Rome establishes the vision, and Rome is revealed in its “time”. This is a statement by Sister White where she states what should be understood as the obvious:
La Mã xác lập khải tượng, và La Mã được bày tỏ vào "thời điểm" của nó. Đây là một lời tuyên bố của Bà White, trong đó bà khẳng định điều lẽ ra phải được hiểu là hiển nhiên:
“Revelation is a sealed book, but it is also an opened book. It records marvelous events that are to take place in the last days of this earth’s history. The teachings of this book are definite, not mystical and unintelligible. In it the same line of prophecy is taken up as in Daniel. Some prophecies God has repeated, thus showing that importance must be given to them. The Lord does not repeat things that are of no great consequence.” Manuscript Releases, volume 9, 8.
"Khải Huyền là một quyển sách được niêm phong, nhưng cũng là một quyển sách mở. Nó ghi lại những sự kiện kỳ diệu sẽ diễn ra trong những ngày cuối cùng của lịch sử trái đất này. Những giáo huấn của quyển sách này là rõ ràng, chứ không huyền bí và khó hiểu. Trong đó, cùng một dòng tiên tri được tiếp nối như trong sách Đa-ni-ên. Một số lời tiên tri Đức Chúa Trời đã lặp lại, qua đó cho thấy rằng chúng cần được coi trọng. Chúa không lặp lại những điều không mấy hệ trọng." Manuscript Releases, tập 9, 8.
The “Lord does not repeat things that are of no great consequence” and the “times” associated with Rome are repeated over and over. It is of “great consequence” to understand the “time” associated with Rome, for that is what reveals Rome as the subject that establishes the vision. Seven times the twelve hundred and sixty years of papal rule is directly referenced in Daniel and Revelation.
“Chúa không lặp lại những điều không có tầm hệ trọng lớn,” và các “thời kỳ” gắn liền với La Mã được lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác. Điều có “tầm hệ trọng lớn” là phải hiểu “thời kỳ” gắn liền với La Mã, vì chính điều đó bày tỏ La Mã là chủ thể thiết lập khải tượng. Bảy lần, một ngàn hai trăm sáu mươi năm cai trị của giáo hoàng được trực tiếp nhắc đến trong Daniel và Khải Huyền.
And he shall speak great words against the most High, and shall wear out the saints of the most High, and think to change times and laws: and they shall be given into his hand until a time and times and the dividing of time. Daniel 7:25.
Và người ấy sẽ nói những lời lộng ngôn nghịch cùng Đấng Chí Cao, làm cho các thánh đồ của Đấng Chí Cao mòn mỏi, và toan tính thay đổi các thời kỳ và luật pháp; họ sẽ bị phó vào tay người cho đến một thời, hai thời, và nửa thời. Đa-ni-ên 7:25.
And I heard the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, when he held up his right hand and his left hand unto heaven, and sware by him that liveth for ever that it shall be for a time, times, and an half; and when he shall have accomplished to scatter the power of the holy people, all these things shall be finished. Daniel 12:7.
Và tôi nghe người mặc vải gai, đứng trên mặt nước sông; người giơ tay phải và tay trái lên trời, và thề bởi Đấng hằng sống đời đời rằng: điều ấy sẽ là một kỳ, hai kỳ, và nửa kỳ; và khi việc làm tan tác quyền lực của dân thánh đã được hoàn tất, thì mọi điều ấy sẽ chấm dứt. Đa-ni-ên 12:7.
But the court which is without the temple leave out, and measure it not; for it is given unto the Gentiles: and the holy city shall they tread under foot forty and two months. Revelation 11:2.
Nhưng cái sân ở ngoài đền thờ thì hãy bỏ ra, đừng đo; vì nó đã được phó cho các dân ngoại; và thành thánh sẽ bị họ giày đạp trong bốn mươi hai tháng. Khải Huyền 11:2.
And I will give power unto my two witnesses, and they shall prophesy a thousand two hundred and threescore days, clothed in sackcloth. Revelation 11:3.
Và Ta sẽ ban quyền năng cho hai chứng nhân của Ta, và họ sẽ nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày, mặc bao gai. Khải Huyền 11:3.
And the woman fled into the wilderness, where she hath a place prepared of God, that they should feed her there a thousand two hundred and threescore days. Revelation 12:6.
Người đàn bà trốn vào đồng vắng, tại đó Đức Chúa Trời đã dọn sẵn cho nàng một nơi, để người ta nuôi nàng ở đó một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Khải Huyền 12:6.
And to the woman were given two wings of a great eagle, that she might fly into the wilderness, into her place, where she is nourished for a time, and times, and half a time, from the face of the serpent. Revelation 12:14.
Và người đàn bà được ban cho hai cánh của một con đại bàng lớn, để bà bay vào đồng hoang, đến nơi của mình, nơi bà được nuôi dưỡng trong một thời, các thời, và nửa thời, khỏi mặt con rắn. Khải Huyền 12:14.
And there was given unto him a mouth speaking great things and blasphemies; and power was given unto him to continue forty and two months. Revelation 13:5.
Và nó được ban cho một cái miệng nói những điều lớn lao và những lời phạm thượng; và nó cũng được ban quyền tiếp tục bốn mươi hai tháng. Khải Huyền 13:5.
These seven direct references present different specific prophetic characteristics of Rome. It is in those passages that Rome is revealed. Sister White adds that these periods are also represented as “three years and a half or 1260 days.” You do not find either three and a half years or twelve hundred and sixty days” in the Bible. Sister White is simply applying the computation of the seven references accordingly.
Bảy tham chiếu trực tiếp này trình bày những đặc điểm tiên tri cụ thể khác nhau của La Mã. Chính trong những đoạn ấy mà La Mã được bày tỏ. Bà White nói thêm rằng những thời kỳ này cũng được biểu thị là "ba năm rưỡi hoặc 1260 ngày." Bạn sẽ không tìm thấy "ba năm rưỡi" hay "một nghìn hai trăm sáu mươi ngày" trong Kinh Thánh. Bà White chỉ đơn giản áp dụng cách tính của bảy tham chiếu ấy một cách tương ứng.
