When Peter set forth his answer to Christ’s question of who the disciples say that Christ is he identified that Jesus was the anointed one, the Christ, the Messiah. He also said He was the Son of God.
Khi Phi-e-rơ đưa ra câu trả lời cho câu hỏi của Đấng Christ về việc các môn đồ nói Ngài là ai, ông khẳng định rằng Chúa Giê-su là Đấng được xức dầu, là Đấng Christ, là Đấng Mê-si. Ông cũng nói rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời.
When Jesus came into the coasts of Caesarea Philippi, he asked his disciples, saying, Whom do men say that I the Son of man am? And they said, Some say that thou art John the Baptist: some, Elias; and others, Jeremias, or one of the prophets. He saith unto them, But whom say ye that I am? And Simon Peter answered and said, Thou art the Christ, the Son of the living God. And Jesus answered and said unto him, Blessed art thou, Simon Barjona: for flesh and blood hath not revealed it unto thee, but my Father which is in heaven. And I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build my church; and the gates of hell shall not prevail against it. And I will give unto thee the keys of the kingdom of heaven: and whatsoever thou shalt bind on earth shall be bound in heaven: and whatsoever thou shalt loose on earth shall be loosed in heaven. Matthew 16:13–19.
Khi Chúa Giê-su đến vùng phụ cận Sê-sa-rê Phi-líp, Ngài hỏi các môn đồ rằng: Người ta nói Con Người là ai? Họ thưa: Có người nói Thầy là Giăng Báp-tít; người khác nói là Ê-li; lại có kẻ nói là Giê-rê-mi, hoặc một trong các đấng tiên tri. Ngài lại hỏi: Còn các con, các con nói Ta là ai? Si-môn Phi-e-rơ thưa: Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống. Chúa Giê-su đáp: Hỡi Si-môn, con Giô-na, phước cho ngươi, vì chẳng phải thịt và huyết bày tỏ điều ấy cho ngươi đâu, nhưng là Cha Ta ở trên trời. Ta lại bảo ngươi: Ngươi là Phi-e-rơ, và trên vầng đá này Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta; các cửa âm phủ sẽ không thắng được nó. Ta sẽ trao cho ngươi những chìa khóa của Nước Trời; điều gì ngươi buộc ở dưới đất sẽ được buộc ở trên trời; điều gì ngươi mở ở dưới đất sẽ được mở ở trên trời. Ma-thi-ơ 16:13-19.
Through Peter the Holy Spirit presented the essential truth for the one hundred and forty-four thousand to understand. He did so at Panium, which was Caesarea Philippi. Panium is the most sacred temple site in the worship of the dragon, for Greece represents the world, and the world in the last days is the United Nations, who is the dragon’s earthly representative. The “gates of hell” is a name for the temple of Pan, the Greek goat-god. The temple was built in front of a cave that contained the Spring of Panium. The Spring of Panium fed the Jordan River, which is a symbol of Christ.
Qua Phi-e-rơ, Đức Thánh Linh trình bày lẽ thật cốt yếu để một trăm bốn mươi bốn nghìn người hiểu. Ngài đã làm điều đó tại Panium, tức Caesarea Philippi. Panium là địa điểm đền thờ linh thiêng nhất trong việc thờ phượng con rồng, vì Hy Lạp tượng trưng cho thế gian, và thế gian trong những ngày sau rốt là Liên Hiệp Quốc, là đại diện trên đất của con rồng. “cửa âm phủ” là tên gọi của đền thờ Pan, vị thần dê của Hy Lạp. Đền thờ được xây trước một hang động có mạch suối Panium. Mạch suối Panium đổ vào sông Giô-đanh, là biểu tượng của Đấng Christ.
The name “Jordan” means “descender,” and it begins its course in the mountainous region of northern Israel, drawing its main source from the springs of Mount Hermon, the highest peak in the Hermon Range, where the spring called the “gates of hell” is located. Hermon means “sacred” and “Jordon” means “to descend.” The Jordan River flows from the highlands of Mount Hermon and descends through the Jordan Rift Valley, eventually reaching the Dead Sea, which is the lowest point on Earth’s surface.
Tên "Jordan" có nghĩa là "kẻ đi xuống", và con sông này bắt đầu dòng chảy của mình ở vùng núi phía bắc Israel, lấy nguồn chính từ các suối ở núi Hermon, đỉnh cao nhất của dãy Hermon, nơi có con suối gọi là "cổng địa ngục". Hermon có nghĩa là "thiêng liêng" và "Jordon" có nghĩa là "đi xuống". Sông Jordan chảy từ vùng cao của núi Hermon và hạ xuống qua Thung lũng tách giãn Jordan, cuối cùng đổ vào Biển Chết, điểm thấp nhất trên bề mặt Trái Đất.
The waters that feed the Jordan River, that originate in the temple of Pan, and that ultimately arrive at the lowest point on earth represent the descent the Son of God made when He left the highest sacred mountain to descend to the lowest “dead sea” of this world. Christ’s descent from heaven to the death of the cross also represents that He took upon Himself the flesh of fallen man, for his journey from heaven to the cross was fed by the waters that originated in the “gates of hell.”
Những dòng nước nuôi sông Jordan, khởi nguồn từ đền thờ Pan và cuối cùng chảy đến điểm thấp nhất trên trái đất, tượng trưng cho sự hạ mình mà Con Đức Chúa Trời đã thực hiện khi Ngài rời bỏ ngọn núi thánh cao nhất để xuống "biển chết" thấp nhất của thế gian này. Sự hạ mình của Đấng Christ từ trời đến cái chết trên thập tự giá cũng biểu thị rằng Ngài đã mang lấy xác thịt của con người sa ngã, vì hành trình của Ngài từ trời đến thập tự giá được nuôi dưỡng bởi những dòng nước bắt nguồn từ "cửa âm phủ".
The Dead Sea is not only the lowest place on earth, but it is the saltiest waters on earth, nine times saltier than the ocean. Christ’s death on the cross as typified by the Dead Sea is where He confirmed His covenant with many.
Biển Chết không chỉ là nơi thấp nhất trên trái đất, mà còn là vùng nước mặn nhất, mặn hơn nước biển gấp chín lần. Cái chết của Đấng Christ trên thập tự giá, được tượng trưng bởi Biển Chết, chính là nơi Ngài xác nhận giao ước của Ngài với nhiều người.
