The final test for the Millerite generation, who failed the testing process, began in 1856, with the arrival of increased light upon the “seven times” of Leviticus twenty-six. From 1856 to 1863 the Laodicean message marked a final period of time in the period that began with the arrival of the third angel on October 22, 1844. That period of time is represented by verses thirteen through fifteen of Daniel chapter eleven.

Bài thử cuối cùng dành cho thế hệ Millerite, những người đã thất bại trong tiến trình thử thách, bắt đầu vào năm 1856, với sự xuất hiện của ánh sáng thêm về “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn 26. Từ năm 1856 đến 1863, thông điệp La-ô-đi-xê đánh dấu một khoảng thời gian cuối cùng trong thời kỳ đã bắt đầu với sự xuất hiện của thiên sứ thứ ba vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Khoảng thời gian đó được thể hiện bởi các câu 13 đến 15 của Đa-ni-ên đoạn 11.

That period of time is illustrated by not only those verses, but also by the history that fulfilled those verses, and also by the geographical witness of Panium, which is also Caesarea Philippi. Caesarea Philippi was purposely visited by Christ just before the cross, and the cross represents the Sunday law, that is represented by verse sixteen. On October 22, 1844 the Lion of the tribe of Judah identified the doctrine of the Sabbath in a special light. Then at the end of that testing process He introduced an increase of knowledge upon the “seven times,” and the “seven times” of Leviticus twenty-six is a doctrine of the Sabbath. It is the Sabbath commandment of the land resting that is a direct parallel to the Sabbath commandment of men resting. The time prophecy of the twenty-five hundred and twenty years and the twenty-three hundred years both ended on October 22, 1844.

Khoảng thời gian đó được minh họa không chỉ bởi những câu ấy, mà còn bởi lịch sử đã ứng nghiệm những câu ấy, và bởi chứng tích địa lý tại Panium, cũng chính là Caesarea Philippi. Đấng Christ đã cố ý đến Caesarea Philippi ngay trước khi lên thập tự giá, và thập tự giá tượng trưng cho luật Chủ nhật, điều này được biểu thị bởi câu mười sáu. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, Sư tử của chi phái Giu-đa đã làm sáng tỏ giáo lý về ngày Sa-bát dưới một ánh sáng đặc biệt. Rồi vào cuối tiến trình thử thách đó, Ngài đã mở ra một sự gia tăng hiểu biết về “bảy lần”, và “bảy lần” trong Lê-vi Ký 26 là một giáo lý về ngày Sa-bát. Đó là điều răn về Sa-bát cho đất đai được nghỉ, tương ứng trực tiếp với điều răn về Sa-bát cho con người được nghỉ. Lời tiên tri thời kỳ 2.520 năm và 2.300 năm đều kết thúc vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.

The final period of the testing process, from 1856 to 1863, was a greater revelation of the Sabbath, which had been placed in a special light at the beginning of the sealing and testing process. The history represented by the fulfillment of verses thirteen to fifteen of Daniel eleven represents the testing period where the seal of God is impressed for eternity upon the one hundred and forty-four thousand. In that history the two sticks of Ezekiel are joined. The joining of the two sticks represents the combination of divinity with humanity, and the doctrine that shines in a special light in that history is the doctrine of the incarnation.

Giai đoạn cuối cùng của tiến trình thử nghiệm, từ năm 1856 đến 1863, là một sự bày tỏ lớn hơn về ngày Sa-bát, vốn đã được soi rọi trong một ánh sáng đặc biệt ngay từ lúc khởi đầu của tiến trình đóng ấn và thử nghiệm. Lịch sử được thể hiện qua sự ứng nghiệm các câu 13 đến 15 của Đa-ni-ên đoạn 11 tượng trưng cho thời kỳ thử nghiệm, trong đó ấn của Đức Chúa Trời được đóng vĩnh viễn trên một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Trong lịch sử ấy, hai cây gậy của Ê-xê-chi-ên được hiệp lại làm một. Sự hiệp lại của hai cây gậy tượng trưng cho sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính, và giáo lý tỏa sáng trong một ánh sáng đặc biệt trong lịch sử ấy là giáo lý về sự nhập thể.

For this reason, when Peter identified Christ as the Son of God in Caesarea Philippi, he was acknowledging that Christ, as the Son of God represented His dual nature of being the divine Son of God, who had taken upon Himself human flesh, and in so doing became the son of man.

Vì thế, khi Phêrô tuyên xưng Đức Kitô là Con Thiên Chúa tại Caesarea Philippi, ông đã thừa nhận rằng Đức Kitô, với tư cách là Con Thiên Chúa, biểu lộ bản tính kép của Người: vừa là Con Thiên Chúa mang bản tính thần linh, vừa mặc lấy xác phàm, và như thế trở nên Con Người.

“As the disciples searched the prophecies that testified of Christ, they were brought into fellowship with the Deity, and learned of Him who had ascended to heaven to complete the work He had begun on earth. They recognized the fact that in Him dwelt knowledge which no human being, unaided by divine agency, could comprehend. They needed the help of Him whom kings, prophets, and righteous men had foretold. With amazement they read and reread the prophetic delineations of His character and work. How dimly had they comprehended the prophetic scriptures! how slow they had been in taking in the great truths which testified of Christ! Looking upon Him in His humiliation, as He walked a man among men, they had not understood the mystery of His incarnation, the dual character of His nature. Their eyes were holden, so that they did not fully recognize divinity in humanity. But after they were illuminated by the Holy Spirit, how they longed to see Him again, and to place themselves at His feet!” Desire of Ages, 507.