“In chapter 13 (verses 1–10) is described another beast, ‘like unto a leopard,’ to which the dragon gave ‘his power, and his seat, and great authority.’ This symbol, as most Protestants have believed, represents the papacy, which succeeded to the power and seat and authority once held by the ancient Roman empire. Of the leopardlike beast it is declared: ‘There was given unto him a mouth speaking great things and blasphemies…. And he opened his mouth in blasphemy against God, to blaspheme His name, and His tabernacle, and them that dwell in heaven. And it was given unto him to make war with the saints, and to overcome them: and power was given him over all kindreds, and tongues, and nations.’ This prophecy, which is nearly identical with the description of the little horn of Daniel 7, unquestionably points to the papacy.
Trong chương 13 (các câu 1-10) có mô tả một con thú khác, "giống như con báo", mà con rồng đã ban cho nó "quyền lực của mình, ngai của mình, và thẩm quyền lớn lao." Biểu tượng này, như hầu hết các tín hữu Tin Lành đã tin, đại diện cho giáo hoàng quyền, vốn kế thừa quyền lực, ngai và thẩm quyền từng thuộc về đế quốc La Mã cổ đại. Về con thú giống như con báo, có lời chép: "Người ta ban cho nó một cái miệng nói những điều lớn lao và phạm thượng... Và nó mở miệng nói phạm thượng nghịch cùng Đức Chúa Trời, phạm thượng danh Ngài, đền tạm của Ngài và những kẻ ở trên trời. Người ta cũng ban cho nó quyền gây chiến cùng các thánh đồ và thắng được họ; và người ta ban cho nó quyền trên mọi chi tộc, tiếng nói và dân tộc." Lời tiên tri này, hầu như trùng khớp với mô tả về cái sừng nhỏ trong Đa-ni-ên 7, không thể nghi ngờ, chỉ về giáo hoàng quyền.
“‘Power was given unto him to continue forty and two months.’ And, says the prophet, ‘I saw one of his heads as it were wounded to death.’ And again: ‘He that leadeth into captivity shall go into captivity: he that killeth with the sword must be killed with the sword.’ The forty and two months are the same as the ‘time and times and the dividing of time,’ three years and a half, or 1260 days, of Daniel 7—the time during which the papal power was to oppress God’s people. This period, as stated in preceding chapters, began with the supremacy of the papacy, A.D. 538, and terminated in 1798. At that time the pope was made captive by the French army, the papal power received its deadly wound, and the prediction was fulfilled, ‘He that leadeth into captivity shall go into captivity.’” The Great Controversy, 439.
"'Nó đã được ban quyền để hoạt động trong bốn mươi hai tháng.' Và, nhà tiên tri nói: 'Tôi thấy một trong những đầu của nó như thể bị thương chí tử.' Và lại: 'Kẻ nào bắt người khác làm tù binh sẽ bị đem đi làm tù binh; kẻ nào dùng gươm giết người thì phải bị giết bằng gươm.' Bốn mươi hai tháng cũng chính là 'một thì, hai thì, và nửa thì', tức ba năm rưỡi, hay 1260 ngày, trong Đa-ni-ên 7—khoảng thời gian mà quyền lực giáo hoàng sẽ áp bức dân của Đức Chúa Trời. Thời kỳ này, như đã nêu ở các chương trước, bắt đầu với sự tối thượng của giáo quyền giáo hoàng vào năm 538 SCN, và kết thúc năm 1798. Vào thời điểm đó, giáo hoàng bị quân đội Pháp bắt làm tù binh, quyền lực giáo hoàng nhận vết thương chí tử, và lời tiên tri được ứng nghiệm: 'Kẻ nào bắt người khác làm tù binh sẽ bị đem đi làm tù binh.' Cuộc Đại Tranh Chiến, 439."
With the inspired authority to also consider three and a half years as the “time” which “reveals” Rome, other biblical references to Rome emerge.
Với thẩm quyền linh hứng cho phép cũng coi ba năm rưỡi là "thời gian" "bày tỏ" La Mã, những ám chỉ Kinh Thánh khác về La Mã hiện ra.
But I tell you of a truth, many widows were in Israel in the days of Elias, when the heaven was shut up three years and six months, when great famine was throughout all the land. Luke 4:25.
Nhưng ta nói thật với các ngươi: đã có nhiều bà góa ở Israel trong thời Êlia, khi trời bị đóng kín suốt ba năm sáu tháng, khi nạn đói lớn xảy ra khắp cả xứ. Lu-ca 4:25.
The three and a half years of Elijah, connects the time with Jezebel, who is the symbol of papal Rome in the church of Thyatira.
Ba năm rưỡi của Ê-li liên hệ thời kỳ ấy với Giê-sa-bên, người là biểu tượng của La Mã giáo hoàng trong Hội thánh Thi-a-ti-ra.
Notwithstanding I have a few things against thee, because thou sufferest that woman Jezebel, which calleth herself a prophetess, to teach and to seduce my servants to commit fornication, and to eat things sacrificed unto idols. And I gave her space to repent of her fornication; and she repented not. Revelation 2:20, 21.
Tuy nhiên, Ta có vài điều trách ngươi, vì ngươi dung túng người đàn bà Giê-sa-bên, tự xưng là nữ tiên tri, dạy dỗ và dụ dỗ các đầy tớ Ta phạm tội tà dâm và ăn của cúng cho hình tượng. Ta đã cho nàng thì giờ để ăn năn về sự tà dâm của mình; nhưng nàng không ăn năn. Khải Huyền 2:20, 21.
The “time” given the fourth church, represented by Jezebel, is also a “space.”
"Thời gian" được ban cho hội thánh thứ tư, do Jezebel đại diện, cũng là một "không gian".
Elias was a man subject to like passions as we are, and he prayed earnestly that it might not rain: and it rained not on the earth by the space of three years and six months. James 5:17.
Ê-li-a cũng là người có bản tính như chúng ta, và ông đã cầu nguyện khẩn thiết để trời đừng mưa; và trời đã không mưa trên đất suốt ba năm sáu tháng. Gia-cơ 5:17.
Commenting on the forty-two months being the same as the thousand two hundred and threescore days, Sister White identifies the period as “those days,” which Christ referred to.
Khi bình luận rằng bốn mươi hai tháng cũng chính là một nghìn hai trăm sáu mươi ngày, Bà White xác định thời kỳ ấy là “những ngày ấy” mà Đấng Christ đã đề cập đến.
