At Panium, which was Caesarea Philippi, which is verses thirteen through fifteen in chapter eleven of the book of Daniel, which is the history where the Republican and Protestant horns fulfill the enigma of being the eighth that is of the seven, which is the history where the Seal of God is permanently impressed upon the one hundred and forty-four thousand, and the history of the arrival of the message of the Midnight Cry, Christ gave a promise to His last-day people.

Tại Panium, tức là Xê-sa-rê Phi-líp, tức là các câu mười ba đến mười lăm trong chương mười một của sách Đa-ni-ên, là phần lịch sử trong đó các sừng Cộng hòa và Tin Lành ứng nghiệm điều bí ẩn về việc là kẻ thứ tám, vốn thuộc về bảy, là lịch sử trong đó Ấn của Đức Chúa Trời được đóng ấn vĩnh viễn trên một trăm bốn mươi bốn nghìn người, và là lịch sử về sự xuất hiện của sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm, Đấng Christ đã ban một lời hứa cho dân sự ngày sau rốt của Ngài.

And I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build my church; and the gates of hell shall not prevail against it. And I will give unto thee the keys of the kingdom of heaven: and whatsoever thou shalt bind on earth shall be bound in heaven: and whatsoever thou shalt loose on earth shall be loosed in heaven. Matthew 16:18, 19.

Ta cũng nói với ngươi rằng: ngươi là Phê-rô, và trên tảng đá này Ta sẽ xây dựng Hội Thánh của Ta; các cửa Âm phủ sẽ không thắng nổi nó. Ta sẽ trao cho ngươi những chìa khóa của Nước Trời; điều gì ngươi buộc dưới đất sẽ được buộc trên trời; và điều gì ngươi tháo cởi dưới đất sẽ được tháo cởi trên trời. Ma-thi-ơ 16:18, 19.

The period of the sealing which began on September 11, 2001, when the mighty buildings of New York City were brought down, which ends at the soon coming Sunday law, was designed by the Alpha and Omega. The very last part of the period repeats the very first part of the period. On September 11, 2001 the Lord led His people back to the old paths, where among other truths they discovered the “seven times,” just as it was found in the days of king Josiah. The latter rain then began to sprinkle, and a testing process that produced a separation of two classes of worshippers began.

Thời kỳ ấn chứng, bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi những tòa nhà hùng vĩ của Thành phố New York bị đánh sập, và kết thúc tại đạo luật ngày Chủ nhật sắp đến, đã được Đấng Alpha và Omega an bài. Phần cuối cùng của thời kỳ này lặp lại chính phần đầu tiên của nó. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Chúa dẫn dân Ngài trở lại những nẻo xưa, nơi họ, giữa các lẽ thật khác, đã khám phá ra “bảy lần,” y như đã được tìm thấy trong thời vua Giô-si-a. Khi ấy mưa rào mùa sau bắt đầu rưới xuống, và một tiến trình thử thách dẫn đến sự tách biệt hai hạng người thờ phượng đã khởi sự.

In fulfillment of Habakkuk chapter two the two sacred charts were discovered and became an emblem of that historical period. Just as significantly the “debate” of Habakkuk chapter two began, between the methodology of line upon line, which is the latter rain methodology, in opposition to the methodology of apostate Protestantism that had been progressively adopted by Adventism beginning in the rebellion of 1863.

Trong sự ứng nghiệm của chương hai sách Ha-ba-cúc, hai tấm biểu đồ thiêng liêng đã được phát hiện và trở thành một biểu tượng của giai đoạn lịch sử ấy. Cũng quan trọng không kém, “cuộc tranh luận” của chương hai sách Ha-ba-cúc đã bắt đầu, giữa phương pháp “dòng trên dòng”, vốn là phương pháp của mưa cuối mùa, đối lập với phương pháp của Tin Lành bội đạo mà giới Cơ Đốc Phục Lâm đã dần dần tiếp nhận, khởi đầu từ cuộc nổi loạn năm 1863.

