The book The Keys of This Blood: The Struggle for World Dominion Between Pope John Paul II, Mikhail Gorbachev, and the Capitalist West, was written by Malachi Martin, and it was first published in 1990. Martin examines the role of Pope John Paul II as a transformative figure in global politics and diplomacy during the latter half of the 20th century. He discusses the Pope’s role in the collapse of Communism in Eastern Europe. The book presents a Catholic perspective of the dynamics that brought about the fulfillment of verse forty of Daniel eleven, at the time of the end in 1989.

Cuốn sách The Keys of This Blood: The Struggle for World Dominion Between Pope John Paul II, Mikhail Gorbachev, and the Capitalist West do Malachi Martin chấp bút, và được xuất bản lần đầu vào năm 1990. Martin khảo sát vai trò của Giáo hoàng John Paul II như một nhân vật có tính chuyển biến trong chính trị và ngoại giao toàn cầu trong nửa sau của thế kỷ 20. Ông bàn đến vai trò của vị Giáo hoàng này trong sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Âu. Cuốn sách trình bày một quan điểm Công giáo về những động lực đã dẫn đến sự ứng nghiệm của câu bốn mươi trong Đa-ni-ên mười một, vào thời kỳ cuối cùng năm 1989.

Martin analyzes the internal dynamics of the Soviet Union under the leadership of Mikhail Gorbachev, particularly focusing on Gorbachev’s policies of “glasnost” (openness) and “perestroika” (restructuring). He discusses the challenges facing the Soviet Union and Gorbachev’s attempts to reform the Communist system. He explores the geopolitical tensions and power struggles between the Soviet Union (the king of the south—the dragon), the Catholic Church (the king of the north—the beast), and what he calls the capitalist West (the king of the north’s proxy army—the false prophet). He discusses the ideological conflicts, espionage, and covert operations that characterized the Cold War era and examines the efforts of various actors to shape the future of the world.

Martin phân tích động lực nội bộ của Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Mikhail Gorbachev, đặc biệt tập trung vào các chính sách “glasnost” (cởi mở) và “perestroika” (tái cấu trúc) của Gorbachev. Ông thảo luận về những thách thức mà Liên Xô phải đối mặt và những nỗ lực của Gorbachev nhằm cải cách hệ thống Cộng sản. Ông khám phá các căng thẳng địa chính trị và các cuộc đấu tranh quyền lực giữa Liên Xô (vua phương nam - con rồng), Giáo hội Công giáo (vua phương bắc - con thú), và điều mà ông gọi là phương Tây tư bản (lực lượng ủy nhiệm của vua phương bắc - tiên tri giả). Ông bàn về các xung đột ý thức hệ, gián điệp và các hoạt động bí mật vốn đặc trưng cho thời kỳ Chiến tranh Lạnh, và xem xét những nỗ lực của nhiều bên nhằm định hình tương lai thế giới.

Martin emphasizes the significance of Catholicism as a force in global politics and diplomacy. He argues that the Catholic Church, under the leadership of Pope John Paul II, played a pivotal role in shaping the course of history during this period and influencing the outcome of the Cold War. He places John Pauls’ influence in the context of the Marian apparitions at Fatima, Portugal, and identifies the influence of Fatima upon global events and the Catholic Church’s role in shaping the course of history. Martin suggests that the events at Fatima hold significant prophetic and geopolitical implications, particularly in the context of the Cold War era.

Martin nhấn mạnh tầm quan trọng của Công giáo như một lực lượng trong chính trị và ngoại giao toàn cầu. Ông cho rằng Giáo hội Công giáo, dưới sự lãnh đạo của Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã đóng vai trò then chốt trong việc định hình tiến trình lịch sử trong giai đoạn này và ảnh hưởng đến kết cục của Chiến tranh Lạnh. Ông đặt ảnh hưởng của Gioan Phaolô II trong bối cảnh các lần Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, Bồ Đào Nha, và chỉ ra ảnh hưởng của Fatima đối với các biến cố toàn cầu cũng như vai trò của Giáo hội Công giáo trong việc định hình tiến trình lịch sử. Martin cho rằng các sự kiện tại Fatima mang những hàm ý tiên tri và địa chính trị đáng kể, đặc biệt trong bối cảnh thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Martin explores the three secrets of Fatima, which were allegedly revealed by the Virgin Mary to three young shepherd children in Fatima in 1917. He suggests that the third secret, which was initially kept secret by the Vatican and only revealed in 2000, contained apocalyptic warnings about the future of the Catholic Church and the world. Martin argues that the events at Fatima, including the apparitions and the messages conveyed by the Virgin Mary, had significant implications for global politics and the struggle between communism and capitalism during the Cold War era.

Martin tìm hiểu về ba bí mật của Fatima, được cho là đã được Đức Mẹ Maria tiết lộ cho ba trẻ mục đồng tại Fatima vào năm 1917. Ông cho rằng bí mật thứ ba, vốn ban đầu được Vatican giữ kín và chỉ công bố vào năm 2000, chứa đựng những cảnh báo mang tính khải huyền về tương lai của Giáo hội Công giáo và thế giới. Martin lập luận rằng các sự kiện tại Fatima, bao gồm những lần hiện ra và các sứ điệp do Đức Mẹ truyền đạt, đã có những hệ quả quan trọng đối với chính trị toàn cầu và cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Martin highlights the role of Pope John Paul II as a key figure in the fulfillment of the prophecies of Fatima. He suggests that John Paul II saw himself as the “bishop in white” mentioned in the third secret of Fatima and that he viewed his papacy as a mission to confront the forces of evil and promote spiritual renewal within the Catholic Church and society at large.

