The “truth which Peter had confessed is the foundation of the believer’s faith. It is that which Christ Himself has declared to be eternal life.” That “truth” identified two aspects of Christ. The first was that Christ is an element of prophetic history. The waymarks that represent the events of prophetic history, represent Christ. His association with the events identifies the sacredness of the prophetic waymarks, and provides the logic for Sister White so often saying that we must guard the waymarks, for those waymarks represent Jesus Christ. The waymark that represented the testing theme in the time of Christ was His baptism, and it aligned with other events in the sacred reform lines, distinguished by the descent of a divine symbol.

“Lẽ thật mà Phi-e-rơ đã xưng nhận là nền tảng của đức tin của tín hữu. Đó chính là điều mà chính Đấng Christ đã tuyên bố là sự sống đời đời.” “Lẽ thật” ấy nêu bật hai phương diện của Đấng Christ. Thứ nhất là Đấng Christ là một yếu tố của lịch sử tiên tri. Các cột mốc đại diện cho những biến cố của lịch sử tiên tri chính là đại diện cho Đấng Christ. Sự gắn bó của Ngài với các biến cố ấy xác nhận tính thiêng liêng của các cột mốc tiên tri và là cơ sở cho việc Bà White thường nói rằng chúng ta phải gìn giữ các cột mốc, vì những cột mốc ấy đại diện cho Chúa Giê-su Christ. Cột mốc biểu thị chủ đề thử nghiệm trong thời của Đấng Christ là phép báp-têm của Ngài, và nó tương ứng với những sự kiện khác trong các dòng cải chánh thiêng liêng, được đánh dấu bằng sự giáng xuống của một biểu tượng thiêng liêng.

In the reform line of Moses, divinity descended and abode in a burning bush, a symbol of the creator combining with the creation. In the reform line at the end of the seventy years, Michael descended to empower Cyrus to move forward with the first decree, and at the same time Daniel was changed into the image of Christ. In the reform line of Christ, the Holy Spirit descended in the form of a dove to anoint God’s Son, the symbol of divinity combined with humanity. In Millerite history the angel that descended on August 11, 1840 was “no less a personage than Jesus Christ,” who descended with a little book that was to be eaten, and He was that little book. There He demonstrated that the combination of divinity with humanity is accomplished by eating and drinking the flesh and blood of the Bread of Heaven.

Trong dòng cải cách của Môi-se, thần tính đã giáng xuống và ngự trong bụi gai cháy, một biểu tượng về Đấng Tạo Hóa kết hợp với tạo vật. Trong dòng cải cách vào cuối bảy mươi năm, Mi-ca-ên đã giáng xuống để trao quyền cho Si-ru tiến hành sắc lệnh thứ nhất, và đồng thời Đa-ni-ên được biến đổi nên giống hình ảnh của Đấng Christ. Trong dòng cải cách của Đấng Christ, Đức Thánh Linh giáng xuống trong hình chim bồ câu để xức dầu cho Con Đức Chúa Trời, biểu tượng của thần tính kết hợp với nhân tính. Trong lịch sử phong trào Miller, thiên sứ đã giáng xuống vào ngày 11 tháng 8 năm 1840 là “không ai khác hơn chính là Chúa Giê-su Christ,” Đấng đã giáng xuống với một quyển sách nhỏ phải được ăn, và chính Ngài là quyển sách nhỏ đó. Tại đó Ngài chứng tỏ rằng sự kết hợp của thần tính với nhân tính được thực hiện bằng cách ăn và uống thịt và huyết của Bánh Từ Trời.

Sacred history is sacred because it is embodied by the presence of Christ. The predictions of God’s word that identify future events, are Jesus Christ, for He is the “Word.” When those predictions are fulfilled in history, the events represent the fulfillment of His word, and His word is truth. It is His word that sets forth the prediction, and it is His word that is fulfilled when the event arrives, so at the beginning and at the ending it is Jesus Christ, for He is the Alpha and Omega. Therefore, when Peter proclaimed that Jesus was the Christ and the Son of the living God, he was identifying a waymark that was Jesus Christ and a waymark that reaches its perfect fulfillment in the last days. September 11, 2001 was the perfect fulfillment of Christ.

Lịch sử thánh thiêng là thánh thiêng vì được hiện thân bởi sự hiện diện của Đấng Christ. Những lời tiên tri trong Lời Đức Chúa Trời chỉ ra các sự kiện tương lai chính là Chúa Giê-su Christ, vì Ngài là “Lời”. Khi những lời ấy được ứng nghiệm trong lịch sử, các biến cố đó thể hiện sự ứng nghiệm Lời của Ngài, và Lời của Ngài là chân lý. Chính Lời của Ngài đưa ra lời tiên tri, và cũng chính Lời của Ngài được ứng nghiệm khi biến cố xảy đến; vì vậy, ở khởi đầu và ở kết thúc đều là Chúa Giê-su Christ, vì Ngài là Anpha và Ômêga. Vì thế, khi Phi-e-rơ tuyên xưng rằng Chúa Giê-su là Đấng Christ và Con của Đức Chúa Trời hằng sống, ông đã xác định một dấu mốc là chính Chúa Giê-su Christ, và một dấu mốc đạt đến sự ứng nghiệm trọn vẹn của nó trong những ngày sau rốt. Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là sự ứng nghiệm trọn vẹn của Đấng Christ.

To reject the prophetic fulfillment of September 11, 2001, is to reject Christ, the son of the living God. That truth, expressed by Peter, was “the foundation of the believer’s faith,” and on September 11, 2001 Christ led His last-day people back to Jeremiah’s “old paths,” which represent the “foundations” of the movement of the first and third angels’ messages. Peter represented the one hundred and forty-four thousand, who are sealed during the period when the four angels are restraining the four winds. The sealing time is a specific prophetic period, beginning on September 11, 2001 and ending at the soon coming Sunday law. Jesus always illustrates the end of a thing with the beginning of a thing.