And every oblation of thy meat offering shalt thou season with salt; neither shalt thou suffer the salt of the covenant of thy God to be lacking from thy meat offering: with all thine offerings thou shalt offer salt. Leviticus 2:3.
Và mọi lễ vật của của lễ chay của ngươi, ngươi phải nêm muối; cũng đừng để muối của giao ước của Đức Chúa Trời ngươi thiếu trong của lễ chay của ngươi: với mọi của lễ dâng của ngươi, ngươi phải dâng muối. Lê-vi Ký 2:3.
On the way from the springs of Mount Hermon, the Jordan River passes through the sea of Galilee, which is also known as Lake Tiberius and Lake Kinneret. Galilee means a “hinge” or a “turning point.” Tiberius is the name of the Roman ruler who followed Augustus Caesar, and due to the shape of the lake, it is called Kinneret, which means “a harp” or “a lyre.” The turning point for mankind was when Tiberius Caesar ruled and Jesus was crucified, and every harp in heaven was silenced. The geographical testimony of the Jordan River in connection with the “gates of hell,” which is the temple of the Greek god Pan, speaks to the testimony which Peter proclaimed through the inspiration of the Holy Spirit.
Trên đường chảy từ các mạch nguồn của núi Hermon, sông Jordan đi qua Biển hồ Galilê, còn được gọi là Hồ Tiberius và Hồ Kinneret. Galilê có nghĩa là “bản lề” hoặc “bước ngoặt”. Tiberius là tên của vị lãnh đạo La Mã kế nhiệm Augustus Caesar, và do hình dạng của hồ, nó được gọi là Kinneret, nghĩa là “một chiếc đàn hạc” hoặc “một cây đàn lia”. Bước ngoặt cho nhân loại là khi Tiberius Caesar trị vì và Chúa Giêsu bị đóng đinh, và mọi chiếc đàn hạc trên thiên đàng đều nín lặng. Chứng tích địa lý của sông Jordan liên hệ với “cửa âm phủ”, tức là đền thờ của thần Hy Lạp Pan, nói lên lời chứng mà Phêrô đã tuyên xưng nhờ sự linh hứng của Chúa Thánh Thần.
The incarnation of Christ was the combination of divinity and humanity that occurred when the divine Son of God took upon Himself human flesh, thus combining divinity with humanity, as represented by the waters from the spring of Pan feeding the Jordan River. What fed the spring of Pan was the dew, rain and snow that fell upon the mountains of Hermon, Hermon representing the “sacred” mountain, which is Jerusalem above.
Sự nhập thể của Chúa Kitô là sự kết hợp giữa thiên tính và nhân tính diễn ra khi vị Con thần linh của Thiên Chúa mặc lấy xác phàm, qua đó kết hợp thiên tính với nhân tính, như được biểu trưng bởi những dòng nước từ suối Pan đổ vào sông Jordan. Điều nuôi dưỡng suối Pan là sương, mưa và tuyết rơi trên dãy núi Hermon, Hermon tượng trưng cho ngọn núi "thánh", tức là Giê-ru-sa-lem trên trời.
A Song of Degrees of David. Behold, how good and how pleasant it is for brethren to dwell together in unity! It is like the precious ointment upon the head, that ran down upon the beard, even Aaron’s beard: that went down to the skirts of his garments; As the dew of Hermon, and as the dew that descended upon the mountains of Zion: for there the Lord commanded the blessing, even life for evermore. Psalms 133:1–3.
Bài ca lên đền của Đa-vít. Kìa, anh em cùng sống hiệp một, thật tốt đẹp và êm dịu biết bao! Ấy giống như dầu quý đổ trên đầu, chảy xuống râu, tức là râu của A-rôn, chảy xuống vạt áo của người; như sương Hẹt-môn, và như sương rơi xuống các núi của Si-ôn; vì tại đó Đức Giê-hô-va truyền ban phước, tức là sự sống cho đến đời đời. Thi Thiên 133:1-3.
The “precious ointment” that ran down Aaron’s beard was the oil that was used when he and his sons were anointed as God’s priests.
“Dầu xức quý báu” chảy xuống râu của A-rôn chính là thứ dầu đã được dùng khi ông và các con trai ông được xức dầu để làm thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời.
And thou shalt take of the blood that is upon the altar, and of the anointing oil, and sprinkle it upon Aaron, and upon his garments, and upon his sons, and upon the garments of his sons with him: and he shall be hallowed, and his garments, and his sons, and his sons’ garments with him. Exodus 29:21.
Ngươi hãy lấy huyết ở trên bàn thờ và dầu xức, rảy trên A-rôn, trên y phục của ông, trên các con trai ông, và trên y phục của các con trai ông ở với ông; và như vậy, A-rôn, y phục của ông, các con trai ông, và y phục của các con trai ông ở với ông sẽ được thánh hóa. Xuất Hành 29:21.
Peter expressed the confession of all the disciples, and in so doing he expressed the confession of the one hundred and forty-four thousand, who are to be anointed as a unified priesthood that is lifted up as an ensign. The “oil” that anointed Aaron, was also as the dew of Mount Hermon and also the dew of the mountains of Zion. The “oil” and the “dew” are the message which represents the anointing of the Holy Spirit.
Phi-e-rơ đã bày tỏ lời tuyên xưng của tất cả các môn đồ, và khi làm như vậy ông cũng bày tỏ lời tuyên xưng của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là những người sẽ được xức dầu như một hàng tư tế hiệp nhất được giương cao như một tiêu kỳ. "Dầu" đã xức A-rôn cũng như là sương móc của núi Hẹt-môn và cũng là sương móc của các núi Si-ôn. "Dầu" và "sương móc" là sứ điệp tượng trưng cho sự xức dầu của Đức Thánh Linh.
Give ear, O ye heavens, and I will speak; and hear, O earth, the words of my mouth. My doctrine shall drop as the rain, my speech shall distil as the dew, as the small rain upon the tender herb, and as the showers upon the grass: Because I will publish the name of the Lord: ascribe ye greatness unto our God. Deuteronomy 32:1–3.
Hỡi các tầng trời, hãy lắng tai, và ta sẽ nói; hỡi đất, hãy nghe lời miệng ta. Giáo huấn của ta sẽ rơi như mưa, lời nói của ta sẽ nhỏ xuống như sương, như mưa lất phất trên cỏ non, và như mưa rào trên đồng cỏ; vì ta sẽ công bố danh Chúa; hãy quy sự cao cả cho Đức Chúa Trời chúng ta. Phục Truyền 32:1-3.