Martin nhấn mạnh vai trò của Giáo hoàng Gioan Phaolô II như một nhân vật chủ chốt trong việc ứng nghiệm các lời tiên tri của Fatima. Ông cho rằng Gioan Phaolô II xem mình là “vị giám mục mặc áo trắng” được nhắc đến trong bí mật thứ ba của Fatima và rằng ngài coi triều đại giáo hoàng của mình là một sứ mệnh nhằm đối đầu với các thế lực của sự dữ và thúc đẩy canh tân thiêng liêng trong Giáo hội Công giáo cũng như trong toàn xã hội.

Martin suggests that the messages of Fatima emphasized the importance of spiritual warfare and the need for the Catholic Church to confront the forces of evil, both within and outside the Church. He argues that the events at Fatima provided a spiritual and moral framework for understanding and addressing the challenges facing humanity in the modern world. The Fatima messages represent the satanic message which conditions Catholicism to accept Satan as Christ, when he “personates” Christ at the soon coming Sunday law.

Martin cho rằng các sứ điệp Fatima nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc chiến thiêng liêng và sự cần thiết để Giáo hội Công giáo đối đầu với các thế lực của sự ác, cả bên trong lẫn bên ngoài Giáo hội. Ông lập luận rằng các biến cố ở Fatima đã cung cấp một khuôn khổ thiêng liêng và đạo đức để hiểu và giải quyết những thách thức mà nhân loại đang đối mặt trong thế giới hiện đại. Các sứ điệp Fatima đại diện cho thông điệp của Sa-tan, nhằm khiến Công giáo chấp nhận Sa-tan như là Đấng Christ, khi hắn "mạo nhận" là Đấng Christ vào thời điểm luật ngày Chủ nhật sắp tới.

Satan will work miracles to deceive those who dwell upon the earth. Spiritualism will do its work by causing the dead to be personated. Those religious bodies who refuse to hear God’s messages of warning will be under strong deception, and will unite with the civil power to persecute the saints. The Protestant churches will unite with the papal power in persecuting the commandment-keeping people of God. This is that power which constitutes the great system of persecution which will exercise spiritual tyranny over the consciences of men.

Sa-tan sẽ làm phép lạ để lừa dối những người sống trên đất. Thuyết duy linh sẽ thực hiện công việc của nó bằng việc giả mạo những người đã chết. Những tổ chức tôn giáo từ chối lắng nghe các sứ điệp cảnh cáo của Đức Chúa Trời sẽ bị lừa dối mạnh mẽ và sẽ liên kết với quyền lực dân sự để bắt bớ các thánh đồ. Các hội thánh Tin Lành sẽ hiệp với quyền lực giáo hoàng trong việc bắt bớ dân sự của Đức Chúa Trời giữ các điều răn. Đó chính là quyền lực cấu thành hệ thống bắt bớ lớn lao sẽ áp đặt sự chuyên chế thuộc linh lên lương tâm của con người.

“‘He had two horns like a lamb, and he spake as a dragon.’ Though professing to be followers of the Lamb of God, men become imbued with the spirit of the dragon. They profess to be meek and humble but they speak and legislate with the spirit of Satan, showing by their actions that they are the opposite of what they profess to be. This lamb-like power unites with the dragon in making war upon those who keep the commandments of God and have the testimony of Jesus Christ. And Satan unites with Protestants and papists, acting in consort with them as the god of this world, dictating to men as if they were the subjects of his kingdom, to be handled and governed and controlled as he pleases.

"Nó có hai sừng giống như chiên con, và nó nói như rồng." Dù xưng mình là người theo Chiên Con của Đức Chúa Trời, con người lại thấm nhuần tinh thần của con rồng. Họ xưng là hiền lành và khiêm nhường, nhưng nói năng và lập pháp theo tinh thần của Sa-tan, cho thấy qua hành động rằng họ trái ngược với điều họ xưng mình là. Quyền lực giống chiên con này liên hiệp với con rồng để gây chiến cùng những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Chúa Giê-su Christ. Và Sa-tan liên hiệp với người Tin Lành và giáo hoàng giáo đồ, hành động cùng họ như thần của đời này, truyền lệnh cho loài người như thể họ là thần dân trong vương quốc của hắn, để tùy ý hắn sai khiến, cai trị và khống chế.

“If men will not agree to trample underfoot the commandments of God, the spirit of the dragon is revealed. They are imprisoned, brought before councils, and fined. ‘He causeth all, both small and great, rich and poor, free and bond, to receive a mark in their right hand, or in their foreheads’ [Revelation 13:16]. ‘He had power to give life unto the image of the beast, that the image of the beast should both speak, and cause that as many as would not worship the image of the beast should be killed’ [verse 15]. Thus Satan usurps the prerogatives of Jehovah. The man of sin sits in the seat of God, proclaiming himself to be God, and acting above God.” Manuscript Releases, volume 14, 162.

Nếu người ta không chịu đồng ý chà đạp các điều răn của Đức Chúa Trời, thì tinh thần của con rồng được bày tỏ. Họ bị tống giam, bị đưa ra trước các hội đồng và bị phạt tiền. “Nó khiến mọi người, cả nhỏ lẫn lớn, giàu và nghèo, tự do và nô lệ, phải nhận một dấu trên tay phải hoặc trên trán” [Khải Huyền 13:16]. “Nó có quyền ban sự sống cho hình tượng của con thú, để hình tượng của con thú có thể nói, và khiến bao nhiêu kẻ không chịu thờ lạy hình tượng của con thú thì đều bị giết” [câu 15]. Như vậy, Sa-tan soán đoạt các đặc quyền của Giê-hô-va. Kẻ tội ác ngồi trên ngai của Đức Chúa Trời, tự xưng mình là Đức Chúa Trời và hành động như thể cao hơn Đức Chúa Trời. Manuscript Releases, tập 14, trang 162.