“The periods here mentioned—‘forty and two months,’ and ‘a thousand two hundred and threescore days’—are the same, alike representing the time in which the church of Christ was to suffer oppression from Rome. The 1260 years of papal supremacy began in A.D. 538, and would therefore terminate in 1798. At that time a French army entered Rome and made the pope a prisoner, and he died in exile. Though a new pope was soon afterward elected, the papal hierarchy has never since been able to wield the power which it before possessed.
Các khoảng thời gian được nhắc đến ở đây—'bốn mươi hai tháng' và 'một nghìn hai trăm sáu mươi ngày'—là như nhau, cùng đại diện cho thời kỳ mà Hội thánh của Đấng Christ phải chịu sự áp bức từ Rô-ma. 1260 năm quyền tối thượng của giáo hoàng bắt đầu vào năm 538 sau Công nguyên, và vì vậy sẽ kết thúc vào năm 1798. Vào thời điểm đó, một đạo quân Pháp tiến vào Rô-ma và bắt giáo hoàng làm tù nhân, và ông đã chết nơi lưu đày. Dù ngay sau đó một giáo hoàng mới được bầu, hàng giáo phẩm chưa từng kể từ ấy có thể nắm giữ quyền lực như trước kia nữa.
“The persecution of the church did not continue throughout the entire period of the 1260 years. God in mercy to His people cut short the time of their fiery trial. In foretelling the ‘great tribulation’ to befall the church, the Saviour said: ‘Except those days should be shortened, there should no flesh be saved: but for the elect’s sake those days shall be shortened.’ Matthew 24:22. Through the influence of the Reformation the persecution was brought to an end prior to 1798.” The Great Controversy, 266.
Sự bắt bớ đối với Hội Thánh đã không tiếp diễn suốt toàn bộ giai đoạn 1260 năm. Đức Chúa Trời, vì thương xót dân Ngài, đã rút ngắn thời kỳ thử luyện khốc liệt của họ. Khi báo trước về “cơn đại nạn” sẽ giáng trên Hội Thánh, Cứu Chúa phán: “Nếu những ngày ấy không được rút ngắn, thì chẳng có người nào được cứu; nhưng vì cớ những người được chọn, những ngày ấy sẽ được rút ngắn.” Ma-thi-ơ 24:22. Nhờ ảnh hưởng của cuộc Cải Chánh, sự bắt bớ đã chấm dứt trước năm 1798. Đại Tranh Chiến, 266.
Christ and Sister White identify the expression of “those days,” as the “time,” which identifies papal Rome. When Daniel speaks of the persecution which followed the placing of the papacy on the throne of the earth in verse thirty-one of chapter eleven, he speaks of that time of persecution as “many days.”
Đấng Christ và Bà White xác định rằng cụm từ "những ngày ấy" chính là "thời kỳ" dùng để nhận diện Rôma giáo hoàng. Khi Đa-ni-ên nói về cuộc bắt bớ xảy ra sau khi quyền giáo hoàng được đặt lên ngai trên đất trong câu 31 của chương 11, ông gọi thời kỳ bắt bớ ấy là "nhiều ngày."
And arms shall stand on his part, and they shall pollute the sanctuary of strength, and shall take away the daily sacrifice, and they shall place the abomination that maketh desolate. And such as do wickedly against the covenant shall he corrupt by flatteries: but the people that do know their God shall be strong, and do exploits. And they that understand among the people shall instruct many: yet they shall fall by the sword, and by flame, by captivity, and by spoil, many days. Daniel 11:31–33.
Và các đạo binh sẽ đứng về phía hắn, chúng sẽ làm ô uế đền thánh của đồn lũy, cất bỏ của lễ hằng hiến, và đặt sự gớm ghiếc gây hoang tàn. Những kẻ làm ác nghịch lại giao ước, hắn sẽ làm cho bại hoại bằng lời nịnh hót; nhưng dân nào biết Đức Chúa Trời mình sẽ vững mạnh và làm nên những việc lớn. Những người hiểu biết trong dân sẽ dạy dỗ nhiều người; dầu vậy, họ sẽ vấp ngã bởi gươm, bởi lửa, bởi cảnh phu tù và cướp bóc, trong nhiều ngày. Đa-ni-ên 11:31-33.
Rome is revealed in connection with the prophetic time which is associated with it, that is why Paul says the man of sin will be revealed in “his time”. The fact that Rome establishes the vision, which if we do not know, we perish, identifies why that prophetic time is represented so often, and in so many ways, for God “does not repeat things that are of no great consequence.” In the previous verses, the end of the period of time is also marked.
Rô-ma được bày tỏ trong mối liên hệ với thời kỳ tiên tri gắn liền với nó; đó là lý do Phao-lô nói rằng "con người tội ác" sẽ được bày tỏ vào "thời kỳ của hắn". Việc Rô-ma xác lập khải tượng, mà nếu chúng ta không biết thì sẽ hư mất, cho thấy vì sao thời kỳ tiên tri ấy được trình bày rất thường xuyên và bằng nhiều cách khác nhau, vì Đức Chúa Trời "không lặp lại những điều không mấy quan trọng". Trong các câu trước đó, sự kết thúc của thời kỳ ấy cũng được chỉ ra.
And they that understand among the people shall instruct many: yet they shall fall by the sword, and by flame, by captivity, and by spoil, many days. Now when they shall fall, they shall be holpen with a little help: but many shall cleave to them with flatteries. And some of them of understanding shall fall, to try them, and to purge, and to make them white, even to the time of the end: because it is yet for a time appointed. Daniel 11:33–35.
Những người hiểu biết trong dân sẽ hướng dẫn nhiều người; nhưng họ sẽ ngã gục vì gươm đao và lửa, bị bắt làm phu tù và bị cướp bóc trong nhiều ngày. Khi họ sa ngã, họ sẽ được giúp đỡ một ít; nhưng nhiều người sẽ bám theo họ bằng lời nịnh hót. Và một số người trong số những người hiểu biết cũng sẽ sa ngã, để thử luyện họ, để thanh tẩy và làm cho họ nên trắng cho đến thời kỳ cuối cùng, vì còn phải chờ đến thời kỳ đã định. Đa-ni-ên 11:33-35.
