Verses thirteen and fourteen, identify a history where Seleucus and Philip of Macedon were forming an alliance, and they typify the United States, which is the first proxy army of Rome, and Macedon (Greece) is a symbol of the United Nations. In that early history, an alliance of the king of the north (Seleucus) and Philip (Greece), represents the history that leads into the Battle of Panium, which, two centuries later, had the name of the town changed from Panium, into the town of Caesarea Philippi. The twofold name of the town was not commemorating the alliance of Seleucus and Philip of Macedon.

Các câu mười ba và mười bốn nêu ra một giai đoạn lịch sử khi Seleucus và Philip xứ Macedonia đang hình thành một liên minh, và họ tiêu biểu cho Hoa Kỳ, là đội quân ủy nhiệm đầu tiên của La Mã; còn Macedon (Hy Lạp) là biểu tượng của Liên Hợp Quốc. Trong giai đoạn lịch sử sớm đó, một liên minh giữa vua phương bắc (Seleucus) và Philip (Hy Lạp) đại diện cho lịch sử dẫn tới Trận Panium; rồi hai thế kỷ sau, tên của thị trấn đã được đổi từ Panium thành Caesarea Philippi. Tên kép của thị trấn không phải để tưởng niệm liên minh giữa Seleucus và Philip xứ Macedonia.

The name “Caesarea Philippi” derives from the historical transformation of the ancient city known as Paneas or Panium. The city was originally named Paneas due to its proximity to a prominent spring dedicated to the Greek god Pan. The spring, which was a significant religious site in antiquity, fed into the Jordan River.

Tên "Caesarea Philippi" bắt nguồn từ sự chuyển đổi lịch sử của thành phố cổ xưa được gọi là Paneas hoặc Panium. Thành phố ban đầu được đặt tên là Paneas vì nằm gần một con suối nổi tiếng dành để thờ thần Pan của Hy Lạp. Con suối này, vốn là một địa điểm tôn giáo quan trọng thời cổ đại, đổ vào sông Jordan.

During the reign of King Herod the Great, around the 1st century BC, the city underwent significant renovations and was expanded and beautified. Caesarea Philippi was named by Herod Philip, a son of Herod the Great. He named the city Caesarea in honor of the Roman Emperor Caesar Augustus, and Philippi after himself, thus Caesarea Philippi. Therefore, “Caesarea Philippi” is a combination of “Caesarea,” reflecting Herod’s homage to Caesar Augustus, and ‘Philippi,’ honoring Herod Philip.

Trong thời trị vì của Vua Herod Cả, vào khoảng thế kỷ 1 trước Công nguyên, thành phố đã trải qua những cuộc trùng tu đáng kể và được mở rộng, tô điểm. Caesarea Philippi được đặt tên bởi Herod Philip, một người con của Herod Cả. Ông đặt tên thành phố là Caesarea để vinh danh Hoàng đế La Mã Caesar Augustus, và Philippi theo tên chính mình, nên thành Caesarea Philippi. Vì vậy, “Caesarea Philippi” là sự kết hợp của “Caesarea,” phản ánh sự tôn kính của Herod đối với Caesar Augustus, và “Philippi,” nhằm vinh danh Herod Philip.

Prophetically Panium is associated with a confederacy between Seleucus and Philip of Macedon, and also the alliance between Caesar and Herod Philip. Those two alliances address the alliance between the United States and the United Nations that follows the collapse of Putin’s Russia as represented by Seleucus and Philip. They also represent the alliance between the Papacy, who is the mother, and the United States, who is the daughter, as represented by Caesar and Philip, who were both representatives of Rome. Together they identify the United States reaching “across the gulf to grasp the hand of the Roman power,” and reaching “over the abyss to clasp hands with Spiritualism.” Before the Sunday law of verse sixteen, the threefold union is already put in place.

Về phương diện tiên tri, Panium gắn liền với một liên minh giữa Seleucus và Philip xứ Macedonia, và cũng với liên minh giữa Caesar và Herod Philip. Hai liên minh đó đề cập đến liên minh giữa Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc diễn ra sau sự sụp đổ của nước Nga của Putin, được biểu trưng bởi Seleucus và Philip. Chúng cũng tượng trưng cho liên minh giữa Giáo hoàng quyền, là người mẹ, và Hoa Kỳ, là người con gái, như được tiêu biểu bởi Caesar và Philip, cả hai đều là đại diện của La Mã. Cùng nhau, chúng chỉ ra Hoa Kỳ vươn tay "băng qua vực ngăn cách để nắm lấy tay quyền lực La Mã," và vươn tay "qua vực thẳm để siết chặt tay với thuyết thông linh." Trước luật Chủ nhật ở câu mười sáu, liên minh ba bên đã được thiết lập.

Panium represents the center of Greek worship of the god Pan. The spring that was dedicated to the Greek god Pan, was also known at that time as the “Gates of Hell,” and when Jesus visited there, His statement about the “Gates of Hell,” identifies a struggle between the political and religious attributes of Greece (globalism), and apostate Protestantism that takes place in the last days. It is the battle that was first initiated by the rich President that stirred up the realm of Grecia in verse two. It is a worldwide external battle and also an internal battle with the United States.

Panium là trung tâm thờ phượng thần Pan của người Hy Lạp. Con suối được dâng hiến cho thần Pan của Hy Lạp khi ấy cũng được gọi là “Cổng Địa Ngục”, và khi Jesus đến đó, lời tuyên bố của Ngài về “Cổng Địa Ngục” xác định một cuộc đấu tranh giữa các thuộc tính chính trị và tôn giáo của Hy Lạp (chủ nghĩa toàn cầu) và phái Tin Lành bội đạo, diễn ra trong những ngày sau rốt. Đó là trận chiến lần đầu được khởi xướng bởi vị Tổng thống giàu có đã khuấy động vương quốc Hy Lạp trong câu hai. Đó là một cuộc chiến bên ngoài trên phạm vi toàn cầu và cũng là một cuộc chiến nội bộ trong Hoa Kỳ.

The religion of globalism, is the religion of the dragon, which in our modern setting is the religion of woke-ism. In 2020, the beast from the bottomless pit, identified in Revelation chapter eleven, manifested its political and religious power and slew both horns of the earth beast. That bottomless pit, among other things, is represented by the “Spring of Pan,” that fed the Jordan River.

Tôn giáo của chủ nghĩa toàn cầu là tôn giáo của con rồng, mà trong bối cảnh hiện đại của chúng ta là tôn giáo của chủ nghĩa "woke". Năm 2020, con thú từ vực thẳm, được nhắc đến trong Khải Huyền chương mười một, đã bộc lộ quyền lực chính trị và tôn giáo của nó và giết chết cả hai sừng của con thú từ đất. Cái vực thẳm ấy, ngoài những điều khác, được tượng trưng bởi "Suối Pan", đã cung cấp nước cho sông Jordan.

In Greek mythology, Pan was associated with nature, wilderness, and rustic music, and the presence of a spring dedicated to him held religious importance for worshippers. The god Pan is often depicted with the legs, horns, and ears of a goat. Pan was considered the god of shepherds and flocks, and was often portrayed as a playful and mischievous deity who frolicked in the forests and mountains. The imagery of Pan as a goat-legged deity agrees with Daniel chapter eight, where Greece is represented by a he-goat. Goats are a common domestic animal in ancient Greece, and were often found in mountainous regions where Pan was believed to roam. This depiction became a prominent feature of Pan’s iconography and persisted in Greek art and literature depicting the god, including the national currency.

