The key to identifying Russia as the power that initiated the Ukrainian war in 2014 is the “fortress,” which is the head, or the capital of the kingdom. The human temple consists of the head and the body. The head is the higher nature, and the body is the lower nature. The “seven times” that ended in 1844, was then to be joined with Jerusalem, which was the head of Judah. In the temple in Jerusalem the throne of the king, who is the head of Jerusalem, which was the head of Judah was located. The combination of Divinity with humanity, representing the sealing of the one hundred and forty-four thousand, is represented as receiving the “mind of Christ.” The mind is the higher nature, and it is therefore the “head.”
Chìa khóa để nhận diện Nga là quyền lực đã khởi phát cuộc chiến tại Ukraina vào năm 2014 là “pháo đài”, tức là đầu, hay thủ đô của vương quốc. Đền thờ của con người gồm có đầu và thân thể. Đầu là bản tính cao hơn, còn thân thể là bản tính thấp hơn. “Bảy kỳ” kết thúc vào năm 1844, khi ấy sẽ được kết hợp với Giê-ru-sa-lem, là đầu của Giu-đa. Trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem đặt ngai của vua, là đầu của Giê-ru-sa-lem, vốn là đầu của Giu-đa. Sự kết hợp giữa Thần tính với nhân tính, tượng trưng cho việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn ngàn người, được trình bày như là việc tiếp nhận “tâm trí của Đấng Christ.” Tâm trí là bản tính cao hơn, vì thế nó là “đầu.”
When those represented by Daniel see the feminine causative vision that causes them to change into the image of Christ, they have received the mind of Christ, who is the second Adam, and is spiritual. At that point their literal carnal mind, which they inherited from the first Adam after he fell and reversed the order of his creation, is crucified. The carnal mind that wars against the law of God, which they received through no choice of their own at their birth, is replaced with the mind of Christ, which they receive by their own choice, that is perfectly obedient to the law of God. Their new mind, and Christ’s mind, are then one mind, and both reside together upon the throne in heavenly places. There is a place within the temple where God’s throne is located, and human beings, who were created in God’s image, have a specific place within the temple, that is designed for the presence of God.
Khi những người được Đa-ni-ên đại diện nhìn thấy khải tượng thuộc giống cái theo thể gây khiến khiến họ thay đổi theo hình ảnh của Đấng Christ, họ đã nhận được tâm trí của Đấng Christ, Đấng là A-đam thứ hai và là thuộc linh. Lúc ấy, tâm trí xác thịt của họ, mà họ thừa hưởng từ A-đam thứ nhất sau khi ông sa ngã và đảo lộn trật tự của sự tạo dựng nên ông, bị đóng đinh. Tâm trí xác thịt chống nghịch luật pháp của Đức Chúa Trời, mà họ nhận lấy không do sự lựa chọn của mình khi sinh ra, được thay thế bằng tâm trí của Đấng Christ, mà họ nhận lấy bởi sự lựa chọn của chính họ, vốn vâng phục trọn vẹn luật pháp của Đức Chúa Trời. Tâm trí mới của họ và tâm trí của Đấng Christ bấy giờ trở thành một, và cả hai cùng ngự trên ngai ở các nơi trên trời. Có một nơi bên trong đền thờ nơi ngai của Đức Chúa Trời được đặt, và loài người, những người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, có một chỗ riêng trong đền thờ, được thiết kế cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
That place is not in their lower nature, represented by the northern kingdom. It is in the place represented by the southern kingdom, which is where God chose to place His name, which is His character. The place is in Jerusalem, but as the capital of Judah, Jerusalem is the head, but the head of the capital is the king. And Jerusalem was chosen to be the capital, but so too was it chosen as the place where God would place His temple. Then in His temple He placed His throne. The southern kingdom represents the higher nature of man, but it also has a special throne room for the king. Sister White calls that place the “citadel” of the soul. A citadel, by definition, is a fortress.
Nơi ấy không nằm trong bản tính thấp kém của họ, được biểu trưng bởi vương quốc phương bắc. Nó ở nơi được biểu trưng bởi vương quốc phương nam, là nơi Đức Chúa Trời đã chọn để đặt Danh Ngài, tức là bản tánh của Ngài. Nơi ấy ở Giê-ru-sa-lem; Giê-ru-sa-lem là thủ đô của Giu-đa, được ví như cái đầu, và người đứng đầu của thủ đô ấy là nhà vua. Giê-ru-sa-lem đã được chọn làm thủ đô, đồng thời cũng được chọn làm nơi Đức Chúa Trời đặt Đền Thờ của Ngài. Rồi trong Đền Thờ ấy, Ngài đặt Ngai của Ngài. Vương quốc phương nam tượng trưng cho bản tính cao hơn của con người, nhưng nó cũng có một phòng ngai đặc biệt dành cho vua. Bà White gọi nơi ấy là “thành trì” của linh hồn. Một thành trì, theo định nghĩa, là một pháo đài.