The “dew” is the “doctrine” that falls on the mountains of Zion, and it is the “oil” of anointing that unifies the one hundred and forty-four thousand, who are God’s priests in the last days. The doctrine drops as rain, and distills as dew because it is “published”. It is published because heaven and earth are to give ear and hear the words of His mouth, through a unified priesthood that is the ensign who proclaim the messages of the Midnight Cry and Loud Cry.
"Sương" là "giáo huấn" rơi trên các núi Si-ôn, và đó là "dầu" xức hiệp nhất một trăm bốn mươi bốn ngàn, là các thầy tế lễ của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt. Giáo huấn rơi như mưa và thấm như sương vì nó được "công bố". Nó được công bố vì trời và đất phải lắng tai mà nghe những lời từ miệng Ngài, qua một chức tư tế hiệp nhất, là tiêu kỳ công bố các sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm và Tiếng Kêu Lớn.
How beautiful upon the mountains are the feet of him that bringeth good tidings, that publisheth peace; that bringeth good tidings of good, that publisheth salvation; that saith unto Zion, Thy God reigneth! Thy watchmen shall lift up the voice; with the voice together shall they sing: for they shall see eye to eye, when the Lord shall bring again Zion. Break forth into joy, sing together, ye waste places of Jerusalem: for the Lord hath comforted his people, he hath redeemed Jerusalem. The Lord hath made bare his holy arm in the eyes of all the nations; and all the ends of the earth shall see the salvation of our God. Isaiah 52:7–10.
Đẹp thay trên các núi là chân của kẻ rao tin mừng, công bố bình an; kẻ mang tin vui tốt lành, công bố sự cứu rỗi; kẻ nói với Si-ôn: Đức Chúa Trời của ngươi trị vì! Các lính canh của ngươi sẽ cất tiếng; họ sẽ đồng thanh ca hát, vì khi Chúa đem Si-ôn trở lại, họ sẽ mắt đối mắt nhìn thấy. Hỡi những nơi hoang phế của Giê-ru-sa-lem, hãy bừng vỡ vui mừng, hãy cùng nhau ca hát; vì Chúa đã yên ủi dân Ngài, Ngài đã chuộc Giê-ru-sa-lem. Chúa đã bày trần cánh tay thánh của Ngài trước mắt muôn dân; và khắp tận cùng trái đất sẽ thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng ta. Ê-sai 52:7-10.
The last-day watchmen, represented by Peter, publish salvation and peace, and they shall be unified, for they will see eye to eye. This happens when “the Lord brings again Zion.” The Hebrew word translated as “bring again” means to “reverse.” When the Lord reverses Zion, it means that Zion had been in captivity, as represented by the scattering, and it is reversed when the captivity ceases.
Những người canh gác thời kỳ cuối cùng, được đại diện bởi Phêrô, rao truyền ơn cứu rỗi và bình an, và họ sẽ hiệp nhất, vì họ sẽ thấy mắt đối mắt. Điều này xảy ra khi “Chúa lại đem Si-ôn trở về.” Từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là “lại đem” có nghĩa là “đảo ngược.” Khi Chúa đảo ngược Si-ôn, điều đó có nghĩa là Si-ôn đã ở trong cảnh lưu đày, được biểu thị bởi sự tản lạc, và sự đảo ngược diễn ra khi cảnh lưu đày chấm dứt.
For thus saith the Lord, That after seventy years be accomplished at Babylon I will visit you, and perform my good word toward you, in causing you to return to this place. For I know the thoughts that I think toward you, saith the Lord, thoughts of peace, and not of evil, to give you an expected end. Then shall ye call upon me, and ye shall go and pray unto me, and I will hearken unto you. And ye shall seek me, and find me, when ye shall search for me with all your heart. And I will be found of you, saith the Lord: and I will turn away your captivity, and I will gather you from all the nations, and from all the places whither I have driven you, saith the Lord; and I will bring you again into the place whence I caused you to be carried away captive. Jeremiah 29:10–14.
Vì Chúa phán như vầy: Rằng sau khi bảy mươi năm tại Ba-by-lôn đã trọn, Ta sẽ thăm viếng các ngươi và thực hiện lời tốt lành Ta đã hứa với các ngươi, là khiến các ngươi trở về chốn này. Vì Ta biết những ý tưởng Ta nghĩ về các ngươi, Chúa phán, ấy là những ý tưởng bình an chứ không phải tai họa, để ban cho các ngươi một kết cuộc như các ngươi trông đợi. Bấy giờ các ngươi sẽ kêu cầu Ta, sẽ đi và cầu nguyện cùng Ta, thì Ta sẽ lắng nghe các ngươi. Các ngươi sẽ tìm kiếm Ta và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng. Ta sẽ để cho các ngươi tìm thấy Ta, Chúa phán; Ta sẽ đem các ngươi khỏi cảnh lưu đày và sẽ nhóm các ngươi lại từ mọi dân tộc và mọi nơi Ta đã đày các ngươi đến, Chúa phán; và Ta sẽ đem các ngươi trở lại nơi Ta đã khiến các ngươi bị đem đi làm phu tù. Giê-rê-mi 29:10-14.
All the prophets are addressing the last days, and in the last days His people are in a captivity that is to be reversed, in order to fulfill the testimony of prophecy.
Tất cả các tiên tri đều nói về những ngày sau rốt, và trong những ngày sau rốt, dân Ngài đang ở trong cảnh lưu đày, nhưng rồi sẽ được giải phóng, để lời chứng của lời tiên tri được ứng nghiệm.
The word that came to Jeremiah from the Lord, saying, Thus speaketh the Lord God of Israel, saying, Write thee all the words that I have spoken unto thee in a book. For, lo, the days come, saith the Lord, that I will bring again the captivity of my people Israel and Judah, saith the Lord: and I will cause them to return to the land that I gave to their fathers, and they shall possess it. Jeremiah 30:1–3.
Lời từ Chúa đến với Giê-rê-mi, rằng: Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán rằng: Hãy chép tất cả những lời Ta đã phán với Ngươi vào một quyển sách. Vì kìa, những ngày sẽ đến, Chúa phán, rằng Ta sẽ đem những người bị lưu đày của dân Ta là Y-sơ-ra-ên và Giu-đa trở về; Ta sẽ khiến họ trở về đất mà Ta đã ban cho tổ phụ họ, và họ sẽ chiếm hữu đất ấy. Giê-rê-mi 30:1-3.