The “time of the end” “is yet for a time appointed.” The Hebrew word “appointed” is “moed,” and means a fixed time or an appointment. The prophetic relevance and importance of the “time appointed,” in the book of Daniel is identified by how often it is referenced. Very few Laodicean Adventists, if any, recognize that 1989, was a “time of the end,” and therefore 1989 was an appointed time. It was an appointment made by God, when He would unseal the knowledge for the movement of the one hundred and forty-four thousand. For this reason, the book of Daniel provides witnesses to the fact that the “time appointed” marks the arrival of “the time of the end”. In Daniel eight, this prophetic symbol is set forth.
"Thời kỳ cuối cùng" "còn để đến vào một kỳ đã định." Từ Hê-bơ-rơ cho "đã định" là "moed", và có nghĩa là một thời điểm cố định hoặc một sự ấn định. Ý nghĩa và tầm quan trọng mang tính tiên tri của "kỳ đã định" trong sách Đa-ni-ên được nhận biết qua tần suất nó được nhắc đến. Rất ít tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, nếu có, nhận ra rằng năm 1989 là một "thời kỳ cuối cùng", và vì vậy năm 1989 là một kỳ đã định. Đó là một sự ấn định do Đức Chúa Trời lập, khi Ngài sẽ mở ấn sự hiểu biết cho phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Vì lý do đó, sách Đa-ni-ên đưa ra bằng chứng cho thực tế rằng "kỳ đã định" đánh dấu sự đến của "thời kỳ cuối cùng". Trong Đa-ni-ên chương tám, biểu tượng tiên tri này được nêu ra.
And I heard a man’s voice between the banks of Ulai, which called, and said, Gabriel, make this man to understand the vision. So he came near where I stood: and when he came, I was afraid, and fell upon my face: but he said unto me, Understand, O son of man: for at the time of the end shall be the vision. Now as he was speaking with me, I was in a deep sleep on my face toward the ground: but he touched me, and set me upright. And he said, Behold, I will make thee know what shall be in the last end of the indignation: for at the time appointed the end shall be. Daniel 8:16–19.
Tôi nghe tiếng một người đàn ông từ giữa hai bờ sông Ulai, gọi và nói: “Gabriel, hãy làm cho người này hiểu khải tượng.” Vậy ngài đến gần chỗ tôi đứng; khi ngài đến, tôi sợ hãi và sấp mặt xuống đất; nhưng ngài phán với tôi: “Hỡi con người, hãy hiểu: vì khải tượng thuộc về thời kỳ cuối cùng.” Khi ngài còn đang nói với tôi, tôi mê mẩn, mặt úp xuống đất; nhưng ngài chạm vào tôi và dựng tôi đứng thẳng dậy. Ngài nói: “Kìa, ta sẽ cho ngươi biết điều gì sẽ xảy ra vào lúc cuối của cơn phẫn nộ; vì đến thời kỳ đã định thì sự cuối cùng sẽ đến.” Đa-ni-ên 8:16-19.
As with chapter eleven, the word “end,” in “time of the end” in these verses is a different Hebrew word than is translated as “appointed.” The time of the end is representing a period that commences at the time appointed. The “time appointed” (moed) is an appointment, and the time of the end (the Hebrew word “gets”) is a period of time, which begins at the time appointed. It is the “time” that reveals Rome, and that “time” is so important that the end of that period of time, and the period which follows the end of that time, are represented by several witnesses. In verse twenty-four of chapter eleven of Daniel, pagan Rome is identified as ruling the world for a “time.”
Cũng như ở chương mười một, từ "end" trong cụm "time of the end" ở những câu này là một từ Hê-bơ-rơ khác với từ được dịch là "appointed". "Thời kỳ cuối cùng" chỉ về một giai đoạn bắt đầu vào thời điểm đã ấn định. "Thời điểm đã ấn định" (moed) là một sự ấn định, còn "thời kỳ cuối cùng" (từ Hê-bơ-rơ "gets") là một khoảng thời gian, bắt đầu vào thời điểm đã ấn định. Chính "thời kỳ" ấy bày tỏ Rô-ma, và "thời kỳ" ấy quan trọng đến nỗi phần kết thúc của khoảng thời gian đó, cũng như giai đoạn theo sau sự kết thúc ấy, đều được nhiều nhân chứng chứng thực. Trong câu hai mươi bốn của chương mười một sách Đa-ni-ên, Rô-ma ngoại giáo được nhận diện là cai trị thế giới trong một "thời kỳ".
A symbolic “time,” is three hundred and sixty years, for there are three hundred and sixty days in a biblical year. Pagan Rome ruled for a “time,” and papal Rome ruled for “a time, times and half a time.” Modern Rome rules for a symbolic “hour,” or a symbolic “forty-two months.” There is no prophetic time after 1844, so the “hour” and the “forty-two months” is the period from the soon-coming Sunday law unto the close of human probation. But pagan Rome ruled supremely from the Battle of Actium in 31 BC, until Constantine moved the capital of the empire to Constantinople in the year 330. We know the following verses are speaking of pagan Rome, for Christ is represented as the “prince of the covenant” that “shall be broken” when He was crucified. The power then ruling was pagan Rome, so the verses we are now going to look at identify pagan Rome.
Một "thời kỳ" tượng trưng là ba trăm sáu mươi năm, vì có ba trăm sáu mươi ngày trong một năm theo Kinh Thánh. La Mã ngoại giáo cai trị trong một "thời kỳ", và La Mã giáo hoàng cai trị trong "một thời, các thời và nửa thời". La Mã hiện đại cai trị trong một "giờ" tượng trưng, hay "bốn mươi hai tháng" tượng trưng. Không còn thời gian tiên tri sau năm 1844, nên "giờ" và "bốn mươi hai tháng" là giai đoạn từ luật Chủ nhật sắp đến cho đến khi kết thúc thời kỳ thử thách của loài người. Nhưng La Mã ngoại giáo cai trị tối cao từ Trận Actium vào năm 31 trước Công nguyên, cho đến khi Constantine dời thủ đô của đế quốc đến Constantinople vào năm 330. Chúng ta biết các câu kế tiếp đang nói về La Mã ngoại giáo, vì Đấng Christ được trình bày như "vị hoàng tử của giao ước" sẽ "bị bẻ gãy" khi Ngài bị đóng đinh. Quyền lực đang cai trị khi ấy là La Mã ngoại giáo, nên các câu mà chúng ta sắp xem xét nhận diện La Mã ngoại giáo.