Chối bỏ sự ứng nghiệm tiên tri của ngày 11 tháng 9 năm 2001 là chối bỏ Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời hằng sống. Lẽ thật ấy, do Phi-e-rơ bày tỏ, là "nền tảng đức tin của tín hữu", và vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 Đấng Christ đã dẫn dân sự thời kỳ sau rốt của Ngài trở lại "các lối xưa" của Giê-rê-mi, vốn tượng trưng cho "các nền tảng" của phong trào sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ ba. Phi-e-rơ đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là những người được ấn trong thời kỳ bốn thiên sứ đang cầm giữ bốn luồng gió. Thời kỳ ấn chứng là một giai đoạn tiên tri cụ thể, bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 và kết thúc khi đạo luật Chủ nhật sắp tới được ban hành. Chúa Giê-su luôn minh họa sự kết thúc của một điều bằng sự khởi đầu của điều đó.

At the beginning of the sealing time the angel of Revelation eighteen descended, as had the Holy Spirit at the baptism, and that angel was “no less a personage than Jesus Christ,” for the angel that descended to lighten the earth with His glory in the Millerite history was “no less a personage than Jesus Christ.” At the soon coming Sunday law “no less a personage than Jesus Christ,” descends again and presents the second of the two messages of Revelation eighteen, as He calls His other flock out of Babylon. In the middle of the period of the sealing time, an angel descended, as did the second angel descend on April 19, 1844, at the first disappointment of the Millerite movement.

Vào lúc khởi đầu của thời kỳ ấn chứng, thiên sứ trong Khải Huyền 18 đã giáng xuống, như Đức Thánh Linh đã giáng xuống tại phép báp tem; và thiên sứ ấy “không ai khác hơn là Đức Chúa Giê-su Christ,” vì thiên sứ đã giáng xuống để làm rực sáng đất bằng vinh quang của Ngài trong lịch sử Millerite cũng “không ai khác hơn là Đức Chúa Giê-su Christ.” Khi luật ngày Chủ nhật sắp đến, “không ai khác hơn là Đức Chúa Giê-su Christ,” lại giáng xuống và trình bày sứ điệp thứ hai trong hai sứ điệp của Khải Huyền 18, khi Ngài gọi bầy chiên khác của Ngài ra khỏi Ba-by-lôn. Vào giữa giai đoạn của thời kỳ ấn chứng, một thiên sứ giáng xuống, như thiên sứ thứ hai đã giáng xuống vào ngày 19 tháng 4 năm 1844, trong dịp thất vọng đầu tiên của phong trào Millerite.

Between the arrival of that second angel, and the arrival of the third angel on October 22, 1844, many angels were sent to add power to the second angel as the Midnight Cry message arrived. Speaking of the history when these angels arrived in Millerite history, Sister White informs us that those that rejected these messages had crucified Christ just as assuredly as the Jews crucified Christ.

Trong khoảng thời gian từ khi thiên sứ thứ hai xuất hiện đến khi thiên sứ thứ ba xuất hiện vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, nhiều thiên sứ đã được sai đến để tăng thêm quyền năng cho thiên sứ thứ hai khi sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm đến. Khi nói về thời kỳ các thiên sứ này xuất hiện trong lịch sử phong trào Miller, bà White cho biết rằng những ai khước từ các sứ điệp ấy đã đóng đinh Đấng Christ cũng chắc chắn như người Do Thái đã đóng đinh Ngài.

“I saw that as the Jews crucified Jesus, so the nominal churches had crucified these messages, and therefore they have no knowledge of the way into the most holy, and they cannot be benefited by the intercession of Jesus there.” Early Writings, 261.

Tôi thấy rằng, cũng như người Do Thái đã đóng đinh Chúa Giê-su, thì các hội thánh danh nghĩa đã đóng đinh những sứ điệp này; vì vậy họ không biết đường vào Nơi Chí Thánh, và họ không thể được hưởng ích lợi từ sự cầu thay của Chúa Giê-su tại đó. Early Writings, 261.

The messages represented by the angels, when rejected, represent the crucifixion of Christ, for He embodies the messages and their historical fulfillment. On July 18, 2020, “no less a personage than Jesus Christ” descended, marking the first disappointment and the beginning of the tarrying time. Slain in the streets, the dead dry bones of His last-day people were to be awakened by hearing the only voice that can bring people back to life.

Những sứ điệp do các thiên sứ đại diện, khi bị khước từ, tượng trưng cho sự đóng đinh Đấng Christ, vì Ngài là hiện thân của các sứ điệp ấy và sự ứng nghiệm lịch sử của chúng. Ngày 18 tháng 7 năm 2020, “không ai khác hơn chính Đức Chúa Giê-su Christ” đã giáng xuống, đánh dấu sự thất vọng thứ nhất và sự khởi đầu của thời kỳ trì hoãn. Bị giết giữa phố phường, những bộ xương khô đã chết của dân sự Ngài trong những ngày sau rốt sẽ được đánh thức khi nghe tiếng nói duy nhất có thể khiến con người sống lại.

Verily, verily, I say unto you, The hour is coming, and now is, when the dead shall hear the voice of the Son of God: and they that hear shall live. For as the Father hath life in himself; so hath he given to the Son to have life in himself; And hath given him authority to execute judgment also, because he is the Son of man. Marvel not at this: for the hour is coming, in the which all that are in the graves shall hear his voice, And shall come forth; they that have done good, unto the resurrection of life; and they that have done evil, unto the resurrection of damnation. John 5:25–29.

Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi: Giờ đến, và hiện nay đã đến, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời; và những ai nghe sẽ sống. Vì như Cha có sự sống trong chính mình, thì cũng vậy, Cha đã ban cho Con được có sự sống trong chính mình; và cũng đã ban cho Ngài quyền thi hành sự phán xét, vì Ngài là Con Người. Chớ lấy làm lạ về điều này: vì giờ đến, khi mọi kẻ ở trong mồ mả sẽ nghe tiếng Ngài, và sẽ ra; ai làm điều lành thì sống lại để được sống; còn ai làm điều ác thì sống lại để bị đoán phạt. Giăng 5:25-29.

In July of 2023, His voice called the dead dry bones to life, and Alpha and Omega then repeated the beginning of the sealing time, for July 2023, marks the ending period of the sealing time. His people were then again called back to Jeremiah’s old paths, to the foundations of Millerite history. The foundational message of the Millerites’ beginning and ending were the first and last messages of Millerite history, which was the “seven times” of Leviticus chapter twenty-six.