After three and a half days of sleeping, just as Lazarus slept for four days, and Daniel mourned for twenty-one days, Michael resurrects the two witnesses, who are His last-day people and brings them into unity and also anoints them through a message that is published around the world. That message is the “dew” of Mount Hermon (the sacred mountain), that feeds the spring of Pan, which thereafter feeds the Jordan River. The anointing that is accomplished by that message represents the anointing of Jesus, that marked when He became the Christ, which Peter identified.
Sau khi ngủ ba ngày rưỡi, cũng như La-xa-rơ đã ngủ bốn ngày và Đa-ni-ên đã than khóc suốt hai mươi mốt ngày, Mi-ca-ên khiến hai nhân chứng sống lại, là dân sự của Ngài trong những ngày sau rốt, hiệp họ nên một, và đồng thời xức dầu cho họ qua một sứ điệp được rao truyền khắp thế giới. Sứ điệp ấy là "sương" của núi Hẹt-môn (ngọn núi thánh), cấp nước cho suối Pan, rồi từ đó cấp nước cho sông Giô-đanh. Sự xức dầu được thực hiện bởi sứ điệp ấy tượng trưng cho sự xức dầu của Chúa Giê-su, đánh dấu lúc Ngài trở nên Đấng Christ, điều mà Phi-e-rơ đã xác nhận.
When Peter identified Christ as the Son of God, he represented Christ as both the Son of God and the Son of man, as represented by the waters of the “gates of hell” feeding the Jordan River. The confession of Peter was produced by the inspiration of the Holy Spirit, and it was that truth, that Jesus was the Christ, the Anointed One, and that He was both God and man which was identified by Jesus as the truth which would be the focus of the battle against God’s last-day people, who Christ promised would be victorious, for the “gates of hell,” will not prevail against this truth.
Khi Phi-e-rơ nhận biết Đấng Christ là Con Đức Chúa Trời, ông đã nhìn nhận Đấng Christ là vừa Con Đức Chúa Trời vừa Con Người, điều này được biểu trưng bởi những nguồn nước từ "cửa âm phủ" nuôi dưỡng sông Giô-đanh. Lời tuyên xưng của Phi-e-rơ là do Đức Thánh Linh soi dẫn, và chính lẽ thật ấy—rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Đấng được xức dầu, và rằng Ngài vừa là Đức Chúa Trời vừa là người—đã được chính Đức Chúa Jêsus xác định là lẽ thật sẽ là trọng tâm của trận chiến nhắm vào dân sự thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời; và Đấng Christ đã hứa rằng họ sẽ chiến thắng, vì "cửa âm phủ" sẽ không thắng được lẽ thật này.
The truth is that on September 11, 2001, just as Jesus was anointed at His baptism, the sealing of the one hundred and forty-four thousand began, and that in that history there would be a disappointment which would slay His last-day people, until He resurrected them and reversed their captivity. The process of resurrection includes the unifying of His people into a mighty army that is lifted up as an ensign. The work of resurrecting, purifying, unifying and lifting up, after the death in the streets, is illustrated in verses ten through fifteen of Daniel chapter eleven, as well as other biblical passages. But in verses thirteen through fifteen Christ has once again brought His disciples to Caesarea Philippi, to Panium, and it is there that the seal of God is impressed for eternity.
Sự thật là vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, cũng như khi Chúa Giê-su được xức dầu lúc chịu báp-têm, sự đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn ngàn đã khởi sự; và trong lịch sử ấy sẽ có một sự thất vọng khiến dân sự ngày sau rốt của Ngài bị giết chết, cho đến khi Ngài làm họ sống lại và đổi lại phận lưu đày của họ. Tiến trình phục sinh bao gồm việc hiệp nhất dân Ngài thành một đạo quân hùng mạnh được giương lên như một tiêu kỳ. Công việc làm cho sống lại, thanh tẩy, hiệp nhất và giương cao, sau cái chết giữa đường phố, được minh họa trong các câu 10 đến 15 của Đa-ni-ên chương 11, cũng như trong các đoạn Kinh Thánh khác. Nhưng trong các câu 13 đến 15, Đấng Christ một lần nữa đưa các môn đồ của Ngài đến Sê-sa-rê Phi-líp, đến Pa-ni-um, và chính tại đó ấn của Đức Chúa Trời được đóng cho đời đời.
Only when we understand the profundity of these facts, can we recognize the revelations of truth located in the witness of Caesarea Philippi. In verse eighteen of chapter sixteen of Matthew Simon Barjonah’s name is changed to Peter, which symbolizes the one hundred and forty-four thousand as previously noted in a recent article. The mathematical revelation established in the verse magnifies Jesus as the Wonderful Numberer, for not only can Peter be understood to represent one hundred and forty-four thousand, but Mathew 16:18 is also the mathematical symbol of “phi”.
Chỉ khi chúng ta hiểu được chiều sâu của những thực tại này, chúng ta mới có thể nhận ra những sự mặc khải của lẽ thật nằm trong lời chứng ở Caesarea Philippi. Trong câu mười tám của chương mười sáu sách Matthew, tên của Simon Barjonah được đổi thành Peter, điều này tượng trưng cho một trăm bốn mươi bốn nghìn như đã được ghi nhận trước đây trong một bài viết gần đây. Sự mặc khải về toán học được nêu trong câu ấy tôn cao Giê-su như Đấng Đếm Lạ Lùng, vì không những Peter có thể được hiểu là đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn, mà Mathew 16:18 cũng là ký hiệu toán học của "phi".
Before we address the mathematics associated with “phi,” it should be noted that “phi” is part of the word “Philippi,” the second of the two names of the town of Panium. Verse eighteen identifies that Jesus spoke to Peter in Hebrew, which was recorded in Greek, and later translated into English. Those three steps address Christ’s control over His Word. When the word is considered with the mathematical system of multiplying the numbered positions, it identifies that the name Peter equates to one hundred and forty-four thousand, thus emphasizing Jesus as the Wonderful Numberer. In the very same verse, where Jesus proclaims that He will build His church the Wonderful Numberer controlled the translation process to ensure that the truth represented in verse eighteen in chapter sixteen, would represent the mathematical symbol of “phi.”