And in his estate shall stand up a vile person, to whom they shall not give the honour of the kingdom: but he shall come in peaceably, and obtain the kingdom by flatteries. And with the arms of a flood shall they be overflown from before him, and shall be broken; yea, also the prince of the covenant. And after the league made with him he shall work deceitfully: for he shall come up, and shall become strong with a small people. He shall enter peaceably even upon the fattest places of the province; and he shall do that which his fathers have not done, nor his fathers’ fathers; he shall scatter among them the prey, and spoil, and riches: yea, and he shall forecast his devices against the strong holds, even for a time. Daniel 11:21–24.
Và trong địa vị của người ấy sẽ đứng lên một kẻ đê tiện, người mà người ta sẽ không trao cho vinh dự của vương quốc; nhưng hắn sẽ đến cách yên ổn và chiếm lấy vương quốc bằng lời tâng bốc. Bằng binh lực như nước lũ, chúng sẽ bị quét sạch khỏi trước mặt hắn và bị bẻ gãy; phải, cả thủ lãnh của giao ước cũng vậy. Sau khi đã lập giao ước với hắn, hắn sẽ hành động cách gian trá; vì hắn sẽ trỗi lên và trở nên mạnh với một số ít người. Hắn sẽ vào cách yên ổn đến cả những nơi phì nhiêu nhất của xứ; và hắn sẽ làm điều mà cha ông hắn chưa từng làm, cũng không cả các tổ phụ của hắn; hắn sẽ rải ra giữa họ chiến lợi phẩm, của cướp và của cải; phải, hắn sẽ toan tính mưu kế nghịch lại các đồn lũy, cho đến một kỳ. Đa-ni-ên 11:21-24.
The word “against” in the last phrase of the verses actually means “from,” and the verse is saying that pagan Rome shall rule (forecast his devices) “from” its stronghold (the City of Rome) for three hundred and sixty years.
Từ "against" trong cụm từ cuối cùng của các câu thực ra có nghĩa là "from", và câu ấy nói rằng La Mã ngoại giáo sẽ cai trị (tiên liệu các mưu chước của nó) "từ" thành trì của nó (thành Rô-ma) trong ba trăm sáu mươi năm.
“‘VERSE 24. He shall enter peacefully even upon the fattest places of the province: and he shall do that which his fathers have not done, nor his fathers’ fathers; he shall scatter among them the prey, and spoil, and riches: yea, and he shall forecast his devices against the strongholds, even for a time.’
'CÂU 24. Người sẽ vào một cách hòa bình, ngay cả vào những nơi trù phú nhất của xứ; và người sẽ làm điều mà tổ phụ người chưa từng làm, cũng như tổ phụ của tổ phụ người; người sẽ phân phát giữa họ chiến lợi phẩm, của cướp, và của cải; phải, người sẽ định liệu mưu kế mình nghịch cùng các đồn lũy, cho đến một kỳ.'
“The usual manner in which nations had, before the days of Rome, entered upon valuable provinces and rich territory, was by war and conquest. Rome was now to do what had not been done by the fathers or the fathers’ fathers; namely, receive these acquisitions through peaceful means. The custom, before unheard of, was now inaugurated, of kings leaving by legacy their kingdoms to the Romans. Rome came into possession of large provinces in this manner.
Trước thời La Mã, cách thức thông thường để các dân tộc tiến vào những tỉnh giàu có và lãnh thổ trù phú là bằng chiến tranh và chinh phục. Nay La Mã sẽ làm điều mà cha ông họ, thậm chí cha của cha họ, chưa từng làm: tức là tiếp nhận những vùng đất ấy bằng con đường hòa bình. Một tập tục trước đây chưa từng nghe tới nay được khởi xướng: các vua chúa để lại vương quốc của mình cho người La Mã theo di chúc. Bằng cách ấy, La Mã đã sở hữu những tỉnh rộng lớn.
“And those who thus came under the dominion of Rome derived no small advantage therefrom. They were treated with kindness and leniency. It was like having the prey and spoil distributed among them. They were protected from their enemies, and rested in peace and safety under the aegis of the Roman power.
Và những người như vậy khi rơi vào quyền cai trị của La Mã đã được hưởng không ít lợi ích từ đó. Họ được đối đãi với lòng nhân hậu và sự khoan dung. Cứ như thể con mồi và chiến lợi phẩm được chia cho họ. Họ được bảo vệ khỏi kẻ thù và sống yên ổn trong hòa bình, an toàn dưới sự bảo hộ của quyền lực La Mã.
“To the latter portion of this verse, Bishop Newton gives the idea of forecasting devices from strongholds, instead of against them. This the Romans did from the strong fortress of their seven-hilled city. ‘Even for a time;’ doubtless a prophetic time, 360 years. From what point are these years to be dated? Probably from the event brought to view in the following verse.
Về phần sau của câu này, Giám mục Newton cho rằng có ý nói đến các mưu kế tiên liệu xuất phát từ các thành lũy, thay vì chống lại chúng. Người La Mã đã làm điều này từ pháo đài kiên cố là thành phố bảy đồi của họ. 'Ngay cả trong một thời kỳ;' chắc chắn là một thời kỳ tiên tri, 360 năm. Những năm này được tính từ mốc nào? Có lẽ từ sự kiện được nêu ra trong câu kế tiếp.
“‘VERSE 25. And he shall stir up his power and his courage against the king of the south with a great army; and the king of the south shall be stirred up to battle with a very great and mighty army; but he shall not stand: for they shall forecast devices against him.’
'CÂU 25. Và người ấy sẽ khuấy động sức mạnh và lòng dũng cảm của mình chống lại vua phương Nam với một đạo quân lớn; và vua phương Nam sẽ bị thúc giục ra chiến trận với một đạo quân rất lớn và hùng mạnh; nhưng ông sẽ không đứng vững, vì họ sẽ bày mưu kế chống lại ông.'
“By verses 23 and 24 we are brought down this side of the league between the Jews and the Romans, BC 161, to the time when Rome had acquired universal dominion. The verse now before us brings to view a vigorous campaign against the king of the south, Egypt, and the occurrence of a notable battle between great and mighty armies. Did such events as these transpire in the history of Rome about this time?—They did. The war was the war between Egypt and Rome; and the battle was the battle of Actium. Let us take a brief view of the circumstances that led to this conflict.” Uriah Smith, Daniel and the Revelation, 271–273.