"Khi các môn đồ nghiên cứu những lời tiên tri làm chứng về Đấng Christ, họ được đưa vào sự thông công với Đức Chúa Trời và học biết về Đấng đã thăng thiên để hoàn tất công việc Ngài đã khởi sự trên đất. Họ nhận ra rằng trong Ngài có sự hiểu biết mà chẳng một con người nào, nếu không có sự trợ giúp thần linh, có thể hiểu thấu. Họ cần sự giúp đỡ của Đấng mà các vua, các nhà tiên tri và những người công chính đã tiên báo. Trong kinh ngạc, họ đọc đi đọc lại những mô tả tiên tri về tính cách và công việc của Ngài. Họ đã hiểu các Kinh Thánh tiên tri một cách mơ hồ biết bao! Họ đã chậm chạp biết bao trong việc nắm bắt những lẽ thật lớn lao làm chứng về Đấng Christ! Nhìn Ngài trong sự tự hạ, khi Ngài bước đi như một người giữa loài người, họ đã không hiểu mầu nhiệm về sự nhập thể của Ngài, về bản tính kép của Ngài. Mắt họ bị che khuất, nên họ đã không nhận ra trọn vẹn thần tính trong nhân tính. Nhưng sau khi được Đức Thánh Linh soi sáng, họ khao khát biết bao được thấy Ngài một lần nữa, và đặt mình dưới chân Ngài!" Khát vọng các thời đại, 507.

October 22, 1844 through to 1863 represents the sealing time of the one hundred and forty-four thousand. That period began with the Sabbath being highlighted as the special truth among the many truths that are unsealed during the period of the sealing. The period began the sounding of the Seventh Trumpet which identifies when the mystery of God was to be finished.

Ngày 22 tháng 10 năm 1844 cho đến năm 1863 là thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn người. Giai đoạn ấy bắt đầu với việc ngày Sa-bát được nhấn mạnh như lẽ thật đặc biệt giữa nhiều lẽ thật được mở ấn trong thời kỳ đóng ấn. Giai đoạn ấy đánh dấu sự vang lên của Kèn Thứ Bảy, vốn xác định thời điểm sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn tất.

But in the days of the voice of the seventh angel, when he shall begin to sound, the mystery of God should be finished, as he hath declared to his servants the prophets. Revelation 10:7.

Nhưng trong những ngày tiếng của thiên sứ thứ bảy vang lên, khi người bắt đầu thổi kèn, thì sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn tất, như Ngài đã rao truyền cho các đầy tớ Ngài là các tiên tri. Khải Huyền 10:7.

The seventh angel is also the third Woe, for the sealing takes place in the history when the warfare of Islam is active. Had Millerite Adventism been faithful in the period that followed October 22, 1844, Islam that had been restrained on August 11, 1840, would have been released.

Thiên sứ thứ bảy cũng là tai họa thứ ba, vì việc đóng ấn xảy ra vào thời kỳ lịch sử khi chiến cuộc của Hồi giáo đang diễn ra. Nếu Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm Miller đã trung tín trong giai đoạn sau ngày 22 tháng 10 năm 1844, thì Hồi giáo, vốn đã bị kiềm chế vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, đã được thả ra.

“Had Adventists, after the great disappointment in 1844, held fast their faith and followed on unitedly in the opening providence of God, receiving the message of the third angel and in the power of the Holy Spirit proclaiming it to the world, they would have seen the salvation of God, the Lord would have wrought mightily with their efforts, the work would have been completed, and Christ would have come ere this to receive His people to their reward. But in the period of doubt and uncertainty that followed the disappointment, many of the advent believers yielded their faith. . . . Thus the work was hindered, and the world was left in darkness. Had the whole Adventist body united upon the commandments of God and the faith of Jesus, how widely different would have been our history!” Evangelism, 695.

"Giá như những người Cơ Đốc Phục Lâm, sau sự thất vọng lớn năm 1844, đã giữ vững đức tin của họ và đồng lòng bước theo trong sự quan phòng đang mở ra của Đức Chúa Trời, tiếp nhận sứ điệp của thiên sứ thứ ba và trong quyền năng của Đức Thánh Linh rao truyền sứ điệp ấy cho thế gian, thì họ đã thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời; Chúa đã hành động cách quyền năng qua những nỗ lực của họ; công việc đã được hoàn tất, và Đấng Christ đã đến từ lâu để tiếp nhận dân Ngài vào phần thưởng của họ. Nhưng trong thời kỳ nghi ngờ và bất định theo sau sự thất vọng ấy, nhiều tín hữu chờ đợi sự tái lâm đã từ bỏ đức tin của mình. ... Như thế công việc đã bị cản trở, và thế gian bị bỏ lại trong bóng tối. Giá như toàn thể khối Cơ Đốc Phục Lâm đã hiệp nhất trên các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Đức Chúa Giê-su, thì lịch sử của chúng ta đã khác biết bao!" Evangelism, 695.