Trước khi bàn đến các vấn đề toán học liên quan đến “phi”, cần lưu ý rằng “phi” là một phần của từ “Philippi”, tên thứ hai trong hai tên của thị trấn Panium. Câu mười tám cho biết rằng Chúa Giê-su đã phán với Peter bằng tiếng Hê-bơ-rơ, điều ấy được ghi chép lại bằng tiếng Hy Lạp, và về sau được dịch sang tiếng Anh. Ba bước đó nêu bật sự tể trị của Đấng Christ trên Lời của Ngài. Khi từ ngữ ấy được xét theo hệ thống toán học nhân các vị trí được đánh số, điều đó cho thấy rằng tên “Peter” tương đương một trăm bốn mươi bốn nghìn, qua đó nhấn mạnh Chúa Giê-su là Đấng Kỳ Diệu Đếm Số. Ngay trong chính câu ấy, nơi Chúa Giê-su tuyên bố rằng Ngài sẽ xây dựng Hội Thánh của Ngài, Đấng Kỳ Diệu Đếm Số đã kiểm soát tiến trình dịch thuật để bảo đảm rằng chân lý được trình bày ở câu mười tám, chương mười sáu, sẽ đại diện cho ký hiệu toán học “phi”.
And I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build my church; and the gates of hell shall not prevail against it. Matthew 16:18.
Và Ta cũng nói với ngươi: ngươi là Phê-rô; và trên tảng đá này Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta; các cửa âm phủ sẽ không thắng nổi Hội Thánh ấy. Mát-thêu 16:18.
His church is not simply built upon the doctrine that Jesus is the Christ, and that He is the son of God, but also the fact that He is the Word, and the Word created and controls all things, including mathematics, grammar and the works of men.
Hội Thánh của Ngài không chỉ được xây dựng trên giáo lý rằng Chúa Giê-su là Đấng Christ, và rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời, mà còn trên sự thật rằng Ngài là Ngôi Lời, và Ngôi Lời đã dựng nên và tể trị mọi sự, bao gồm cả toán học, ngữ pháp và các công trình của loài người.
In whom also we have obtained an inheritance, being predestinated according to the purpose of him who worketh all things after the counsel of his own will. Ephesians 1:11.
Trong Ngài, chúng ta cũng đã nhận được cơ nghiệp, vì đã được định trước theo mục đích của Đấng thực hiện mọi sự theo mưu định của ý muốn riêng Ngài. Ê-phê-sô 1:11.
Phi, often represented by the Greek letter φ (phi), is a mathematical constant approximately equal to 1.618033988749895. This number is known as the golden ratio or the divine proportion. It is an “irrational number”, meaning it cannot be expressed as a simple fraction, and its decimal representation goes on infinitely without repeating.
Phi, thường được ký hiệu bằng chữ cái Hy Lạp φ (phi), là một hằng số toán học xấp xỉ bằng 1.618033988749895. Con số này được biết đến với tên gọi tỷ lệ vàng hoặc tỷ lệ thần thánh. Nó là một "số vô tỉ", nghĩa là không thể biểu diễn dưới dạng một phân số đơn giản, và biểu diễn thập phân của nó kéo dài vô hạn mà không lặp lại.
The golden ratio has many remarkable properties and appears in various contexts in mathematics, art, architecture, nature, and other fields. It is often found in geometric shapes, such as rectangles, pentagons, and dodecahedrons, where the ratio of the longer side to the shorter side is equal to phi.
Tỷ lệ vàng có nhiều tính chất đáng chú ý và xuất hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau trong toán học, nghệ thuật, kiến trúc, tự nhiên và các lĩnh vực khác. Nó thường được tìm thấy trong các hình dạng hình học, chẳng hạn như hình chữ nhật, hình ngũ giác và khối mười hai mặt, trong đó tỷ số giữa cạnh dài và cạnh ngắn bằng phi.
In art and architecture, the golden ratio is believed to create aesthetically pleasing proportions. It has been used by artists and architects throughout history, from ancient civilizations to the Renaissance and beyond, to design compositions, buildings, and artworks. In mathematics, the golden ratio appears in various mathematical equations and sequences, including the Fibonacci sequence, where each term is the sum of the two preceding terms. As the terms of the Fibonacci sequence increase, the ratio of consecutive terms approaches phi.
Trong nghệ thuật và kiến trúc, tỉ lệ vàng được cho là tạo ra những tỉ lệ hài hòa về mặt thẩm mỹ. Nó đã được các nghệ sĩ và kiến trúc sư sử dụng xuyên suốt lịch sử, từ các nền văn minh cổ đại đến thời Phục Hưng và xa hơn nữa, để thiết kế bố cục, các tòa nhà và tác phẩm nghệ thuật. Trong toán học, tỉ lệ vàng xuất hiện trong nhiều phương trình và dãy số, bao gồm dãy Fibonacci, trong đó mỗi số hạng là tổng của hai số hạng liền trước. Khi các số hạng của dãy Fibonacci tăng lên, tỉ số giữa các số hạng liên tiếp tiến gần tới phi.
In verse 16:18, we find the mathematical phi (1.618…). Jesus, the God “who worketh all things after the counsel of his own will,” determined to place His signature of being Palmoni, the Wonderful Number, or the Numberer of Secrets in the prophetic geography that identifies the battleground of His church against the gates of hell in the last days. At that prophetic battleground, through His control of numbers, He represented the one hundred and forty-four thousand with “Peter”, who had his name changed from “Simon” the one who hears the message of the dove to “Peter”, thus marking the one hundred and forty-four thousand as His last days covenant people.
Trong câu 16:18, chúng ta thấy số phi trong toán học (1.618...). Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời “Đấng làm nên mọi sự theo ý định của ý muốn riêng Ngài,” đã quyết định đặt dấu ấn rằng Ngài là Palmoni, Con Số Kỳ Diệu, hay Đấng Đếm các Bí Mật, vào địa lý tiên tri vốn xác định chiến trường của Hội Thánh Ngài chống lại các cửa âm phủ trong những ngày sau rốt. Tại chiến trường tiên tri ấy, qua quyền tể trị của Ngài trên các con số, Ngài đã dùng “Peter” để đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn; người này đã được đổi tên từ “Simon”, người nghe sứ điệp của chim bồ câu, thành “Peter”, qua đó đánh dấu một trăm bốn mươi bốn nghìn là dân giao ước của Ngài trong những ngày sau rốt.