Antichrist is a symbol of both the pope of Rome, and Satan, for the pope of Rome is Satan’s earthly representative. “Thus Satan usurps the prerogatives of Jehovah. The man of sin sits in the seat of God, proclaiming himself to be God, and acting above God.” Satan intends to so control the world when he takes control that he will dictate “to men as if they were the subjects of his kingdom, to be handled and governed and controlled as he pleases.” In order to have a religious throne to rule from He created the Catholic Church, and in order to have a political throne to rule from he created the United Nations.

Phản Kitô là biểu tượng đồng thời của giáo hoàng La Mã và Sa-tan, vì giáo hoàng La Mã là đại diện của Sa-tan trên trần gian. “Như thế, Sa-tan tiếm đoạt những đặc quyền của Đức Giê-hô-va. Người tội ác ngồi vào ngai của Đức Chúa Trời, tự xưng mình là Đức Chúa Trời, và hành động vượt trên Đức Chúa Trời.” Sa-tan dự định khi hắn nắm quyền cai trị thế giới, hắn sẽ độc đoán “đối với loài người như thể họ là thần dân của vương quốc hắn, để bị hắn xử lý, cai trị và kiểm soát theo ý hắn.” Để có một ngai tôn giáo làm nơi cai trị, hắn đã lập ra Giáo hội Công giáo; và để có một ngai chính trị làm nơi cai trị, hắn đã lập ra Liên Hợp Quốc.

“This compromise between paganism and Christianity resulted in the development of ‘the man of sin’ foretold in prophecy as opposing and exalting himself above God. That gigantic system of false religion is a masterpiece of Satan’s power—a monument of his efforts to seat himself upon the throne to rule the earth according to his will.” The Great Controversy, 50.

Sự thỏa hiệp giữa ngoại giáo và Cơ Đốc giáo đã dẫn đến sự hình thành của ‘người tội ác’ mà lời tiên tri đã báo trước là sẽ chống nghịch và tôn mình lên trên Đức Chúa Trời. Hệ thống tôn giáo giả dối khổng lồ ấy là một kiệt tác của quyền lực Sa-tan—một tượng đài cho những nỗ lực của hắn nhằm ngự trên ngai để cai trị thế gian theo ý muốn của hắn. Đại Tranh Chiến, 50.

The miracle of Fatima, and its satanic prophecy is what Satan has employed to prepare a prophetic setting that allows Catholicism to quickly surrender their church into His control, when he appears, and personates Christ. His personation of Christ begins at the soon coming Sunday law, represented in verse sixteen, verse twenty-two, verse thirty-one and verse forty-one of Daniel chapter eleven.

Phép lạ Fatima và lời tiên tri của Sa-tan gắn liền với nó là những gì Sa-tan đã dùng để chuẩn bị một kịch bản tiên tri, cho phép Công giáo nhanh chóng trao nộp Giáo hội của họ vào quyền kiểm soát của hắn khi hắn xuất hiện và mạo nhận là Đấng Christ. Việc hắn mạo nhận là Đấng Christ bắt đầu với đạo luật Chủ nhật sắp đến, được trình bày trong các câu 16, 22, 31 và 41 của chương 11 sách Đa-ni-ên.

By the decree enforcing the institution of the Papacy in violation of the law of God, our nation will disconnect herself fully from righteousness. When Protestantism shall stretch her hand across the gulf to grasp the hand of the Roman power, when she shall reach over the abyss to clasp hands with Spiritualism, when, under the influence of this threefold union, our country shall repudiate every principle of its Constitution as a Protestant and republican government, and shall make provision for the propagation of papal falsehoods and delusions, then we may know that the time has come for the marvelous working of Satan and that the end is near.” Testimonies, volume 5, 451.

"Bởi sắc lệnh buộc thi hành thiết chế của chế độ giáo hoàng, vốn vi phạm luật của Đức Chúa Trời, quốc gia chúng ta sẽ hoàn toàn tự tách mình khỏi sự công chính. Khi Tin Lành vươn tay qua vực ngăn để nắm lấy tay quyền lực La Mã, khi nó với tay qua vực thẳm để bắt tay với Thuyết cầu hồn, khi, dưới ảnh hưởng của liên minh ba bên này, đất nước chúng ta chối bỏ mọi nguyên tắc của Hiến pháp của mình với tư cách là một chính quyền Tin Lành và cộng hòa, và tạo điều kiện cho việc truyền bá những điều dối trá và mê hoặc của giáo quyền La Mã, thì chúng ta có thể biết rằng thời điểm đã đến cho công việc lạ lùng của Sa-tan và rằng sự kết thúc đã gần." Testimonies, tập 5, 451.

At the Sunday law in the United States, the “time has come for the marvelous working of Satan.” In Revelation chapter thirteen, verse eleven, the United States “speaks” as a dragon, and then in verse thirteen, which is simply identifying what happens when the United States “speaks,” by passing the Sunday law, Satan appears to call fire down out of heaven.

