As we address the third proxy war, represented in verses thirteen through fifteen, we will remind ourselves of what has led up to these verses. In chapter ten, Daniel receives his final vision, and in doing so he is identified as understanding both the internal and external prophetic visions. The Hebrew word “dabar,” meaning “word” is translated as “thing.” In chapter nine, when Gabriel came to make Daniel understand the vision of the twenty-three hundred days, the Hebrew word “dabar” was translated as “matter.”

Khi đề cập đến cuộc chiến tranh ủy nhiệm thứ ba, được trình bày trong các câu mười ba đến mười lăm, chúng ta sẽ nhắc lại cho chính mình những gì đã dẫn đến các câu này. Trong chương mười, Đa-ni-ên nhận lãnh khải tượng cuối cùng của mình, và qua đó ông được xác định là người hiểu biết cả các khải tượng tiên tri bên trong lẫn bên ngoài. Từ Hê-bơ-rơ “dabar,” có nghĩa là “lời,” được dịch là “việc.” Trong chương chín, khi Gáp-ri-ên đến để làm cho Đa-ni-ên hiểu khải tượng về hai nghìn ba trăm ngày, từ Hê-bơ-rơ “dabar” đã được dịch là “điều.”

Yea, whiles I was speaking in prayer, even the man Gabriel, whom I had seen in the vision at the beginning, being caused to fly swiftly, touched me about the time of the evening oblation. And he informed me, and talked with me, and said, O Daniel, I am now come forth to give thee skill and understanding. At the beginning of thy supplications the commandment came forth, and I am come to show thee; for thou art greatly beloved: therefore understand the matter, and consider the vision. Daniel 9:21–23.

Phải, khi tôi còn đang nói trong lời cầu nguyện, thì chính người Ga-bri-ên, người mà tôi đã thấy trong khải tượng lúc ban đầu, đã bay đến rất nhanh và chạm đến tôi vào khoảng giờ dâng lễ chiều. Người báo cho tôi biết, nói chuyện với tôi và bảo: Hỡi Đa-ni-ên, bây giờ ta đến để ban cho ngươi sự thông sáng và hiểu biết. Ngay từ lúc ngươi bắt đầu khẩn cầu, mệnh lệnh đã được ban ra, và ta đến để bày tỏ cho ngươi; vì ngươi rất được yêu quý. Vậy hãy hiểu điều ấy và suy xét khải tượng. Đa-ni-ên 9:21–23.

When Gabriel told Daniel to “understand the matter, and consider the vision,” the Hebrew word “biyn” was translated as both “understand” and also as “consider.” The word means to mentally separate. Gabriel informed Daniel to make a mental separation between the “dabar” translated as “matter” and the “mareh“, translated as “vision”. In order to understand the interpretation that Gabriel was providing to Daniel concerning the prophecy of twenty-three hundred years, Daniel was to recognize the distinction between the prophetic vision represented as the “matter” and the prophetic “mareh” vision. The “matter”, which is the “dabar,” meaning word, represents the external line of prophecy and the “mareh” vision represents the internal line of prophecy.

Khi Gabriel bảo Daniel phải “hiểu lời ấy, và suy xét sự hiện thấy,” từ Hê-bơ-rơ “biyn” đã được dịch vừa là “hiểu” vừa là “suy xét.” Từ ấy có nghĩa là phân tách trong trí óc. Gabriel cho Daniel biết phải thực hiện một sự phân biệt trong tâm trí giữa “dabar,” được dịch là “lời,” và “mareh,” được dịch là “sự hiện thấy.” Để hiểu được lời giải thích mà Gabriel đang ban cho Daniel liên quan đến lời tiên tri hai nghìn ba trăm năm, Daniel phải nhận biết sự khác biệt giữa khải tượng tiên tri được biểu thị như “lời” và khải tượng tiên tri “mareh.” “Lời,” tức là “dabar,” có nghĩa là lời, tượng trưng cho tuyến tiên tri bên ngoài, còn khải tượng “mareh” tượng trưng cho tuyến tiên tri bên trong.

In Daniel chapter ten, the first truth that is revealed to the student of prophecy is that Daniel represents God’s people in the last days who understand both the internal and external lines of prophecy.

Trong sách Đa-ni-ên đoạn mười, lẽ thật đầu tiên được bày tỏ cho người nghiên cứu lời tiên tri là rằng Đa-ni-ên đại diện cho dân sự của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt, những người hiểu cả các dòng tiên tri nội lẫn ngoại.

In the third year of Cyrus king of Persia a thing was revealed unto Daniel, whose name was called Belteshazzar; and the thing was true, but the time appointed was long: and he understood the thing, and had understanding of the vision. Daniel 10:1.

Năm thứ ba đời Cyrus, vua Ba Tư, một điều đã được tỏ ra cho Daniel, người được gọi là Belteshazzar; điều ấy là chân thật, nhưng thời kỳ đã định thì còn lâu; và ông hiểu điều ấy và có sự hiểu biết về khải tượng. Daniel 10:1.

The “thing,” is the Hebrew word “dabar,” and the “vision,” is the “mareh” vision. As a prophet, Daniel represents God’s last day people, whose perfect fulfillment is the one hundred and forty-four thousand. The third year of Cyrus places Daniel in the reform line that began at the time of the end in 1989. In “those days,” representing the history of 1989 to the soon coming Sunday law in the United States, Daniel was mourning for three weeks. In the reform line of the one hundred and forty-four thousand, the period of mourning is marking the three and a half days that the two witnesses of Revelation chapter eleven, are dead in the street. The street of that great city of Sodom and Egypt, where also our Lord was crucified, is also Ezekiel’s valley of dead dry bones.