The “rock” that He chose to build His church on, is the foundation rock, the foundation and chief cornerstone of the “seven times” of Leviticus twenty-six, for there is no true foundation that is not Christ. From the baptism of Christ, when Simon “heard” the message of the dove unto the cross of the Dead Sea, for twelve hundred and sixty days, twice each day, there was a morning and evening sacrifice, except on the final day of the twelve hundred and sixty days, for on that day, the evening sacrifice escaped from the priest, and on the cross Christ died as the twenty-five hundred and twentieth offering.
“Tảng đá” mà Ngài chọn để xây dựng Hội thánh của Ngài trên đó, chính là tảng đá nền, nền móng và đá đầu góc của “bảy lần” trong Lê-vi Ký hai mươi sáu, vì không có nền móng chân thật nào mà không phải là Đấng Christ. Từ phép báp-têm của Đấng Christ, khi Si-môn “nghe” sứ điệp của chim bồ câu, cho đến thập tự giá nơi Biển Chết, suốt một ngàn hai trăm sáu mươi ngày, mỗi ngày hai lần, có của lễ buổi sáng và buổi chiều, ngoại trừ ngày cuối cùng của một ngàn hai trăm sáu mươi ngày ấy, vì trong ngày ấy, của lễ buổi chiều đã thoát khỏi tay vị thầy tế lễ, và trên thập tự giá, Đấng Christ đã chết như của lễ thứ hai ngàn năm trăm hai mươi.
“All is terror and confusion. The priest is about to slay the victim; but the knife drops from his nerveless hand, and the lamb escapes. Type has met antitype in the death of God’s Son. The great sacrifice has been made. The way into the holiest is laid open. A new and living way is prepared for all. No longer need sinful, sorrowing humanity await the coming of the high priest.” The Desire of Ages, 757.
Mọi sự đều là kinh hoàng và rối loạn. Thầy tế lễ sắp sửa sát tế con sinh; nhưng con dao rơi khỏi bàn tay bủn rủn của ông, và con chiên chạy thoát. Hình bóng đã gặp thực tại trong sự chết của Con Đức Chúa Trời. Lễ tế vĩ đại đã được dâng. Con đường vào nơi chí thánh đã được mở ra. Một con đường mới và sống động đã được dọn sẵn cho mọi người. Nhân loại tội lỗi, sầu khổ không còn phải đợi chờ thầy tế lễ thượng phẩm đến nữa. The Desire of Ages, 757.
The “rock” He would build His church upon is the foundation stone that the builders rejected, its number is “twenty-five hundred and twenty.” In one short verse Christ presents Himself as the Master of all things, and when He does so He is standing and speaking in verses thirteen through fifteen of Daniel chapter eleven.
“Tảng đá” mà Ngài sẽ xây dựng Hội Thánh của Ngài trên đó là viên đá nền tảng mà các thợ xây đã loại bỏ; con số của nó là “hai nghìn năm trăm hai mươi”. Trong một câu ngắn, Đấng Christ bày tỏ chính mình là Chúa Tể của muôn vật, và khi Ngài làm như vậy, Ngài đang đứng và phán trong các câu mười ba đến mười lăm của sách Đa-ni-ên, chương mười một.
And I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build my church; and the gates of hell shall not prevail against it. Matthew 16:18.
Và Ta cũng nói với ngươi: ngươi là Phê-rô; và trên tảng đá này Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta; các cửa âm phủ sẽ không thắng nổi Hội Thánh ấy. Mát-thêu 16:18.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“‘The secret things belong unto the Lord our God: but those things which are revealed belong unto us and to our children forever.’ Deuteronomy 29:29. Just how God accomplished the work of creation He has never revealed to men; human science cannot search out the secrets of the Most High. His creative power is as incomprehensible as His existence.
"'Những điều kín nhiệm thuộc về Chúa, là Đức Chúa Trời của chúng ta; còn những điều đã được bày tỏ thuộc về chúng ta và con cháu chúng ta đời đời.' Phục Truyền 29:29. Chúa đã thực hiện công cuộc sáng tạo như thế nào, Ngài chưa từng bày tỏ cho loài người; khoa học của con người không thể dò thấu những mầu nhiệm của Đấng Tối Cao. Quyền năng sáng tạo của Ngài bất khả dò hiểu như chính sự hiện hữu của Ngài."
“God has permitted a flood of light to be poured upon the world in both science and art; but when professedly scientific men treat upon these subjects from a merely human point of view, they will assuredly come to wrong conclusions. It may be innocent to speculate beyond what God’s word has revealed, if our theories do not contradict facts found in the Scriptures; but those who leave the word of God, and seek to account for His created works upon scientific principles, are drifting without chart or compass upon an unknown ocean. The greatest minds, if not guided by the word of God in their research, become bewildered in their attempts to trace the relations of science and revelation. Because the Creator and His works are so far beyond their comprehension that they are unable to explain them by natural laws, they regard Bible history as unreliable. Those who doubt the reliability of the records of the Old and New Testaments, will be led to go a step further, and doubt the existence of God; and then, having lost their anchor, they are left to beat about upon the rocks of infidelity.
Đức Chúa Trời đã cho phép một luồng ánh sáng dồi dào tuôn đổ trên thế gian trong cả khoa học lẫn nghệ thuật; nhưng khi những người tự xưng là khoa học gia bàn về các chủ đề này chỉ từ quan điểm thuần túy con người, họ chắc chắn sẽ đi đến những kết luận sai lầm. Có thể vô hại khi suy đoán vượt quá điều lời Đức Chúa Trời đã bày tỏ, miễn là các giả thuyết của chúng ta không mâu thuẫn với những sự thật được tìm thấy trong Kinh Thánh; nhưng những ai rời bỏ lời Đức Chúa Trời và tìm cách giải thích các công trình sáng tạo của Ngài theo những nguyên lý khoa học thì đang trôi dạt trên một đại dương vô danh, không bản đồ cũng chẳng la bàn. Những trí tuệ vĩ đại nhất, nếu không được lời Đức Chúa Trời hướng dẫn trong nghiên cứu của họ, sẽ trở nên bối rối khi cố gắng truy tìm mối liên hệ giữa khoa học và sự mặc khải. Bởi vì Đấng Tạo Hóa và các công việc của Ngài vượt xa sự hiểu biết của họ đến nỗi họ không thể giải thích bằng các định luật tự nhiên, nên họ xem lịch sử Kinh Thánh là không đáng tin. Những người nghi ngờ độ tin cậy của các ghi chép trong Cựu Ước và Tân Ước sẽ bị dẫn dắt đi xa hơn, đến chỗ nghi ngờ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời; và rồi, khi đã mất chiếc neo của mình, họ bị bỏ mặc để va đập vào những ghềnh đá của sự vô tín.