Khi luật Chủ nhật được ban hành tại Hoa Kỳ, “đã đến lúc cho sự hoạt động lạ lùng của Sa-tan.” Trong Khải Huyền chương mười ba, câu mười một, Hoa Kỳ “nói” như một con rồng, và rồi ở câu mười ba — câu này đơn giản chỉ xác định điều gì xảy ra khi Hoa Kỳ “nói”, tức là bằng việc ban hành luật Chủ nhật — Sa-tan xuất hiện để khiến lửa từ trời giáng xuống.

“Servants of God, with their faces lighted up and shining with holy consecration, will hasten from place to place to proclaim the message from heaven. By thousands of voices, all over the earth, the warning will be given. Miracles will be wrought, the sick will be healed, and signs and wonders will follow the believers. Satan also works, with lying wonders, even bringing down fire from heaven in the sight of men. Revelation 13:13. Thus the inhabitants of the earth will be brought to take their stand.” The Great Controversy, 611, 612.

Các đầy tớ của Đức Chúa Trời, với gương mặt bừng sáng và rạng ngời bởi sự hiến thánh, sẽ vội vã đi từ nơi này đến nơi khác để công bố sứ điệp từ trời. Bằng hàng ngàn tiếng nói, khắp thế gian, lời cảnh cáo sẽ được truyền đi. Phép lạ sẽ được thực hiện, người bệnh sẽ được chữa lành, và các dấu kỳ và phép lạ sẽ theo những người tin. Sa-tan cũng hành động, với những phép lạ dối trá, thậm chí khiến lửa từ trời giáng xuống trước mắt loài người. Khải Huyền 13:13. Như vậy, dân cư trên đất sẽ bị đưa đến chỗ phải chọn lập trường của mình. Đại Tranh Chiến, 611, 612.

The messages of Fatima were confirmed by a miracle that was testified to by the atheistic government newspapers that attended the event in order to refute the claims that had been made about the so-called Virgin Mary visiting the three children on the thirteenth day of the month from May until the miracle on October 13, 1917. Every atheistic news organization that was at Fatima at the time of the miracle confirmed the event. It was a genuine miracle (of Satan).

Các sứ điệp ở Fatima đã được xác nhận bởi một phép lạ mà chính các tờ báo của chính quyền vô thần, những cơ quan đã có mặt tại biến cố để bác bỏ các lời tuyên bố rằng cái gọi là Đức Trinh Nữ Maria đã viếng thăm ba trẻ em vào ngày mười ba hằng tháng kể từ tháng Năm cho đến phép lạ ngày 13 tháng 10 năm 1917, đã làm chứng. Mọi cơ quan báo chí vô thần có mặt tại Fatima vào thời điểm phép lạ ấy đều xác nhận biến cố đó. Đó là một phép lạ đích thực (của Sa-tan).

As Malachi Martin identified in his book, Pope John Paul was guided by his devotion to Mary of Fatima. The secret prophecy of Fatima, that was not revealed until the year 2000, was of course a satanic prophecy, but in the last days Jesus repeats the first days. The oldest book in the Bible, the first book that Moses wrote is the book of Job, and it identifies that Job, who represents the one hundred and forty-four thousand, for all the prophecies are fulfilled most perfectly in the last days. Satan, in the story of Job, is allowed to bring death and destruction upon Job, for the purpose of testing Job. The miracles that Satan is allowed to accomplish in the last days, are genuine miracles. They are satanic miracles, but God has allowed Satan to accomplish his crowning act, for the same purpose that he allowed Satan to test Job.

Như Malachi Martin đã nêu trong sách của ông, Giáo hoàng Gioan Phaolô được dẫn dắt bởi lòng sùng kính đối với Đức Mẹ Fatima. Lời tiên tri bí mật ở Fatima, mãi đến năm 2000 mới được công bố, dĩ nhiên là một lời tiên tri của Sa-tan, nhưng trong thời sau hết, Chúa Giêsu tái diễn những ngày đầu. Sách cổ nhất trong Kinh Thánh, cuốn đầu tiên mà Môsê viết, là sách Gióp; và sách này cho thấy rằng Gióp tượng trưng cho một trăm bốn mươi bốn nghìn, vì mọi lời tiên tri đều được ứng nghiệm cách trọn vẹn nhất vào thời sau hết. Trong câu chuyện về Gióp, Sa-tan được phép mang sự chết chóc và tàn phá đến với Gióp, nhằm thử thách ông. Những phép lạ mà Sa-tan được phép thực hiện trong thời sau hết là những phép lạ thật sự. Đó là những phép lạ của Sa-tan, nhưng Thiên Chúa đã cho phép Sa-tan thực hiện hành động đỉnh điểm của hắn, vì cùng một mục đích như khi Ngài cho phép Sa-tan thử thách Gióp.

“Many endeavor to account for spiritual manifestations by attributing them wholly to fraud and sleight of hand on the part of the medium. But while it is true that the results of trickery have often been palmed off as genuine manifestations, there have been, also, marked exhibitions of supernatural power. The mysterious rapping with which modern spiritualism began was not the result of human trickery or cunning, but was the direct work of evil angels, who thus introduced one of the most successful of soul-destroying delusions. Many will be ensnared through the belief that spiritualism is a merely human imposture; when brought face to face with manifestations which they cannot but regard as supernatural, they will be deceived, and will be led to accept them as the great power of God.