“Vật,” là từ Hê-bơ-rơ “dabar,” và “khải tượng,” là khải tượng “mareh.” Với tư cách một nhà tiên tri, Đa-ni-ên tiêu biểu cho dân sự của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, mà sự ứng nghiệm trọn vẹn của họ là một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Năm thứ ba của Si-ru đặt Đa-ni-ên vào tuyến cải chánh đã bắt đầu vào thời kỳ cuối cùng năm 1989. Trong “những ngày ấy,” tượng trưng cho lịch sử từ năm 1989 đến luật ngày Chủ nhật sắp đến tại Hoa Kỳ, Đa-ni-ên đã than khóc trong ba tuần lễ. Trong tuyến cải chánh của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, thời kỳ than khóc ấy đánh dấu ba ngày rưỡi mà hai chứng nhân trong Khải Huyền chương mười một bị chết nơi đường phố. Đường phố của thành lớn ấy, là Sô-đôm và Ê-díp-tô, nơi Chúa chúng ta cũng đã bị đóng đinh, cũng chính là trũng xương khô của Ê-xê-chi-ên.

In chapter ten, Daniel is transformed into the image of Christ, and touched three times in advance of Gabriel interpreting the vision which Daniel saw. The vision produced a separation of two classes of worshippers. The everlasting gospel always produces two classes of worshippers. Daniel represented the class of worshippers represented as the one hundred and forty-four thousand, in contrast with the class that fled in fear from the vision.

Trong chương mười, Đa-ni-ên được biến đổi theo hình ảnh của Đấng Christ, và được chạm ba lần trước khi thiên sứ Gáp-ri-ên giải nghĩa khải tượng mà Đa-ni-ên đã thấy. Khải tượng ấy tạo ra sự phân chia giữa hai hạng người thờ phượng. Tin Lành đời đời luôn tạo nên hai hạng người thờ phượng. Đa-ni-ên đại diện cho hạng người thờ phượng được mô tả là một trăm bốn mươi bốn nghìn, trái ngược với hạng người vì sợ hãi khải tượng mà bỏ chạy.

Prior to chapter ten Gabriel came three times to Daniel to interpret a vision. He interpreted the visions of chapters seven and eight, which illustrated the kingdoms of Bible prophecy in both their political manifestation (chapter seven), and their religious manifestation (chapter eight). Then in chapter nine Gabriel interpreted the twenty-three-hundred-year prophecy. Gabriel arrives in chapter ten to finish the interpretation that was left incomplete in chapter nine, and to provide Daniel with the interpretation of the vision which produced the two classes of worshippers. Gabriel first provides Daniel with a general overview of the vision in verse fourteen.

Trước chương mười, Gabriel đã ba lần đến với Daniel để giải nghĩa một khải tượng. Ông đã giải nghĩa các khải tượng của chương bảy và tám, những khải tượng mô tả các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh cả trong biểu hiện chính trị (chương bảy) và biểu hiện tôn giáo (chương tám). Rồi trong chương chín, Gabriel giải nghĩa lời tiên tri hai nghìn ba trăm năm. Gabriel xuất hiện trong chương mười để hoàn tất phần giải nghĩa còn dang dở trong chương chín, và để ban cho Daniel lời giải nghĩa về khải tượng đã dẫn đến việc hình thành hai hạng người thờ phượng. Trước hết, Gabriel cung cấp cho Daniel một cái nhìn tổng quát về khải tượng ở câu mười bốn.

Now I am come to make thee understand what shall befall thy people in the latter days: for yet the vision is for many days. Daniel 10:14.

Bây giờ ta đến để làm cho ngươi hiểu điều gì sẽ xảy đến cho dân ngươi trong những ngày sau rốt: vì khải tượng ấy còn thuộc về nhiều ngày nữa. Daniel 10:14.

The vision of Christ, which produced two classes of worshippers, represents what shall befall God’s people in the last days. The interpretation of chapters seven and eight was an interpretation of the history represented by the rise and fall of the kingdoms of Bible prophecy, as illustrated by beasts of prey and sanctuary animals respectively. The interpretation of chapter nine, was a detailed breakdown of the different prophetic periods represented within the prophecy of twenty-three hundred years. Somehow the vision of the glorified Christ in chapter ten represented what shall befall God’s people in the last days. Before Gabriel begins with the detailed outline of history, which is the interpretation of the vision of the glorified Christ, he reminds Daniel that he has already told Daniel what the interpretation represents.

Khải tượng về Đấng Christ, vốn tạo ra hai hạng người thờ phượng, cho thấy điều sẽ xảy đến với dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt. Sự giải nghĩa các chương bảy và tám là sự giải nghĩa về lịch sử được biểu thị qua sự hưng vong của các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh, được minh họa lần lượt bằng các thú săn mồi và các loài vật của đền thánh. Sự giải nghĩa chương chín là một phân tích chi tiết về các thời kỳ tiên tri khác nhau được thể hiện trong lời tiên tri về hai nghìn ba trăm năm. Bằng cách nào đó, khải tượng về Đấng Christ được vinh hiển trong chương mười biểu trưng cho điều sẽ xảy đến với dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt. Trước khi Gabriel bắt đầu với bản phác thảo chi tiết về lịch sử, tức là sự giải nghĩa khải tượng về Đấng Christ được vinh hiển, ông nhắc Daniel rằng ông đã nói với Daniel sự giải nghĩa ấy biểu thị điều gì.

Then said he, Knowest thou wherefore I come unto thee? and now will I return to fight with the prince of Persia: and when I am gone forth, lo, the prince of Grecia shall come. Daniel 10:20.

Bấy giờ người nói: Ngươi có biết vì sao ta đến cùng ngươi chăng? Bây giờ ta sẽ trở lại để chiến đấu với thủ lãnh Ba Tư; và khi ta đi ra, kìa, thủ lãnh Hy Lạp sẽ đến. Đa-ni-ên 10:20.