Jesus promised that He would give His last-day people “the keys of the kingdom,” and in so doing, He is referring to the correct biblical methodology, that contains the necessary prophetic keys to recognize, establish and proclaim the message of the Midnight Cry and Loud Cry.

Chúa Giê-su đã hứa rằng Ngài sẽ ban cho dân sự của Ngài trong những ngày sau rốt “những chìa khóa của Nước Trời”, và khi làm như vậy, Ngài đang nói đến phương pháp luận Kinh Thánh đúng đắn, vốn chứa đựng những chìa khóa tiên tri cần thiết để nhận biết, xác lập và công bố sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm và Tiếng Kêu Lớn.

“Those who commune with God walk in the light of the Sun of Righteousness. They do not dishonor their Redeemer by corrupting their way before God. Heavenly light shines upon them. As they near the close of this earth’s history, their knowledge of Christ, and of the prophecies relating to him, greatly increases. They are of infinite worth in God’s sight; for they are in unity with his Son. To them the word of God is of surpassing beauty and loveliness. They see its importance. Truth is unfolded to them. The doctrine of the incarnation is invested with a soft radiance. They see that the Scripture is the key that unlocks all mysteries and solves all difficulties. Those who have been unwilling to receive the light and walk in the light will be unable to understand the mystery of godliness, but those who have not hesitated to take up the cross and follow Jesus, will see light in God’s light.” The Southern Watchman, April 4, 1905.

“Những ai thông công với Đức Chúa Trời bước đi trong ánh sáng của Mặt Trời Công Chính. Họ không làm ô danh Đấng Cứu Chuộc mình bằng cách làm bại hoại đường lối mình trước mặt Đức Chúa Trời. Ánh sáng thiên thượng chiếu rọi trên họ. Khi họ đến gần lúc kết thúc lịch sử của trái đất này, sự hiểu biết của họ về Đấng Christ và về những lời tiên tri liên quan đến Ngài gia tăng rất nhiều. Trong mắt Đức Chúa Trời, họ vô giá; vì họ hiệp một với Con Ngài. Đối với họ, Lời Đức Chúa Trời thật đẹp đẽ tuyệt vời và đáng yêu. Họ thấy được tầm quan trọng của Lời ấy. Lẽ thật được mở bày cho họ. Tín lý về sự nhập thể được nhuốm một ánh sáng dịu êm. Họ thấy rằng Kinh Thánh là chìa khóa mở ra mọi điều mầu nhiệm và giải quyết mọi nan đề. Những ai đã không muốn tiếp nhận ánh sáng và bước đi trong ánh sáng sẽ không thể hiểu được sự mầu nhiệm của sự tin kính, nhưng những người không ngần ngại vác thập tự giá và theo Chúa Giê-xu sẽ thấy ánh sáng trong ánh sáng của Đức Chúa Trời.” The Southern Watchman, ngày 4 tháng 4, 1905.

Those represented by Peter, who are the one hundred and forty-four thousand, are those who accept the Laodicean message that arrived on September 11, 2001, which is now being repeated since July, 2023. The Laodicean message that arrived in 1856, was the increased knowledge of the “seven times,” and when Christ brings the dead bones together, and thereafter brings them to life they transition from the Laodicean movement of the third angel unto the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand. That transition is brought about by Christ’s Word, for they are sanctified by His Word, and His Word is “truth,” and His Word is the “key” that unlocks His Word.

Những người được Phi-e-rơ đại diện, tức là một trăm bốn mươi bốn nghìn, là những người chấp nhận sứ điệp La-ô-đi-xê đã đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và hiện đang được lặp lại kể từ tháng 7 năm 2023. Sứ điệp La-ô-đi-xê đã đến vào năm 1856 là sự hiểu biết được gia tăng về “bảy lần”, và khi Đấng Christ gom các xương khô lại với nhau, rồi sau đó ban sự sống cho chúng, họ chuyển từ phong trào La-ô-đi-xê của thiên sứ thứ ba sang phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Sự chuyển đổi đó được thực hiện bởi Lời của Đấng Christ, vì họ được thánh hóa bởi Lời Ngài, và Lời Ngài là “lẽ thật”, và Lời Ngài là “chìa khóa” mở ra Lời Ngài.