Trong thần thoại Hy Lạp, Pan gắn liền với thiên nhiên, hoang dã và âm nhạc mục đồng, và sự hiện diện của một con suối được hiến dâng cho ông mang ý nghĩa tôn giáo đối với những người thờ phượng. Thần Pan thường được mô tả với đôi chân, cặp sừng và đôi tai của một con dê. Pan được coi là vị thần của những người chăn cừu và bầy cừu, và thường được khắc họa như một vị thần vui tươi, tinh nghịch, nô đùa trong rừng núi. Hình tượng Pan như một vị thần chân dê phù hợp với sách Daniel chương tám, nơi Hy Lạp được biểu trưng bằng một con dê đực. Dê là loài vật nuôi phổ biến ở Hy Lạp cổ đại và thường có mặt ở các vùng núi, nơi người ta tin rằng Pan hay dạo chơi. Cách khắc họa này trở thành một nét nổi bật trong hệ biểu tượng của Pan và tiếp tục xuất hiện trong nghệ thuật và văn học Hy Lạp mô tả vị thần, kể cả trên tiền tệ quốc gia.

When Jesus visited Caesarea Philippi, He identified that the “Gates of Hell” would not prevail against the Church. What Peter had stated in answer to Jesus’ question is understood in Christian history and tradition as the “Christian Confession.”

Khi Đức Chúa Giê-su đến thăm Caesarea Philippi, Ngài khẳng định rằng “cửa âm phủ” sẽ không thắng được Hội Thánh. Điều Phê-rô đã nói để đáp lại câu hỏi của Chúa Giê-su được hiểu, trong lịch sử và truyền thống Kitô giáo, là “Lời tuyên xưng Kitô giáo.”

When Jesus came into the coasts of Caesarea Philippi, he asked his disciples, saying, Whom do men say that I the Son of man am? And they said, Some say that thou art John the Baptist: some, Elias; and others, Jeremias, or one of the prophets. He saith unto them, But whom say ye that I am? And Simon Peter answered and said, Thou art the Christ, the Son of the living God. And Jesus answered and said unto him, Blessed art thou, Simon Barjona: for flesh and blood hath not revealed it unto thee, but my Father which is in heaven. And I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build my church; and the gates of hell shall not prevail against it. And I will give unto thee the keys of the kingdom of heaven: and whatsoever thou shalt bind on earth shall be bound in heaven: and whatsoever thou shalt loose on earth shall be loosed in heaven. Then charged he his disciples that they should tell no man that he was Jesus the Christ. Matthew 16:13–20.

Khi Chúa Giê-su đến miền Xê-sa-rê Phi-líp, Ngài hỏi các môn đồ rằng: Người ta nói Ta, Con Người, là ai? Họ thưa: Kẻ thì nói Thầy là Giăng Báp-tít; kẻ thì nói Ê-li; kẻ khác lại nói Giê-rê-mi, hoặc một trong các đấng tiên tri. Ngài phán cùng họ: Còn các ngươi, các ngươi nói Ta là ai? Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống. Chúa Giê-su đáp rằng: Hỡi Si-môn, con của Giô-na, ngươi có phước; vì chẳng phải thịt và huyết bày tỏ điều ấy cho ngươi, bèn là Cha Ta ở trên trời. Ta lại bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ; trên đá này Ta sẽ xây Hội Thánh Ta, và các cửa âm phủ chẳng thắng được. Ta sẽ trao cho ngươi các chìa khóa của Nước Thiên Đàng; điều gì ngươi cầm buộc ở dưới đất thì cũng sẽ được cầm buộc ở trên trời; điều gì ngươi tháo cởi ở dưới đất thì cũng sẽ được tháo cởi ở trên trời. Bấy giờ Ngài răn dặn các môn đồ đừng nói cho ai biết rằng Ngài là Chúa Giê-su, Đấng Christ. Ma-thi-ơ 16:13-20.

This passage is significant because it represents a pivotal moment in Jesus’ ministry and the development of Christian theology. Peter’s confession of Jesus as the Messiah, the Son of the living God, is seen as the foundation of Christian faith and the cornerstone upon which the Church is built. The phrase “on this rock I will build my church” is interpreted in Catholic tradition as a reference to Peter himself, whom Jesus identifies as the “rock” upon which the Church will be built. This interpretation serves as the basis for the papal primacy and authority in Catholic theology.

Đoạn văn này có ý nghĩa quan trọng vì nó đánh dấu một khoảnh khắc then chốt trong sứ vụ của Đức Giê-su và sự phát triển của thần học Kitô giáo. Lời tuyên xưng của Phê-rô rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, Con của Thiên Chúa hằng sống, được xem là nền tảng của đức tin Kitô giáo và là viên đá góc trên đó Hội Thánh được xây dựng. Cụm từ “Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” được truyền thống Công giáo hiểu như một ám chỉ đến chính Phê-rô, người mà Đức Giê-su xác định là “tảng đá” trên đó Hội Thánh sẽ được xây dựng. Cách giải thích này là cơ sở cho quyền tối thượng và thẩm quyền của giáo hoàng trong thần học Công giáo.

In Protestant theology, the “rock” is not understood to refer to Peter personally, but to Peter’s confession of faith in Jesus as the Messiah and the Son of God. In this view, the foundation of the Church is not Peter, but the confession that Jesus is the Christ and the Son of God. Regardless of theological interpretation, the Confession of Peter in Matthew 16:13–20 is considered a central and foundational passage in Christian belief, emphasizing the identity of Jesus as the Messiah and the Son of God, and affirming the mission and purpose of the Church.

Trong thần học Tin Lành, “tảng đá” không được hiểu là ám chỉ đích thân Phê-rô, mà là lời tuyên xưng đức tin của Phê-rô rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a và Con Thiên Chúa. Theo quan điểm này, nền tảng của Hội Thánh không phải là Phê-rô, mà là lời tuyên xưng rằng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a và Con Thiên Chúa. Bất kể cách diễn giải thần học nào, lời tuyên xưng của Phê-rô trong Ma-thi-ơ 16:13–20 được xem là một đoạn then chốt và nền tảng trong niềm tin Kitô giáo, nhấn mạnh căn tính của Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a và Con Thiên Chúa, đồng thời khẳng định sứ mệnh và mục đích của Hội Thánh.

In the previous article we presented a passage from The Desire of Ages, where Sister White identifies some of the issues associated with Christ’s visit to Caesarea Philippi. One of the points she notes is that Christ had taken the disciples away from the influence of the Jews for the purpose of setting forth the lessons of Caesarea Philippi.

Trong bài viết trước, chúng tôi đã giới thiệu một đoạn trích từ The Desire of Ages, trong đó Bà White chỉ ra một số vấn đề liên quan đến chuyến viếng thăm Caesarea Philippi của Đấng Christ. Một trong những điểm bà ghi nhận là Đấng Christ đã đưa các môn đồ ra khỏi ảnh hưởng của người Do Thái để trình bày những bài học tại Caesarea Philippi.

“Jesus and His disciples had now come into one of the towns about Caesarea Philippi. They were beyond the limits of Galilee, in a region where idolatry prevailed. Here the disciples were withdrawn from the controlling influence of Judaism, and brought into closer contact with the heathen worship. Around them were represented forms of superstition that existed in all parts of the world. Jesus desired that a view of these things might lead them to feel their responsibility to the heathen. During His stay in this region, He endeavored to withdraw from teaching the people, and to devote Himself more fully to His disciples.” The Desire of Ages, 411.