Vào tháng Bảy năm 2023, tiếng phán của Ngài gọi những bộ xương khô đã chết sống lại, và Alpha và Omega sau đó nhắc lại sự khởi đầu của thời kỳ đóng ấn, vì tháng Bảy năm 2023 đánh dấu giai đoạn kết thúc của thời kỳ đóng ấn. Dân sự của Ngài khi ấy lại được kêu gọi trở về những lối xưa của Giê-rê-mi, về những nền tảng của lịch sử Millerite. Thông điệp nền tảng cho phần khởi đầu và phần kết thúc của những người Millerite là thông điệp đầu tiên và cuối cùng trong lịch sử Millerite, đó là “bảy lần” của Lê-vi Ký chương hai mươi sáu.

In July 2023, God’s last day people were once again commanded to take the little book and eat it. As they eat the little book, they are then tested to see if they will acknowledge the message of the third Woe in Revelation chapter nine (the tidings of the east) and the message of Daniel chapter eleven (the tidings of the north). The testing process leads them to verses thirteen to fifteen of Daniel chapter eleven, which is the Battle of Panium, which is Caesarea Philippi and which is the message of the Midnight Cry where the two classes who have heard His voice are manifested, one class “that have done good, unto the resurrection of life; and they that have done evil, unto the resurrection of damnation.”

Vào tháng 7 năm 2023, dân sự ngày sau rốt của Đức Chúa Trời một lần nữa được truyền lệnh cầm lấy quyển sách nhỏ và ăn nó. Khi họ ăn quyển sách nhỏ, họ được thử nghiệm để xem họ có thừa nhận sứ điệp về Tai Họa thứ ba trong Khải Huyền chương chín (tin tức từ phương đông) và sứ điệp trong Đa-ni-ên chương mười một (tin tức từ phương bắc) hay không. Quá trình thử nghiệm dẫn họ đến các câu 13 đến 15 của Đa-ni-ên chương mười một, tức là Trận Panium, tức là Caesarea Philippi, và cũng là sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, nơi hai hạng người đã nghe tiếng Ngài được bày tỏ: một hạng “đã làm điều lành thì sống lại để được sống; còn kẻ làm điều dữ thì sống lại để bị đoán phạt.”

There are three voices in the sealing time of the one hundred and forty-four thousand and they are all the voice of “no less a personage of Jesus Christ.” The first voice of Revelation eighteen sounded when the great buildings of New York city were brought down by a touch from God. The second voice is the voice of Michael the archangel who calls the dead out of their graves. The third voice is the second voice of Revelation chapter eighteen that calls His other flock out of Babylon in the hour of the “great earthquake” of Revelation chapter eleven. The perfect fulfillment of Peter’s confession at Caesarea Philippi is made when Christ leads His last day people to the “that portion of the prophecy of Daniel relating to the last days.”

Có ba tiếng nói trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, và tất cả đều là tiếng của "không ai khác hơn chính Chúa Giê-su Christ." Tiếng thứ nhất của Khải Huyền chương mười tám vang lên khi các tòa nhà vĩ đại của thành phố New York bị quật đổ bởi chỉ một cái chạm của Đức Chúa Trời. Tiếng thứ hai là tiếng của tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-ên, người gọi những người chết ra khỏi mồ mả. Tiếng thứ ba là tiếng thứ hai của Khải Huyền chương mười tám, tiếng gọi bầy chiên khác của Ngài ra khỏi Ba-by-lôn trong giờ của "trận động đất lớn" của Khải Huyền chương mười một. Sự ứng nghiệm trọn vẹn của lời xưng nhận của Phi-e-rơ tại Sê-sa-rê Phi-líp được thành tựu khi Đấng Christ dẫn dắt dân sự ngày sau rốt của Ngài đến "phần của lời tiên tri của Đa-ni-ên liên quan đến những ngày sau rốt."

Panium of verses thirteen to fifteen of Daniel eleven, is the “portion” of the prophecy of Daniel that was sealed up that identifies the message of the Midnight Cry. Panium is the Exeter camp meeting in August of 1844, it’s a history that is fulfilled in the second term of Donald Trump, and it is the prophetic message that impresses the seal of God upon the foreheads of the one hundred and forty-four thousand. The verses we are now studying are very holy ground.

Panium trong các câu mười ba đến mười lăm của Đa-ni-ên đoạn mười một là “phần” của lời tiên tri của Đa-ni-ên đã được niêm phong, phần xác định sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm. Panium là hội trại Exeter vào tháng Tám năm 1844, là một lịch sử được ứng nghiệm trong nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump, và là sứ điệp tiên tri đóng ấn của Đức Chúa Trời lên trán của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Những câu Kinh Thánh mà chúng ta đang nghiên cứu hiện nay là vùng đất rất thánh.

The truth which Peter had confessed is the foundation of the believer’s faith. It is that which Christ Himself has declared to be eternal life. But the possession of this knowledge was no ground for self-glorification. Through no wisdom or goodness of his own had it been revealed to Peter. Never can humanity, of itself, attain to a knowledge of the divine. ‘It is as high as heaven; what canst thou do? deeper than hell; what canst thou know?’ Job 11:8. Only the spirit of adoption can reveal to us the deep things of God, which ‘eye hath not seen, nor ear heard, neither have entered into the heart of man.’ ‘God hath revealed them unto us by His Spirit: for the Spirit searcheth all things, yea, the deep things of God.’ 1 Corinthians 2:9, 10. ‘The secret of the Lord is with them that fear Him;’ and the fact that Peter discerned the glory of Christ was an evidence that he had been ‘taught of God.’ Psalm 25:14; John 6:45. Ah, indeed, ‘blessed art thou, Simon Bar-jona: for flesh and blood hath not revealed it unto thee.’