“The whole heart is to be given to God, else the truth of God will fail to have a sanctifying effect on life and character. But it is a sad fact that many who profess the name of Christ have never given their hearts to him in simplicity. They have never experienced the contrition of an entire surrender to the claims of Christianity, and the consequence is that the transforming power of the truth is not in their lives; the deep, softening influence of the love of Christ is not made manifest in life and character. But what a work of feeding the flock of God might be done if the under-shepherds were crucified with Christ, and were living unto God to co-operate with the Chief Shepherd of the flock! Christ calls upon men to work as he worked. There is need of a deeper, stronger, more constraining testimony on the power of the truth as seen in the practical godliness of those who profess to believe it. The love of the Saviour in the soul will lead to a decided change in the manner in which workers labor for the souls of those who are perishing. When truth occupies the citadel of the soul, Christ is enthroned in the heart, and the human agent can then say, ‘I am crucified with Christ; nevertheless I live; yet not I, but Christ liveth in me; and the life which I now live in the flesh I live by the faith of the Son of God, who loved me, and gave himself for me.’” Review and Herald, October 9, 1894.
Trọn tấm lòng phải được dâng cho Đức Chúa Trời; nếu không, lẽ thật của Ngài sẽ không có tác dụng thánh hóa trên đời sống và nhân cách. Nhưng thật đáng buồn là nhiều người xưng danh Đấng Christ chưa bao giờ dâng lòng mình cho Ngài một cách đơn sơ. Họ chưa từng kinh nghiệm nỗi thống hối khi hoàn toàn đầu phục trước những đòi hỏi của Cơ Đốc giáo, và hậu quả là quyền năng biến đổi của lẽ thật không hiện diện trong đời sống họ; ảnh hưởng sâu xa, làm mềm dịu của tình yêu Đấng Christ không được bày tỏ trong đời sống và nhân cách. Nhưng biết bao công việc chăn nuôi bầy chiên của Đức Chúa Trời có thể được thực hiện nếu những người chăn phụ đã cùng Đấng Christ chịu đóng đinh và sống cho Đức Chúa Trời, để hiệp tác với Chủ Chiên của bầy! Đấng Christ kêu gọi con người làm việc như Ngài đã làm. Cần có một lời chứng sâu sắc hơn, mạnh mẽ hơn, thôi thúc hơn về quyền năng của lẽ thật như được thấy trong sự tin kính thực tiễn của những người xưng mình tin điều đó. Tình yêu của Cứu Chúa trong linh hồn sẽ dẫn đến một sự thay đổi dứt khoát trong cách những người phục vụ làm việc vì linh hồn của những kẻ đang hư mất. Khi lẽ thật chiếm lĩnh thành lũy của linh hồn, Đấng Christ được tôn làm Vua trong lòng, và lúc ấy con người có thể nói: 'Tôi đã cùng Đấng Christ chịu đóng đinh; nhưng tôi sống, không phải là tôi, mà là Đấng Christ sống trong tôi; và hiện nay tôi sống trong xác thịt, ấy là tôi sống bởi đức tin nơi Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi và phó chính mình vì tôi.' Review and Herald, ngày 9 tháng 10, 1894.
The “citadel of the soul” is where “Christ is enthroned.” The enthronement of Christ is accomplished when the flesh is crucified, and the flesh by Paul’s definition is the lower nature, and it is the northern kingdom. This is why the northern kingdom’s prophecy only reached to 1798. The lower nature cannot be combined with Divinity, it must be changed in the twinkling of an eye at the second coming. The southern kingdom, which contained the “head” which was Jerusalem, and the “head” which was the sanctuary reached to 1844, for it represented the higher nature that could choose to crucify the flesh and by faith enter into the citadel of the Most Holy Place, and be seated upon the throne with Christ. The place where that joining, and that enthronement takes place is in the citadel of the human temple. Verse ten of chapter eleven defines the head as the fortress, but that truth is only established with the witness of Isaiah, which demands that the truth concerning the fortress (citadel), be understood in its external and internal applications.
“Thành lũy của linh hồn” là nơi “Đấng Christ ngự trên ngai.” Sự tôn lập Đấng Christ trên ngai được hoàn tất khi xác thịt bị đóng đinh; và theo định nghĩa của Phao-lô, xác thịt là bản tính thấp hèn hơn, và đó là vương quốc phương bắc. Đây là lý do vì sao lời tiên tri về vương quốc phương bắc chỉ kéo dài đến năm 1798. Bản tính thấp hèn hơn không thể được kết hiệp với Thần tính; nó phải được biến đổi trong khoảnh khắc, trong nháy mắt, vào kỳ tái lâm thứ hai. Vương quốc phương nam, là vương quốc bao gồm “đầu” tức là Giê-ru-sa-lem, và “đầu” tức là đền thánh, kéo dài đến năm 1844, vì nó tượng trưng cho bản tính cao hơn, là bản tính có thể lựa chọn đóng đinh xác thịt và nhờ đức tin mà bước vào thành lũy của Nơi Chí Thánh, và được ngồi trên ngai với Đấng Christ. Nơi mà sự kết hiệp ấy, và sự tôn lập trên ngai ấy, diễn ra là trong thành lũy của đền thờ loài người. Câu mười của chương mười một định nghĩa đầu là đồn lũy, nhưng lẽ thật ấy chỉ được thiết lập nhờ lời chứng của Ê-sai, là điều đòi hỏi lẽ thật liên quan đến đồn lũy (thành lũy) phải được hiểu trong cả những ứng dụng bên ngoài lẫn bên trong.