On October 22, 1844 the Seventh Trumpet began to sound and the Jubilee Trumpet also began to sound.

Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, tiếng kèn thứ bảy bắt đầu vang lên và tiếng kèn Năm Hồng Ân cũng bắt đầu vang lên.

And thou shalt number seven sabbaths of years unto thee, seven times seven years; and the space of the seven sabbaths of years shall be unto thee forty and nine years. Then shalt thou cause the trumpet of the jubilee to sound on the tenth day of the seventh month, in the day of atonement shall ye make the trumpet sound throughout all your land. And ye shall hallow the fiftieth year, and proclaim liberty throughout all the land unto all the inhabitants thereof: it shall be a jubilee unto you; and ye shall return every man unto his possession, and ye shall return every man unto his family. Leviticus 25:8–10.

Ngươi hãy đếm cho mình bảy kỳ sa-bát của những năm, tức bảy lần bảy năm; và thời hạn của bảy kỳ sa-bát của những năm ấy sẽ là bốn mươi chín năm cho ngươi. Bấy giờ ngươi sẽ cho thổi kèn của năm hân hỉ vào ngày mồng mười tháng thứ bảy; trong ngày Lễ Chuộc tội, các ngươi sẽ làm cho tiếng kèn vang khắp cả xứ của mình. Các ngươi sẽ biệt riêng nên thánh năm thứ năm mươi và công bố tự do khắp trong xứ cho mọi cư dân ở đó: ấy sẽ là năm hân hỉ cho các ngươi; mỗi người sẽ trở về sản nghiệp của mình, và mỗi người sẽ trở về gia đình mình. Lê-vi Ký 25:8-10.

When the sealing time of the one hundred and forty-four thousand begins there is a Trumpet that identifies that the warfare accomplished by Islam has arrived, and a Trumpet that proclaims liberty for those who have been slaves of sin. One trumpet identifies the external history, and the other represents the internal experience of those last-day covenant people. Their slavery is relieved when their humanity is joined with His divinity for eternity. Line upon line, those two Trumpets are one Trumpet, for the Jubilee Trumpet is only blown on the Day of Atonement, and the Day of Atonement begins when the Seventh Trumpet of the third Woe is sounded. The doctrine that represented both Trumpets in the Millerite movement was the light of the Sabbath. The light that represents both Trumpets in these last days is the doctrine of the incarnation. Line upon line, the Sabbath and the doctrine of the incarnation are the same doctrine.

Khi thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn bắt đầu, có một tiếng kèn báo hiệu rằng cuộc chiến do Hồi giáo thực hiện đã tới, và một tiếng kèn công bố tự do cho những người đã là nô lệ cho tội lỗi. Một tiếng kèn xác định lịch sử bên ngoài, còn tiếng kia tượng trưng cho kinh nghiệm nội tâm của dân giao ước trong những ngày sau rốt. Tình trạng nô lệ của họ được giải thoát khi nhân tính của họ được kết hiệp với thần tính của Ngài đến đời đời. Dòng nọ dòng kia, hai tiếng kèn ấy là một tiếng kèn, vì kèn Năm Hân Hỷ chỉ được thổi vào Ngày Lễ Chuộc Tội, và Ngày Lễ Chuộc Tội bắt đầu khi kèn thứ bảy của hoạ thứ ba vang lên. Giáo lý đại diện cho cả hai tiếng kèn trong phong trào Millerite là ánh sáng về ngày Sa-bát. Ánh sáng đại diện cho cả hai tiếng kèn trong những ngày sau rốt này là giáo lý về sự nhập thể. Dòng nọ dòng kia, ngày Sa-bát và giáo lý về sự nhập thể là cùng một giáo lý.

Peter’s confession identified the Messiah, and also the Son of God. The Messiah is the Son of God. The Messiah is the creator represented by the Sabbath.

Lời tuyên xưng của Peter đã chỉ rõ Đấng Mêsia, và cả Con Thiên Chúa. Đấng Mêsia là Con Thiên Chúa. Đấng Mêsia là Đấng Tạo Hóa được tượng trưng bởi ngày Sa-bát.

“Paul had never seen Christ while he dwelt upon the earth. He had indeed heard of him and his works, but he could not believe that the promised Messiah, the Creator of all worlds, the Giver of all blessings, would appear upon earth as a mere man.” Sketches from the Life of Paul, 256.

"Phao-lô chưa bao giờ thấy Đấng Christ khi Ngài còn ở trên đất. Quả thật, ông đã nghe nói về Ngài và những việc Ngài làm, nhưng ông không thể tin rằng Đấng Mê-si đã được hứa, Đấng Tạo Hóa của muôn thế giới, Đấng ban mọi phước lành, lại xuất hiện trên đất như chỉ một người phàm." Phác họa về đời sống của Phao-lô, trang 256.

The Sabbath identifies the Creator and the Creator was the Christ that Peter identified. The Son of God, who Peter identified is He who combined with human flesh to become the son of man. The Son of God represents the incarnation.