“These persons have lost the simplicity of faith. There should be a settled belief in the divine authority of God’s Holy Word. The Bible is not to be tested by men’s ideas of science. Human knowledge is an unreliable guide. Skeptics who read the Bible for the sake of caviling, may, through an imperfect comprehension of either science or revelation, claim to find contradictions between them; but rightly understood, they are in perfect harmony. Moses wrote under the guidance of the Spirit of God, and a correct theory of geology will never claim discoveries that cannot be reconciled with his statements. All truth, whether in nature or in revelation, is consistent with itself in all its manifestations.
Những người này đã đánh mất sự đơn sơ của đức tin. Cần phải có một niềm tin vững chắc vào thẩm quyền thiêng liêng của Lời Thánh của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh không phải để đem ra thử nghiệm bằng những quan niệm khoa học của loài người. Tri thức của con người là một kim chỉ nam không đáng tin cậy. Những kẻ hoài nghi đọc Kinh Thánh chỉ để bới móc có thể, do sự hiểu biết chưa trọn vẹn về khoa học hay về mặc khải, tuyên bố rằng họ tìm thấy những mâu thuẫn giữa hai lĩnh vực; nhưng khi được hiểu cho đúng, chúng hoàn toàn hòa hợp. Môi-se đã viết dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh của Đức Chúa Trời, và một lý thuyết địa chất đúng đắn sẽ không bao giờ khẳng định những phát hiện không thể dung hòa với các lời tuyên bố của ông. Mọi lẽ thật, dù trong thiên nhiên hay trong sự mặc khải, đều nhất quán với chính nó trong mọi sự bày tỏ.
“In the word of God many queries are raised that the most profound scholars can never answer. Attention is called to these subjects to show us how much there is, even among the common things of everyday life, that finite minds, with all their boasted wisdom, can never fully understand.
Trong Lời Đức Chúa Trời, nhiều câu hỏi được nêu ra mà ngay cả những học giả uyên thâm nhất cũng không bao giờ có thể trả lời được. Sự chú ý được hướng đến những vấn đề này để cho thấy có biết bao điều, ngay cả trong những điều bình thường của đời sống hằng ngày, mà trí óc hữu hạn, với tất cả sự khôn ngoan mà mình vẫn tự hào, cũng không bao giờ có thể hiểu trọn vẹn.
“Yet men of science think that they can comprehend the wisdom of God, that which He has done or can do. The idea largely prevails that He is restricted by His own laws. Men either deny or ignore His existence, or think to explain everything, even the operation of His Spirit upon the human heart; and they no longer reverence His name or fear His power. They do not believe in the supernatural, not understanding God’s laws or His infinite power to work His will through them. As commonly used, the term ‘laws of nature’ comprises what men have been able to discover with regard to the laws that govern the physical world; but how limited is their knowledge, and how vast the field in which the Creator can work in harmony with His own laws and yet wholly beyond the comprehension of finite beings!
Thế nhưng các nhà khoa học lại nghĩ rằng họ có thể thấu hiểu sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, những điều Ngài đã làm hoặc có thể làm. Quan niệm cho rằng Ngài bị giới hạn bởi chính các định luật của Ngài khá phổ biến. Người ta hoặc chối bỏ hoặc làm ngơ sự hiện hữu của Ngài, hoặc tưởng có thể giải thích mọi sự, kể cả sự tác động của Thánh Linh Ngài trên lòng người; và họ không còn tôn kính danh Ngài hay kính sợ quyền năng Ngài nữa. Họ không tin vào những điều siêu nhiên, bởi không hiểu các luật của Đức Chúa Trời cũng như quyền năng vô hạn của Ngài để thực hiện ý muốn Ngài qua các luật ấy. Theo cách dùng thông thường, thuật ngữ “luật tự nhiên” bao gồm những gì con người đã có thể khám phá liên quan đến các luật chi phối thế giới vật chất; nhưng tri thức của họ hạn hẹp biết bao, và bao la dường nào là lĩnh vực trong đó Đấng Tạo Hóa có thể hành động hài hòa với các định luật của chính Ngài mà vẫn hoàn toàn vượt quá sự hiểu biết của những hữu thể hữu hạn!
“Many teach that matter possesses vital power—that certain properties are imparted to matter, and it is then left to act through its own inherent energy; and that the operations of nature are conducted in harmony with fixed laws, with which God Himself cannot interfere. This is false science, and is not sustained by the word of God. Nature is the servant of her Creator. God does not annul His laws or work contrary to them, but He is continually using them as His instruments. Nature testifies of an intelligence, a presence, an active energy, that works in and through her laws. There is in nature the continual working of the Father and the Son. Christ says, ‘My Father worketh hitherto, and I work.’ John 5:17.
Nhiều người dạy rằng vật chất sở hữu sinh lực, rằng một số thuộc tính được truyền cho vật chất, rồi nó được để mặc hoạt động bằng năng lượng cố hữu của chính nó; và rằng các hoạt động của tự nhiên diễn ra hài hòa với những luật lệ cố định, mà chính Đức Chúa Trời cũng không thể can thiệp. Đây là khoa học giả dối, và không được Lời Đức Chúa Trời xác nhận. Tự nhiên là đầy tớ của Đấng Tạo Hóa. Đức Chúa Trời không bãi bỏ các luật lệ của Ngài, cũng không hành động trái với chúng; nhưng Ngài liên tục dùng chúng như khí cụ của Ngài. Tự nhiên làm chứng về một trí tuệ, một sự hiện diện, một năng lực hoạt động, đang vận hành trong và qua các luật lệ của nó. Trong tự nhiên có sự làm việc liên tục của Đức Cha và Đức Con. Đấng Christ phán: “Cha Ta làm việc cho đến nay, Ta cũng làm việc.” Giăng 5:17.