“The word of God is to be our spiritual food. ‘I am the bread of life,’ Christ said; ‘he that cometh to me shall never hunger; and he that believeth on me shall never thirst.’ The world is perishing for want of pure, unadulterated truth. Christ is the truth. His words are truth, and they have a deeper significance than appears on the surface, and a value beyond their unpretending appearance. Minds that are quickened by the Holy Spirit will discern the value of these words. When our eyes are anointed with the holy eye-salve, we shall be able to detect the precious gems of truth, even though they may be buried beneath the surface.
Lời Đức Chúa Trời phải là lương thực thuộc linh của chúng ta. "Ta là bánh của sự sống," Đấng Christ phán; "ai đến với Ta sẽ chẳng hề đói; và kẻ nào tin Ta sẽ chẳng hề khát." Thế gian đang hư mất vì thiếu lẽ thật thuần khiết, không pha tạp. Đấng Christ là lẽ thật. Lời Ngài là lẽ thật, và chúng có ý nghĩa sâu xa hơn điều bề ngoài cho thấy, và có giá trị vượt lên trên vẻ bề ngoài giản dị của chúng. Những tâm trí được Đức Thánh Linh làm sống động sẽ nhận ra giá trị của những lời này. Khi mắt chúng ta được xức thuốc mắt thánh, chúng ta sẽ có thể phát hiện những viên ngọc quý của lẽ thật, dẫu chúng có thể bị vùi lấp dưới bề mặt.
“Truth is delicate, refined, elevated. When it molds the character, the soul grows under its divine influence. Every day the truth is to be received into the heart. Thus we eat Christ’s words, which he declares are spirit and life. The acceptance of truth will make every receiver a child of God, an heir of heaven. Truth that is cherished in the heart is not a cold, dead letter, but a living power.
Chân lý tinh tế, tinh luyện, cao cả. Khi nó uốn nắn nhân cách, linh hồn lớn lên dưới ảnh hưởng thiêng liêng của nó. Mỗi ngày, chân lý cần được đón nhận vào lòng. Như thế, chúng ta ăn lời của Đấng Christ, mà Ngài phán là thần linh và sự sống. Sự chấp nhận chân lý sẽ khiến mỗi người tiếp nhận trở thành con của Đức Chúa Trời, là người thừa kế thiên đàng. Chân lý được trân quý trong lòng không phải là một chữ nghĩa lạnh lẽo, chết, nhưng là một quyền năng sống động.
“Truth is sacred, divine. It is stronger and more powerful than anything else in the formation of a character after the likeness of Christ. In it there is fulness of joy. When it is cherished in the heart, the love of Christ is preferred to the love of any human being. This is Christianity. This is the love of God in the soul. Thus pure, unadulterated truth occupies the citadel of the being. The words are fulfilled, ‘A new heart also will I give you, and a new spirit will I put within you.’ There is a nobleness in the life of the one who lives and works under the vivifying influence of the truth.” Review and Herald, February 14, 1899.
Lẽ thật là thánh thiện, thiêng liêng. Nó mạnh mẽ và quyền năng hơn bất cứ điều gì khác trong việc hình thành một nhân cách theo khuôn mẫu của Đấng Christ. Trong đó có sự đầy trọn của niềm vui. Khi lẽ thật được ấp ủ trong lòng, tình yêu của Đấng Christ được đặt lên trên tình yêu đối với bất kỳ con người nào. Đó là Cơ Đốc giáo. Đó là tình yêu của Đức Chúa Trời trong linh hồn. Như vậy, lẽ thật tinh ròng, không pha tạp chiếm lĩnh thành trì của bản thể. Lời ấy được ứng nghiệm: "Ta cũng sẽ ban cho các ngươi một tấm lòng mới, và sẽ đặt trong các ngươi một tâm linh mới." Có một vẻ cao quý trong đời sống của người sống và làm việc dưới ảnh hưởng ban sự sống của lẽ thật. Review and Herald, ngày 14 tháng 2, 1899.
That vision of prophetic history in Daniel chapter eleven, begins when verse two, and the sixth and richest president, align with the head, which is Russia in verses eleven through fifteen. In that history the sixth president, will become the eighth that is of the seven, and he will reign when church and state in the United States come together, and consummate their unholy fornication in verse sixteen, at the soon coming Sunday law.
Khải tượng ấy về lịch sử tiên tri trong Đa-ni-ên chương mười một bắt đầu khi câu hai, cùng với vị tổng thống thứ sáu và giàu có nhất, tương ứng với cái đầu, tức là Nga, trong các câu mười một đến mười lăm. Trong lịch sử ấy, vị tổng thống thứ sáu sẽ trở thành vị thứ tám, vốn thuộc về bảy vị, và người ấy sẽ cai trị khi hội thánh và nhà nước tại Hoa Kỳ hiệp lại với nhau, và hoàn tất sự gian dâm ô uế của chúng trong câu mười sáu, tại đạo luật ngày Chủ nhật sắp đến.