Ngày Sa-bát chỉ ra Đấng Tạo Hóa, và Đấng Tạo Hóa ấy chính là Đấng Christ mà Phi-e-rơ đã xác nhận. Con Đức Chúa Trời, Đấng mà Phi-e-rơ đã xác nhận, là Đấng đã kết hợp với xác thịt loài người để trở thành Con Người. Con Đức Chúa Trời là sự nhập thể.

“Christ brought men and women power to overcome. He came to this world in human form, to live a man amongst men. He assumed the liabilities of human nature, to be proved and tried. In His humanity He was a partaker of the divine nature. In His incarnation He gained in a new sense the title of the Son of God. Said the angel to Mary, ‘The power of the Highest shall overshadow thee: therefore also that holy thing which shall be born of thee shall be called the Son of God’ (Luke 1:35). While the Son of a human being, He became the Son of God in a new sense. Thus He stood in our world—the Son of God, yet allied by birth to the human race.” Selected Messages, book 1, 226.

“Đấng Christ đã mang đến cho nam và nữ quyền năng để đắc thắng. Ngài đã đến thế gian này trong thân phận con người, để sống như một người giữa loài người. Ngài đã mang lấy những giới hạn và yếu đuối của bản tính con người, để được chứng nghiệm và thử luyện. Trong nhân tính của Ngài, Ngài dự phần vào bản tính Đức Chúa Trời. Trong sự nhập thể của Ngài, Ngài đã, theo một ý nghĩa mới, đạt được danh xưng Con Đức Chúa Trời. Thiên sứ nói với Ma-ri: ‘Quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ bao phủ ngươi; vì vậy con thánh sinh ra bởi ngươi sẽ được gọi là Con Đức Chúa Trời’ (Lu-ca 1:35). Dầu là Con của một người phàm, Ngài đã trở thành Con Đức Chúa Trời theo một ý nghĩa mới. Như vậy, Ngài đứng giữa thế gian chúng ta - Con Đức Chúa Trời, nhưng bởi sự sinh ra mà liên kết với nhân loại.” Những Thông Điệp Tuyển Chọn, quyển 1, 226.

At Caesarea Philippi, Peter’s twofold confession represented the one hundred and forty-four thousand who understand that Jesus is the Christ, the Son of God and the doctrine of the Sabbath that was lightened in 1844, along with the doctrine of the incarnation that is recognized in the last days. The light of the twofold truth is opened up at the beginning and ending of the period of the sealing, as witnessed by the history of the sealing from October 22, 1844 to 1863, and the history of Revelation chapter eighteen’s two voices.

Tại Sê-sa-rê Phi-líp, lời xưng nhận hai phần của Phi-e-rơ tượng trưng cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người hiểu rằng Chúa Giê-su là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, cũng như giáo lý về ngày Sa-bát đã được làm sáng tỏ vào năm 1844, cùng với giáo lý về sự nhập thể được nhận biết trong những ngày sau rốt. Ánh sáng của lẽ thật hai phần được bày tỏ ở lúc khởi đầu và lúc kết thúc của thời kỳ đóng ấn, như được chứng thực bởi lịch sử của sự đóng ấn từ ngày 22 tháng 10 năm 1844 đến năm 1863, và lịch sử về hai tiếng nói trong Khải Huyền chương mười tám.

In both the Millerite line of the sealing process, and the prophetic line of the sealing in Revelation eighteen, there is a test at the very end of the period where one class is manifested as foolish virgins, as was the case from 1856 to 1863, and a class is manifested as wise virgins from July 2023 unto the soon coming Sunday law. That final period of testing repeats the beginning of the period. The same angel that descended on September 11, 2001 arrives as Michael to call the dead to life in 2023 some to everlasting life and some to everlasting death. When He arrives, He leads His people back to the foundations. Some refuse to walk in the old paths, some do walk in the old paths. Some hearken to the sound of the Trumpet, some refuse to hear.

Trong cả dòng Millerite của tiến trình đóng ấn và dòng tiên tri của sự đóng ấn trong Khải Huyền 18, có một kỳ thử nghiệm ở tận cùng giai đoạn, nơi một nhóm bộc lộ là những trinh nữ dại, như đã xảy ra từ 1856 đến 1863, và một nhóm bộc lộ là những trinh nữ khôn ngoan từ tháng Bảy 2023 cho đến luật Chủ nhật sắp đến. Giai đoạn thử nghiệm cuối cùng ấy lặp lại phần khởi đầu của giai đoạn. Chính thiên sứ đã giáng xuống vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 đến như Mi-ca-ên để gọi kẻ chết sống lại vào năm 2023—một số vào sự sống đời đời và một số vào sự chết đời đời. Khi Ngài đến, Ngài dẫn dân Ngài trở lại với các nền tảng. Có người từ chối bước đi trong các lối xưa, có người bước đi trong các lối xưa. Có người lắng nghe tiếng Kèn, có người từ chối nghe.

Thus saith the Lord, Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein, and ye shall find rest for your souls. But they said, We will not walk therein. Also I set watchmen over you, saying, Hearken to the sound of the trumpet. But they said, We will not hearken. Jeremiah 6:16, 17.

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng nơi các nẻo đường mà xem, và hỏi về các lối xưa, đâu là con đường tốt, hãy bước đi trong đó, thì các ngươi sẽ tìm được sự an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng họ nói: Chúng tôi chẳng bước đi trong đó. Ta cũng đặt những kẻ canh giữ trên các ngươi, mà rằng: Hãy lắng nghe tiếng kèn. Nhưng họ nói: Chúng tôi chẳng lắng nghe. Giê-rê-mi 6:16, 17.