Lẽ thật mà Phi-e-rơ đã tuyên xưng là nền tảng đức tin của người tin. Ấy chính là điều mà chính Đấng Christ đã tuyên bố là sự sống đời đời. Nhưng việc sở hữu sự hiểu biết này không phải là cớ để tự tôn vinh mình. Không phải nhờ sự khôn ngoan hay sự tốt lành của riêng ông mà điều ấy đã được bày tỏ cho Phi-e-rơ. Tự mình, nhân loại chẳng bao giờ có thể đạt tới sự hiểu biết về điều thiêng liêng. 'Cao bằng trời; ngươi có thể làm gì? Sâu hơn âm phủ; ngươi biết được gì?' Gióp 11:8. Chỉ có Thánh Linh của sự làm con nuôi mới có thể bày tỏ cho chúng ta những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời, là những điều 'mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, và chưa hề vào lòng người.' 'Đức Chúa Trời đã bày tỏ những điều ấy cho chúng ta bởi Thánh Linh của Ngài; vì Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời.' 1 Cô-rinh-tô 2:9, 10. 'Sự kín nhiệm của Đức Giê-hô-va thuộc về những kẻ kính sợ Ngài;' và việc Phi-e-rơ nhận biết vinh quang của Đấng Christ là bằng chứng rằng ông đã được 'Đức Chúa Trời dạy dỗ.' Thi-thiên 25:14; Giăng 6:45. Ôi, thật vậy, 'ngươi có phước thay, Si-môn, con Giô-na; vì chẳng phải thịt và huyết bày tỏ điều ấy cho ngươi.'

“Jesus continued: ‘I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build My church; and the gates of hell shall not prevail against it.’ The word Peter signifies a stone,—a rolling stone. Peter was not the rock upon which the church was founded. The gates of hell did prevail against him when he denied his Lord with cursing and swearing. The church was built upon One against whom the gates of hell could not prevail.”

Chúa Giê-su nói tiếp: “Ta cũng nói với ngươi: Ngươi là Peter, và trên tảng đá này Ta sẽ xây dựng Hội thánh của Ta; và các cửa âm phủ sẽ không thắng được nó.” Tên Peter có nghĩa là một hòn đá — một hòn đá lăn. Peter không phải là tảng đá mà trên đó Hội thánh được lập nên. Các cửa âm phủ đã thắng được ông khi ông chối Chúa mình bằng những lời nguyền rủa và thề thốt. Hội thánh được xây trên Đấng mà các cửa âm phủ không thể thắng được.

The message Christ was presenting to His disciples at Caesarea Philippi was and is the message of the Midnight Cry, and it is placed within the context of a spiritual war between the Greek god Pan, whose temple was called “the gates of hell,” and the two apostate horns of the earth beast. The Maccabees were God’s apostate people, who professed to be the defenders of God’s church, as they were warring against the religion of the Greeks. They identified themselves as both the religious and political leaders. They represent the apostate Protestantism of those fallen churches that, with the government of the United States, are now forming an image of the beast and are warring against the globalist’s religion of woke-ism and Mother Earth. The apostate horns prevail in their struggle with the religious and political elements of globalism, and at the same time the true Protestant horn is being purified by the removal of the last remnants of the foolish virgins, in advance of being lifted up as an ensign at the “great earthquake” of the soon coming Sunday law.

Sứ điệp mà Đấng Christ trình bày cho các môn đồ của Ngài tại Caesarea Philippi đã và đang là sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, và nó được đặt trong bối cảnh của một cuộc chiến thuộc linh giữa vị thần Hy Lạp Pan, đền thờ của ông được gọi là "cửa âm phủ", và hai sừng bội đạo của con thú từ đất. Nhà Macabê là dân bội đạo của Đức Chúa Trời, họ xưng mình là những người bảo vệ Hội Thánh của Đức Chúa Trời, khi họ đang giao chiến chống lại tôn giáo của người Hy Lạp. Họ tự nhận mình vừa là lãnh đạo tôn giáo vừa là lãnh đạo chính trị. Họ đại diện cho chủ nghĩa Tin Lành bội đạo của những hội thánh sa ngã, là những hội thánh đang cùng với chính phủ Hoa Kỳ dựng nên hình tượng của con thú và đang chiến đấu chống lại tôn giáo của phe toàn cầu chủ nghĩa gồm chủ nghĩa "woke" và Mẹ Trái Đất. Những sừng bội đạo thắng thế trong cuộc đối đầu với các yếu tố tôn giáo và chính trị của chủ nghĩa toàn cầu, và đồng thời sừng Tin Lành chân chính đang được tinh luyện bằng việc loại bỏ những tàn dư cuối cùng của các trinh nữ dại, để trước đó được giương cao như một tiêu kỳ tại "trận động đất lớn" của luật ngày Chủ nhật sắp đến.

The portion of the prophecy of the book of Daniel that relates to the last days, which is also the Revelation of Jesus Christ, and is the message of the Midnight Cry is unsealed by the Lion of the tribe of Judah at Caesarea Philippi, which is Panium. It is unsealed in the midst of the warfare between atheistic beasts from the bottomless pit and the horn of Republicanism that began to stir up that beast in 2015, and against the genuine horn of Protestantism that is now being resurrected as a mighty army.

Phần lời tiên tri trong sách Đa-ni-ên liên hệ đến những ngày sau rốt, cũng là Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ và là sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, được Sư Tử thuộc chi phái Giu-đa mở ấn tại Caesarea Philippi, tức là Panium. Ấn ấy được mở ra giữa cuộc chiến giữa những con thú vô thần từ hố không đáy và chiếc sừng của Chủ nghĩa Cộng hòa, chiếc sừng đã bắt đầu khuấy động con thú ấy vào năm 2015, và cũng chống lại chiếc sừng chân chính của Tin Lành hiện đang được phục sinh như một đạo quân hùng mạnh.

The truth that Peter confessed represents the waymark of September 11, 2001, and also that Christ is the Son of the living God. The truth of what is represented by Jesus being the Son of God, is a testing truth as certainly as was whether Jesus was the Messiah or not in the days of Peter. The proclamation that Jesus is the Son of God represents everything that had been revealed of Who the Son is. It represents not only that He was God’s Son, but that He was also the son of man. It is the truth of the incarnation of divinity into humanity, which is the very work that is accomplished during the sealing time of the one hundred and forty-four thousand. The truth of the “incarnation,” is the truth at the end that was typified by the truth of the “Sabbath” at the beginning.