“Chúa Giê-su và các môn đồ của Ngài bấy giờ đã đến một trong những thị trấn quanh Caesarea Philippi. Họ đã ra ngoài ranh giới của Galilee, vào một vùng nơi việc thờ hình tượng thịnh hành. Tại đây, các môn đồ được tách khỏi ảnh hưởng chi phối của Do Thái giáo và được đưa vào sự tiếp xúc gần gũi hơn với sự thờ phượng của dân ngoại. Chung quanh họ là những hình thức mê tín dị đoan vốn tồn tại ở khắp mọi nơi trên thế giới. Chúa Giê-su mong rằng việc chứng kiến những điều này sẽ khiến họ cảm nhận trách nhiệm của mình đối với dân ngoại. Trong thời gian ở lại vùng này, Ngài cố gắng rút khỏi việc dạy dỗ dân chúng và dành trọn mình hơn cho các môn đồ.” Khát vọng của các thời đại, 411.

On July 18, 2020, Christ removed the disciples of September 11, 2001 from the influence of Laodicean Adventism. The first disappointment in the parable of the ten virgins produced a separation of the movement from the assembly of mockers that was in the process of being passed by. This truth was fulfilled in Millerite history on April 19, 1844, and again on July 18, 2020. The history of the tarrying time then began, and it possesses the signature of “Truth” in both the movement of the first and third angels.

Vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, Đấng Christ đã đưa các môn đồ của ngày 11 tháng 9 năm 2001 ra khỏi ảnh hưởng của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê. Sự thất vọng đầu tiên trong dụ ngôn mười trinh nữ đã tạo ra một sự tách biệt của phong trào khỏi hội chúng của những kẻ nhạo báng đang trong quá trình bị bỏ qua. Lẽ thật này đã được ứng nghiệm trong lịch sử phong trào Miller vào ngày 19 tháng 4 năm 1844, và một lần nữa vào ngày 18 tháng 7 năm 2020. Lịch sử của thời kỳ trì hoãn khi ấy bắt đầu, và nó mang dấu ấn của "Lẽ Thật" trong cả phong trào của thiên sứ thứ nhất và thứ ba.

The first disappointment is the first of three waymarks, and the history concludes with the Great Disappointment of October 22, 1844, that typifies the “great earthquake” of Revelation chapter eleven. The beginning, first letter of the Hebrew alphabet represents a disappointment, and the ending, twenty-second letter of the Hebrew alphabet also represents a disappointment. The thirteenth letter, representing rebellion, identifies the disappointment of the foolish virgins who manifest their lost condition when the call at Midnight identifies who has and who has not prepared for the crisis. The twenty-two letters of the Hebrew alphabet represent the symbol of the combination of divinity with humanity that is accomplished within that history, though the Millerite history represents the first Kadesh, and our history today represents the last Kadesh.

Sự thất vọng thứ nhất là mốc lộ trình đầu tiên trong ba mốc, và lịch sử kết thúc với Sự Thất Vọng Lớn vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, điều tiêu biểu cho “trận động đất lớn” trong Khải Huyền chương 11. Khởi đầu, chữ cái thứ nhất của bảng chữ cái Do Thái đại diện cho một sự thất vọng; và kết thúc, chữ cái thứ hai mươi hai của bảng chữ cái Do Thái cũng đại diện cho một sự thất vọng. Chữ cái thứ mười ba, tượng trưng cho sự phản loạn, chỉ ra sự thất vọng của những trinh nữ dại, những người bộc lộ tình trạng hư mất của mình khi tiếng kêu lúc Nửa Đêm cho thấy ai đã và ai chưa chuẩn bị cho cơn khủng hoảng. Hai mươi hai chữ cái của bảng chữ cái Do Thái tượng trưng cho sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính được hoàn thành trong lịch sử ấy, mặc dù lịch sử Millerite đại diện cho Kadesh thứ nhất, và lịch sử của chúng ta ngày nay đại diện cho Kadesh cuối cùng.

The two lines are parallel, but one represents the failure of God’s people and the other the victory of God’s people. Just before the cross, Jesus brought His disciples to Panium, just as He has brought His last-day disciples to Panium, and in doing so He allowed a disappointment to remove His last day disciples from the “controlling influence” of Laodicean Adventism, represented by “Judaism” in the history of Matthew chapter sixteen. In doing so, He also simultaneously brought His disciples into a closer contact with heathenism, thus representing the working environment of His last-day disciples who are now living in the full-blown manifestation of satanic power represented by the modern communication systems that are being employed to lead the entire world into receiving the mark of the beast.

Hai đường chạy song song, nhưng một đường đại diện cho sự thất bại của dân Đức Chúa Trời, còn đường kia đại diện cho sự chiến thắng của dân Đức Chúa Trời. Ngay trước khi lên thập tự giá, Chúa Giê-xu đã dẫn các môn đồ của Ngài đến Panium, cũng như Ngài đã dẫn các môn đồ trong những ngày sau rốt của Ngài đến Panium; và khi làm như vậy, Ngài đã để cho một sự thất vọng loại bỏ các môn đồ trong những ngày sau rốt của Ngài khỏi “ảnh hưởng chi phối” của Cơ Đốc Phục Lâm kiểu La-ô-đi-xê, điều được “Do Thái giáo” đại diện trong lịch sử Ma-thi-ơ đoạn mười sáu. Đồng thời, Ngài cũng đưa các môn đồ của Ngài vào sự tiếp xúc gần gũi hơn với ngoại giáo, qua đó mô tả môi trường làm việc của các môn đồ trong những ngày sau rốt của Ngài, là những người hiện đang sống giữa sự bộc lộ trọn vẹn của quyền lực Sa-tan, được đại diện bởi các hệ thống truyền thông hiện đại đang được sử dụng để dẫn dắt cả thế giới đến chỗ nhận lấy dấu của con thú.

The history of Caesarea Philippi aligns with the history of the Battle of Panium, and verses thirteen through fifteen. Christ and His disciples, were standing in the shadow of the cross, typifying His last-day disciples standing in the shadow of the Sunday law. There, in verses thirteen through fifteen, which was Caesarea Philippi, and also the Battle of Panium, which is where we stand today, Christ began to teach His disciples about what was about to happen in verse sixteen.

Lịch sử của Xê-sa-rê Phi-líp tương ứng với lịch sử của Trận Panium và với các câu 13 đến 15. Đấng Christ và các môn đồ của Ngài đang đứng dưới bóng thập tự giá, tiêu biểu cho các môn đồ của Ngài trong thời kỳ sau rốt đang đứng dưới bóng của đạo luật Chủ nhật. Tại đó, trong các câu 13 đến 15, tức là Xê-sa-rê Phi-líp, và cũng là Trận Panium, nơi chúng ta đang đứng ngày nay, Đấng Christ bắt đầu dạy các môn đồ Ngài về điều sắp xảy ra trong câu 16.

“He was about to tell them of the suffering that awaited Him. But first He went away alone, and prayed that their hearts might be prepared to receive His words.” The Desire of Ages, 411.

"Ngài sắp nói với họ về những đau khổ đang chờ đợi Ngài. Nhưng trước hết, Ngài lui ra một mình và cầu nguyện để lòng họ được chuẩn bị sẵn sàng tiếp nhận lời Ngài." Nguyện vọng của các thời đại, 411.

Before Christ told His disciples of the cross, He first went away, or He tarried, thus marking the tarrying time in the parable and the history from July 18, 2020 to July 2023.