The message represented by the Trumpet which the watchmen blows is twofold. It is the Seventh Trumpet of Islam and the Jubilee Trumpet of deliverance. It is the message of the combination of divinity with humanity, which is accomplished by the mystery of the incarnation, and that produces a character prepared for the seal of God, which is the Sabbath. The message, the work and the circumstances associated with that final period of the sealing which began in July 2023, twenty-two years after 2001, is represented by verses thirteen to fifteen of Daniel chapter eleven, and by Christ’s visit to Caesarea Philippi in Matthew chapter sixteen.

Sứ điệp được biểu trưng bởi Tiếng Kèn mà những người lính canh thổi có hai phần. Đó là Tiếng Kèn Thứ Bảy của Hồi giáo và Tiếng Kèn Năm Hân Hỉ của sự giải cứu. Đó là sứ điệp về sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính, được thực hiện bởi mầu nhiệm nhập thể, và điều đó hình thành một phẩm cách được chuẩn bị cho dấu ấn của Đức Chúa Trời, là ngày Sa-bát. Sứ điệp, công việc và các hoàn cảnh gắn liền với giai đoạn cuối cùng của sự đóng ấn, bắt đầu vào tháng 7 năm 2023, hai mươi hai năm sau năm 2001, được thể hiện qua các câu mười ba đến mười lăm của Đa-ni-ên chương mười một, và qua chuyến thăm của Đấng Christ đến Sê-sa-rê Phi-líp trong Ma-thi-ơ chương mười sáu.

In the parable of the ten virgins all the virgins fell asleep during the tarrying time. Jesus told His disciples that Lazarus sleepeth.

Trong dụ ngôn mười trinh nữ, tất cả các trinh nữ đều ngủ thiếp đi trong thời gian chờ đợi. Chúa Giê-su nói với các môn đồ của Ngài rằng Lazarus đang ngủ.

These things said he: and after that he saith unto them, Our friend Lazarus sleepeth; but I go, that I may awake him out of sleep. Then said his disciples, Lord, if he sleep, he shall do well. Howbeit Jesus spake of his death: but they thought that he had spoken of taking of rest in sleep. Then said Jesus unto them plainly, Lazarus is dead. John 11:10–14.

Ngài đã nói những điều ấy; rồi Ngài bảo họ: Bạn chúng ta La-xa-rơ đang ngủ; nhưng Ta đi để đánh thức ông dậy. Bấy giờ các môn đồ thưa: Thưa Chúa, nếu ông ấy ngủ thì sẽ bình phục. Nhưng Chúa Giê-xu đã nói về sự chết của ông; còn họ lại tưởng Ngài nói về việc nghỉ ngơi trong giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giê-xu nói rõ với họ: La-xa-rơ đã chết. Giăng 11:10-14.

At the end of twenty-one days, Daniel saw the vision, and he was in a deep sleep.

Khi hết hai mươi mốt ngày, Daniel thấy khải tượng, và ông đang chìm trong giấc ngủ sâu.

And I Daniel alone saw the vision: for the men that were with me saw not the vision; but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves. Therefore I was left alone, and saw this great vision, and there remained no strength in me: for my comeliness was turned in me into corruption, and I retained no strength. Yet heard I the voice of his words: and when I heard the voice of his words, then was I in a deep sleep on my face, and my face toward the ground. Daniel 10:7–9.

Chỉ mình tôi, Đa-ni-ên, thấy khải tượng; còn những người đi với tôi thì không thấy khải tượng. Nhưng một cơn kinh hoàng lớn ập đến trên họ, khiến họ chạy trốn để ẩn mình. Vì thế tôi còn lại một mình và thấy khải tượng vĩ đại này; trong tôi không còn chút sức lực nào, vì vẻ tươi tốt của tôi hóa ra hư hoại, và tôi không còn giữ được sức lực. Dù vậy, tôi vẫn nghe tiếng lời của Ngài; và khi nghe tiếng lời của Ngài, tôi liền chìm vào giấc ngủ sâu, sấp mặt xuống đất. Đa-ni-ên 10:7-9.

The two witnesses of Revelation chapter eleven, were dead in the street for three and a half days, and Ezekiel’s dead bones were in the valley. On July 18, 2020 the tarrying time of spiritual death and sleeping was brought upon the virgins of the movement of the third angel. Three years later the process of awakening and preparing God’s last-day people as His ensign and mighty army began. The angel that descended on July 18, 2020 unsealed a truth, as angels always do when they descend.

Hai nhân chứng của Khải Huyền chương mười một đã chết giữa đường phố trong ba ngày rưỡi, và các xương khô của Ê-xê-chi-ên ở trong thung lũng. Vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, thời kỳ trì hoãn của sự chết thuộc linh và ngủ mê đã giáng trên các trinh nữ thuộc phong trào thiên sứ thứ ba. Ba năm sau, tiến trình đánh thức và chuẩn bị dân sự ngày sau rốt của Đức Chúa Trời để trở nên cờ hiệu và đạo quân hùng mạnh của Ngài đã bắt đầu. Thiên sứ đã giáng xuống vào ngày 18 tháng 7 năm 2020 đã mở ấn một lẽ thật, như các thiên sứ vẫn làm mỗi khi họ giáng xuống.