Lẽ thật mà Phi-e-rơ đã xưng nhận biểu thị cột mốc ngày 11 tháng 9 năm 2001, và cũng là lẽ thật rằng Đấng Christ là Con của Đức Chúa Trời hằng sống. Lẽ thật về ý nghĩa của việc Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời là một lẽ thật thử thách, chắc chắn như câu hỏi liệu Chúa Giê-su có phải là Đấng Mê-si hay không trong những ngày của Phi-e-rơ. Lời tuyên xưng rằng Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời bao hàm tất cả những gì đã được mạc khải về Con là ai. Điều đó không chỉ cho thấy Ngài là Con của Đức Chúa Trời, mà còn rằng Ngài cũng là Con Người. Đó là lẽ thật về sự nhập thể của thần tính vào nhân tính, là chính công việc được hoàn thành trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Lẽ thật về “sự nhập thể” là lẽ thật ở phần cuối đã được tiêu biểu bởi lẽ thật về “Ngày Sa-bát” ở buổi ban đầu.

October 22, 1844 marked the arrival of the third angel. When an angel arrives, a special truth adapted to the period where the truth is unsealed is opened by the Lion of the tribe of Judah, and that truth then tests the generation where that truth is opened up. On October 22, 1844 the truths associated with the work of Christ, who suddenly came unto the temple He had raised in the forty-six years from 1798 unto 1844 were revealed. Christ’s work of judgment, the law of God, His role as High Priest, the issue of the mark of the beast and the sealing of the one hundred and forty-four thousand were all opened up. Sister White was shown that of those truths, there was one truth which the Alpha and Omega identified in a special light.

Ngày 22 tháng 10 năm 1844 đánh dấu sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba. Khi một thiên sứ đến, một lẽ thật đặc biệt, phù hợp với thời kỳ mà lẽ thật ấy được mở ấn, được Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ra; và lẽ thật ấy thử thách thế hệ trong đó nó được bày tỏ. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, những lẽ thật liên hệ đến công việc của Đấng Christ—Đấng bỗng nhiên đến đền thờ mà Ngài đã dựng nên trong bốn mươi sáu năm, từ 1798 đến 1844—đã được bày tỏ. Công việc xét đoán của Đấng Christ, luật pháp của Đức Chúa Trời, chức vụ Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của Ngài, vấn đề về dấu của con thú và sự niêm ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn đều đã được mở ra. Bà White được cho thấy rằng, trong các lẽ thật ấy, có một lẽ thật được Đấng Anpha và Ômêga chỉ ra dưới một ánh sáng đặc biệt.

“I was amazed as I saw the fourth commandment in the very center of the ten precepts, with a soft halo of light encircling it. Said the angel: ‘It is the only one of the ten which defines the living God who created the heavens and the earth and all things that are therein. When the foundations of the earth were laid, then was laid the foundation of the Sabbath also.’” Testimonies, volume 1, 75.

"Tôi kinh ngạc khi thấy điều răn thứ tư ở chính giữa mười điều răn, với một quầng sáng dịu nhẹ bao quanh nó. Thiên sứ nói: 'Đó là điều duy nhất trong mười điều răn chỉ rõ Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng đã tạo dựng trời và đất cùng mọi vật ở trong đó. Khi các nền móng của đất được đặt, thì nền móng của ngày Sa-bát cũng được đặt.'" Testimonies, tập 1, 75.

The sealing time of the one hundred and forty-four thousand had arrived, but it was to be delayed by the rebellion of 1863. On September 11, 2001 the sealing process began when Christ, represented as the mighty angel of Revelation chapter eighteen, descended with a hidden book in His hand that God’s last day people were to eat. The Alpha and Omega always illustrates the end with the beginning, so in the last days there was another truth that was placed in a special light, and it was directly connected to the Sabbath truth that was highlighted the first time Christ attempted to seal the one hundred and forty-four thousand.

Thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn đã đến, nhưng đã bị trì hoãn bởi sự phản loạn năm 1863. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, tiến trình đóng ấn bắt đầu khi Đấng Christ, được mô tả như thiên sứ quyền năng của Khải Huyền chương mười tám, giáng xuống với một quyển sách giấu kín trong tay Ngài mà dân sự của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt được truyền phải ăn. Đấng Alpha và Omega luôn minh họa sự kết thúc bằng khởi đầu, nên trong những ngày sau rốt có một lẽ thật khác được soi sáng cách đặc biệt, và nó liên hệ trực tiếp với lẽ thật về ngày Sa-bát, lẽ thật đã được nhấn mạnh vào lần đầu tiên Đấng Christ tìm cách đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn.

“The time has come for Daniel to stand in his lot. The time has come for the light given him to go to the world as never before. If those for whom the Lord has done so much will walk in the light, their knowledge of Christ and the prophecies relating to Him will be greatly increased as they near the close of this earth’s history.

Đã đến lúc Đa-ni-ên đứng trong phần của mình. Đã đến lúc ánh sáng được ban cho ông lan tỏa ra thế giới như chưa từng có. Nếu những người vì họ Chúa đã làm biết bao điều bước đi trong ánh sáng, thì sự hiểu biết của họ về Đấng Christ và các lời tiên tri liên quan đến Ngài sẽ được gia tăng rất nhiều khi họ tiến gần đến đoạn kết của lịch sử trái đất này.

“Those who commune with God walk in the light of the Sun of Righteousness. They do not dishonor their Redeemer by corrupting their way before God. Heavenly light shines upon them. They are of infinite worth in God’s sight, for they are one with Christ. To them the word of God is of surpassing beauty and loveliness. They see its importance. Truth is unfolded to them. The doctrine of the incarnation is invested with a soft radiance. They see that the Scripture is the key which unlocks all mysteries and solves all difficulties. Those who have been unwilling to receive the light and walk in the light will not be able to understand the mystery of godliness, but those who have not hesitated to take up the cross and follow Jesus will see light in God’s light.” Manuscript Releases, number 21, 406, 407.