Nhiều người cố gắng giải thích các hiện tượng tâm linh bằng cách quy chúng hoàn toàn cho sự lừa đảo và mánh khóe ảo thuật của các nhà ngoại cảm. Nhưng tuy đúng là kết quả của những trò bịp bợm thường bị đưa ra như những biểu hiện chân thật, thì cũng đã có những sự phô bày rõ rệt của quyền lực siêu nhiên. Những tiếng gõ bí ẩn đánh dấu sự khởi đầu của chủ nghĩa duy linh hiện đại không phải là kết quả của mưu mẹo hay xảo thuật của con người, mà là công việc trực tiếp của ma quỷ, qua đó chúng đưa vào một trong những sự lừa dối hủy hoại linh hồn thành công nhất. Nhiều người sẽ mắc bẫy vì tin rằng chủ nghĩa duy linh chỉ là trò lừa bịp của loài người; khi đối diện với những biểu hiện mà họ không thể không xem là siêu nhiên, họ sẽ bị lừa dối và bị dẫn dắt chấp nhận chúng như quyền năng lớn lao của Đức Chúa Trời.

“These persons overlook the testimony of the Scriptures concerning the wonders wrought by Satan and his agents. It was by satanic aid that Pharaoh’s magicians were enabled to counterfeit the work of God. Paul testifies that before the second advent of Christ there will be similar manifestations of satanic power. The coming of the Lord is to be preceded by ‘the working of Satan with all power and signs and lying wonders, and with all deceivableness of unrighteousness.’ 2 Thessalonians 2:9,10. And the apostle John, describing the miracle-working power that will be manifested in the last days, declares: ‘He doeth great wonders, so that he maketh fire come down from heaven on the earth in the sight of men, and deceiveth them that dwell on the earth by the means of those miracles which he had power to do.’ Revelation 13:13, 14. No mere impostures are here foretold. Men are deceived by the miracles which Satan’s agents have power to do, not which they pretend to do.” The Great Controversy, 553.

Những người này bỏ qua lời chứng của Kinh Thánh về các phép lạ do Sa-tan và các tay sai của nó làm ra. Chính nhờ sự trợ giúp của Sa-tan mà các pháp sư của Pha-ra-ôn đã có thể giả mạo công việc của Đức Chúa Trời. Phao-lô làm chứng rằng trước khi Đấng Christ tái lâm sẽ có những sự bày tỏ tương tự của quyền năng Sa-tan. Sự đến của Chúa sẽ được báo trước bởi “sự hoạt động của Sa-tan với mọi quyền năng, các dấu lạ và những phép lạ dối trá, và với mọi sự dối gạt của sự gian ác.” 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:9,10. Và sứ đồ Giăng, khi mô tả quyền năng làm phép lạ sẽ được bày tỏ trong những ngày cuối cùng, tuyên bố: “Nó làm những việc lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trời rơi xuống đất trước mặt người ta, và nó lừa dối những kẻ cư trú trên đất bằng các phép lạ mà nó có quyền làm.” Khải Huyền 13:13,14. Ở đây không phải chỉ những trò bịp bợm đơn thuần được tiên báo. Người ta bị lừa dối bởi những phép lạ mà các tay sai của Sa-tan có quyền năng làm, chứ không phải bởi những điều họ chỉ giả vờ làm.” Đại Tranh Chiến, 553.

The messages of Fatima in Malachi Martin’s book are represented as the prophetic structure of Catholicism in the last days, in relation to an internal struggle within the church, that can be represented as either the good pope versus the bad pope, or the conservative pope versus the liberal pope. The conservative, and according to Martin’s reading of the miracle, the good pope, bases his understanding upon the First Vatican Council, also known as Vatican I, which took place from December 8, 1869 to July 20, 1870, convened by Pope Pius IX and primarily focused on defining the dogma of papal infallibility and addressing various theological and doctrinal issues facing the Catholic Church at the time. The Second Vatican Council, commonly known as Vatican II, was held much later, from October 11, 1962 to December 8, 1965. It was convened by Pope John XXIII and continued by Pope Paul VI after John XXIII’s death.

Các sứ điệp Fatima trong cuốn sách của Malachi Martin được trình bày như cấu trúc ngôn sứ của Công giáo trong những ngày sau hết, liên quan đến một cuộc đấu tranh nội bộ trong Giáo hội, có thể được mô tả như cuộc đối đầu giữa giáo hoàng tốt và giáo hoàng xấu, hoặc giữa giáo hoàng bảo thủ và giáo hoàng cấp tiến. Vị bảo thủ—và theo cách Martin diễn giải phép lạ, là giáo hoàng tốt—đặt nền tảng hiểu biết của mình trên Công đồng Vatican lần thứ nhất (Vatican I), diễn ra từ ngày 8 tháng 12 năm 1869 đến ngày 20 tháng 7 năm 1870, do Đức Giáo hoàng Piô IX triệu tập và chủ yếu tập trung vào việc xác định tín điều bất khả ngộ của giáo hoàng và giải quyết các vấn đề thần học, tín lý mà Giáo hội Công giáo khi ấy đang đối diện. Công đồng Vatican lần thứ hai (Vatican II) được tổ chức muộn hơn nhiều, từ ngày 11 tháng 10 năm 1962 đến ngày 8 tháng 12 năm 1965. Công đồng này do Đức Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập và được Đức Giáo hoàng Phaolô VI tiếp tục sau khi Gioan XXIII qua đời.

The last days of Catholicism, as Martin expressed it, identifies the struggle between the infallibility and primacy of the church of Rome as set forth in Vatican I, versus the liberalism that is currently on display by Francis the woke-pope, and represented in the documents of Vatican II. Martin suggests that within the struggle for these two approaches of controlling the church, the third world war breaks out, and Jesus returns, comes down to earth and places his blessing upon the good pope and takes the throne of the Catholic church.