The truth he unsealed was the experience of the tarrying time and first disappointment. God’s last-day people were then scattered, and when the process of awakening them arrived in history, they would be required to recognize and acknowledge that they had been scattered and that they were in the tarrying time. There was then sent many angels, or many messages to strengthen the message of the tarrying time.

Lẽ thật mà ông đã mở ấn là kinh nghiệm về thời kỳ chờ đợi và sự thất vọng đầu tiên. Dân sự của Đức Chúa Trời trong những ngày cuối cùng khi ấy đã bị tản lạc, và khi tiến trình đánh thức họ đến thời điểm của nó trong lịch sử, họ sẽ phải nhận ra và thừa nhận rằng mình đã bị tản lạc và rằng họ đang ở trong thời kỳ chờ đợi. Bấy giờ nhiều thiên sứ, hay nhiều sứ điệp, được sai đến để củng cố sứ điệp về thời kỳ chờ đợi.

“Near the close of the second angel’s message, I saw a great light from heaven shining upon the people of God. The rays of this light seemed bright as the sun. And I heard the voices of angels crying, ‘Behold, the Bridegroom cometh; go ye out to meet Him!’

"Gần cuối sứ điệp của thiên sứ thứ hai, tôi thấy một luồng ánh sáng lớn từ trời chiếu rọi trên dân của Đức Chúa Trời. Những tia của luồng sáng ấy rực rỡ như mặt trời. Và tôi nghe tiếng các thiên sứ kêu lên: 'Kìa, Chàng Rể đến; hãy ra đón Ngài!'"

“This was the midnight cry, which was to give power to the second angel’s message. Angels were sent from heaven to arouse the discouraged saints and prepare them for the great work before them. The most talented men were not the first to receive this message. Angels were sent to the humble, devoted ones, and constrained them to raise the cry, ‘Behold, the Bridegroom cometh; go ye out to meet Him!’ Those entrusted with the cry made haste, and in the power of the Holy Spirit sounded the message, and aroused their discouraged brethren. This work did not stand in the wisdom and learning of men, but in the power of God, and His saints who heard the cry could not resist it. The most spiritual received this message first, and those who had formerly led in the work were the last to receive and help swell the cry, “Behold, the Bridegroom cometh; go ye out to meet Him!’

Đó là tiếng kêu nửa đêm, được định để làm cho sứ điệp của thiên sứ thứ hai có quyền năng. Các thiên sứ được sai từ trời đến để đánh thức những thánh đồ nản lòng và chuẩn bị họ cho công việc lớn lao ở trước mặt họ. Những người tài giỏi nhất không phải là những người đầu tiên nhận sứ điệp này. Các thiên sứ được sai đến với những người khiêm nhường, tận hiến, và thúc giục họ cất tiếng kêu: 'Kìa, Chàng Rể đến; hãy đi ra đón Ngài!' Những người được ủy thác tiếng kêu ấy đã vội vã, và trong quyền năng của Đức Thánh Linh rao lên sứ điệp, khơi dậy những anh em nản lòng của họ. Công việc này không dựa vào sự khôn ngoan và học vấn của loài người, nhưng vào quyền năng của Đức Chúa Trời; và các thánh đồ của Ngài, khi nghe tiếng kêu ấy, đã không thể cưỡng lại được. Những người thuộc linh nhất đã nhận sứ điệp này trước, còn những người trước kia dẫn dắt trong công việc thì là những người cuối cùng nhận lấy và góp phần làm vang dội tiếng kêu: "Kìa, Chàng Rể đến; hãy đi ra đón Ngài!'

“In every part of the land, light was given upon the second angel’s message, and the cry melted the hearts of thousands. It went from city to city, and from village to village, until the waiting people of God were fully aroused. In many churches the message was not permitted to be given, and a large company who had the living testimony left these fallen churches. A mighty work was accomplished by the midnight cry. The message was heart-searching, leading the believers to seek a living experience for themselves. They knew that they could not lean upon one another.” Early Writings, 238.

Khắp mọi miền đất nước, ánh sáng về sứ điệp của thiên sứ thứ hai đã được ban ra, và tiếng kêu ấy làm mềm lòng hàng ngàn người. Nó lan từ thành này sang thành khác, và từ làng này sang làng khác, cho đến khi dân sự của Đức Chúa Trời đang trông đợi được thức tỉnh hoàn toàn. Ở nhiều hội thánh, sứ điệp không được phép rao giảng, và một đoàn người đông đảo có lời chứng sống động đã rời bỏ những hội thánh sa ngã ấy. Một công cuộc vĩ đại đã được thực hiện bởi tiếng kêu nửa đêm. Sứ điệp ấy soi xét lòng người, dẫn dắt các tín hữu tìm kiếm một kinh nghiệm sống cho chính mình. Họ biết rằng họ không thể nương dựa lẫn nhau. Early Writings, 238.