“Những ai thông công với Đức Chúa Trời bước đi trong ánh sáng của Mặt Trời Công Chính. Họ không làm ô danh Đấng Cứu Chuộc mình bằng cách làm bại hoại đường lối mình trước mặt Đức Chúa Trời. Ánh sáng thiên thượng chiếu rọi trên họ. Trong mắt Đức Chúa Trời, họ có giá trị vô hạn, vì họ hiệp một với Đấng Christ. Đối với họ, lời của Đức Chúa Trời có vẻ đẹp và sự duyên dáng vượt trội. Họ thấy tầm quan trọng của lời ấy. Lẽ thật được mở bày cho họ. Tín lý về sự nhập thể được phủ một hào quang dịu nhẹ. Họ thấy rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra mọi điều mầu nhiệm và giải quyết mọi khó khăn. Những ai đã không sẵn lòng tiếp nhận ánh sáng và bước đi trong ánh sáng sẽ không thể hiểu được mầu nhiệm của sự tin kính, nhưng những người không ngần ngại vác thập tự giá và theo Chúa Jêsus sẽ thấy ánh sáng trong ánh sáng của Đức Chúa Trời.” Manuscript Releases, số 21, 406, 407.

The doctrine of the incarnation is the truth that divinity combined with humanity does not sin, and the sign of those who have reached that experience in the last days is the Sabbath.

Giáo lý về sự Nhập Thể là chân lý rằng thần tính kết hợp với nhân tính thì không phạm tội, và dấu hiệu của những người đã đạt đến kinh nghiệm ấy trong những ngày sau rốt là ngày Sa-bát.

Moreover also I gave them my sabbaths, to be a sign between me and them, that they might know that I am the Lord that sanctify them. Ezekiel 20:12.

Hơn nữa, Ta cũng ban cho họ các ngày Sa-bát của Ta, để làm dấu giữa Ta và họ, để họ biết rằng Ta là Đức Chúa Trời, Đấng thánh hóa họ. Ê-xê-chi-ên 20:12.

The one hundred and forty-four thousand are sealed for eternity, and the process of the sealing identifies a short period of time at the end of the sealing process, just before the Sunday law, when the seal is impressed. In that short period of time divinity is combined with humanity, permanently.

Một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đóng ấn đến muôn đời, và tiến trình đóng ấn xác định một khoảng thời gian ngắn ở phần cuối của tiến trình ấy, ngay trước luật ngày Chủ nhật, khi dấu ấn được đóng. Trong khoảng thời gian ngắn đó, thần tính kết hợp với nhân tính một cách vĩnh viễn.

“What are you doing, brethren, in the great work of preparation? Those who are uniting with the world are receiving the worldly mold and preparing for the mark of the beast. Those who are distrustful of self, who are humbling themselves before God and purifying their souls by obeying the truth these are receiving the heavenly mold and preparing for the seal of God in their foreheads. When the decree goes forth and the stamp is impressed, their character will remain pure and spotless for eternity.

Hỡi anh em, trong công cuộc chuẩn bị trọng đại, anh em đang làm gì? Những ai đang hòa mình với thế gian thì nhận lấy khuôn mẫu của thế gian và chuẩn bị cho dấu của con thú. Còn những người không tin cậy nơi bản thân, hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời và thanh tẩy linh hồn bằng cách vâng theo lẽ thật, thì đang nhận lấy khuôn mẫu thiên thượng và chuẩn bị cho ấn của Đức Chúa Trời trên trán họ. Khi sắc lệnh được ban ra và ấn được đóng, tính cách của họ sẽ vẫn thanh khiết, không tì vết đến đời đời.

“Now is the time to prepare. The seal of God will never be placed upon the forehead of an impure man or woman. It will never be placed upon the forehead of the ambitious, world-loving man or woman. It will never be placed upon the forehead of men or women of false tongues or deceitful hearts. All who receive the seal must be without spot before God—candidates for heaven. Go forward, my brethren and sisters. I can only write briefly upon these points at this time, merely calling your attention to the necessity of preparation. Search the Scriptures for yourselves, that you may understand the fearful solemnity of the present hour.” Testimonies, volume 5, 216.

Bây giờ là lúc để chuẩn bị. Dấu ấn của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ được đặt trên trán của người nam hay người nữ ô uế. Nó sẽ không bao giờ được đặt trên trán của người nam hay người nữ đầy tham vọng, yêu mến thế gian. Nó sẽ không bao giờ được đặt trên trán của những người nam hay nữ có lưỡi dối trá hoặc lòng dạ gian xảo. Tất cả những ai nhận được dấu ấn ấy phải không tì vết trước mặt Đức Chúa Trời—những người đủ tư cách cho thiên đàng. Hãy tiến lên, hỡi anh chị em của tôi. Lúc này tôi chỉ có thể viết ngắn gọn về những điểm này, chỉ để kêu gọi anh chị em chú ý đến sự cần thiết của việc chuẩn bị. Hãy tự mình tra xem Kinh Thánh, để anh chị em có thể hiểu được sự trang nghiêm đáng kính sợ của giờ phút hiện tại. Lời chứng, tập 5, 216.

The previous passage might suggest that the seal is impressed at the Sunday law, but this is not the case. Sister White is clear that the Sunday law is a great crisis, and she also teaches clearly that character is manifested in a crisis, but never developed in a crisis. The seal is impressed at the Sunday law in the sense that it then becomes visible, for those who then have the seal are lifted up as an ensign. The seal is impressed in a short period of time, just before probation closes, and for Sabbath-keepers, probation closes at the Sunday law. The sealing began on September 11, 2001, and no one then received the seal of God, for as illustrated in the period of time following October 22, 1844, there was first to be a testing process.

Đoạn trước có thể gợi ý rằng dấu ấn được đóng vào lúc Đạo luật Chủ nhật, nhưng không phải như vậy. Chị White khẳng định rõ ràng rằng Đạo luật Chủ nhật là một cơn khủng hoảng lớn, và bà cũng dạy rõ rằng tính cách được bộc lộ trong khủng hoảng, chứ không bao giờ được phát triển trong khủng hoảng. Dấu ấn được đóng vào lúc Đạo luật Chủ nhật theo một nghĩa là khi ấy nó trở nên hiển lộ, vì những người lúc đó có dấu ấn sẽ được giương lên như một cờ hiệu. Dấu ấn được đóng trong một khoảng thời gian ngắn, ngay trước khi thời kỳ ân điển đóng lại, và đối với những người giữ ngày Sa-bát, thời kỳ ân điển đóng lại khi Đạo luật Chủ nhật được ban hành. Công cuộc đóng ấn bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và khi đó không ai nhận được dấu ấn của Đức Chúa Trời, vì như được minh họa trong khoảng thời gian sau ngày 22 tháng 10 năm 1844, trước hết phải có một quá trình thử luyện.