Gabriel reminds Daniel that he had told Daniel in verse fourteen, that he had come to make Daniel understand what shall befall God’s people in the last days, and he expected Daniel to place the following presentation of prophetic history in that context. Daniel had been seeking a specific understanding from the first day in which he began to mourn.

Gabriel nhắc Daniel rằng, ở câu mười bốn, ông đã nói rằng mình đến để giúp Daniel hiểu điều gì sẽ xảy đến với dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, và ông kỳ vọng Daniel đặt phần trình bày tiếp theo về lịch sử tiên tri vào bối cảnh đó. Daniel đã tìm kiếm một sự hiểu biết cụ thể ngay từ ngày đầu tiên khi ông bắt đầu than khóc.

Then said he unto me, Fear not, Daniel: for from the first day that thou didst set thine heart to understand, and to chasten thyself before thy God, thy words were heard, and I am come for thy words. But the prince of the kingdom of Persia withstood me one and twenty days: but, lo, Michael, one of the chief princes, came to help me; and I remained there with the kings of Persia. Daniel 10:12, 13.

Bấy giờ người ấy nói với tôi: Đừng sợ, Đa-ni-ên; vì ngay từ ngày đầu tiên ngươi đặt lòng để hiểu biết và tự hạ mình trước Đức Chúa Trời của ngươi, những lời của ngươi đã được nghe, và vì những lời ấy mà ta đã đến. Nhưng thủ lãnh của vương quốc Ba Tư đã chống cự ta suốt hai mươi mốt ngày; kìa, Mi-ca-ên, một trong các thủ lãnh cao trọng, đã đến giúp ta; và ta ở lại đó với các vua Ba Tư. Đa-ni-ên 10:12, 13.

After Daniel’s three weeks of mourning, he saw the vision of Christ, that prophetically aligned with the vision of Christ that John in Patmos had witnessed.

Sau ba tuần than khóc của Daniel, ông đã thấy khải tượng về Chúa Kitô, khải tượng ấy phù hợp về mặt tiên tri với khải tượng về Chúa Kitô mà John ở Patmos đã chứng kiến.

“No less a personage than the Son of God appeared to Daniel. This description is similar to that given by John when Christ was revealed to him upon the Isle of Patmos. Our Lord now comes with another heavenly messenger to teach Daniel what would take place in the latter days. This knowledge was given to Daniel and recorded by inspiration for us upon whom the ends of the world are come.

Không ai khác hơn là chính Con Đức Chúa Trời đã hiện ra với Đa-ni-ên. Sự mô tả này giống với điều Giăng ghi lại khi Đấng Christ được tỏ ra cho ông trên đảo Bát-mô. Chúa chúng ta nay đến cùng với một thiên sứ khác để dạy Đa-ni-ên biết những gì sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt. Sự hiểu biết này đã được ban cho Đa-ni-ên và được ghi lại bởi sự soi dẫn cho chúng ta, là những kẻ gặp phải thời kỳ cuối cùng.

“The great truths revealed by the world’s Redeemer are for those who search for truth as for hid treasures. Daniel was an aged man. His life had been passed amid the fascinations of a heathen court, his mind cumbered with the affairs of a great empire; yet he turns aside from all these to afflict his soul before God, and seek a knowledge of the purposes of the Most High. And in response to his supplications, light from the heavenly courts was communicated for those who should live in the latter days. With what earnestness, then, should we seek God, that he may open our understanding to comprehend the truths brought to us from Heaven.

Những lẽ thật vĩ đại được Đấng Cứu Chuộc của thế gian bày tỏ là dành cho những ai tìm kiếm lẽ thật như tìm kho báu ẩn giấu. Đa-ni-ên lúc ấy đã là một người cao tuổi. Cuộc đời ông đã trôi qua giữa những quyến rũ của một triều đình ngoại giáo, tâm trí ông bận bịu với các công việc của một đế quốc lớn; vậy mà ông gạt bỏ tất cả để hãm mình trước mặt Đức Chúa Trời và tìm cầu sự hiểu biết về ý định của Đấng Tối Cao. Và, đáp lại những lời khẩn nguyện của ông, ánh sáng từ triều đình thiên thượng đã được ban xuống cho những người sẽ sống trong những ngày sau rốt. Vậy thì, chúng ta phải sốt sắng tìm kiếm Đức Chúa Trời biết chừng nào, để Ngài mở trí chúng ta hầu hiểu thấu những lẽ thật được đem đến cho chúng ta từ Trời.

“‘And I Daniel alone saw the vision; for the men that were with me saw not the vision; but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves…. And there remained no strength in me; for my comeliness was turned in me into corruption, and I retained no strength.’ Such will be the experience of every one who is truly sanctified. The clearer their views of the greatness, glory, and perfection of Christ, the more vividly will they see their own weakness and imperfection. They will have no disposition to claim a sinless character; that which has appeared right and comely in themselves will, in contrast with Christ’s purity and glory, appear only as unworthy and corruptible. It is when men are separated from God, when they have very indistinct views of Christ, that they say, ‘I am sinless; I am sanctified.’