“The Levites, in their hymn recorded by Nehemiah, sang, ‘Thou, even Thou, art Lord alone; Thou hast made heaven, the heaven of heavens, with all their host, the earth, and all things therein, … and Thou preservest them all.’ Nehemiah 9:6. As regards this world, God’s work of creation is completed. For ‘the works were finished from the foundation of the world.’ Hebrews 4:3. But His energy is still exerted in upholding the objects of His creation. It is not because the mechanism that has once been set in motion continues to act by its own inherent energy that the pulse beats and breath follows breath; but every breath, every pulsation of the heart, is an evidence of the all-pervading care of Him in whom ‘we live, and move, and have our being.’ Acts 17:28. It is not because of inherent power that year by year the earth produces her bounties and continues her motion around the sun. The hand of God guides the planets and keeps them in position in their orderly march through the heavens. He ‘bringeth out their host by number: He calleth them all by names by the greatness of His might, for that He is strong in power; not one faileth.’ Isaiah 40:26. It is through His power that vegetation flourishes, that the leaves appear and the flowers bloom. He ‘maketh grass to grow upon the mountains’ (Psalm 147:8), and by Him the valleys are made fruitful. ‘All the beasts of the forest … seek their meat from God,’ and every living creature, from the smallest insect up to man, is daily dependent upon His providential care. In the beautiful words of the psalmist, ‘These wait all upon Thee…. That Thou givest them they gather: Thou openest Thine hand, they are filled with good.’ Psalm 104:20, 21, 27, 28. His word controls the elements; He covers the heavens with clouds and prepares rain for the earth. ‘He giveth snow like wool: He scattereth the hoarfrost like ashes.’ Psalm 147:16. ‘When He uttereth His voice, there is a multitude of waters in the heavens, and He causeth the vapors to ascend from the ends of the earth; He maketh lightnings with rain, and bringeth forth the wind out of His treasuries.’ Jeremiah 10:13.
Những người Lê-vi, trong bài thánh ca được Nê-hê-mi ghi lại, đã hát: “Chính Ngài, chỉ một mình Ngài, là Chúa; Ngài đã dựng nên trời, trời của các tầng trời, với cả cơ binh của chúng, đất và mọi vật ở trong đó, ... và Ngài bảo tồn hết thảy.” Nê-hê-mi 9:6. Đối với thế giới này, công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời đã hoàn tất. Vì “các công việc đã xong từ buổi đặt nền của thế gian.” Hê-bơ-rơ 4:3. Nhưng quyền năng của Ngài vẫn đang thi thố trong việc nâng đỡ muôn vật Ngài đã dựng nên. Không phải vì cơ cấu đã một lần được khởi động cứ tiếp tục vận hành bằng năng lực tự hữu của nó mà mạch đập và hơi thở nối tiếp nhau; nhưng mỗi hơi thở, mỗi nhịp đập của tim đều là bằng chứng về sự chăm sóc bao trùm của Đấng “trong Ngài chúng ta sống, cử động và hiện hữu.” Công vụ 17:28. Không phải do quyền lực tự hữu mà năm này qua năm khác đất sinh ra các bổng lộc của mình và tiếp tục chuyển động quanh mặt trời. Bàn tay Đức Chúa Trời hướng dẫn các hành tinh và giữ chúng đúng vị trí trong cuộc hành trình có trật tự của chúng qua các tầng trời. Ngài “đem cơ binh của chúng ra theo số; Ngài gọi hết thảy bằng tên bởi sự vĩ đại quyền năng Ngài, vì Ngài mạnh mẽ trong quyền lực; chẳng một ngôi nào thiếu vắng.” Ê-sai 40:26. Chính bởi quyền năng Ngài mà cây cỏ xanh tươi, lá xuất hiện và hoa nở rộ. Ngài “khiến cỏ mọc trên các núi” (Thi thiên 147:8), và bởi Ngài các thung lũng trở nên phì nhiêu. “Hết thảy thú rừng ... tìm thức ăn từ nơi Đức Chúa Trời,” và mọi sinh vật, từ con côn trùng nhỏ nhất cho đến con người, đều hằng ngày lệ thuộc vào sự chăm nom quan phòng của Ngài. Như lời tuyệt đẹp của thi sĩ Thi thiên: “Tất cả đều trông đợi nơi Chúa.... Điều Chúa ban cho, chúng nhặt lấy; Chúa mở tay ra, chúng được no đầy ơn lành.” Thi thiên 104:20, 21, 27, 28. Lời Ngài điều khiển các yếu tố tự nhiên; Ngài phủ mây trên các tầng trời và chuẩn bị mưa cho đất. “Ngài ban tuyết như lông chiên; Ngài rải sương giá như tro bụi.” Thi thiên 147:16. “Khi Ngài cất tiếng, có vô số nước trong các tầng trời, và Ngài khiến hơi nước bốc lên từ các đầu cùng đất; Ngài làm chớp cùng mưa, và đem gió ra từ kho tàng Ngài.” Giê-rê-mi 10:13.
“God is the foundation of everything. All true science is in harmony with His works; all true education leads to obedience to His government. Science opens new wonders to our view; she soars high, and explores new depths; but she brings nothing from her research that conflicts with divine revelation. Ignorance may seek to support false views of God by appeals to science, but the book of nature and the written word shed light upon each other. We are thus led to adore the Creator and to have an intelligent trust in His word.” Patriarchs and Prophets, 113–115.
“Đức Chúa Trời là nền tảng của mọi sự. Mọi khoa học chân chính đều hài hòa với các công việc của Ngài; mọi nền giáo dục chân chính đều dẫn đến vâng phục sự cai trị của Ngài. Khoa học mở ra trước mắt chúng ta những điều kỳ diệu mới; nàng bay vút cao và thám hiểm những chiều sâu mới; nhưng từ những nghiên cứu của mình, nàng không mang lại điều gì mâu thuẫn với sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Sự thiếu hiểu biết có thể tìm cách bênh vực những quan niệm sai lầm về Đức Chúa Trời bằng cách viện dẫn khoa học, nhưng quyển sách của thiên nhiên và Lời được chép lại soi sáng lẫn nhau. Nhờ đó, chúng ta được dẫn dắt để tôn thờ Đấng Tạo Hóa và đặt một sự tin cậy sáng suốt nơi Lời Ngài.” Tổ phụ và Tiên tri, 113-115.