The ensign that is then to be lifted up will be disappointed and die for a period of three and a half days, which in Daniel ten, is twenty-one days. At the conclusion of the twenty-one days of mourning for Daniel, which is the conclusion of the three and a half days of death in the street for the two witnesses, who are those in Ezekiel’s valley, who are dead dry bones—there is a prophetic message that brings the dead back to life. That process in Daniel chapter ten, is represented by three steps.
Tiêu kỳ khi ấy sẽ được giương lên, sẽ thất vọng và chết trong thời kỳ ba ngày rưỡi, mà trong Đa-ni-ên đoạn mười là hai mươi mốt ngày. Vào lúc kết thúc hai mươi mốt ngày than khóc cho Đa-ni-ên, cũng là sự kết thúc của ba ngày rưỡi chết ngoài đường phố của hai chứng nhân—những người ở trong thung lũng của Ê-xê-chi-ên, là những bộ xương khô đã chết—sẽ có một thông điệp tiên tri đem kẻ chết sống lại. Tiến trình đó trong Đa-ni-ên đoạn mười được thể hiện bằng ba bước.
And in the four and twentieth day of the first month, as I was by the side of the great river, which is Hiddekel; Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen, whose loins were girded with fine gold of Uphaz: His body also was like the beryl, and his face as the appearance of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in colour to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude. And I Daniel alone saw the vision: for the men that were with me saw not the vision; but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves. Therefore I was left alone, and saw this great vision, and there remained no strength in me: for my comeliness was turned in me into corruption, and I retained no strength. Yet heard I the voice of his words: and when I heard the voice of his words, then was I in a deep sleep on my face, and my face toward the ground. And, behold, an hand touched me, which set me upon my knees and upon the palms of my hands. And he said unto me, O Daniel, a man greatly beloved, understand the words that I speak unto thee, and stand upright: for unto thee am I now sent. And when he had spoken this word unto me, I stood trembling. Then said he unto me, Fear not, Daniel: for from the first day that thou didst set thine heart to understand, and to chasten thyself before thy God, thy words were heard, and I am come for thy words. But the prince of the kingdom of Persia withstood me one and twenty days: but, lo, Michael, one of the chief princes, came to help me; and I remained there with the kings of Persia. Now I am come to make thee understand what shall befall thy people in the latter days: for yet the vision is for many days. Daniel 10:4–14.
Đến ngày hai mươi bốn của tháng thứ nhất, khi tôi đang ở bên bờ sông lớn, tức là sông Hiddekel. Bấy giờ tôi ngước mắt lên nhìn, và kìa, có một người mặc vải gai, lưng thắt đai vàng ròng của Uphaz. Thân thể người giống như bích ngọc, mặt như tia chớp, mắt như những ngọn đuốc lửa, còn cánh tay và chân có màu như đồng đánh bóng; giọng nói của người như tiếng của một đám đông. Chỉ một mình tôi, Daniel, thấy khải tượng; vì những người ở với tôi không thấy, nhưng một cơn run rẩy lớn đã giáng trên họ, đến nỗi họ chạy trốn để ẩn mình. Vậy tôi bị bỏ lại một mình, thấy khải tượng lớn ấy, và sức lực trong tôi đều tiêu tan; vẻ tươi đẹp của tôi hóa ra suy tàn, và tôi không còn chút sức nào. Tuy vậy, tôi vẫn nghe giọng nói của người; và khi nghe giọng nói của người, tôi rơi vào giấc ngủ sâu, mặt sấp xuống đất. Kìa, có một bàn tay chạm đến tôi, khiến tôi quỳ gối và chống hai bàn tay xuống đất. Người nói với tôi: Hỡi Daniel, người rất được yêu dấu, hãy hiểu những lời ta nói với ngươi và đứng thẳng lên, vì bây giờ ta được sai đến với ngươi. Khi người nói lời ấy với tôi, tôi đứng dậy run rẩy. Người lại bảo: Đừng sợ, Daniel, vì từ ngày thứ nhất ngươi quyết lòng để hiểu biết và tự hạ mình trước Đức Chúa Trời của ngươi, lời ngươi đã được nghe, và ta đến vì những lời ấy. Nhưng thủ lãnh của vương quốc Ba Tư đã chống cự ta suốt hai mươi mốt ngày; song kìa, Michael, một trong các thủ lãnh đứng đầu, đã đến giúp ta, và ta đã ở lại đó với các vua Ba Tư. Bây giờ ta đến để khiến ngươi hiểu điều gì sẽ xảy đến cho dân ngươi trong những ngày sau rốt, vì khải tượng ấy còn dành cho nhiều ngày nữa. Đa-ni-ên 10:4-14.