Trước khi Đấng Christ nói với các môn đồ của Ngài về thập tự giá, Ngài trước hết rời đi, hay nói cách khác, Ngài nấn ná, từ đó đánh dấu thời kỳ chậm trễ trong dụ ngôn và trong lịch sử từ ngày 18 tháng 7 năm 2020 đến tháng 7 năm 2023.

“Upon joining them, He did not at once communicate that which He desired to impart. Before doing this, He gave them an opportunity of confessing their faith in Him that they might be strengthened for the coming trial.” The Desire of Ages, 411.

Khi đến cùng họ, Ngài không lập tức bày tỏ điều Ngài định truyền dạy. Trước khi làm như vậy, Ngài ban cho họ cơ hội xưng nhận đức tin nơi Ngài, để họ được thêm sức cho cơn thử thách sắp đến. Khát vọng của các thời đại, 411.

In July 2023, the Lord began to give opportunity for those involved with the disappointment, to express their faith. He did so by opening up the message of Ezekiel thirty-seven, which was a confirmation of the message of September 11, 2001. It was the thread that tied the sealing time from September 11, 2001 to the soon coming Sunday law together. It did so by placing the disappointment of July 18, 2020 in the structure of truth, for, those who were willing to see, could recognize that every reformatory movement has a theme that runs through their peculiar sacred history.

Vào tháng 7 năm 2023, Chúa bắt đầu ban cơ hội cho những người đã trải qua sự thất vọng được bày tỏ đức tin của họ. Ngài đã làm như vậy bằng cách mở ra thông điệp của Ê-xê-chi-ên đoạn 37, như một sự xác nhận cho thông điệp của ngày 11 tháng 9 năm 2001. Đó là sợi chỉ liên kết thời kỳ ấn chứng từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 với luật ngày Chủ nhật sắp đến. Điều này được thực hiện bằng cách đặt sự thất vọng ngày 18 tháng 7 năm 2020 vào trong cấu trúc của lẽ thật, để những ai sẵn lòng nhìn nhận có thể nhận ra rằng mỗi phong trào cải cách đều có một chủ đề xuyên suốt lịch sử thánh riêng biệt của mình.

In the last days the message of the third Woe arrived on September 11, 2001, then a false message of the third Woe was proclaimed that produced a disappointment, but the message that brought them back to life after three and a half days of being dead, dry and scattered bones was the message of the four winds, that is also the third Woe.

Trong những ngày sau rốt, sứ điệp về tai họa thứ ba đã đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001; rồi một sứ điệp giả về tai họa thứ ba đã được rao giảng, gây nên sự thất vọng; nhưng sứ điệp đã khiến họ sống lại sau ba ngày rưỡi chết, xương khô tản mác, chính là sứ điệp của bốn luồng gió, cũng chính là tai họa thứ ba.

The last-day disciples can see, if they choose to see, that the three waymarks of the sealing of the one hundred and forty-four thousand are the same theme at each step, and that at the second step, the rebellion represented by the thirteenth letter of the Hebrew alphabet confirmed the message as “Truth.” A second witness the Lord provided was in the fact that the first disappointment of prior reformatory movements was based upon rebellion against God’s revealed will, whether it was Moses not circumcising his son, or Uzzah touching that ark, or Martha and Mary doubting Jesus’ word concerning the death of Lazarus. The only reform line that did not uphold the fact that the first disappointment was based upon disobedience was the reform movement of the Millerites, but it was also shown at that time that the history of the Millerites possessed internal waymarks that were based upon the truth of the eighth, being of the seven.

Các môn đồ thời kỳ sau rốt có thể thấy, nếu họ muốn thấy, rằng ba dấu mốc của việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn ngàn đều có cùng một chủ đề ở mỗi bước, và rằng ở bước thứ hai, sự phản nghịch được biểu trưng bởi chữ cái thứ mười ba của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ đã xác nhận sứ điệp là “Lẽ Thật.” Một chứng cớ thứ hai Chúa ban là ở chỗ sự thất vọng đầu tiên của các phong trào cải chánh trước đó bắt nguồn từ sự phản nghịch chống lại ý muốn đã được Đức Chúa Trời bày tỏ, dù đó là Môi-se không cắt bì cho con trai mình, hay U-xa chạm vào Hòm Bia ấy, hay Ma-thê và Ma-ri nghi ngờ lời của Đức Chúa Jêsus liên quan đến cái chết của La-xa-rơ. Dòng cải chánh duy nhất không khẳng định rằng sự thất vọng đầu tiên dựa trên sự bất tuân là phong trào Millerite, nhưng cũng đã được chỉ ra vào thời điểm ấy rằng lịch sử của người Millerite có những dấu mốc nội tại dựa trên lẽ thật về “kẻ thứ tám, vốn thuộc về bảy.”

The fact that the eighth is of the seven is a major element of the Revelation of Jesus Christ which is now being unsealed, and the transition of the Philadelphian Millerite movement unto the Laodicean church was a waymark that identified when the Laodicean movement of the third angel would transition unto the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand. Thus, the fact that the first Millerite disappointment was accomplished without their movement manifesting disobedience, provided the contrast for the same waymark in the last days where the Laodicean movement of the third angel would disobey and produce a disappointment, and in so doing would align with the Millerite waymark, and produce the logic to see the movement of the one hundred and forty-four thousand is the eighth, that is of the seven.

Sự kiện rằng thứ tám thuộc về bảy là một yếu tố trọng yếu của Sách Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ hiện đang được mở ấn, và sự chuyển tiếp của phong trào Millerite mang đặc tính Phi-la-đen-phi sang hội thánh La-ô-đi-xê là một dấu mốc cho biết khi nào phong trào La-ô-đi-xê của thiên sứ thứ ba sẽ chuyển sang phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Vì vậy, việc sự thất vọng thứ nhất của Millerite đã xảy ra mà phong trào của họ không bộc lộ sự bất tuân đã tạo nên sự tương phản cho cùng dấu mốc ấy trong những ngày sau rốt, nơi phong trào La-ô-đi-xê của thiên sứ thứ ba sẽ bất tuân và gây nên một sự thất vọng, và qua đó sẽ phù hợp với dấu mốc Millerite, đồng thời đưa ra cơ sở lý luận để thấy rằng phong trào của một trăm bốn mươi bốn ngàn là thứ tám, tức là thuộc về bảy.

On July 2023, the Lord raised up a “voice in the wilderness” in order to prepare His last-day people for the crisis of the Sunday law, and once He returned from tarrying in prayer unto the disciples, He gave them opportunity to express their faith. In Christ’s day the message was His baptism, the point where Jesus, became Jesus Christ. That waymark aligns with September 11, 2001, and His disciples were asked what men thought, and then asked what the disciples themselves thought about Christ.

Vào tháng 7 năm 2023, Chúa đã dấy lên một “tiếng kêu trong đồng vắng” để chuẩn bị cho dân sự Ngài trong những ngày sau rốt đối diện với cuộc khủng hoảng của đạo luật Chủ nhật, và khi Ngài trở lại với các môn đồ sau khi ở lại trong sự cầu nguyện, Ngài cho họ cơ hội bày tỏ đức tin của mình. Trong thời của Đấng Christ, sứ điệp là phép báp-têm của Ngài, thời điểm khi “Jesus” trở thành “Jesus Christ”. Dấu mốc đó trùng với ngày 11 tháng 9 năm 2001, và các môn đồ của Ngài được hỏi người ta nghĩ gì, rồi được hỏi chính họ nghĩ gì về Đấng Christ.