“Và chỉ một mình tôi, Đa-ni-ên, thấy khải tượng; vì những người ở cùng tôi không thấy khải tượng; nhưng một nỗi rúng động lớn ập đến trên họ, đến nỗi họ chạy trốn để ẩn mình.... Và chẳng còn sức lực nào ở trong tôi; vì vẻ đẹp nơi tôi đã biến thành sự hư nát, và tôi chẳng còn chút sức lực nào.” Kinh nghiệm của mọi người thật sự được nên thánh cũng sẽ như vậy. Càng thấy rõ sự vĩ đại, vinh quang và trọn vẹn của Đấng Christ, họ càng thấy rõ hơn sự yếu đuối và thiếu sót của chính mình. Họ sẽ không có khuynh hướng tự nhận mình vô tội; những điều từng có vẻ đúng đắn và đẹp đẽ nơi họ, khi đặt bên sự tinh sạch và vinh quang của Đấng Christ, sẽ chỉ hiện ra là không xứng đáng và hư hoại. Chính khi người ta bị tách khỏi Đức Chúa Trời, khi cái nhìn về Đấng Christ rất mơ hồ, họ mới nói: “Tôi vô tội; tôi đã được nên thánh.”

“Gabriel then appeared to the prophet, and thus addressed him; ‘O Daniel, a man greatly beloved, understand the words that I speak unto thee, and stand upright; for unto thee am I now sent. And when he had spoken this word unto me, I stood trembling. Then said he unto me, Fear not, Daniel; for from the first day that thou didst set thine heart to understand, and to chasten thyself before thy God, thy words were heard, and I am come for thy words.’

Bấy giờ Gabriel hiện ra với nhà tiên tri và phán với ông rằng: “Hỡi Đa-ni-ên, người rất được yêu mến, hãy hiểu những lời ta nói với ngươi, và hãy đứng thẳng; vì nay ta được sai đến cùng ngươi.” Khi ngài nói lời này với tôi, tôi đứng mà run rẩy. Bấy giờ ngài bảo tôi: “Đừng sợ, Đa-ni-ên; vì từ ngày đầu tiên ngươi để lòng tìm sự hiểu biết và tự hạ mình trước Đức Chúa Trời của ngươi, lời của ngươi đã được nghe, và vì lời của ngươi mà ta đến.”

“What great honor was shown to Daniel by the Majesty of Heaven! He comforts his trembling servant, and assures him that his prayer was heard in Heaven, and that in answer to that fervent petition, the angel Gabriel was sent to affect the heart of the Persian king. The monarch had resisted the impressions of the Spirit of God during the three weeks while Daniel was fasting and praying, but Heaven’s Prince, the archangel, Michael, was sent to turn the heart of the stubborn king to take some decided action to answer the prayer of Daniel.

Thật là vinh dự lớn lao mà Đấng Uy Nghi của Thiên đàng đã ban cho Đa-ni-ên! Ngài an ủi người tôi tớ đang run rẩy của mình và quả quyết với ông rằng lời cầu nguyện của ông đã được nghe trên Thiên đàng, và rằng để đáp lại lời khẩn nguyện nồng nhiệt ấy, thiên sứ Gáp-ri-ên đã được sai đến để đánh động lòng của vua Ba Tư. Vị quân vương ấy đã kháng cự những tác động của Thánh Linh Đức Chúa Trời suốt ba tuần lễ khi Đa-ni-ên kiêng ăn và cầu nguyện, nhưng Vị Thủ Lãnh của Thiên đàng, tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-ên, đã được sai đến để chuyển hướng lòng của vị vua cứng lòng, khiến ông có hành động dứt khoát nhằm đáp lại lời cầu nguyện của Đa-ni-ên.

“‘And when he had spoken such words unto me, I set my face toward the ground, and I became dumb. And behold, one like the similitude of the sons of men touched my lips…. And said, O man greatly beloved, fear not: peace be unto thee; be strong, yea, be strong. And when he had spoken unto me, I was strengthened, and said, Let my lord speak; for thou hast strengthened me.’ So great was the divine glory revealed to Daniel that he could not endure the sight. Then the messenger of Heaven veiled the brightness of his presence and appeared to the prophet as ‘one like the similitude of the sons of men.’ By his divine power he strengthened this man of integrity and of faith, to hear the message sent to him from God.

'Và khi người đã nói những lời như thế với tôi, tôi cúi mặt xuống đất, và tôi trở nên câm lặng. Và kìa, một đấng giống như hình dạng con cái loài người chạm vào môi tôi.... Và nói: Hỡi người rất được yêu dấu, đừng sợ: bình an ở cùng ngươi; hãy vững mạnh, phải, hãy vững mạnh. Và khi người đã nói với tôi, tôi được thêm sức, và nói: Xin chúa của tôi phán; vì ngài đã thêm sức cho tôi.' Vinh quang thiêng liêng tỏ ra cho Daniel lớn lao đến nỗi ông không thể chịu nổi cảnh tượng ấy. Bấy giờ thiên sứ che khuất sự rực rỡ của sự hiện diện mình và hiện ra với nhà tiên tri như 'một đấng giống như hình dạng con cái loài người.' Bằng quyền năng thiêng liêng của mình, vị ấy đã thêm sức cho người này, một người liêm chính và có đức tin, để nghe sứ điệp được Đức Chúa Trời sai đến cho ông.

“Daniel was a devoted servant of the Most High. His long life was filled up with noble deeds of service for his Master. His purity of character, and unwavering fidelity, are equaled only by his humility of heart and his contrition before God. We repeat, The life of Daniel is an inspired illustration of true sanctification.” Review and Herald, February 8, 1881.

"Đa-ni-ên là một đầy tớ tận tụy của Đấng Chí Cao. Cuộc đời dài lâu của ông chan chứa những việc làm cao quý phục vụ Chủ của ông. Sự trong sạch trong nhân cách và lòng trung tín không lay chuyển của ông chỉ có thể sánh với sự khiêm nhu trong tấm lòng và lòng thống hối trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng tôi xin nhắc lại: Đời sống của Đa-ni-ên là một minh họa linh hứng về sự nên thánh chân chính." Review and Herald, ngày 8 tháng 2, 1881.