Daniel is at the end of the twenty-one days of mourning when he sees the vision of Christ and he hears the words of Christ. The vision of the visual and spoken Word of God, produces a separation of two classes, and Daniel was dead in the street, for he was “in a deep sleep.”
Đến cuối hai mươi mốt ngày than khóc, Daniel thấy khải tượng về Đấng Christ và nghe những lời của Đấng Christ. Khải tượng về Lời Đức Chúa Trời, vừa được nhìn thấy vừa được phán ra, tạo nên sự phân chia thành hai hạng người; và Daniel thì như chết giữa đường, vì ông đang "ngủ mê sâu".
These things said he: and after that he saith unto them, Our friend Lazarus sleepeth; but I go, that I may awake him out of sleep. Then said his disciples, Lord, if he sleep, he shall do well. Howbeit Jesus spake of his death: but they thought that he had spoken of taking of rest in sleep. Then said Jesus unto them plainly, Lazarus is dead. John 11:11–14.
Ngài nói những điều ấy; rồi sau đó Ngài nói với họ: Bạn của chúng ta La-xa-rơ đang ngủ; nhưng Ta đi để đánh thức ông dậy. Bấy giờ các môn đồ thưa: Thưa Chúa, nếu ông ấy ngủ thì sẽ khỏe lại. Tuy nhiên, Chúa Giê-su nói về cái chết của ông; còn họ tưởng rằng Ngài nói về việc nghỉ ngơi trong giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giê-su nói rõ với họ: La-xa-rơ đã chết. Giăng 11:11-14.
Then Daniel was touched by Gabriel for the first time, who informs him of the political struggle that has been happening while Daniel was dead (asleep), and that he was now going to provide the interpretation of the vision that had just transformed Daniel into Christ’s image. He is then going to be touched a second time, by Christ Himself.
Bấy giờ Đa-ni-ên được Gáp-ri-ên chạm đến lần đầu; Gáp-ri-ên báo cho ông biết về cuộc đấu tranh chính trị đã diễn ra trong khi Đa-ni-ên chết (ngủ), và rằng bây giờ Gáp-ri-ên sẽ giải nghĩa khải tượng vừa biến đổi Đa-ni-ên theo hình ảnh của Đấng Christ. Sau đó, Đa-ni-ên sẽ được chính Đấng Christ chạm đến lần thứ hai.
And when he had spoken such words unto me, I set my face toward the ground, and I became dumb. And, behold, one like the similitude of the sons of men touched my lips: then I opened my mouth, and spake, and said unto him that stood before me, O my lord, by the vision my sorrows are turned upon me, and I have retained no strength. For how can the servant of this my lord talk with this my lord? for as for me, straightway there remained no strength in me, neither is there breath left in me. Daniel 10:15–17.
Và khi người đã nói những lời ấy với tôi, tôi cúi mặt xuống đất và câm lặng. Kìa, một người có hình dạng như con cái loài người chạm vào môi tôi; bấy giờ tôi mở miệng, nói, và thưa với đấng đứng trước mặt tôi: Thưa chúa tôi, bởi khải tượng này mà nỗi buồn khổ của tôi ập trên tôi, và tôi không còn giữ được sức lực nào. Vì làm sao đầy tớ của chúa tôi này có thể nói chuyện với chúa tôi? Phần tôi, tức thì chẳng còn sức lực nào ở trong tôi; hơi thở cũng chẳng còn ở trong tôi. Đa-ni-ên 10:15-17.
This is parallel to the first prophecy of Ezekiel in chapter thirty-seven, for in the two prophecies that Ezekiel is told to present to the dead bones in the valley, the first forms the bodies, but they do not then have breath, nor do they have the strength of a mighty army. It is the second prophecy of Ezekiel that the bodies receive the breath from the four winds and stand up as a mighty army, and at Daniel’s second touch, “there remained no strength in me, neither is there breath left in me.” Then Daniel is again touched the third time overall, and the second time by Gabriel.
Điều này tương ứng với lời tiên tri thứ nhất của Ê-xê-chi-ên ở chương ba mươi bảy, vì trong hai lời tiên tri mà Ê-xê-chi-ên được bảo phải trình bày cho những bộ xương chết trong thung lũng, lời thứ nhất tạo thành các thân thể, nhưng khi ấy họ chưa có hơi thở, cũng chưa có sức mạnh của một đạo quân hùng mạnh. Chính nhờ lời tiên tri thứ hai của Ê-xê-chi-ên mà các thân thể nhận hơi thở từ bốn phương gió và đứng dậy như một đạo quân hùng mạnh, và khi Đa-ni-ên được chạm lần thứ hai, "không còn sức lực nào trong tôi, cũng không còn hơi thở trong tôi." Rồi Đa-ni-ên lại được chạm lần thứ ba tính chung, và lần thứ hai bởi Gáp-ri-ên.
Then there came again and touched me one like the appearance of a man, and he strengthened me, And said, O man greatly beloved, fear not: peace be unto thee, be strong, yea, be strong. And when he had spoken unto me, I was strengthened, and said, Let my lord speak; for thou hast strengthened me. Daniel 10:18, 19.