In every reform movement, when the divine symbol descends to empower the message that was unsealed at the time of the end, a testing process begins. When Michael descended to empower Cyrus to move forward with the first decree, the Jews were then tested as to whether they would leave the home they had lived in for the previous seventy years and return to a ruined city and rebuild it. When the Holy Spirit descended at the baptism of Christ, the Jews were tested on the subject of the Messiah. When the mighty angel of Revelation ten descended on August 11, 1840, that generation was tested on whether they would eat the little book, and all that the little book represented.

Trong mọi phong trào cải cách, khi biểu tượng thiêng liêng giáng xuống để ban quyền năng cho sứ điệp đã được mở ấn vào thời kỳ cuối cùng, một tiến trình thử thách bắt đầu. Khi Michael giáng xuống để ban quyền năng cho Cyrus tiến hành sắc lệnh thứ nhất, người Do Thái khi ấy bị thử thách xem họ có rời bỏ nơi chốn họ đã sống suốt bảy mươi năm trước đó để trở về một thành phố đổ nát và xây dựng lại nó hay không. Khi Đức Thánh Linh giáng xuống tại phép báp-têm của Đấng Christ, người Do Thái đã được thử thách về vấn đề Đấng Mê-si. Khi thiên sứ quyền năng của Khải Huyền đoạn mười giáng xuống vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, thế hệ ấy đã bị thử thách xem họ có ăn cuốn sách nhỏ, và tất cả những gì cuốn sách nhỏ đại diện, hay không.

A testing process began on August 11, 1840 that produced two classes of worshippers, and the class that followed the Lamb into the Most Holy Place were candidates to be among the one hundred and forty-four thousand. The final test for that generation, who failed the testing process, began with the arrival of increased light upon the “seven times,” of Leviticus twenty-six. From 1856 unto 1863, the Laodicean message marked a final period of time in the period that began with the arrival of the third angel on October 22, 1844. That period of time is represented by verses thirteen through fifteen of Daniel chapter eleven.

Một tiến trình thử nghiệm đã bắt đầu vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, tạo ra hai hạng người thờ phượng, và hạng người theo Chiên Con vào Nơi Chí Thánh là những ứng viên để thuộc về số một trăm bốn mươi bốn nghìn. Bài thử cuối cùng cho thế hệ ấy, những người đã thất bại trong tiến trình thử nghiệm, bắt đầu với sự xuất hiện của ánh sáng gia tăng về “bảy lần” trong Lê-vi Ký 26. Từ năm 1856 đến 1863, sứ điệp La-ô-đi-xê đánh dấu một giai đoạn cuối cùng trong khoảng thời gian bắt đầu với sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Khoảng thời gian ấy được thể hiện trong các câu 13 đến 15 của Đa-ni-ên chương 11.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“‘In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God. The same was in the beginning with God. All things were made by him; and without him was not any thing made that was made. In him was life; and the life was the light of men. And the light shineth in darkness; and the darkness comprehended it not.’ ‘And the Word was made flesh, and dwelt among us, (and we beheld his glory, the glory as of the only begotten of the Father,) full of grace and truth’ (John 1:1–5, 14).

'Ban đầu có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Chính Ngài ở với Đức Chúa Trời từ ban đầu. Muôn vật đã nhờ Ngài mà được tạo nên; không có Ngài thì chẳng có một vật nào đã được tạo nên. Trong Ngài có sự sống; và sự sống ấy là ánh sáng của loài người. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối; và bóng tối không thắng được ánh sáng ấy.' 'Và Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và ở giữa chúng ta, (và chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài, vinh quang như của Con Một từ nơi Cha,) đầy ân điển và lẽ thật' (Giăng 1:1-5, 14).

“This chapter delineates the character and importance of the work of Christ. As one who understands his subject, John ascribes all power to Christ, and speaks of His greatness and majesty. He flashes forth divine rays of precious truth, as light from the sun. He presents Christ as the only Mediator between God and humanity.

Chương này trình bày rõ bản chất và tầm quan trọng của công việc của Đấng Christ. Là người am hiểu đề tài của mình, Giăng quy mọi quyền năng cho Đấng Christ và nói về sự vĩ đại và uy nghi của Ngài. Ông chiếu tỏa những tia sáng thần linh của chân lý quý báu, như ánh sáng từ mặt trời. Ông trình bày Đấng Christ như Đấng Trung Gian duy nhất giữa Đức Chúa Trời và nhân loại.

“The doctrine of the incarnation of Christ in human flesh is a mystery, ‘even the mystery which hath been hid from ages and from generations’ (Colossians 1:26). It is the great and profound mystery of godliness. ‘The Word was made flesh, and dwelt among us’ (John 1:14). Christ took upon Himself human nature, a nature inferior to His heavenly nature. Nothing so shows the wonderful condescension of God as this. He ‘so loved the world, that he gave his only begotten Son’ (John 3:16). John presents this wonderful subject with such simplicity that all may grasp the ideas set forth, and be enlightened.

Giáo lý về sự nhập thể của Đấng Christ trong xác thịt loài người là một mầu nhiệm, “tức là mầu nhiệm đã được giấu từ các thời đại và các thế hệ” (Cô-lô-se 1:26). Đó là mầu nhiệm lớn lao và sâu nhiệm của sự tin kính. “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và ở giữa chúng ta” (Giăng 1:14). Đấng Christ đã mặc lấy bản tính loài người, một bản tính thấp hơn bản tính thiên thượng của Ngài. Không có điều gì bày tỏ sự hạ mình kỳ diệu của Đức Chúa Trời bằng điều này. Ngài “đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài” (Giăng 3:16). Giăng trình bày đề tài kỳ diệu này với sự đơn giản đến mức mọi người đều có thể nắm bắt những ý tưởng được nêu ra và được soi sáng.