Daniel’s experience in chapter ten, represents God’s people in the last days, who as Daniel and John, understand the Revelation of Jesus Christ. The key to placing Daniel into the prophetic history where his experience is located is based upon the fact that he was in mourning, and that Michael was sent at the conclusion of the twenty-one days. In the first verse, Daniel records that he had understanding of both the internal and external visions of prophecy. Prior to the twenty-one days Daniel had an incomplete understanding of the two visions, but with the interpretation of Gabriel, Daniel fully grasps the “thing” and the “vision” as different revelations.

Kinh nghiệm của Đa-ni-ên trong chương mười đại diện cho dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, những người, như Đa-ni-ên và Giăng, hiểu Khải Huyền của Chúa Giê-su Christ. Chìa khóa để đặt Đa-ni-ên vào lịch sử tiên tri nơi kinh nghiệm của ông diễn ra dựa trên thực tế rằng ông đang than khóc, và rằng Mi-ca-ên đã được sai đến vào lúc kết thúc hai mươi mốt ngày. Trong câu thứ nhất, Đa-ni-ên ghi lại rằng ông hiểu cả những khải tượng nội tại và ngoại tại của lời tiên tri. Trước hai mươi mốt ngày ấy, Đa-ni-ên chỉ hiểu chưa trọn vẹn về hai điều đó, nhưng nhờ sự giải thích của Ga-bri-ên, Đa-ni-ên nắm bắt trọn vẹn “sự việc” và “khải tượng” như những mặc khải khác nhau.

“As the time approached for the close of the seventy years’ captivity, Daniel’s mind became greatly exercised upon the prophecies of Jeremiah. He saw that the time was at hand when God would give his chosen people another trial; and with fasting, humiliation, and prayer, he importuned the God of Heaven in behalf of Israel, in these words: ‘O Lord, the great and dreadful God, keeping the covenant and mercy to them that love him, and to them that keep his commandments’; we have sinned, and have committed iniquity, and have done wickedly, and have rebelled, even by departing from thy precepts and from thy judgments; neither have we hearkened unto thy servants the prophets, which spake in thy name to our kings, our princes, and our fathers, and to all the people of the land.’

Khi thời điểm kết thúc bảy mươi năm lưu đày đến gần, tâm trí của Đa-ni-ên trở nên hết sức trăn trở về các lời tiên tri của Giê-rê-mi. Ông thấy rằng thời khắc đã gần khi Đức Chúa Trời sẽ cho dân được chọn của Ngài một sự thử thách nữa; và với sự ăn chay, tự hạ mình và cầu nguyện, ông khẩn nài Đức Chúa Trời trên trời thay cho Y-sơ-ra-ên, với những lời này: "Lạy Chúa, Đức Chúa Trời vĩ đại và đáng sợ, Đấng giữ giao ước và tỏ lòng thương xót với những ai yêu mến Ngài và giữ các điều răn của Ngài; chúng con đã phạm tội, đã làm điều gian ác, đã làm điều dữ, và đã phản loạn, lìa bỏ các điều răn và các phán quyết của Ngài; chúng con cũng không nghe lời các đầy tớ Ngài là các tiên tri, những người đã nói nhân danh Ngài với các vua chúng con, các quan trưởng chúng con, các tổ phụ chúng con, và với toàn dân trong xứ."

Notice these words. Daniel does not proclaim his own fidelity before the Lord. Instead of claiming to be pure and holy, he identifies himself with the really sinful of Israel. The wisdom which God imparted to him was as far superior to the wisdom of the wise men of the world as the light of the sun shining in the heavens at noonday is brighter than the feeblest star. Yet ponder the prayer from the lips of this man so highly favored of Heaven. With deep humiliation, with tears, and with rending of heart, he pleads for himself and for his people. He lays his soul open before God, confessing his own vileness, and acknowledging the Lord’s greatness and majesty.

Hãy để ý những lời này. Daniel không tự xưng sự trung tín của mình trước mặt Chúa. Thay vì tự nhận mình là trong sạch và thánh khiết, ông tự đặt mình cùng hàng với những người thật sự tội lỗi trong dân Israel. Sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời ban cho ông vượt xa sự khôn ngoan của các bậc khôn ngoan trên thế gian, như ánh sáng mặt trời chiếu giữa trời vào buổi trưa rực rỡ hơn ngôi sao yếu ớt nhất. Thế nhưng, hãy suy ngẫm lời cầu nguyện thốt ra từ môi miệng của người này, người được Thiên đàng ưu ái cách đặc biệt. Với sự tự hạ sâu xa, với nước mắt và lòng tan vỡ, ông khẩn nài cho chính mình và cho dân mình. Ông giãi bày linh hồn mình trước mặt Đức Chúa Trời, xưng nhận sự hèn hạ của chính mình và thừa nhận sự vĩ đại cùng uy nghi của Chúa.

“What earnestness and fervor characterize his supplications! He is coming nearer and nearer to God. The hand of faith is reached upward to grasp the never-failing promises of the Most High. His soul is wrestling in agony. And he has the evidence that his prayer is heard. He feels that victory is his. If we as a people would pray as Daniel prayed, and wrestle as he wrestled, humbling our souls before God, we should realize as marked answers to our petitions as were granted to Daniel. Hear how he presses his case at the court of Heaven:

Những lời khẩn nguyện của ông thấm đượm sự tha thiết và sốt sắng! Ông mỗi lúc một đến gần Đức Chúa Trời hơn. Bàn tay đức tin vươn lên để nắm lấy những lời hứa chẳng bao giờ thất bại của Đấng Tối Cao. Linh hồn ông đang vật lộn trong đau đớn. Và ông có bằng chứng rằng lời cầu nguyện của mình đã được lắng nghe. Ông cảm thấy rằng chiến thắng thuộc về mình. Nếu chúng ta, với tư cách là một dân, cầu nguyện như Đa-ni-ên đã cầu nguyện, và tranh chiến như ông đã tranh chiến, khiêm nhường hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ nhận được những câu trả lời rõ rệt cho những lời thỉnh cầu của mình như đã được ban cho Đa-ni-ên. Hãy nghe ông trình bày thỉnh nguyện của mình tại tòa án trên trời như thế nào:

“‘O my God, incline thine ear, and hear; open thine eyes, and behold our desolations, and the city which is called by thy name; for we do not present our supplications before thee for our righteousnesses, but for thy great mercies. O Lord, hear; O Lord, forgive; O Lord, hearken and do; defer not, for thine own sake, O my God; for thy city and thy people are called by thy name. And whilst I was speaking and praying, and confessing my sin and the sin of my people, … even the man Gabriel, whom I had seen in the vision at the beginning, being caused to fly swiftly, touched me about the time of the evening oblation.’

Lạy Đức Chúa Trời của con, xin nghiêng tai và nghe; xin mở mắt và nhìn xem những cảnh hoang tàn của chúng con, và thành phố được gọi theo danh Ngài; vì không phải vì sự công bình của chúng con mà chúng con trình dâng các lời nài xin trước mặt Ngài, nhưng vì những sự thương xót lớn lao của Ngài. Lạy Chúa, xin nghe; lạy Chúa, xin tha thứ; lạy Chúa, xin lắng nghe và hành động; xin đừng trì hoãn, vì cớ chính Ngài, lạy Đức Chúa Trời của con; vì thành của Ngài và dân Ngài đều được gọi theo danh Ngài. Và trong khi tôi đang nói và cầu nguyện, xưng nhận tội lỗi của tôi và tội lỗi của dân tôi, ... thì người Gabriel, người mà tôi đã thấy trong khải tượng lúc ban đầu, được khiến bay cách mau lẹ, đã chạm đến tôi vào khoảng thì giờ dâng lễ chiều.

“As Daniel’s prayer is going forth, the angel Gabriel comes sweeping down from the heavenly courts, to tell him that his petitions are heard and answered. This mighty angel has been commissioned to give him skill and understanding,—to open before him the mysteries of future ages. Thus, while earnestly seeking to know and understand the truth, Daniel was brought into communion with Heaven’s delegated messenger.

Khi lời cầu nguyện của Đa-ni-ên đang dâng lên, thiên sứ Gáp-ri-ên từ các triều đình thiên thượng lướt xuống, báo cho ông biết rằng những lời thỉnh cầu của ông đã được lắng nghe và đáp lại. Thiên sứ quyền năng này được ủy phái để ban cho ông sự khôn ngoan và hiểu biết—để mở ra trước mắt ông những mầu nhiệm của các thời đại tương lai. Vậy nên, trong khi hết lòng tìm biết và hiểu lẽ thật, Đa-ni-ên đã được đưa vào sự hiệp thông với sứ giả được Thiên đàng ủy nhiệm.

“The man of God was praying, not for a flight of happy feeling, but for a knowledge of the divine will. And he desired this knowledge, not merely for himself, but for his people. His great burden was for Israel, who were not, in the strictest sense, keeping the law of God. He acknowledges that all their misfortunes have come upon them in consequence of their transgressions of that holy law. He says, ‘We have sinned, we have done wickedly…. Because for our sins and for the iniquities of our fathers, Jerusalem and thy people are become a reproach to all that are about us.’ They had lost their peculiar, holy character as God’s chosen people. ‘Now therefore, O our God, hear the prayer of thy servant, and his supplications, and cause thy face to shine upon thy sanctuary that is desolate.’ Daniel’s heart turns with intense longing to the desolate sanctuary of God. He knows that its prosperity can be restored only as Israel shall repent of their transgressions of God’s law, and become humble, and faithful, and obedient.

Người của Đức Chúa Trời đang cầu nguyện, không phải để tìm một cảm xúc hân hoan thoáng qua, mà để được biết ý muốn của Đức Chúa Trời. Và ông mong ước sự hiểu biết này, không chỉ cho riêng mình, mà còn cho dân mình. Gánh nặng lớn nhất trong lòng ông là cho Israel, những người, theo nghĩa nghiêm ngặt nhất, đã không giữ luật pháp của Đức Chúa Trời. Ông thừa nhận rằng mọi tai họa đã giáng trên họ đều là hậu quả của việc họ vi phạm luật pháp thánh ấy. Ông nói: "Chúng con đã phạm tội, chúng con đã làm điều gian ác... Vì tội lỗi của chúng con và vì sự gian ác của tổ phụ chúng con, Jerusalem và dân của Ngài đã trở nên sự sỉ nhục đối với mọi kẻ chung quanh chúng con." Họ đã đánh mất đặc tính riêng biệt và thánh khiết của dân được Đức Chúa Trời chọn lựa. "Vậy bây giờ, lạy Đức Chúa Trời của chúng con, xin lắng nghe lời cầu nguyện của tôi tớ Ngài cùng những lời nài xin của tôi tớ Ngài, và khiến mặt Ngài chiếu sáng trên đền thánh hoang tàn của Ngài." Tấm lòng của Daniel hướng về đền thánh hoang tàn của Đức Chúa Trời với nỗi khao khát mãnh liệt. Ông biết rằng sự hưng thịnh của nó chỉ có thể được phục hồi khi Israel ăn năn về những sự vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, và trở nên khiêm nhường, trung tín và vâng phục.

“In answer to his petition, Daniel received not only the light and truth which he and his people most needed, but a view of the great events of the future, even to the advent of the world’s Redeemer. Those who claim to be sanctified, while they have no desire to search the Scriptures, or to wrestle with God in prayer for a clearer understanding of Bible truth, know not what true sanctification is.