“Qua các câu 23 và 24, chúng ta được dẫn xuống bên này của liên minh giữa người Do Thái và người La Mã, năm 161 TCN, đến thời kỳ khi La Mã đã giành được quyền thống trị hoàn vũ. Câu hiện ở trước mắt chúng ta đưa ra trước mắt một chiến dịch mãnh liệt chống lại vua phương nam, tức Ai Cập, và sự xảy ra của một trận chiến đáng chú ý giữa những đạo quân lớn và hùng mạnh. Những biến cố như thế có thực sự xảy ra trong lịch sử La Mã vào khoảng thời gian này chăng?—Quả thật đã xảy ra. Cuộc chiến ấy là cuộc chiến giữa Ai Cập và La Mã; và trận chiến ấy là trận Actium. Chúng ta hãy lướt qua một cách vắn tắt các hoàn cảnh đã dẫn đến cuộc xung đột này.” Uriah Smith, Daniel and the Revelation, 271–273.
In the following verses the time appointed and the end are again referenced by Daniel.
Trong các câu tiếp theo, kỳ đã định và sự cuối cùng lại được Daniel nhắc đến.
And he shall stir up his power and his courage against the king of the south with a great army; and the king of the south shall be stirred up to battle with a very great and mighty army; but he shall not stand: for they shall forecast devices against him. Yea, they that feed of the portion of his meat shall destroy him, and his army shall overflow: and many shall fall down slain. And both these kings’ hearts shall be to do mischief, and they shall speak lies at one table; but it shall not prosper: for yet the end shall be at the time appointed. Then shall he return into his land with great riches; and his heart shall be against the holy covenant; and he shall do exploits, and return to his own land. At the time appointed he shall return, and come toward the south; but it shall not be as the former, or as the latter. Daniel 11:25–29.
Người ấy sẽ khơi dậy sức mạnh và lòng dũng cảm của mình chống lại vua phương nam với một đạo quân lớn; và vua phương nam cũng sẽ được khích động ra trận với một đạo quân rất lớn và hùng mạnh; song chẳng đứng vững được, vì người ta sẽ bày mưu chống lại ông. Phải, những kẻ hưởng phần thức ăn của ông sẽ hủy diệt ông, đạo quân của ông sẽ bị quét sạch, và nhiều người sẽ ngã chết. Lòng của cả hai vua ấy đều toan làm điều ác, và họ sẽ nói dối với nhau khi ngồi chung một bàn; nhưng việc ấy sẽ không thành công, vì kỳ cuối cùng sẽ đến vào thời đã định. Bấy giờ người ấy sẽ trở về đất mình với nhiều của cải lớn; lòng người ấy sẽ chống lại giao ước thánh; người sẽ làm những việc táo bạo, rồi trở về xứ mình. Đến kỳ đã định, người sẽ trở lại và tiến về phương nam; nhưng chẳng như trước cũng chẳng như sau. Đa-ni-ên 11:25-29.
In chapter eight, Gabriel identified that the “chazon,” vision of the twenty-five hundred and twenty years, would conclude at the time appointed, and then the period represented by “the time of the end” would begin. In this passage, the time appointed is the end of the three hundred and sixty years that pagan Rome would rule the world supremely. In this passage there is no “time of the end,” for there was nothing sealed up that was to be unsealed at the end of that period of history.
Trong chương tám, Gabriel xác định rằng “chazon”, khải tượng về hai nghìn năm trăm hai mươi năm, sẽ kết thúc vào kỳ đã định, và rồi thời kỳ được gọi là “thời kỳ cuối cùng” sẽ bắt đầu. Trong đoạn này, kỳ đã định là sự kết thúc của ba trăm sáu mươi năm mà La Mã ngoại giáo sẽ cai trị tối cao trên thế giới. Trong đoạn này không có “thời kỳ cuối cùng”, vì không có điều gì đã được niêm phong để rồi sẽ được mở ấn vào cuối giai đoạn lịch sử đó.
In Daniel chapter eight, the vision of the “last end” of the indignation, which was the twenty-five hundred and twenty years that concluded at the same time as the twenty-three hundred years, was sealed up to the “time of the end,” for in 1844, which was the appointed time of both visions, the light of the third angel was unsealed. In Daniel eleven, verses thirty to thirty-six, at the end of the “first indignation” in 1798, there was to be a period represented as the “time of the end,” when the light of the first angel was unsealed. Therefore, the time prophecy of pagan Rome did not have a time of the end, but only a time appointed, identifying when the three hundred and sixty years concluded, but the time appointed in 1798, and the time appointed in 1844, both unsealed a message that was to be understood in the period represented as the “time of the end”.
Trong Đa-ni-ên đoạn tám, sự hiện thấy về “cuối cùng” của cơn thạnh nộ, tức là hai ngàn năm trăm hai mươi năm chấm dứt cùng lúc với hai ngàn ba trăm năm, đã được niêm phong cho đến “kỳ cuối cùng”; vì vào năm 1844, là kỳ đã định của cả hai sự hiện thấy, ánh sáng của thiên sứ thứ ba đã được mở niêm. Trong Đa-ni-ên 11, các câu ba mươi đến ba mươi sáu, vào cuối “cơn thạnh nộ thứ nhất” năm 1798, sẽ có một giai đoạn được biểu thị là “kỳ cuối cùng”, khi ánh sáng của thiên sứ thứ nhất được mở niêm. Vậy nên, lời tiên tri thời gian về La Mã ngoại giáo không có một kỳ cuối cùng, mà chỉ có một kỳ đã định, xác định thời điểm ba trăm sáu mươi năm chấm dứt; nhưng kỳ đã định vào năm 1798, và kỳ đã định vào năm 1844, cả hai đều mở niêm một sứ điệp phải được hiểu trong giai đoạn được biểu thị là “kỳ cuối cùng”.
Rome is revealed as it is represented prophetically within its prophetic time. “Time, times and dividing of time”, “forty-two months”, “twelve hundred and sixty days”, and “three and a half years” are some of the various symbols that represent the period when the papacy ruled during the Dark Ages. The period of time that links the movement of the Millerites to the movement of the one hundred and forty-four thousand is one hundred and twenty-six years. One hundred and twenty-six is also a symbol of twelve hundred and sixty days, for it is a tithe or a tenth of that amount. The one hundred and twenty-six years from the rebellion of 1863, unto the time appointed in 1989, identifies 1989 as God’s appointment with His last day people.