Những ngày sau hết của Công giáo, theo cách Martin diễn đạt, chỉ ra cuộc đấu tranh giữa tính bất khả ngộ và quyền tối thượng của Giáo hội Rôma như được nêu tại Công đồng Vatican I, đối nghịch với chủ nghĩa tự do hiện đang được biểu lộ nơi Phanxicô, vị giáo hoàng “woke”, và được thể hiện trong các văn kiện của Công đồng Vatican II. Martin cho rằng trong cuộc giằng co giữa hai đường hướng kiểm soát Giáo hội này, Thế chiến thứ ba bùng nổ, và Chúa Giêsu trở lại, ngự xuống trần gian, ban phúc lành cho vị giáo hoàng tốt lành và lên ngự trên ngai tòa của Giáo hội Công giáo.

In verses thirteen through fifteen, of Daniel eleven, the history that immediately precedes the Sunday law of verse sixteen, describes the third and final battle of the proxy wars. It is the battle that follows Putin’s victory in verses eleven and twelve, but in the middle of those three verses, verse fourteen identifies when Catholicism enters into the history of the last days.

Trong các câu mười ba đến mười lăm của Đa-ni-ên 11, lịch sử ngay trước luật ngày Chủ nhật ở câu mười sáu mô tả trận chiến thứ ba và cũng là trận chiến cuối cùng của các cuộc chiến ủy nhiệm. Đó là trận chiến tiếp theo sau chiến thắng của Putin trong các câu mười một và mười hai, nhưng ở giữa ba câu ấy, câu mười bốn xác định thời điểm Công giáo bước vào lịch sử của những ngày sau rốt.

According to Isaiah the whore of Rome is forgotten during the symbolic seventy-year reign of the sixth kingdom of Bible prophecy. The first time the papacy was enthroned upon the earth in 538, the waymark that preceded her enthronement was the decree of Justinian in 533.

Theo Ê-sai, con điếm của Rô-ma bị lãng quên trong thời kỳ trị vì tượng trưng kéo dài bảy mươi năm của vương quốc thứ sáu theo lời tiên tri Kinh Thánh. Lần đầu tiên quyền giáo hoàng được tôn lên ngôi trên đất vào năm 538, dấu mốc đi trước việc tôn ngôi ấy là sắc lệnh của Justinian ban hành năm 533.

The history surrounding Justinian’s decree identifies that Justinian sought to consolidate his control over his kingdom by bringing an end to the religious argument that had been causing turmoil in the kingdom. That argument was whether the church in Constantinople in the east, or the church in Rome in the west was the head of the so-called Christian church. In verse thirteen, the last president of the United States will be confronted with a controversy that forces him to parallel the history of Justinian, and declare that the Catholic church is the head of the churches, and the corrector of heretics, in order to establish the necessary political support to consolidate his power.

Lịch sử xoay quanh sắc lệnh của Justinian cho thấy rằng Justinian đã tìm cách củng cố quyền kiểm soát của mình đối với vương quốc bằng cách chấm dứt cuộc tranh cãi tôn giáo vốn đã gây xáo trộn trong vương quốc. Cuộc tranh cãi đó là liệu giáo hội ở Constantinople thuộc phương Đông hay giáo hội ở Rome thuộc phương Tây mới là đứng đầu của cái gọi là Giáo hội Kitô giáo. Trong câu mười ba, vị tổng thống cuối cùng của Hoa Kỳ sẽ đối mặt với một cuộc tranh cãi buộc ông ta phải theo khuôn mẫu lịch sử của Justinian và tuyên bố rằng Giáo hội Công giáo là đứng đầu các giáo hội, và là người sửa trị những kẻ lạc giáo, nhằm thiết lập sự hậu thuẫn chính trị cần thiết để củng cố quyền lực của mình.

We should not place any confidence in the satanic predictions of Fatima, but we are required to see what is revealed in God’s Word. In the beginning of the twentieth century both horns of the earth beast entered into their third generation, which is the generation of compromise. The Republican horn surrendered its financial system to the world bankers, which trace their origins back to the house of the Red Shield, the Rothschilds, and its mysterious connection with the Illuminati, Freemasonry, secret societies and the Jesuit order. Sister White directly warns of these entities. During the same period of time Laodicean Adventism, as the Protestant horn, surrendered its educational and religious institutions to the governing of the world.

Chúng ta không nên đặt chút tin cậy nào vào những lời tiên tri ma quỷ của Fatima, nhưng chúng ta buộc phải xem điều gì được bày tỏ trong Lời Đức Chúa Trời. Vào đầu thế kỷ XX, cả hai sừng của con thú từ đất đã bước vào thế hệ thứ ba của chúng, tức là thế hệ thỏa hiệp. Sừng Cộng hòa đã trao nộp hệ thống tài chính của mình cho các nhà ngân hàng thế giới, những người có thể lần theo nguồn gốc của mình về nhà Khiên Đỏ, tức gia tộc Rothschild, cùng các mối liên hệ bí ẩn với Illuminati, Hội Tam Điểm, các hội kín và Dòng Tên. Bà White trực tiếp cảnh báo về những thực thể này. Trong cùng thời kỳ ấy, Phục Lâm Laodicea, với tư cách là sừng Tin Lành, đã trao nộp các cơ sở giáo dục và tôn giáo của mình cho sự quản trị của thế gian.

In that very time period, the modern king of the south begins its history with the Russian Revolution, and the modern king of the north begins its history with the miracle of Fatima. As Malachi Martin emphasizes in his book, beyond the internal struggle of the good and bad pope, the Fatima messages identified the struggle of Catholicism against atheism in general, but more specifically against the atheism of Russia. The secret that the pope in 1917 was to act upon contained the (satanic) promise, that if the pope would call a conclave and dedicate Russia to the Virgin Mary, then there would not be a second world war. It also identified that if the pope refused Russia would spread its philosophy far and wide and there would then be another world war.