Bấy giờ lại có một đấng có hình dạng như người đến và chạm vào tôi, làm cho tôi được thêm sức, và nói: Hỡi người rất được yêu dấu, đừng sợ; bình an cho ngươi; hãy mạnh mẽ, phải, hãy mạnh mẽ. Khi người đã nói với tôi xong, tôi được thêm sức và thưa: Xin chúa tôi cứ phán, vì ngài đã làm cho tôi mạnh mẽ. Đa-ni-ên 10:18, 19.
The third touch of Daniel, is Ezekiel’s second prophecy, which brings the bodies to their feet as a mighty army. His prophecy is addressed to a people that recognize that they are dead, for they were in mourning, as was Daniel.
Lần chạm thứ ba của Đa-ni-ên là lời tiên tri thứ hai của Ê-xê-chi-ên, vốn khiến các thân thể đứng dậy trên đôi chân mình như một đạo quân hùng mạnh. Lời tiên tri của ông nhắm đến một dân nhận biết rằng họ đã chết, vì họ đang than khóc, cũng như Đa-ni-ên.
Then said he unto me, Prophesy unto the wind, prophesy, son of man, and say to the wind, Thus saith the Lord God; Come from the four winds, O breath, and breathe upon these slain, that they may live. So I prophesied as he commanded me, and the breath came into them, and they lived, and stood up upon their feet, an exceeding great army. Then he said unto me, Son of man, these bones are the whole house of Israel: behold, they say, Our bones are dried, and our hope is lost: we are cut off for our parts. Ezekiel 37:9–11.
Rồi Ngài bảo tôi: Hãy nói tiên tri với gió, hãy nói tiên tri đi, hỡi con người, và hãy nói với gió: Chúa là Đức Chúa Trời phán rằng: Hỡi hơi thở, hãy đến từ bốn phương gió, và thổi vào những người đã bị giết này để họ được sống. Vậy tôi nói tiên tri theo như Ngài đã truyền, và hơi thở vào trong họ; họ sống lại và đứng dậy trên chân mình, thành một đạo quân vô cùng lớn. Rồi Ngài phán với tôi: Hỡi con người, những xương này là toàn nhà Y-sơ-ra-ên: kìa, họ nói: Xương cốt chúng ta đã khô, hy vọng của chúng ta đã mất; về phần mình, chúng ta đã bị cắt đứt. Ê-xê-chi-ên 37:9-11.
The Lord commands Ezekiel to prophesy, and he tells them the testimony of the house of Israel is that they are dead, without hope and cut off. They are mourning, as was Daniel, because they are disappointed by the failed prediction of July 18, 2020, and in that condition, Ezekiel is told to prophesy.
Chúa truyền cho Ê-xê-chi-ên nói tiên tri, và ông nói với họ rằng lời chứng của nhà Israel là họ đã chết, không còn hy vọng và bị dứt bỏ. Họ đang than khóc, như Đa-ni-ên, vì họ thất vọng trước lời dự đoán ngày 18 tháng 7 năm 2020 đã thất bại, và trong tình trạng đó, Ê-xê-chi-ên được bảo phải nói tiên tri.
Therefore prophesy and say unto them, Thus saith the Lord God; Behold, O my people, I will open your graves, and cause you to come up out of your graves, and bring you into the land of Israel. And ye shall know that I am the Lord, when I have opened your graves, O my people, and brought you up out of your graves, And shall put my spirit in you, and ye shall live, and I shall place you in your own land: then shall ye know that I the Lord have spoken it, and performed it, saith the Lord. Ezekiel 37:12–14.
Vậy hãy nói tiên tri và nói với họ rằng: Chúa là Đức Chúa Trời phán như vầy: Này, hỡi dân Ta, Ta sẽ mở các mồ mả của các ngươi, khiến các ngươi lên khỏi các mồ mả, và đem các ngươi vào đất Israel. Bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa, khi Ta đã mở các mồ mả của các ngươi, hỡi dân Ta, và đem các ngươi lên khỏi các mồ mả. Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống; Ta sẽ cho các ngươi ở trong chính xứ mình; bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng chính Ta, Chúa, đã phán điều ấy và đã làm thành, Chúa phán vậy. Ê-xê-chi-ên 37:12-14.
The Lord, who is Michael the archangel opens their graves and the two witnesses of Revelation eleven, who are then resurrected and given the Holy Spirit and stand up, just as the Holy Spirit was given to those who stand up when they are brought out of their graves in Ezekiel’s second prophecy.
Chúa, là Tổng lãnh thiên thần Mi-ca-ên, mở các mồ mả của họ; và hai nhân chứng của Khải Huyền chương mười một bấy giờ được sống lại, được ban Đức Thánh Linh và đứng dậy, cũng như Đức Thánh Linh đã được ban cho những người đứng dậy khi họ được đem ra khỏi mồ mả của họ trong lời tiên tri thứ hai của Ê-xê-chi-ên.
And after three days and an half the Spirit of life from God entered into them, and they stood upon their feet; and great fear fell upon them which saw them. Revelation 11:11.