La Mã được bày tỏ đúng như cách nó được trình bày trong lời tiên tri, trong thời kỳ tiên tri của nó. “Một thì, các thì và phân nửa thì”, “bốn mươi hai tháng”, “một ngàn hai trăm sáu mươi ngày”, và “ba năm rưỡi” là một vài trong nhiều biểu tượng tượng trưng cho thời kỳ khi chế độ giáo hoàng thống trị trong Thời Kỳ Tăm Tối. Khoảng thời gian liên kết phong trào Miller với phong trào của một trăm bốn mươi bốn ngàn là một trăm hai mươi sáu năm. Một trăm hai mươi sáu cũng là một biểu tượng của một ngàn hai trăm sáu mươi ngày, vì nó là một phần mười của con số ấy. Một trăm hai mươi sáu năm kể từ cuộc phản loạn năm 1863 cho đến kỳ đã định năm 1989 xác định năm 1989 là cuộc hẹn của Đức Chúa Trời với dân sự ngày sau rốt của Ngài.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“How shall we search the Scriptures? Shall we drive our stakes of doctrine one after another, and then try to make all Scripture meet our established opinions, or shall we take our ideas and views to the Scriptures, and measure our theories on every side by the Scriptures of truth? Many who read and even teach the Bible, do not comprehend the precious truth they are teaching or studying. Men entertain errors, when the truth is clearly marked out, and if they would but bring their doctrines to the word of God, and not read the word of God in the light of their doctrines, to prove their ideas right, they would not walk in darkness and blindness, or cherish error. Many give the words of Scripture a meaning that suits their own opinions, and they mislead themselves and deceive others by their misinterpretations of God’s word. As we take up the study of God’s word, we should do so with humble hearts. All selfishness, all love of originality, should be laid aside. Long-cherished opinions must not be regarded as infallible. It was the unwillingness of the Jews to give up their long established traditions that proved their ruin. They were determined not to see any flaw in their own opinions or in their expositions of the Scriptures; but however long men may have entertained certain views, if they are not clearly sustained by the written word, they should be discarded.
Chúng ta phải tra cứu Kinh Thánh như thế nào? Chúng ta sẽ dựng lên hết tín điều này đến tín điều khác, rồi cố bắt cả Kinh Thánh phải phù hợp với những quan điểm đã định sẵn của mình, hay là chúng ta đem các ý tưởng và quan điểm của mình đến với Kinh Thánh, và đo lường mọi mặt các lý thuyết của mình bằng Kinh Thánh của lẽ thật? Nhiều người đọc, thậm chí dạy Kinh Thánh, nhưng không thấu hiểu lẽ thật quý báu mà họ đang dạy hoặc học. Người ta vẫn dung dưỡng sai lầm, dù lẽ thật đã được chỉ ra rõ ràng; và nếu họ chỉ chịu đem các giáo lý của mình đối chiếu với Lời Đức Chúa Trời, thay vì đọc Lời Đức Chúa Trời dưới ánh sáng các giáo điều của họ để chứng minh ý tưởng của mình là đúng, thì họ đã không bước đi trong bóng tối và mù lòa, cũng không ôm ấp sai lầm. Nhiều người gán cho lời Kinh Thánh một ý nghĩa phù hợp với quan điểm riêng của họ, và họ tự gây lạc lối cho mình, lại còn lừa dối người khác bởi những sự giải nghĩa sai Lời của Đức Chúa Trời. Khi bắt đầu học Lời Đức Chúa Trời, chúng ta nên làm điều đó với tấm lòng khiêm nhường. Mọi sự ích kỷ, mọi sự ham chuộng điều mới lạ, đều phải được gác lại. Những ý kiến được ấp ủ từ lâu không nên được xem là không thể sai. Chính việc người Do Thái không chịu từ bỏ những truyền thống đã được thiết lập lâu đời đã dẫn họ đến chỗ bại vong. Họ quả quyết không thấy có khuyết điểm nào trong các ý kiến của mình hay trong cách giải nghĩa Kinh Thánh của họ; nhưng dù con người có ôm giữ một quan điểm nào đó đã lâu đến đâu, nếu điều ấy không được Lời đã chép minh chứng rõ ràng, thì nó cần phải bị loại bỏ.
“Those who sincerely desire truth will not be reluctant to lay open their positions for investigation and criticism, and will not be annoyed if their opinions and ideas are crossed. This was the spirit cherished among us forty years ago. We would come together burdened in soul, praying that we might be one in faith and doctrine; for we knew that Christ is not divided. One point at a time was made the subject of investigation. Solemnity characterized these councils of investigation. The Scriptures were opened with a sense of awe. Often we fasted, that we might be better fitted to understand the truth. After earnest prayer, if any point was not understood, it was discussed, and each one expressed his opinion freely; then we would again bow in prayer, and earnest supplications went up to heaven that God would help us to see eye to eye, that we might be one, as Christ and the Father are one. Many tears were shed. If one brother rebuked another for his dullness of comprehension in not understanding a passage as he understood it, the one rebuked would afterward take his brother by the hand, and say, ‘Let us not grieve the Holy Spirit of God. Jesus is with us; let us keep a humble and teachable spirit;’ and the brother addressed would say, ‘Forgive me, brother, I have done you an injustice.’ Then we would bow down in another season of prayer. We spent many hours in this way. We did not generally study together more than four hours at a time, yet sometimes the entire night was spent in solemn investigation of the Scriptures, that we might understand the truth for our time. On some occasions the Spirit of God would come upon me, and difficult portions were made clear through God’s appointed way, and then there was perfect harmony. We were all of one mind and one Spirit.