Chính trong khoảng thời gian đó, vua phương nam hiện đại bắt đầu lịch sử của mình với Cách mạng Nga, và vua phương bắc hiện đại bắt đầu lịch sử của mình với phép lạ Fatima. Như Malachi Martin nhấn mạnh trong cuốn sách của ông, vượt ra ngoài cuộc đấu tranh nội bộ giữa giáo hoàng tốt và giáo hoàng xấu, các sứ điệp Fatima chỉ ra cuộc đấu tranh của Công giáo chống lại chủ nghĩa vô thần nói chung, nhưng cụ thể hơn là chống lại chủ nghĩa vô thần của Nga. Bí mật mà vị giáo hoàng năm 1917 phải hành động theo chứa đựng lời hứa (ma quỷ) rằng nếu giáo hoàng triệu tập một mật nghị hồng y và dâng hiến nước Nga cho Đức Trinh Nữ Maria, thì sẽ không có Thế chiến thứ hai. Nó cũng cho biết rằng nếu giáo hoàng từ chối, Nga sẽ truyền bá học thuyết của mình khắp nơi và rồi sẽ có một cuộc thế chiến nữa.

The second world war included the war of Catholicism against the Communism of Russia. Catholicism’s proxy army in that war was Nazi Germany. The papacy always employs proxy armies. In 1933 the Catholic church, through the work of Cardinal Pacelli, signed a concordat with Adolph Hitler that allowed Hitler to take control of Germany, and by Hitler’s own testimony, that contract (concordat), was what allowed Hitler to solve the Jewish question. The Nazi’s were the papacy’s proxy against atheistic Russia in World War II, and in the second battle of the proxy wars, now being accomplished in the Ukraine, it is being carried out by another Nazi proxy army.

Chiến tranh thế giới thứ hai bao gồm cuộc chiến của Công giáo chống lại chủ nghĩa Cộng sản của Nga. Đạo quân ủy nhiệm của Công giáo trong cuộc chiến ấy là nước Đức Quốc xã. Giáo hoàng quyền luôn luôn sử dụng các đạo quân ủy nhiệm. Năm 1933, Giáo hội Công giáo, qua công việc của Hồng y Pacelli, đã ký một hiệp ước với Adolph Hitler, cho phép Hitler nắm quyền kiểm soát nước Đức; và theo chính lời chứng của Hitler, chính bản hợp đồng (hiệp ước) ấy đã cho phép Hitler giải quyết vấn đề Do Thái. Quốc xã là lực lượng ủy nhiệm của giáo hoàng quyền chống lại nước Nga vô thần trong Thế chiến thứ hai, và trong trận chiến thứ hai của các cuộc chiến ủy nhiệm, hiện đang được thực hiện tại Ukraine, điều đó đang được tiến hành bởi một đạo quân ủy nhiệm Quốc xã khác.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“Through the two great errors, the immortality of the soul and Sunday sacredness, Satan will bring the people under his deceptions. While the former lays the foundation of spiritualism, the latter creates a bond of sympathy with Rome. The Protestants of the United States will be foremost in stretching their hands across the gulf to grasp the hand of spiritualism; they will reach over the abyss to clasp hands with the Roman power; and under the influence of this threefold union, this country will follow in the steps of Rome in trampling on the rights of conscience.

Thông qua hai sai lầm lớn, sự bất tử của linh hồn và tính thiêng liêng của ngày Chủ nhật, Sa-tan sẽ đặt dân chúng dưới sự lừa dối của hắn. Trong khi điều trước đặt nền tảng cho chủ nghĩa thông linh, điều sau tạo nên mối dây cảm tình với Rô-ma. Những người Tin Lành ở Hoa Kỳ sẽ đi đầu trong việc vươn tay qua vực ngăn cách để nắm lấy tay của chủ nghĩa thông linh; họ sẽ vươn qua vực thẳm để bắt tay với quyền lực Rô-ma; và dưới ảnh hưởng của liên minh ba bên này, đất nước này sẽ bước theo gót Rô-ma trong việc chà đạp các quyền của lương tâm.

“As spiritualism more closely imitates the nominal Christianity of the day, it has greater power to deceive and ensnare. Satan himself is converted, after the modern order of things. He will appear in the character of an angel of light. Through the agency of spiritualism, miracles will be wrought, the sick will be healed, and many undeniable wonders will be performed. And as the spirits will profess faith in the Bible, and manifest respect for the institutions of the church, their work will be accepted as a manifestation of divine power.

Khi thuyết duy linh càng bắt chước sát hơn Cơ Đốc giáo trên danh nghĩa của thời nay, nó càng có quyền lực lớn hơn để lừa dối và giăng bẫy. Chính Sa-tan cũng tỏ ra đã cải đạo, theo lối hiện đại. Nó sẽ hiện ra như một thiên sứ của sự sáng. Thông qua thuyết duy linh, các phép lạ sẽ được thực hiện, người bệnh sẽ được chữa lành, và nhiều kỳ tích không thể chối cãi sẽ được làm ra. Và vì các linh sẽ tuyên xưng đức tin vào Kinh Thánh và tỏ lòng tôn trọng các định chế của giáo hội, nên công việc của chúng sẽ được chấp nhận như là sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời.