“Upon joining them, He did not at once communicate that which He desired to impart. Before doing this, He gave them an opportunity of confessing their faith in Him that they might be strengthened for the coming trial. He asked, ‘Whom do men say that I the Son of man am?’

Khi Ngài đến cùng họ, Ngài không lập tức bày tỏ điều Ngài muốn truyền đạt. Trước khi làm điều đó, Ngài cho họ cơ hội xưng nhận đức tin nơi Ngài để họ được thêm sức cho thử thách sắp tới. Ngài hỏi: “Người ta nói Ta, Con Người, là ai?”

“Sadly the disciples were forced to acknowledge that Israel had failed to recognize their Messiah. Some indeed, when they saw His miracles, had declared Him to be the Son of David. The multitudes that had been fed at Bethsaida had desired to proclaim Him king of Israel. Many were ready to accept Him as a prophet; but they did not believe Him to be the Messiah.” The Desire of Ages, 411.

"Đáng buồn thay, các môn đồ buộc phải thừa nhận rằng Israel đã không nhận ra Đấng Mê-si của họ. Quả thật, có người, khi thấy các phép lạ của Ngài, đã tuyên bố Ngài là Con vua Đa-vít. Đám đông đã được cho ăn tại Bethsaida đã muốn tôn Ngài làm vua Israel. Nhiều người sẵn sàng chấp nhận Ngài như một tiên tri; nhưng họ không tin Ngài là Đấng Mê-si." The Desire of Ages, 411.

The majority of Adventism did not believe in the third Woe of September 11, 2001. They believed some of the miracles of the prophetic word that had been presented in the movement, and some understood that the message of September 11, 2001 had elements of truth, but they did not truly believe the claims of September 11, 2001.

Phần lớn giới Cơ Đốc Phục Lâm không tin rằng ngày 11 tháng 9 năm 2001 là Tai họa thứ ba. Họ tin một số dấu lạ của lời tiên tri đã được trình bày trong phong trào, và một số người hiểu rằng sứ điệp ngày 11 tháng 9 năm 2001 có những yếu tố của lẽ thật, nhưng họ không thật sự tin các tuyên bố của sứ điệp ngày 11 tháng 9 năm 2001.

The claim of September 11, 2001 had been typified by the claim of August 11, 1840, and that claim was expressed by Sister White when commenting upon the fulfillment of August 11, 1840. She stated:

Lời khẳng định về ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã được tượng trưng bởi lời khẳng định về ngày 11 tháng 8 năm 1840, và lời khẳng định ấy đã được Bà White bày tỏ khi bà bình luận về sự ứng nghiệm của ngày 11 tháng 8 năm 1840. Bà nói:

“At the very time specified, Turkey, through her ambassadors, accepted the protection of the allied powers of Europe, and thus placed herself under the control of Christian nations. The event exactly fulfilled the prediction. When it became known, multitudes were convinced of the correctness of the principles of prophetic interpretation adopted by Miller and his associates, and a wonderful impetus was given to the advent movement. Men of learning and position united with Miller, both in preaching and in publishing his views, and from 1840 to 1844 the work rapidly extended.” The Great Controversy, 334, 335.

Đúng vào thời điểm đã định, Thổ Nhĩ Kỳ, thông qua các đại sứ của mình, đã chấp nhận sự bảo hộ của các cường quốc đồng minh ở châu Âu, và như thế tự đặt mình dưới sự kiểm soát của các quốc gia Kitô giáo. Sự kiện ấy đã ứng nghiệm chính xác lời tiên đoán. Khi việc đó được biết đến, đông đảo người đã tin chắc về tính đúng đắn của các nguyên tắc giải nghĩa tiên tri do Miller và các cộng sự của ông áp dụng, và phong trào chờ đợi sự tái lâm nhận được một động lực kỳ diệu. Những người có học thức và địa vị đã hợp tác với Miller, cả trong việc rao giảng lẫn việc xuất bản các quan điểm của ông, và từ năm 1840 đến năm 1844, công việc ấy nhanh chóng được mở rộng. Cuộc Tranh Luận Vĩ Đại, 334, 335.

What was confirmed on August 11, 1840 was that Miller’s prophetic views were accurate, and the claim of September 11, 2001 is the confirmation that Future for America’s prophetic views are accurate. The unrepentant multitude in July of 2023 could not and would not accept the premise that the methodology designed by Christ, and entrusted to Future for America is actually the methodology of the latter rain. But then Christ asked His disciples what they, not the multitude thought.

Điều được xác nhận vào ngày 11 tháng 8 năm 1840 là các quan điểm tiên tri của Miller là chính xác, và lời khẳng định về ngày 11 tháng 9 năm 2001 là sự xác nhận rằng các quan điểm tiên tri của Future for America là chính xác. Đám đông không ăn năn vào tháng 7 năm 2023 đã không thể và cũng không chịu chấp nhận tiền đề rằng phương pháp luận do Đấng Christ thiết kế và được ủy thác cho Future for America thực ra chính là phương pháp luận của mưa rào muộn. Nhưng rồi Đấng Christ hỏi các môn đồ của Ngài rằng họ nghĩ gì, chứ không phải đám đông.

“Jesus now put a second question, relating to the disciples themselves: ‘But whom say ye that I am?’ Peter answered, ‘Thou art the Christ, the Son of the living God.’

Bấy giờ Chúa Giê-su nêu ra một câu hỏi thứ hai, liên quan đến chính các môn đệ: “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?” Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

From the first, Peter had believed Jesus to be the Messiah. Many others who had been convicted by the preaching of John the Baptist, and had accepted Christ, began to doubt as to John’s mission when he was imprisoned and put to death; and they now doubted that Jesus was the Messiah, for whom they had looked so long. Many of the disciples who had ardently expected Jesus to take His place on David’s throne left Him when they perceived that He had no such intention. But Peter and his companions turned not from their allegiance. The vacillating course of those who praised yesterday and condemned today did not destroy the faith of the true follower of the Saviour. Peter declared, ‘Thou art the Christ, the Son of the living God.’ He waited not for kingly honors to crown his Lord, but accepted Him in His humiliation.

Ngay từ ban đầu, Phi-e-rơ đã tin Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si. Nhiều người khác, vốn đã được thuyết phục bởi lời giảng của Giăng Báp-tít và đã tiếp nhận Đấng Christ, bắt đầu hoài nghi về sứ mạng của Giăng khi ông bị bỏ tù và bị xử tử; và giờ họ cũng nghi ngờ rằng Đức Chúa Jêsus có phải là Đấng Mê-si, Đấng mà họ đã trông đợi bấy lâu hay không. Nhiều môn đồ đã nồng nhiệt trông mong Đức Chúa Jêsus ngồi lên ngai của Đa-vít đã lìa bỏ Ngài khi nhận ra Ngài không hề có ý định như thế. Nhưng Phi-e-rơ và các bạn đồng hành của ông không hề quay bỏ lòng trung thành. Sự chao đảo của những kẻ hôm qua ca ngợi mà hôm nay lên án không làm tiêu tan đức tin của người môn đồ chân thật của Cứu Chúa. Phi-e-rơ tuyên xưng: “Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống.” Ông không đợi những vinh dự vương giả đến đội vương miện cho Chúa mình, nhưng tiếp nhận Ngài trong sự hạ mình của Ngài.