Những ai chân thành khao khát lẽ thật sẽ không ngần ngại bày tỏ lập trường của mình để được khảo xét và phê bình, và sẽ không bực dọc nếu ý kiến và ý tưởng của họ bị phản bác. Ấy là tinh thần được chúng tôi trân quý cách đây bốn mươi năm. Chúng tôi nhóm lại với tâm hồn nặng trĩu, cầu nguyện để có thể hiệp một trong đức tin và giáo lý; vì chúng tôi biết Đấng Christ không hề bị chia rẽ. Mỗi lần chỉ một điểm được đưa ra làm đề tài khảo xét. Sự trang nghiêm là đặc trưng của những buổi họp khảo xét này. Kinh Thánh được mở ra với lòng kính sợ. Nhiều khi chúng tôi kiêng ăn, để được chuẩn bị tốt hơn nhằm hiểu lẽ thật. Sau khi cầu nguyện tha thiết, nếu có điểm nào chưa hiểu, điểm ấy được đem ra thảo luận, và mỗi người tự do bày tỏ ý kiến mình; rồi chúng tôi lại quỳ xuống cầu nguyện, những lời khẩn nài tha thiết dâng lên trời xin Đức Chúa Trời giúp chúng tôi nhìn thấy như nhau, để chúng tôi được hiệp một, như Đấng Christ và Cha là một. Nhiều nước mắt đã tuôn rơi. Nếu một anh em quở trách một người khác vì người ấy chậm hiểu, không nắm được một đoạn theo như người quở trách đã hiểu, thì người bị quở trách sau đó sẽ nắm tay anh mình và nói: 'Chúng ta đừng làm buồn Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu ở với chúng ta; chúng ta hãy giữ lấy tâm linh khiêm nhường và dễ dạy;' và người anh em kia sẽ nói: 'Xin tha cho tôi, anh ơi, tôi đã làm điều bất công với anh.' Rồi chúng tôi lại quỳ xuống trong một thì giờ cầu nguyện nữa. Chúng tôi đã dành nhiều giờ như thế. Thông thường chúng tôi không học chung quá bốn giờ mỗi lần, nhưng đôi khi cả đêm được dành cho việc khảo xét Kinh Thánh cách trang nghiêm, để chúng tôi hiểu lẽ thật cho thời đại của chúng ta. Có những lúc Thánh Linh của Đức Chúa Trời giáng trên tôi, và những đoạn khó được làm cho rõ ràng qua phương cách Đức Chúa Trời đã chỉ định, và bấy giờ có sự hòa hợp trọn vẹn. Chúng tôi đều đồng một lòng, một ý và một Thánh Linh.
“We sought most earnestly that the Scriptures should not be wrested to suit any man’s opinions. We tried to make our differences as slight as possible by not dwelling on points that were of minor importance, upon which there were varying opinions. But the burden of every soul was to bring about a condition among the brethren which would answer the prayer of Christ that his disciples might be one as he and the Father are one. Sometimes one or two of the brethren would stubbornly set themselves against the view presented, and would act out the natural feelings of the heart; but when this disposition appeared, we suspended our investigations and adjourned our meeting, that each one might have an opportunity to go to God in prayer, and without conversation with others, study the point of difference, asking light from heaven. With expressions of friendliness we parted, to meet again as soon as possible for further investigation. At times the power of God came upon us in a marked manner, and when clear light revealed the points of truth, we would weep and rejoice together. We loved Jesus; we loved one another.
Chúng tôi đã cố gắng hết sức để Kinh Thánh không bị bóp méo cho phù hợp với quan điểm của bất kỳ ai. Chúng tôi cố gắng làm cho những khác biệt giữa chúng tôi trở nên nhỏ nhất có thể bằng cách không sa đà vào những điểm ít quan trọng, về đó có những ý kiến khác nhau. Nhưng gánh nặng của mỗi linh hồn là tạo nên trong vòng anh em một tình trạng đáp ứng lời cầu nguyện của Đấng Christ rằng các môn đồ Ngài được nên một, như Ngài và Cha là một. Đôi khi một hai anh em ngoan cố chống lại quan điểm được trình bày và hành động theo những tình cảm tự nhiên của lòng mình; nhưng khi thái độ này xuất hiện, chúng tôi tạm ngưng việc khảo cứu và giải tán buổi họp, để mỗi người có cơ hội đến với Đức Chúa Trời trong cầu nguyện, và không trò chuyện với người khác, tự nghiên cứu điểm bất đồng, cầu xin ánh sáng từ trời. Trong tinh thần thân thiện, chúng tôi chia tay, để gặp lại nhau sớm nhất có thể nhằm tiếp tục khảo cứu. Đôi khi quyền năng của Đức Chúa Trời giáng trên chúng tôi một cách rõ rệt, và khi ánh sáng rõ ràng bày tỏ những điểm của lẽ thật, chúng tôi cùng nhau khóc và vui mừng. Chúng tôi yêu Chúa Giê-su; chúng tôi yêu nhau.
“In those days God wrought for us, and the truth was precious to our souls. It is necessary that our unity today be of a character that will bear the test of trial. We are in the school of the Master here, that we may be trained for the school above. We must learn to bear disappointment in a Christ-like manner, and the lesson taught by this will be of great importance to us.
Trong những ngày ấy Đức Chúa Trời đã hành động vì chúng ta, và lẽ thật là quý báu đối với linh hồn chúng ta. Điều cần thiết là sự hiệp nhất của chúng ta ngày nay phải mang phẩm chất đủ để đứng vững trước sự thử thách. Chúng ta đang ở trong trường học của Thầy tại đây, để chúng ta được huấn luyện cho trường học ở trên cao. Chúng ta phải học cách chịu đựng sự thất vọng theo gương Đấng Christ, và bài học mà điều này dạy cho chúng ta sẽ rất quan trọng đối với chúng ta.
“We have many lessons to learn, and many, many to unlearn. God and heaven alone are infallible. Those who think that they will never have to give up a cherished view, never have occasion to change an opinion, will be disappointed. As long as we hold to our own ideas and opinions with determined persistency, we cannot have the unity for which Christ prayed.” Review and Herald, July 26, 1892.
Chúng ta có nhiều bài học phải học, và cũng có rất, rất nhiều điều phải bỏ đi. Chỉ riêng Đức Chúa Trời và thiên đàng là không thể sai lầm. Những ai nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ phải từ bỏ một quan điểm trân quý, chẳng bao giờ có dịp phải thay đổi ý kiến, sẽ thất vọng. Chừng nào chúng ta còn khăng khăng giữ những ý tưởng và ý kiến riêng của mình, chúng ta không thể có được sự hiệp nhất mà Đấng Christ đã cầu nguyện. Review and Herald, ngày 26 tháng 7, năm 1892.