Và sau ba ngày rưỡi, Thần của sự sống từ Đức Chúa Trời đã vào trong họ, và họ đứng dậy; và nỗi sợ hãi lớn đã bao trùm những ai thấy họ. Khải Huyền 11:11.
Those two witnesses are represented as Moses and Elijah, and Moses was also resurrected by the voice of the archangel.
Hai nhân chứng ấy được mô tả là Môsê và Êlia, và Môsê cũng đã được phục sinh bởi tiếng của tổng lãnh thiên thần.
Yet Michael the archangel, when contending with the devil he disputed about the body of Moses, durst not bring against him a railing accusation, but said, The Lord rebuke thee. Jude 1:9.
Tuy nhiên, tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-ên, khi tranh cãi với ma quỷ về thi thể của Môi-se, đã không dám đưa ra lời cáo buộc lăng mạ chống lại hắn, nhưng nói: Chúa quở trách ngươi. Giu-đe 1:9.
Michael, the Prince and the Archangel, is the One who came and helped Gabriel in Daniel chapter ten, and it is His voice that calls men and women to life.
Michael, vị Vương tử và Tổng lãnh thiên sứ, là Đấng đã đến và trợ giúp Gabriel trong Daniel chương mười, và chính tiếng Ngài kêu gọi nam và nữ đến sự sống.
For the Lord himself shall descend from heaven with a shout, with the voice of the archangel, and with the trump of God: and the dead in Christ shall rise first. 1 Thessalonians 4:16.
Vì chính Chúa sẽ từ trời giáng xuống, có tiếng kêu lớn, tiếng của thiên sứ trưởng và tiếng kèn của Đức Chúa Trời; rồi những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết. 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:16.
Daniel’s three touches represent the transition of the Laodicean movement of the third angel, unto the Philadelphian movement of the third angel, and in Daniel ten, the vision that accomplishes the transition from the image of Laodicea, unto the image of Philadelphia, is represented by the prophetic history represented in chapter eleven. That vision is represented by Ezekiel as the vision of Islam of the third woe. In 2014, Russia initiated the second proxy war. In 2015, the richest president began his efforts to become the sixth president.
Ba lần chạm đến của Đa-ni-ên tượng trưng cho sự chuyển tiếp từ phong trào Lao-đi-xê của thiên sứ thứ ba sang phong trào Phi-la-đen-phi của thiên sứ thứ ba; và trong Đa-ni-ên 10, khải tượng thực hiện sự chuyển tiếp từ hình tượng của Lao-đi-xê sang hình tượng của Phi-la-đen-phi được biểu hiện bởi lịch sử tiên tri được trình bày trong chương mười một. Khải tượng ấy được Ê-xê-chi-ên mô tả như là khải tượng về Hồi giáo của tai vạ thứ ba. Vào năm 2014, Nga đã khởi xướng cuộc chiến tranh ủy nhiệm thứ hai. Vào năm 2015, vị tổng thống giàu có nhất đã bắt đầu những nỗ lực của mình để trở thành vị tổng thống thứ sáu.
In 2020, that president, representing the Republican horn was slain by the “woke” atheist beast from the bottomless pit, and in the same year the Laodicean Protestant horn was also slain. In 2023, both horns came back to life, both beginning their transition into the eighth that is of the seven. One transitioning into the political image of the beast as Church and State are brought together in the United States, and the other horn transitioning from the image of Laodicea to the image of Christ. Both will be lifted up at the soon coming Sunday law. One will become “Alexander the Great”, the premier king of the ten kings who give their seventh kingdom to the whore of Rome, and the other lifted up as an ensign.
Năm 2020, vị tổng thống ấy, đại diện cho sừng Cộng hòa, đã bị con thú vô thần "woke" từ vực thẳm không đáy sát hại, và trong cùng năm đó sừng Tin Lành Laodicea cũng bị sát hại. Năm 2023, cả hai sừng đều sống lại, cả hai bắt đầu quá trình chuyển đổi thành cái thứ tám vốn thuộc về bảy. Một sừng đang chuyển thành hình ảnh chính trị của con thú khi Giáo hội và Nhà nước được kết hợp tại Hoa Kỳ, và sừng kia chuyển từ hình ảnh của Laodicea sang hình ảnh của Đấng Christ. Cả hai sẽ được nâng lên khi luật Chủ nhật sắp đến. Một sừng sẽ trở thành "Alexander Đại đế", vị vua đứng đầu trong mười vị vua trao vương quốc thứ bảy của họ cho con điếm của La Mã, và sừng kia được giương lên như một cờ hiệu.
The vision that produces both of these transitions is the history that unfolds between September 11, 2001 and the Sunday law. Verse eleven, of Daniel chapter eleven, is specifically identified within the context that if you will not believe, you will not be established.