Peter had expressed the faith of the twelve. Yet the disciples were still far from understanding Christ’s mission. The opposition and misrepresentation of the priests and rulers, while it could not turn them away from Christ, still caused them great perplexity. They did not see their way clearly. The influence of their early training, the teaching of the rabbis, the power of tradition, still intercepted their view of truth. From time to time precious rays of light from Jesus shone upon them, yet often they were like men groping among shadows. But on this day, before they were brought face to face with the great trial of their faith, the Holy Spirit rested upon them in power. For a little time their eyes were turned away from ‘the things which are seen,’ to behold ‘the things which are not seen.’ 2 Corinthians 4:18. Beneath the guise of humanity they discerned the glory of the Son of God.

Phêrô đã bày tỏ đức tin của nhóm Mười Hai. Tuy vậy, các môn đệ vẫn còn xa mới hiểu được sứ vụ của Đức Kitô. Sự chống đối và xuyên tạc của các tư tế và những người lãnh đạo, tuy không thể khiến họ lìa bỏ Đức Kitô, vẫn làm họ hết sức bối rối. Họ không nhìn thấy con đường của mình cách rõ ràng. Ảnh hưởng của nền giáo dục buổi đầu, giáo huấn của các thầy rabbi, quyền lực của truyền thống, vẫn che khuất tầm nhìn của họ về chân lý. Thỉnh thoảng, những tia sáng quý giá từ Chúa Giêsu chiếu rọi trên họ, nhưng nhiều khi họ vẫn như những người đang lần mò giữa bóng tối. Nhưng trong ngày ấy, trước khi họ phải đối diện với cuộc thử thách lớn lao của đức tin, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên họ cách quyền năng. Trong chốc lát, mắt họ rời khỏi “những điều thấy được” để chiêm ngắm “những điều không thấy được” (2 Côrintô 4:18). Ẩn sau vẻ bề ngoài nhân loại, họ nhận ra vinh quang của Con Thiên Chúa.

“Jesus answered Peter, saying, ‘Blessed art thou, Simon Bar-jona: for flesh and blood hath not revealed it unto thee, but My Father which is in heaven.’” The Desire of Ages, 412.

Chúa Giê-su đáp cùng Phi-e-rơ rằng: "Phước cho ngươi, Si-môn Ba Giô-na; vì chẳng phải thịt và huyết đã tỏ điều ấy cho ngươi, nhưng là Cha Ta ở trên trời." The Desire of Ages, 412.

Peter’s confession in identifying that Christ is the son of God, spoke directly to the testing question of that history. The time had come for the Messiah to appear, as set forth by God’s prophetic word, and only those who accepted that truth would be included with those represented by Peter’s statement. Peter represents those who accept the message established on September 11, 2001, and that confess that Jesus is the son of God. “Peter had expressed the faith of the twelve,” and the twelve he represented were the one hundred and forty-four thousand. For this reason, Christ changed Peter’s name from Simon Bar-jona unto Peter in the passage.

Lời xưng nhận của Phi-e-rơ rằng Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời đã trực tiếp trả lời câu hỏi thử thách của thời điểm lịch sử ấy. Thời điểm Đấng Mê-si xuất hiện, như lời tiên tri của Đức Chúa Trời đã bày tỏ, đã đến; và chỉ những ai chấp nhận lẽ thật ấy mới được kể vào số những người được lời tuyên bố của Phi-e-rơ đại diện. Phi-e-rơ đại diện cho những người tiếp nhận sứ điệp được thiết lập vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và xưng nhận rằng Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời. “Phi-e-rơ đã bày tỏ đức tin của mười hai,” và mười hai người mà ông đại diện chính là một trăm bốn mươi bốn nghìn. Vì lý do này, Đấng Christ đã đổi tên ông từ Si-môn, con Giô-na, thành Phi-e-rơ trong đoạn ấy.

“Simon” means “he who hears,” and “bar” means “son of,” and Jonah means “dove.” Simon represented those who heard the message of the dove, which represented the truths associated with the baptism of Jesus, when He became the Christ, anointed with power, as was symbolically represented by the descent of the Holy Spirit in the form of a dove.

"Simon" có nghĩa là "người nghe", và "bar" có nghĩa là "con của", còn Jonah có nghĩa là "bồ câu." Simon đại diện cho những người đã nghe sứ điệp của bồ câu, vốn tượng trưng cho những lẽ thật gắn liền với phép báp-têm của Chúa Giê-su, khi Ngài trở thành Đấng Christ, được xức dầu bằng quyền năng, như đã được biểu trưng bằng việc Đức Thánh Linh giáng xuống dưới hình dạng chim bồ câu.

The reform lines parallel each other and John represents the Millerites, who on August 11, 1840, ate the little book. Jeremiah aligns with that event, and when he ate the little book, he was then called by God’s name.

Các đường lối cải cách song song với nhau, và Giăng đại diện cho phong trào Millerite, những người vào ngày 11 tháng 8 năm 1840 đã ăn cuốn sách nhỏ. Giê-rê-mi tương ứng với sự kiện ấy, và khi ông ăn cuốn sách nhỏ, ông đã được gọi bởi danh Đức Chúa Trời.

Thy words were found, and I did eat them; and thy word was unto me the joy and rejoicing of mine heart: for I am called by thy name, O Lord God of hosts. Jeremiah 15:16.

Khi con tìm được lời Ngài, con đã ăn lấy; lời Ngài là niềm vui và sự hân hoan của lòng con, vì con được gọi theo danh Ngài, lạy Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân. Giê-rê-mi-a 15:16.

When the Lord entered into covenant with Abram, He changed his name to Abraham, as He did with Sarai and Jacob. The changing of a name represents a covenant relationship, and at the waymark where the divine symbol descends God’s people are to eat the message, enter into covenant, and their name is then changed. As a representative of the disciples of Christ’s time, Simon Bar-jona represented those who “heard” the message of the “dove.”

Khi Chúa lập giao ước với Abram, Ngài đã đổi tên ông thành Abraham, như Ngài đã làm với Sarai và Jacob. Việc đổi tên biểu thị một mối quan hệ giao ước, và tại dấu mốc nơi biểu tượng thiêng liêng giáng xuống, dân của Đức Chúa Trời phải ăn lấy sứ điệp, bước vào giao ước, và khi ấy tên của họ được đổi. Là đại diện cho các môn đồ vào thời của Đấng Christ, Simon Bar-jona đại diện cho những người đã "nghe" sứ điệp của "chim bồ câu".

When he gave testimony that he recognized that at that waymark Jesus became the Christ, and that He was the Son of God, and all which that entails, Christ then changed his name to Peter. He had expressed the message that Christ’s covenant people of that history accepted, and in so doing he also typified the one hundred and forty-four thousand of the last days.

Khi ông làm chứng rằng ông nhận biết rằng tại cột mốc ấy, Chúa Giê-su trở thành Đấng Christ, và rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời, cùng tất cả những gì điều đó bao hàm, thì Đấng Christ đã đổi tên ông thành Phê-rô. Ông đã bày tỏ thông điệp mà dân giao ước của Đấng Christ trong giai đoạn lịch sử ấy đã tiếp nhận, và qua đó ông cũng tiêu biểu cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người của những ngày sau rốt.

The letter “P” is the sixteenth letter in the English alphabet, and the letter “E” is the fifth letter in the alphabet, and the letter “T” is the twentieth letter, the letter “E” is repeated, and the name ends with the letter “R” which is the eighteenth letter. Sixteen “times” five, “times” twenty, “times” five, “times” eighteen equals one hundred and forty-four thousand. The Wonderful Linguist spoke to Peter in Hebrew, and the New Testament was written in the Greek, and the translators of the King James Version produced the New Testament in English.