“The line of distinction between professed Christians and the ungodly is now hardly distinguishable. Church members love what the world loves and are ready to join with them, and Satan determines to unite them in one body and thus strengthen his cause by sweeping all into the ranks of spiritualism. Papists, who boast of miracles as a certain sign of the true church, will be readily deceived by this wonder-working power; and Protestants, having cast away the shield of truth, will also be deluded. Papists, Protestants, and worldlings will alike accept the form of godliness without the power, and they will see in this union a grand movement for the conversion of the world and the ushering in of the long-expected millennium.

Ranh giới phân biệt giữa những người tự xưng là Kitô hữu và kẻ vô đạo nay hầu như không còn nhận ra được. Các thành viên hội thánh yêu những gì thế gian yêu và sẵn sàng liên kết với họ; Sa-tan quyết hiệp họ lại thành một khối, qua đó củng cố thế lực của mình bằng cách cuốn hết thảy vào hàng ngũ của thuyết duy linh. Những người theo Giáo hoàng, vốn tự hào về các phép lạ như một dấu hiệu chắc chắn của hội thánh chân thật, sẽ dễ dàng bị quyền năng làm phép lạ ấy lừa dối; còn những người Tin Lành, đã quăng bỏ thuẫn của lẽ thật, cũng sẽ bị mê hoặc. Những người theo Giáo hoàng, người Tin Lành và người thế gian đều sẽ chấp nhận hình thức tin kính mà không có quyền năng, và họ sẽ thấy trong sự liên hiệp này một phong trào vĩ đại nhằm cải đạo cả thế giới và mở ra thiên niên kỷ đã mong đợi từ lâu.

“Through spiritualism, Satan appears as a benefactor of the race, healing the diseases of the people, and professing to present a new and more exalted system of religious faith; but at the same time he works as a destroyer. His temptations are leading multitudes to ruin. Intemperance dethrones reason; sensual indulgence, strife, and bloodshed follow. Satan delights in war, for it excites the worst passions of the soul and then sweeps into eternity its victims steeped in vice and blood. It is his object to incite the nations to war against one another, for he can thus divert the minds of the people from the work of preparation to stand in the day of God.

Thông qua thuyết duy linh, Satan xuất hiện như một ân nhân của nhân loại, chữa lành bệnh tật cho dân chúng và tự xưng là trình bày một hệ thống đức tin tôn giáo mới và cao siêu hơn; nhưng đồng thời hắn lại hành động như một kẻ hủy diệt. Những cám dỗ của hắn đang dẫn vô số người đến chỗ hư mất. Sự vô độ truất ngôi lý trí; sự buông thả xác thịt, tranh chấp và đổ máu kéo theo. Satan vui thích trong chiến tranh, vì nó khơi dậy những đam mê tồi tệ nhất của linh hồn và rồi cuốn phăng vào cõi vĩnh cửu những nạn nhân chìm ngập trong tội lỗi và máu. Mục tiêu của hắn là xúi giục các dân tộc giao chiến với nhau, vì như vậy hắn có thể làm sao lãng tâm trí của dân chúng khỏi công việc chuẩn bị để đứng vững trong ngày của Đức Chúa Trời.

“Satan works through the elements also to garner his harvest of unprepared souls. He has studied the secrets of the laboratories of nature, and he uses all his power to control the elements as far as God allows. When he was suffered to afflict Job, how quickly flocks and herds, servants, houses, children, were swept away, one trouble succeeding another as in a moment. It is God that shields His creatures and hedges them in from the power of the destroyer. But the Christian world have shown contempt for the law of Jehovah; and the Lord will do just what He has declared that He would—He will withdraw His blessings from the earth and remove His protecting care from those who are rebelling against His law and teaching and forcing others to do the same. Satan has control of all whom God does not especially guard. He will favor and prosper some in order to further his own designs, and he will bring trouble upon others and lead men to believe that it is God who is afflicting them.” The Great Controversy, 588, 589.

"Sa-tan cũng hành động qua các yếu tố thiên nhiên để thu hoạch mùa gặt những linh hồn chưa sẵn sàng. Hắn đã nghiên cứu những bí mật trong các phòng thí nghiệm của thiên nhiên, và hắn dùng hết mọi quyền lực để điều khiển các yếu tố trong phạm vi Đức Chúa Trời cho phép. Khi hắn được phép làm khổ Gióp, bầy chiên và bầy súc vật, tôi tớ, nhà cửa, con cái đã bị cuốn sạch biết bao nhanh chóng; tai họa này nối tiếp tai họa khác chỉ trong chốc lát. Chính Đức Chúa Trời che chở các tạo vật của Ngài và dựng hàng rào quanh họ khỏi quyền lực của kẻ hủy diệt. Nhưng thế giới Cơ Đốc đã tỏ thái độ khinh thường luật pháp của Đức Giê-hô-va; và Chúa sẽ làm đúng như điều Ngài đã phán rằng Ngài sẽ làm—Ngài sẽ rút lại những phước lành khỏi trái đất và cất bỏ sự chăm nom che chở của Ngài khỏi những kẻ đang nổi loạn chống luật pháp Ngài, dạy dỗ và ép buộc người khác làm như vậy. Sa-tan nắm quyền trên tất cả những ai mà Đức Chúa Trời không đặc biệt gìn giữ. Hắn sẽ ưu ái và làm cho một số người thịnh vượng để thúc đẩy mưu đồ của mình, và hắn sẽ gây hoạn nạn trên những người khác và khiến người ta tin rằng chính Đức Chúa Trời đang làm khổ họ." Cuộc Đại Tranh Chiến, 588, 589.