Khải tượng tạo nên cả hai sự chuyển tiếp này chính là lịch sử diễn ra giữa ngày 11 tháng 9 năm 2001 và luật ngày Chủ nhật. Câu mười một của chương mười một sách Đa-ni-ên được xác định rõ ràng trong bối cảnh rằng nếu anh em không tin, anh em sẽ không đứng vững.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“Bible rules are to be the guide of the daily life. The cross of Christ is to be the theme, revealing the lessons we must learn and practice. Christ must be brought into all the studies, that students may drink in the knowledge of God and may represent Him in character. His excellence is to be our study in time as well as in eternity. The word of God, spoken by Christ in the Old and New Testaments, is the bread from heaven; but much that is called science is as dishes of human invention, adulterated food; it is not the true manna.
Những quy tắc của Kinh Thánh phải là kim chỉ nam cho đời sống hằng ngày. Thập tự giá của Đấng Christ phải là chủ đề, bày tỏ những bài học chúng ta phải học và thực hành. Đấng Christ phải được đem vào mọi môn học, để học sinh có thể thấm nhuần sự hiểu biết về Đức Chúa Trời và phản chiếu Ngài qua nhân cách. Sự tuyệt hảo của Ngài phải là đề tài học hỏi của chúng ta trong đời này cũng như trong cõi đời đời. Lời của Đức Chúa Trời, do Đấng Christ phán trong Cựu Ước và Tân Ước, là bánh từ trời; nhưng nhiều điều được gọi là khoa học lại như những món ăn do con người bày đặt, là thức ăn đã bị pha tạp; đó không phải là manna thật.
“In God’s word is found wisdom unquestionable, inexhaustible—wisdom that originated, not in the finite, but in the infinite mind. But much of that which God has revealed in His word is dark to men, because the jewels of truth are buried beneath the rubbish of human wisdom and tradition. To many the treasures of the word remain hidden, because they have not been searched for with earnest perseverance until the golden precepts were understood. The word must be searched in order to purify and prepare those who receive it to become members of the royal family, children of the heavenly King.
Trong Lời của Đức Chúa Trời có sự khôn ngoan không thể chối cãi, vô tận—một sự khôn ngoan không khởi nguồn từ điều hữu hạn, mà từ trí tuệ vô hạn. Nhưng nhiều điều Đức Chúa Trời đã bày tỏ trong Lời Ngài lại khó hiểu đối với con người, vì những viên ngọc của lẽ thật bị chôn vùi dưới đống rác của sự khôn ngoan và truyền thống loài người. Đối với nhiều người, các kho báu của Lời vẫn còn ẩn khuất, vì họ đã không tìm kiếm với lòng sốt sắng bền bỉ cho đến khi hiểu được những điều răn vàng ngọc. Lời ấy phải được tra xét để thanh tẩy và chuẩn bị những ai tiếp nhận, hầu họ trở nên thành viên của gia đình hoàng gia, con cái của Đức Vua trên trời.
“The study of God’s word should take the place of the study of those books that have led minds into mysticism and away from the truth. Its living principles, woven into our lives, will be our safeguard in trials and temptations; its divine instruction is the only way to success. As the test comes to every soul, there will be apostasies. Some will prove to be traitors, heady, high-minded, and self-sufficient, and will turn away from the truth, making shipwreck of faith. Why? Because they did not live ‘by every word that proceedeth out of the mouth of God.’ They did not dig deep and make their foundation sure.
Việc nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời nên thay thế việc nghiên cứu những cuốn sách đã dẫn dắt tâm trí vào chủ nghĩa huyền bí và xa rời lẽ thật. Những nguyên tắc sống động của Lời ấy, khi được đan dệt vào đời sống chúng ta, sẽ là sự bảo vệ của chúng ta trong thử thách và cám dỗ; sự chỉ dạy thiêng liêng của Lời ấy là con đường duy nhất dẫn đến thành công. Khi sự thử thách đến với mọi linh hồn, sẽ có những trường hợp bội đạo. Một số người sẽ tỏ ra là kẻ phản bội, bốc đồng, tự cao tự đại, tự mãn, và sẽ quay lưng với lẽ thật, khiến đức tin bị đắm chìm. Tại sao? Vì họ đã không sống 'nhờ mọi lời ra từ miệng Đức Chúa Trời.' Họ đã không đào sâu và làm cho nền tảng của mình vững chắc.
“When the words of the Lord through His chosen messengers are brought to them, they murmur and think the way is made too strait. In the sixth chapter of John we read of some who were thought to be disciples of Christ, but who, when the plain truth was presented to them, were displeased and walked no more with Him. In like manner these superficial students also will turn away from Christ.” Testimonies, volume 6, 132.
Khi lời của Chúa, qua các sứ giả được Ngài chọn, được đem đến cho họ, họ phàn nàn và nghĩ rằng con đường đã trở nên quá chật hẹp. Trong chương sáu của sách Giăng, chúng ta đọc về một số người được coi là môn đồ của Đấng Christ, nhưng khi lẽ thật rõ ràng được trình bày cho họ, họ phật ý và không còn đi với Ngài nữa. Cũng vậy, những người học hời hợt này cũng sẽ quay lưng với Đấng Christ. Chứng Ngôn, quyển 6, 132.