The arrival of the message of the Midnight Cry in the parable identifies when the two classes of virgins’ manifest whether they have oil. The wise have oil, the foolish do not. The parable was fulfilled by the work of Samuel Snow in the Millerite history, and in that work the message Snow presented was developed as represented by his articles in the Millerite publications of that time period. Then when he arrived at the Exeter camp meeting, which was from August 12 to 17th, 1844, a period is also represented that ultimately led to those at the meeting leaving the meeting and proclaiming the message.

Sự xuất hiện của sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm trong dụ ngôn xác định thời điểm hai hạng trinh nữ bày tỏ liệu họ có dầu hay không. Người khôn có dầu, kẻ dại thì không. Dụ ngôn ấy đã được ứng nghiệm qua công việc của Samuel Snow trong lịch sử phong trào Millerite, và trong công việc đó, sứ điệp mà Snow trình bày đã được phát triển, thể hiện qua các bài viết của ông trên những ấn phẩm của phong trào Millerite thời bấy giờ. Rồi khi ông đến kỳ trại nhóm tại Exeter, diễn ra từ ngày 12 đến 17 tháng 8 năm 1844, sự kiện ấy cũng đánh dấu một giai đoạn đã dẫn đến việc những người tham dự rời cuộc nhóm để rao truyền sứ điệp.

There is a “point in time” when the message of the Midnight Cry is fully established, and at that point, based upon the parable, probation closes upon the virgins. That “point in time” is preceded by “a period” when the message is being developed. Since July, 2023 the message of the Midnight Cry has been developing, and unlike the Millerite fulfillment, the message has been transmitted across the world in advance of the “close of probation”. When probation closed at the end of the Exeter meeting the message then went to “every part of the land,” and “light was given upon the second angel’s message, and the cry melted the hearts of thousands. It went from city to city, and from village to village, until the waiting people of God were fully aroused.”

Có một “thời điểm” khi sứ điệp về Tiếng Kêu Nửa Đêm được xác lập trọn vẹn, và vào thời điểm đó, dựa trên dụ ngôn, thời kỳ ân điển khép lại đối với các trinh nữ. “Thời điểm” ấy được đi trước bởi “một giai đoạn” khi sứ điệp đang được hình thành. Từ tháng 7 năm 2023, sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm đã và đang phát triển, và không giống như sự ứng nghiệm trong phong trào Miller, sứ điệp đã được truyền đi khắp thế giới trước “sự khép lại của thời kỳ ân điển”. Khi thời kỳ ân điển khép lại vào cuối cuộc nhóm họp ở Exeter, sứ điệp liền đi đến “mọi miền của xứ”, và “ánh sáng được ban trên sứ điệp của thiên sứ thứ hai, và tiếng kêu làm mềm lòng hàng ngàn người. Nó đi từ thành này sang thành khác, và từ làng này sang làng khác, cho đến khi dân sự đang trông đợi của Đức Chúa Trời được khơi dậy hoàn toàn.”

In our current history the message that began to be published in July of 2023 is now in one hundred and twenty countries around the world, and the articles that represent the development of the message of the Midnight Cry are available in over sixty languages, and the articles can either be read or listened to.

Trong lịch sử hiện tại của chúng ta, thông điệp bắt đầu được xuất bản vào tháng 7 năm 2023 nay đã có mặt tại một trăm hai mươi quốc gia trên khắp thế giới, và các bài viết thể hiện sự phát triển của thông điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm hiện có bằng hơn sáu mươi ngôn ngữ, và các bài viết có thể được đọc hoặc nghe.

The Revelation of Jesus Christ, which God gave unto him, to show unto his servants things which must shortly come to pass; and he sent and signified it by his angel unto his servant John: Who bare record of the word of God, and of the testimony of Jesus Christ, and of all things that he saw. Blessed is he that readeth, and they that hear the words of this prophecy, and keep those things which are written therein: for the time is at hand. Revelation 1:1–3.

Sự mặc khải của Đức Chúa Jesus Christ, điều Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài để tỏ cho các đầy tớ Ngài những việc phải sớm xảy đến; Ngài đã sai thiên sứ của Ngài để bày tỏ điều ấy cho đầy tớ Ngài là Giăng. Người đã làm chứng về lời Đức Chúa Trời, về lời chứng của Đức Chúa Jesus Christ, và về mọi điều ông đã thấy. Phước cho người đọc, và những ai nghe những lời tiên tri này, và giữ những điều đã chép trong đó; vì thì giờ đã gần. Khải Huyền 1:1-3.

The light of this message as represented with the articles has been accomplished in roughly six months by two persons.

Việc làm sáng tỏ thông điệp này, như được thể hiện qua các bài viết, đã được hai người hoàn thành trong khoảng sáu tháng.

“Unless those who can help in — are aroused to a sense of their duty, they will not recognize the work of God when the loud cry of the third angel shall be heard. When light goes forth to lighten the earth, instead of coming up to the help of the Lord, they will want to bind about His work to meet their narrow ideas. Let me tell you that the Lord will work in this last work in a manner very much out of the common order of things, and in a way that will be contrary to any human planning. There will be those among us who will always want to control the work of God, to dictate even what movements shall be made when the work goes forward under the direction of the angel who joins the third angel in the message to be given to the world. God will use ways and means by which it will be seen that He is taking the reins in His own hands. The workers will be surprised by the simple means that He will use to bring about and perfect His work of righteousness.” Testimonies to Ministers, 300.