Đáp lời khẩn nguyện của ông, Đa-ni-ên không những nhận được ánh sáng và lẽ thật mà ông cùng dân sự mình cần nhất, mà còn được ban cho một khải tượng về những biến cố trọng đại của tương lai, thậm chí đến sự giáng lâm của Đấng Cứu Chuộc thế gian. Những ai tự xưng là đã được thánh hóa, trong khi không hề ao ước tra cứu Kinh Thánh, hoặc vật lộn với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện để hiểu biết rõ ràng hơn về lẽ thật Kinh Thánh, thì chẳng biết sự thánh hóa thật là gì.

“All who believe with the heart the word of God will hunger and thirst for a knowledge of his will. God is the author of truth. He enlightens the darkened understanding, and gives to the human mind power to grasp and comprehend the truths which he has revealed.

Tất cả những ai tin lời Đức Chúa Trời trong lòng sẽ đói khát sự hiểu biết về ý muốn của Ngài. Đức Chúa Trời là tác giả của lẽ thật. Ngài soi sáng sự hiểu biết u tối và ban cho tâm trí con người năng lực để nắm bắt và thấu hiểu những lẽ thật mà Ngài đã bày tỏ.

“Daniel talked with God. Heaven was opened before him. But the high honors granted him were the result of humiliation and earnest seeking. He did not think, as do many at the present day, that it is no matter what we believe, if we are only honest, and love Jesus. True love for Jesus will lead to the most close and earnest inquiry as to what is truth. Christ prayed that his disciples might be sanctified through the truth. He who is too indolent to make anxious, prayerful search for truth, will be left to receive errors which shall prove the ruin of his soul.

Đa-ni-ên đã trò chuyện với Đức Chúa Trời. Thiên đàng mở ra trước mắt ông. Nhưng những vinh dự cao cả dành cho ông là kết quả của sự hạ mình và tìm kiếm sốt sắng. Ông không nghĩ, như nhiều người ngày nay, rằng tin điều gì cũng được, miễn là chúng ta chân thành và yêu mến Chúa Giê-su. Tình yêu chân thật đối với Chúa Giê-su sẽ dẫn đến sự tra xét kỹ lưỡng và tha thiết nhất về lẽ thật là gì. Đấng Christ đã cầu nguyện để các môn đồ của Ngài được thánh hóa bởi lẽ thật. Ai quá biếng nhác, không chịu tìm kiếm lẽ thật cách thao thức và cầu nguyện, sẽ bị để mặc tiếp nhận những sai lầm, là những điều rồi sẽ đưa linh hồn mình đến chỗ hư mất.

At the time of Gabriel’s visit, the prophet Daniel was unable to receive further instruction; but a few years afterward, desiring to know more of subjects not yet fully explained, he again set himself to seek light and wisdom from God. ‘In those days I Daniel was mourning three full weeks. I ate no pleasant bread, neither came flesh nor wine in my mouth, neither did I anoint myself at all…. Then I lifted up mine eyes, and looked, and behold a certain man clothed in linen whose loins were girded with fine gold of Uphaz. His body also was like the beryl, and his face as the appearance of lightning, and his eyes as lamps of fire, and his arms and his feet like in color to polished brass, and the voice of his words like the voice of a multitude.’

Khi thiên sứ Ga-bri-ên đến thăm, nhà tiên tri Đa-ni-ên chưa thể nhận thêm sự chỉ dạy; nhưng vài năm sau, khao khát biết thêm về những điều vẫn chưa được giải thích trọn vẹn, ông lại dốc lòng tìm kiếm ánh sáng và sự khôn ngoan từ Đức Chúa Trời. "Trong những ngày ấy, tôi, Đa-ni-ên, chịu tang suốt ba tuần lễ trọn. Tôi không ăn bánh ngon, thịt và rượu chẳng vào miệng tôi, cũng không xức dầu gì cả.... Bấy giờ tôi ngước mắt lên, nhìn xem, kìa có một người mặc vải gai, lưng thắt đai bằng vàng ròng của U-pha. Thân thể người cũng như bích ngọc, mặt người như ánh chớp, mắt người như đèn lửa, tay và chân người có màu như đồng đánh bóng, và tiếng nói của người như tiếng của một đoàn dân đông đảo."

“No less a personage than the Son of God appeared to Daniel. This description is similar to that given by John when Christ was revealed to him upon the Isle of Patmos. Our Lord now comes with another heavenly messenger to teach Daniel what would take place in the latter days. This knowledge was given to Daniel and recorded by inspiration for us upon whom the ends of the world are come.” Review and Herald, February 8, 1881.

“Không ai khác hơn là Con Đức Chúa Trời đã hiện ra với Đa-ni-ên. Sự mô tả này tương tự như điều Giăng đã thuật lại khi Đấng Christ được tỏ ra cho ông trên đảo Pat-mô. Chúa chúng ta nay đến cùng với một vị thiên sứ khác để dạy Đa-ni-ên biết điều gì sẽ xảy ra trong những ngày sau rốt. Sự hiểu biết này đã được ban cho Đa-ni-ên và được ghi lại bởi sự cảm thúc để dành cho chúng ta, là những người mà sự tận cùng của thế gian đã đến.” Review and Herald, ngày 8 tháng 2, 1881.

The interpretation that Gabriel, “heaven’s delegated messenger,” was bringing to Daniel was the completion of the interpretation he had begun to provide to Daniel in chapter nine. The methodology of “line upon line,” requires that we align the interpretation and associated circumstances of both chapters nine and ten, together in order to rightly divide the prophetic illustration. It is in this interpretation that the visions of the Ulai and Hiddekel rivers join.