“Christ did not make believe take human nature; He did verily take it. He did in reality possess human nature. ‘As the children are partakers of flesh and blood, he also himself likewise took part of the same’ (Hebrews 2:14). He was the son of Mary; He was of the seed of David according to human descent. He is declared to be a man, even the Man Christ Jesus. ‘This man,’ writes Paul, ‘was counted worthy of more glory than Moses, inasmuch as he who hath builded the house hath more honour than the house’ (Hebrews 3:3).

Đấng Christ không hề chỉ giả bộ nhận lấy bản tính loài người; Ngài thật sự đã nhận lấy nó. Ngài thật sự có bản tính loài người. 'Vì con cái cùng dự phần về thịt và huyết, thì chính Ngài cũng vậy, đã dự phần vào những điều ấy' (Hê-bơ-rơ 2:14). Ngài là con của Ma-ri; theo huyết thống loài người, Ngài thuộc dòng dõi Đa-vít. Ngài được tuyên bố là một người, tức là Người, Đấng Christ Jêsus. 'Người này,' Phao-lô viết, 'được kể là xứng đáng vinh hiển hơn Môi-se, vì người xây cất nhà thì có danh dự hơn cái nhà' (Hê-bơ-rơ 3:3).

“But while God’s Word speaks of the humanity of Christ when upon this earth, it also speaks decidedly regarding His pre-existence. The Word existed as a divine being, even as the eternal Son of God, in union and oneness with His Father. From everlasting He was the Mediator of the covenant, the one in whom all nations of the earth, both Jews and Gentiles, if they accepted Him, were to be blessed. ‘The Word was with God, and the Word was God’ (John 1:1). Before men or angels were created, the Word was with God, and was God.

Nhưng trong khi Lời của Đức Chúa Trời nói về nhân tính của Đấng Christ khi Ngài ở trên đất này, thì Lời ấy cũng khẳng định dứt khoát về sự tiền hữu của Ngài. Ngôi Lời đã hiện hữu như một hữu thể thần linh, chính là Con đời đời của Đức Chúa Trời, trong sự hiệp nhất và nên một với Cha Ngài. Từ muôn đời, Ngài là Đấng Trung Bảo của giao ước, Đấng mà trong Ngài mọi dân tộc trên đất, cả người Do Thái lẫn dân ngoại, nếu họ tiếp nhận Ngài, đều sẽ được ban phước. “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời” (Giăng 1:1). Trước khi loài người hay các thiên sứ được dựng nên, Ngôi Lời đã ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngài là Đức Chúa Trời.

“The world was made by Him, ‘and without him was not anything made that was made’ (John 1:3). If Christ made all things, He existed before all things. The words spoken in regard to this are so decisive that no one need be left in doubt. Christ was God essentially, and in the highest sense. He was with God from all eternity, God over all, blessed forevermore.

Thế gian được Ngài dựng nên, ‘và chẳng có vật chi đã được dựng nên mà không bởi Ngài’ (Giăng 1:3). Nếu Đấng Christ đã dựng nên muôn vật, thì Ngài đã hiện hữu trước muôn vật. Những lời đã phán liên quan đến điều này dứt khoát đến nỗi không ai cần phải còn nghi ngờ. Đấng Christ là Đức Chúa Trời về bản chất, và theo nghĩa cao nhất. Ngài ở cùng Đức Chúa Trời từ trước vô cùng, là Đức Chúa Trời trên hết thảy, được chúc tụng đời đời.

“The Lord Jesus Christ, the divine Son of God, existed from eternity, a distinct person, yet one with the Father. He was the surpassing glory of heaven. He was the commander of the heavenly intelligences, and the adoring homage of the angels was received by Him as His right. This was no robbery of God. ‘The Lord possessed me in the beginning of his way,’ He declares, ‘before his works of old. I was set up from everlasting, from the beginning, or ever the earth was. When there were no depths, I was brought forth; when there were no fountains abounding with water. Before the mountains were settled, before the hills was I brought forth: while as yet he had not made the earth, nor the fields, nor the highest part of the dust of the world. When he prepared the heavens, I was there: when he set a compass upon the face of the depth’ (Proverbs 8:22–27).

Chúa Giê-su Christ, Con Đức Chúa Trời mang thần tính, đã hiện hữu từ đời đời, là một ngôi vị riêng biệt, nhưng một với Cha. Ngài là vinh quang trổi vượt của thiên đàng. Ngài là Đấng Chỉ huy các trí tuệ thiên thượng, và Ngài nhận sự tôn kính thờ phượng của các thiên sứ như quyền thuộc về Ngài. Điều đó không phải là cướp đoạt của Đức Chúa Trời. 'Chúa đã có ta từ ban đầu đường lối của Ngài,' Ngài phán, 'trước các công việc thuở xưa của Ngài. Ta đã được lập nên từ đời đời, từ ban đầu, trước khi đất được tạo dựng. Khi chưa có vực sâu nào, ta đã được sinh ra; khi chưa có các suối chan chứa nước. Trước khi các núi được đặt vững, trước các đồi, ta đã được sinh ra: khi bấy giờ Ngài còn chưa làm nên đất, cũng chưa làm nên đồng ruộng, cũng chưa làm nên phần cao nhất của bụi đất thế gian. Khi Ngài dựng nên các tầng trời, ta có mặt ở đó; khi Ngài vạch một vòng tròn trên mặt vực sâu' (Châm Ngôn 8:22-27).

“There are light and glory in the truth that Christ was one with the Father before the foundation of the world was laid. This is the light shining in a dark place, making it resplendent with divine, original glory. This truth, infinitely mysterious in itself, explains other mysterious and otherwise unexplainable truths, while it is enshrined in light, unapproachable and incomprehensible.” Selected Messages, book 1, 246–248.

“Có ánh sáng và vinh quang trong lẽ thật rằng Đấng Christ đã là một với Cha trước khi nền móng của thế gian được đặt. Đây là ánh sáng chiếu rọi vào chốn tối tăm, khiến chốn ấy rực rỡ với vinh quang thiêng liêng ban đầu. Chân lý này, tự thân vô cùng nhiệm mầu, giải thích những chân lý nhiệm mầu khác mà ngoài ra thì không thể giải thích được, trong khi chính nó được bao bọc trong ánh sáng không thể đến gần và không thể hiểu thấu.” Selected Messages, quyển 1, 246-248.