Chữ "P" là chữ cái thứ mười sáu trong bảng chữ cái tiếng Anh, và chữ "E" là chữ cái thứ năm trong bảng chữ cái, và chữ "T" là chữ cái thứ hai mươi, chữ "E" được lặp lại, và tên kết thúc bằng chữ "R" là chữ cái thứ mười tám. Mười sáu "nhân" năm, "nhân" hai mươi, "nhân" năm, "nhân" mười tám bằng một trăm bốn mươi bốn nghìn. Nhà ngôn ngữ học tuyệt vời đã nói với Peter bằng tiếng Do Thái, và Tân Ước được viết bằng tiếng Hy Lạp, và những người dịch bản King James đã dịch Tân Ước sang tiếng Anh.

In spite of the three steps of differing languages, Christ, who is the Son of God, the Wonderful Linguist, and the Wonderful Numberer, placed an illustration of the sealing of the one hundred and forty-four thousand in Matthew chapter sixteen, that aligns with the Battle of Panium, and His visit to Caesarea Philippi. He did so by employing His control of language and numbers, for He is both Palmoni (the Wonderful Numberer), and the Word (the Wonderful Linguist).

Mặc dù có ba bước khác nhau về ngôn ngữ, Đấng Christ, là Con Đức Chúa Trời, Đấng Kỳ Diệu về ngôn ngữ và Đấng Định Số Diệu Kỳ, đã đưa vào Ma-thi-ơ chương mười sáu một minh họa về sự đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn người, điều phù hợp với Trận Panium và việc Ngài thăm viếng Caesarea Philippi. Ngài đã làm như vậy bằng cách vận dụng sự làm chủ của Ngài đối với ngôn ngữ và các con số, vì Ngài vừa là Palmoni (Đấng Định Số Diệu Kỳ), vừa là Ngôi Lời (Đấng Kỳ Diệu về ngôn ngữ).

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“Nearly two thousand years ago, a voice of mysterious import was heard in heaven, from the throne of God, ‘Lo, I come.’ ‘Sacrifice and offering Thou wouldest not, but a body hast Thou prepared Me…. Lo, I come (in the volume of the Book it is written of Me,) to do Thy will, O God.’ Hebrews 10:5–7. In these words is announced the fulfillment of the purpose that had been hidden from eternal ages. Christ was about to visit our world, and to become incarnate. He says, ‘A body hast Thou prepared Me.’ Had He appeared with the glory that was His with the Father before the world was, we could not have endured the light of His presence. That we might behold it and not be destroyed, the manifestation of His glory was shrouded. His divinity was veiled with humanity,—the invisible glory in the visible human form.

Gần hai nghìn năm trước, một tiếng nói mang ý nghĩa huyền nhiệm đã vang lên trên trời, từ ngai của Đức Chúa Trời, 'Kìa, Ta đến.' 'Hy sinh và lễ dâng Chúa chẳng muốn, nhưng Chúa đã chuẩn bị cho Ta một thân thể.... Kìa, Ta đến (trong quyển Sách có chép về Ta,) để làm theo ý muốn của Chúa, hỡi Đức Chúa Trời.' Hê-bơ-rơ 10:5-7. Trong những lời này, sự ứng nghiệm của mục đích đã từng bị che giấu từ đời đời được công bố. Đấng Christ sắp viếng thăm thế gian chúng ta và nhập thể. Ngài phán: 'Chúa đã chuẩn bị cho Ta một thân thể.' Nếu Ngài hiện ra với vinh quang vốn thuộc về Ngài cùng Cha trước khi thế gian hiện hữu, chúng ta đã không thể chịu nổi ánh sáng của sự hiện diện Ngài. Để chúng ta có thể chiêm ngưỡng mà không bị diệt vong, sự bày tỏ vinh quang của Ngài đã được che phủ. Thần tính của Ngài được che phủ bởi nhân tính, - vinh quang vô hình trong hình hài con người hữu hình.

“This great purpose had been shadowed forth in types and symbols. The burning bush, in which Christ appeared to Moses, revealed God. The symbol chosen for the representation of the Deity was a lowly shrub, that seemingly had no attractions. This enshrined the Infinite. The all-merciful God shrouded His glory in a most humble type, that Moses could look upon it and live. So in the pillar of cloud by day and the pillar of fire by night, God communicated with Israel, revealing to men His will, and imparting to them His grace. God’s glory was subdued, and His majesty veiled, that the weak vision of finite men might behold it. So Christ was to come in ‘the body of our humiliation’ (Philippians 3:21, R. V.), ‘in the likeness of men.’ In the eyes of the world He possessed no beauty that they should desire Him; yet He was the incarnate God, the light of heaven and earth. His glory was veiled, His greatness and majesty were hidden, that He might draw near to sorrowful, tempted men.

Mục đích vĩ đại này đã được báo trước qua những hình bóng và biểu tượng. Bụi gai cháy, nơi Đấng Christ hiện ra với Môi-se, đã bày tỏ Đức Chúa Trời. Biểu tượng được chọn để đại diện cho Đức Chúa Trời là một bụi cây thấp hèn, dường như không có gì lôi cuốn. Chính biểu tượng khiêm hạ ấy lại chứa đựng Đấng Vô Hạn. Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót đã che phủ vinh quang của Ngài trong một hình bóng hết sức khiêm hạ, để Môi-se có thể nhìn xem mà vẫn sống. Cũng vậy, qua trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm, Đức Chúa Trời đã giao tiếp với Y-sơ-ra-ên, bày tỏ ý muốn của Ngài cho loài người, và ban cho họ ân điển của Ngài. Vinh quang của Đức Chúa Trời được giảm bớt, và oai nghi của Ngài được che phủ, để đôi mắt yếu ớt của con người hữu hạn có thể nhìn thấy. Vì thế Đấng Christ sẽ đến trong 'thân thể hèn mọn của chúng ta' (Phi-líp 3:21, R. V.), 'trong giống như loài người.' Trong con mắt thế gian, Ngài chẳng có vẻ đẹp nào để họ ưa thích Ngài; nhưng Ngài chính là Đức Chúa Trời nhập thể, là ánh sáng của trời và đất. Vinh quang của Ngài được che khuất, sự vĩ đại và oai nghi của Ngài được ẩn giấu, để Ngài có thể đến gần những con người sầu khổ, đang bị cám dỗ.

“God commanded Moses for Israel, ‘Let them make Me a sanctuary; that I may dwell among them’ (Exodus 25:8), and He abode in the sanctuary, in the midst of His people. Through all their weary wandering in the desert, the symbol of His presence was with them. So Christ set up His tabernacle in the midst of our human encampment. He pitched His tent by the side of the tents of men, that He might dwell among us, and make us familiar with His divine character and life. ‘The Word became flesh, and tabernacled among us (and we beheld His glory, glory as of the Only Begotten from the Father), full of grace and truth.’ John 1:14, R. V., margin.

Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se vì dân Y-sơ-ra-ên: “Hãy làm cho Ta một đền thánh, để Ta ở giữa họ” (Exodus 25:8), và Ngài ngự trong đền thánh ấy, giữa dân của Ngài. Suốt cuộc lang thang mỏi mệt của họ trong sa mạc, dấu hiệu về sự hiện diện của Ngài luôn ở cùng họ. Cũng vậy, Đấng Christ đã dựng đền tạm của Ngài giữa trại người chúng ta. Ngài cắm lều bên cạnh các lều của loài người, để Ngài ở giữa chúng ta và khiến chúng ta quen thuộc với bản tánh và đời sống thần tính của Ngài. “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, và dựng đền tạm giữa chúng ta (và chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh hiển của Ngài, vinh hiển như của Con Một đến từ Cha), đầy ân điển và lẽ thật.” John 1:14, R. V., margin.

“Since Jesus came to dwell with us, we know that God is acquainted with our trials, and sympathizes with our griefs. Every son and daughter of Adam may understand that our Creator is the friend of sinners. For in every doctrine of grace, every promise of joy, every deed of love, every divine attraction presented in the Saviour’s life on earth, we see ‘God with us.’

Kể từ khi Chúa Giê-su đến sống giữa chúng ta, chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời thấu hiểu những thử thách của chúng ta và cảm thông với những nỗi sầu khổ của chúng ta. Mỗi con trai và con gái của A-đam đều có thể hiểu rằng Đấng Tạo Hóa của chúng ta là bạn của tội nhân. Vì trong mọi giáo lý về ân điển, mọi lời hứa về niềm vui, mọi hành động yêu thương, mọi sức lôi cuốn thiêng liêng được bày tỏ trong đời sống của Đấng Cứu Thế trên đất, chúng ta thấy 'Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.'

“Satan represents God’s law of love as a law of selfishness. He declares that it is impossible for us to obey its precepts. The fall of our first parents, with all the woe that has resulted, he charges upon the Creator, leading men to look upon God as the author of sin, and suffering, and death. Jesus was to unveil this deception. As one of us He was to give an example of obedience. For this He took upon Himself our nature, and passed through our experiences. ‘In all things it behooved Him to be made like unto His brethren.’ Hebrews 2:17. If we had to bear anything which Jesus did not endure, then upon this point Satan would represent the power of God as insufficient for us. Therefore Jesus was ‘in all points tempted like as we are.’ Hebrews 4:15. He endured every trial to which we are subject. And He exercised in His own behalf no power that is not freely offered to us. As man, He met temptation, and overcame in the strength given Him from God. He says, ‘I delight to do Thy will, O My God: yea, Thy law is within My heart.’ Psalm 40:8. As He went about doing good, and healing all who were afflicted by Satan, He made plain to men the character of God’s law and the nature of His service. His life testifies that it is possible for us also to obey the law of God.

Sa-tan xuyên tạc luật yêu thương của Đức Chúa Trời thành một luật ích kỷ. Hắn quả quyết rằng chúng ta không thể nào vâng theo các điều răn của luật ấy. Sự sa ngã của tổ tiên đầu tiên của chúng ta, cùng mọi nỗi khốn khổ kéo theo, hắn đổ trách nhiệm lên Đấng Tạo Hóa, khiến người ta xem Đức Chúa Trời như tác giả của tội lỗi, đau khổ và sự chết. Chúa Giê-su sẽ vạch trần sự lừa dối này. Là một người như chúng ta, Ngài sẽ nêu gương vâng phục. Vì điều đó, Ngài mặc lấy bản tính của chúng ta và trải qua những kinh nghiệm của chúng ta. 'Trong mọi sự, Ngài đã phải trở nên giống như anh em mình.' Hê-bơ-rơ 2:17. Nếu chúng ta phải chịu điều gì mà Chúa Giê-su đã không trải qua, thì ở điểm ấy Sa-tan sẽ trình bày quyền năng của Đức Chúa Trời như không đủ cho chúng ta. Vì vậy Chúa Giê-su đã 'bị cám dỗ trong mọi phương diện như chúng ta.' Hê-bơ-rơ 4:15. Ngài chịu đựng mọi thử thách mà chúng ta phải đối diện. Và Ngài đã không dùng cho riêng mình bất kỳ quyền năng nào mà không được ban cách nhưng không cho chúng ta. Là con người, Ngài đối diện cám dỗ và chiến thắng nhờ sức mạnh Đức Chúa Trời ban cho Ngài. Ngài phán: 'Con vui mừng làm theo ý muốn của Chúa, hỡi Đức Chúa Trời của con; luật pháp của Chúa ở trong lòng con.' Thi Thiên 40:8. Khi Ngài đi khắp nơi làm điều lành và chữa lành mọi người bị Sa-tan áp bức, Ngài bày tỏ rõ ràng cho con người thấy bản chất của luật pháp Đức Chúa Trời và bản chất của sự hầu việc Ngài. Đời sống của Ngài làm chứng rằng chúng ta cũng có thể vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời.

“By His humanity, Christ touched humanity; by His divinity, He lays hold upon the throne of God. As the Son of man, He gave us an example of obedience; as the Son of God, He gives us power to obey. It was Christ who from the bush on Mount Horeb spoke to Moses saying, ‘I AM THAT I AM…. Thus shalt thou say unto the children of Israel, I AM hath sent me unto you.’ Exodus 3:14. This was the pledge of Israel’s deliverance. So when He came ‘in the likeness of men,’ He declared Himself the I AM. The Child of Bethlehem, the meek and lowly Saviour, is God ‘manifest in the flesh.’ 1 Timothy 3:16. And to us He says: ‘I AM the Good Shepherd.’ ‘I AM the living Bread.’ ‘I AM the Way, the Truth, and the Life.’ ‘All power is given unto Me in heaven and in earth.’ John 10:11; 6:51; 14:6; Matthew 28:18. I AM the assurance of every promise. I AM; be not afraid. ‘God with us’ is the surety of our deliverance from sin, the assurance of our power to obey the law of heaven.” The Desire of Ages, 23, 24.

Bởi nhân tính của Ngài, Đấng Christ chạm đến nhân loại; bởi thần tính của Ngài, Ngài nắm lấy ngai của Đức Chúa Trời. Là Con Người, Ngài đã cho chúng ta gương vâng phục; là Con Đức Chúa Trời, Ngài ban cho chúng ta quyền năng để vâng phục. Chính Đấng Christ, từ bụi gai trên núi Hô-rếp, đã phán với Môi-se rằng: ‘TA LÀ ĐẤNG TA LÀ.... Vậy ngươi hãy nói với con cái Y-sơ-ra-ên rằng: TA LÀ đã sai ta đến cùng các ngươi.’ Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14. Đây là bảo chứng về sự giải cứu của Y-sơ-ra-ên. Vậy khi Ngài đến ‘trong hình dạng loài người,’ Ngài xưng chính mình là ‘TA LÀ.’ Hài nhi thành Bết-lê-hem, Đấng Cứu Thế hiền lành và khiêm nhu, là Đức Chúa Trời ‘được bày tỏ trong xác thịt.’ 1 Ti-mô-thê 3:16. Và với chúng ta Ngài phán: ‘TA LÀ Người Chăn Nhân Lành.’ ‘TA LÀ bánh hằng sống.’ ‘TA LÀ đường đi, lẽ thật và sự sống.’ ‘Mọi quyền phép ở trên trời và dưới đất đã được ban cho Ta.’ Giăng 10:11; 6:51; 14:6; Ma-thi-ơ 28:18. ‘TA LÀ’ là sự bảo đảm cho mọi lời hứa. ‘TA LÀ’; đừng sợ. ‘Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta’ là sự bảo đảm cho sự giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi, là bảo chứng cho quyền năng của chúng ta để vâng phục luật pháp thiên đàng. Nguyện Vọng Của Các Thời Đại, 23, 24.