Lời giải thích mà Gabriel, “sứ giả được trời sai phái,” đem đến cho Đa-ni-ên là sự hoàn tất lời giải thích mà ông đã bắt đầu trình bày cho Đa-ni-ên trong chương chín. Phương pháp “dòng này tiếp dòng kia” đòi hỏi chúng ta phải đặt song song lời giải thích và các hoàn cảnh liên hệ của cả chương chín lẫn chương mười, để phân định đúng đắn minh họa tiên tri. Chính trong lời giải thích này mà các khải tượng về các sông Ulai và Hiddekel gặp nhau.

Daniel had understood from the books of Jeremiah and Moses that the deliverance of God’s people was at hand. In so doing, Daniel represents God’s people of the last days that understand that the final deliverance of God’s people is at hand. Those last-day people will recognize that they have been spiritually scattered, as represented by Daniel who had been scattered into the slavery of the seventy years captivity in Babylon. They will then understand that they, as Daniel, must manifest the response to their scattered condition that agrees with the remedy represented by the “seven times,” of Leviticus chapter twenty-six.

Đa-ni-ên đã hiểu từ các sách của Giê-rê-mi và Môi-se rằng sự giải cứu của dân Đức Chúa Trời đã gần kề. Khi làm như vậy, Đa-ni-ên đại diện cho dân của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, những người hiểu rằng sự giải cứu cuối cùng của dân Đức Chúa Trời đã gần kề. Những người trong những ngày sau rốt ấy sẽ nhận ra rằng họ đã bị tản lạc về mặt thuộc linh, điều này được tượng trưng nơi Đa-ni-ên, người đã bị tản lạc vào cảnh nô lệ của bảy mươi năm lưu đày tại Ba-by-lôn. Bấy giờ họ sẽ hiểu rằng họ, cũng như Đa-ni-ên, phải có một sự đáp ứng đối với tình trạng bị tản lạc của mình sao cho phù hợp với giải pháp được tượng trưng bởi “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu.

When the experience of humility represented by Daniel, that is demanded by the remedy set forth in Leviticus twenty-six, is manifested in the last days, God’s last-day people will have been mourning for a specific period of time. That period of time concludes when Michael the archangel descends.

Khi kinh nghiệm khiêm nhường theo mẫu mực của Đa-ni-ên—điều mà biện pháp chữa trị được nêu trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu đòi hỏi—được bày tỏ trong thời kỳ sau rốt, thì dân sự ngày sau rốt của Đức Chúa Trời đã than khóc trong một khoảng thời gian nhất định. Khoảng thời gian ấy chấm dứt khi tổng thiên sứ Mi-ca-ên giáng xuống.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

And ye shall perish among the heathen, and the land of your enemies shall eat you up. And they that are left of you shall pine away in their iniquity in your enemies’ lands; and also in the iniquities of their fathers shall they pine away with them. If they shall confess their iniquity, and the iniquity of their fathers, with their trespass which they trespassed against me, and that also they have walked contrary unto me; And that I also have walked contrary unto them, and have brought them into the land of their enemies; if then their uncircumcised hearts be humbled, and they then accept of the punishment of their iniquity: Then will I remember my covenant with Jacob, and also my covenant with Isaac, and also my covenant with Abraham will I remember; and I will remember the land. The land also shall be left of them, and shall enjoy her sabbaths, while she lieth desolate without them: and they shall accept of the punishment of their iniquity: because, even because they despised my judgments, and because their soul abhorred my statutes. And yet for all that, when they be in the land of their enemies, I will not cast them away, neither will I abhor them, to destroy them utterly, and to break my covenant with them: for I am the Lord their God. But I will for their sakes remember the covenant of their ancestors, whom I brought forth out of the land of Egypt in the sight of the heathen, that I might be their God: I am the Lord. Leviticus 26:38–45.

Các ngươi sẽ bị diệt giữa các dân ngoại, và đất của kẻ thù các ngươi sẽ nuốt lấy các ngươi. Những kẻ còn sót lại trong các ngươi sẽ hao mòn vì tội ác mình trong các xứ của kẻ thù các ngươi; và họ cũng sẽ hao mòn vì những tội ác của tổ phụ họ. Nếu họ xưng nhận tội ác của mình, và tội ác của tổ phụ họ, cùng với sự vi phạm mà họ đã phạm nghịch cùng Ta, và rằng họ cũng đã bước đi trái nghịch với Ta; và rằng Ta cũng đã đối nghịch cùng họ, và đã đưa họ vào đất của kẻ thù họ; nếu bấy giờ lòng chưa cắt bì của họ được khiêm hạ, và họ chấp nhận hình phạt vì tội ác mình: thì Ta sẽ nhớ đến giao ước của Ta với Gia-cốp, và cũng nhớ đến giao ước của Ta với Y-sác, và cũng sẽ nhớ đến giao ước của Ta với Áp-ra-ham; và Ta sẽ nhớ đến đất. Đất cũng sẽ bị họ bỏ lại và sẽ hưởng các kỳ Sa-bát của nó, trong khi nó nằm hoang vắng không có họ; và họ sẽ chấp nhận hình phạt vì tội ác mình, bởi vì, thật vậy, họ đã khinh dể các phán quyết của Ta, và linh hồn họ ghê tởm các điều lệ của Ta. Dù vậy, khi họ ở trong đất của kẻ thù mình, Ta sẽ không bỏ họ, cũng không ghê tởm họ đến nỗi diệt họ hoàn toàn và bẻ gãy giao ước của Ta với họ; vì Ta là Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Nhưng vì cớ họ, Ta sẽ nhớ đến giao ước của tổ phụ họ, những người Ta đã đem ra khỏi đất Ai Cập trước mắt các dân ngoại, để Ta làm Đức Chúa Trời của họ: Ta là Đức Giê-hô-va. Lê-vi Ký 26:38-45.