thứ bảy đã đến. Vương quốc thứ bảy đó được đại diện bởi vương quốc phương bắc gồm mười phần của Akháp, và bởi Hê-rốt, một đại diện của vương quốc phương bắc mười phần của La Mã ngoại giáo.

And the ten horns which thou sawest upon the beast, these shall hate the whore, and shall make her desolate and naked, and shall eat her flesh, and burn her with fire. For God hath put in their hearts to fulfil his will, and to agree, and give their kingdom unto the beast, until the words of God shall be fulfilled. And the woman which thou sawest is that great city, which reigneth over the kings of the earth. Revelation 17:16–18.

Và mười sừng mà ngươi đã thấy trên con thú, chính những sừng ấy sẽ ghét người đàn bà dâm phụ, sẽ làm cho nó hoang vu và trần truồng, sẽ ăn thịt nó và thiêu nó bằng lửa. Vì Đức Chúa Trời đã đặt vào lòng họ để thực hiện ý muốn Ngài, khiến họ đồng lòng và trao vương quyền của họ cho con thú, cho đến khi những lời của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm. Còn người đàn bà mà ngươi đã thấy chính là thành lớn, là thành cai trị trên các vua trên đất. Khải Huyền 17:16-18.

Herod agrees to fulfill the oath he made to Salome, and give her the head of John, and his oath was represented as up to half his kingdom. The ten kings of the United Nations, in spite of hating the whore, agree to give their seventh kingdom unto the eighth head, that is of the seven previous heads. They agree to a kingdom that is premised upon the combination of the worldwide State, being combined with her worldwide Church. But the marriage is a Latin marriage, not an English marriage, for their marriage is represented by the “woman” reigning “over the kings.” In a Latin marriage the family retains the woman’s surname, not the mans’, and the name of this twofold marriage is an important element of the prophetic narrative.

Herod đồng ý thực hiện lời thề ông đã lập với Salome và trao cho nàng cái đầu của John; và lời thề ấy được nói là đến cả nửa vương quốc của ông. Mười vua của Liên Hợp Quốc, mặc dù ghét người dâm phụ, vẫn đồng ý trao vương quốc thứ bảy cho cái đầu thứ tám, tức là thuộc về bảy cái đầu trước đó. Họ đồng ý với một vương quốc được đặt nền trên sự kết hợp giữa Nhà nước toàn cầu với Giáo hội toàn cầu của bà ta. Nhưng cuộc hôn nhân ấy là hôn nhân kiểu La-tinh, không phải kiểu Anh, vì cuộc hôn nhân của họ được biểu trưng bằng "người đàn bà" trị vì "trên các vua." Trong một cuộc hôn nhân kiểu La-tinh, gia đình giữ họ của người vợ, chứ không phải của người chồng; và tên gọi của cuộc hôn nhân song trùng này là một yếu tố quan trọng của tường thuật tiên tri.

“Kings and rulers and governors have placed upon themselves the brand of antichrist, and are represented as the dragon who goes to make war with the saints—with those who keep the commandments of God and who have the faith of Jesus.” Testimonies to Ministers, 38.

“Các vua, các nhà cai trị và các thống đốc đã tự đặt lên mình dấu ấn của kẻ chống Đấng Christ, và được mô tả như con rồng đi giao chiến với các thánh—những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có đức tin nơi Đức Chúa Giê-su.” Lời chứng cho các mục sư, 38.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

The word that Isaiah the son of Amoz saw concerning Judah and Jerusalem. And it shall come to pass in the last days, that the mountain of the Lord’s house shall be established in the top of the mountains, and shall be exalted above the hills; and all nations shall flow unto it. And many people shall go and say, Come ye, and let us go up to the mountain of the Lord, to the house of the God of Jacob; and he will teach us of his ways, and we will walk in his paths: for out of Zion shall go forth the law, and the word of the Lord from Jerusalem. . .. And in that day seven women shall take hold of one man, saying, We will eat our own bread, and wear our own apparel: only let us be called by thy name, to take away our reproach. In that day shall the branch of the Lord be beautiful and glorious, and the fruit of the earth shall be excellent and comely for them that are escaped of Israel. And it shall come to pass, that he that is left in Zion, and he that remaineth in Jerusalem, shall be called holy, even every one that is written among the living in Jerusalem: When the Lord shall have washed away the filth of the daughters of Zion, and shall have purged the blood of Jerusalem from the midst thereof by the spirit of judgment, and by the spirit of burning. Isaiah 2:1–3, 4:1–4.

Điều Ê-sai, con của A-mốt, đã thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Trong những ngày sau rốt, núi nhà Chúa sẽ được lập vững trên đỉnh các núi, được tôn cao hơn các đồi; muôn dân sẽ đổ về đó. Nhiều dân sẽ đi và nói: Hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Chúa, đến nhà của Đức Chúa Trời của Gia-cốp; Ngài sẽ dạy chúng ta đường lối của Ngài, và chúng ta sẽ bước đi trong các nẻo của Ngài; vì từ Si-ôn luật pháp sẽ phát ra, và lời của Chúa từ Giê-ru-sa-lem. . .. Và trong ngày ấy, bảy người nữ sẽ nắm lấy một người nam mà nói: Chúng tôi sẽ ăn bánh của chính mình và mặc áo của chính mình; chỉ xin cho chúng tôi được gọi theo tên ông, để cất bỏ sự sỉ nhục của chúng tôi. Trong ngày ấy, chồi của Chúa sẽ xinh đẹp và vinh hiển, và hoa trái của đất sẽ tốt tươi và đẹp đẽ cho những người còn sót lại của Y-sơ-ra-ên. Và sẽ xảy ra rằng ai còn sót lại ở Si-ôn, và ai còn ở Giê-ru-sa-lem, sẽ được gọi là thánh, tức là mọi người được ghi vào số những người sống tại Giê-ru-sa-lem: khi Chúa rửa sạch sự ô uế của các con gái Si-ôn và tẩy sạch máu của Giê-ru-sa-lem khỏi giữa nó bởi thần của sự phán xét và bởi thần của sự thiêu đốt. Ê-sai 2:1-3, 4:1-4.