Trừ khi những người có thể giúp đỡ trong - được đánh thức về ý thức bổn phận của mình, họ sẽ không nhận ra công việc của Đức Chúa Trời khi tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba được nghe thấy. Khi ánh sáng tỏa ra để soi sáng trái đất, thay vì đứng lên để giúp đỡ Chúa, họ sẽ muốn ràng buộc công việc của Ngài cho phù hợp với những ý niệm hẹp hòi của họ. Hãy để tôi nói với bạn rằng Chúa sẽ hành động trong công việc sau rốt này theo một cách thức rất khác với trật tự thông thường, và theo một cách sẽ trái ngược với mọi hoạch định của con người. Sẽ có những người trong chúng ta lúc nào cũng muốn kiểm soát công việc của Đức Chúa Trời, thậm chí định đoạt cả những bước đi nào phải thực hiện khi công việc tiến lên dưới sự chỉ đạo của thiên sứ hiệp cùng thiên sứ thứ ba trong sứ điệp sẽ được truyền cho thế gian. Đức Chúa Trời sẽ dùng những cách thức và phương tiện để người ta thấy rằng chính Ngài đang nắm quyền điều khiển trong tay Ngài. Những người làm việc sẽ ngạc nhiên trước những phương tiện đơn giản mà Ngài sẽ dùng để thực hiện và hoàn thiện công việc công chính của Ngài. Lời chứng gửi cho các mục sư, 300.

The Lion of the tribe of Judah has now brought His last-day people to verses thirteen through fifteen of Daniel eleven, opening the history represented by the history of 200 BC to 63 BC, and also Matthew chapter sixteen, and the history of Christ’s visit to Caesarea Philippi. Both the predictions and the history of their fulfillments align with the portion of the book of Daniel that was sealed until the last days. The books of Daniel and Revelation are one book, so in the last days, just before probation closes, the Revelation of Jesus Christ is unsealed, and that Revelation includes the portion of Daniel that relates to the last days. The time is at hand for the conclusion of the Exeter camp meeting.

Sư Tử của chi phái Giu-đa nay đã dẫn dắt dân sự những ngày sau rốt của Ngài đến các câu mười ba đến mười lăm của Đa-ni-ên đoạn mười một, mở ra giai đoạn lịch sử tương ứng với thời kỳ từ năm 200 TCN đến 63 TCN, và cũng đến Ma-thi-ơ đoạn mười sáu, cùng lịch sử về chuyến thăm của Đấng Christ đến Sê-sa-rê Phi-líp. Cả các lời tiên tri lẫn lịch sử sự ứng nghiệm của chúng đều phù hợp với phần của sách Đa-ni-ên đã được ấn kín cho đến những ngày sau rốt. Sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền là một quyển, nên trong những ngày sau rốt, ngay trước khi ân điển chấm dứt, sách Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ được mở ấn, và quyển sách ấy bao gồm phần trong Đa-ni-ên liên quan đến những ngày sau rốt. Thời điểm bế mạc trại nhóm Exeter đã đến gần.

And he saith unto me, Seal not the sayings of the prophecy of this book: for the time is at hand. He that is unjust, let him be unjust still: and he which is filthy, let him be filthy still: and he that is righteous, let him be righteous still: and he that is holy, let him be holy still. Revelation 22:10, 11.

Ngài lại phán cùng tôi rằng: Chớ niêm phong những lời tiên tri của sách này, vì thì giờ đã gần. Ai bất nghĩa, cứ làm điều bất nghĩa nữa; ai ô uế, cứ ô uế nữa; ai công bình, cứ làm điều công bình nữa; ai thánh khiết, cứ nên thánh khiết nữa. Khải Huyền 22:10, 11.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

Behold, the days come, saith the Lord God, that I will send a famine in the land, not a famine of bread, nor a thirst for water, but of hearing the words of the Lord: And they shall wander from sea to sea, and from the north even to the east, they shall run to and fro to seek the word of the Lord, and shall not find it. In that day shall the fair virgins and young men faint for thirst. They that swear by the sin of Samaria, and say, Thy god, O Dan, liveth; and, The manner of Beersheba liveth; even they shall fall, and never rise up again. Amos 8:11–14.

Nầy, những ngày đến, Chúa là Đức Giê-hô-va phán, rằng Ta sẽ giáng một cơn đói trong xứ, chẳng phải đói bánh, cũng chẳng phải khát nước, nhưng là đói khát vì không được nghe lời của Đức Giê-hô-va; chúng sẽ lang thang từ biển nầy đến biển kia, và từ phương bắc cho đến phương đông, chạy đây đó để tìm kiếm lời của Đức Giê-hô-va, mà không tìm được. Trong ngày đó, các trinh nữ xinh đẹp và các thanh niên sẽ ngất đi vì khát. Những kẻ thề bởi tội lỗi của Sa-ma-ri, mà nói rằng: Hỡi Đan, thần ngươi hằng sống; và: Lối thờ của Bê-e-sê-ba hằng sống; chính chúng nó sẽ ngã xuống, và chẳng hề trỗi dậy nữa. A-mốt 8:11–14.