And to the angel of the church in Philadelphia write; These things saith he that is holy, he that is true, he that hath the key of David, he that openeth, and no man shutteth; and shutteth, and no man openeth; I know thy works: behold, I have set before thee an open door, and no man can shut it: for thou hast a little strength, and hast kept my word, and hast not denied my name. Revelation 3:7–8.

Và hãy viết cho thiên sứ của hội thánh tại Philadelphia: Đây là lời của Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, Đấng cầm chìa khóa của Đa-vít: Ngài mở thì không ai đóng được; Ngài đóng thì không ai mở được. Ta biết công việc của ngươi; kìa, Ta đã đặt trước mặt ngươi một cánh cửa mở, và không ai có thể đóng lại; vì ngươi có ít sức, nhưng đã giữ lời Ta và không chối bỏ danh Ta. Khải Huyền 3:7-8.

The methodology of “line upon line” is the key which Christ promised to His last-day people in the battle at the “gates”. A “gate” is a church.

Phương pháp “dòng trên dòng” là chìa khóa mà Đấng Christ đã hứa cho dân sự của Ngài trong những ngày sau rốt, trong trận chiến tại các “cổng”. Một “cổng” là một hội thánh.

And Jacob awaked out of his sleep, and he said, Surely the Lord is in this place; and I knew it not. And he was afraid, and said, How dreadful is this place! this is none other but the house of God, and this is the gate of heaven. Genesis 28:16, 17.

Gia-cốp tỉnh dậy khỏi giấc ngủ và nói: “Quả thật Chúa ở trong nơi này, mà tôi đã không biết.” Ông sợ hãi và nói: “Nơi này thật đáng sợ biết bao! Đây chẳng phải gì khác hơn là nhà của Đức Chúa Trời; và đây là cửa trời.” Sáng Thế Ký 28:16, 17.

The battle at the gates represents the religious battles that occur between truth and error, and the error of the religion of Greece, is the gate of hell, and the religion of apostate Laodicean Adventism is also a gate. The Laodicean Adventist gate represents where the debate of Habakkuk is fulfilled.

Trận chiến nơi các cửa thành tượng trưng cho những cuộc chiến tôn giáo diễn ra giữa lẽ thật và sai lầm, và sự sai lầm của tôn giáo Hy Lạp là cửa âm phủ, còn tôn giáo Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea bội đạo cũng là một cửa. Cửa Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea tượng trưng cho nơi cuộc tranh luận của Habakkuk được ứng nghiệm.

In that day shall the Lord of hosts be for a crown of glory, and for a diadem of beauty, unto the residue of his people, And for a spirit of judgment to him that sitteth in judgment, and for strength to them that turn the battle to the gate. But they also have erred through wine, and through strong drink are out of the way; the priest and the prophet have erred through strong drink, they are swallowed up of wine, they are out of the way through strong drink; they err in vision, they stumble in judgment. For all tables are full of vomit and filthiness, so that there is no place clean. Whom shall he teach knowledge? and whom shall he make to understand doctrine? them that are weaned from the milk, and drawn from the breasts. For precept must be upon precept, precept upon precept; line upon line, line upon line; here a little, and there a little: For with stammering lips and another tongue will he speak to this people. To whom he said, This is the rest wherewith ye may cause the weary to rest; and this is the refreshing: yet they would not hear. But the word of the Lord was unto them precept upon precept, precept upon precept; line upon line, line upon line; here a little, and there a little; that they might go, and fall backward, and be broken, and snared, and taken. Wherefore hear the word of the Lord, ye scornful men, that rule this people which is in Jerusalem. Isaiah 28:5-14

Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trở nên vương miện vinh quang và mão diễm lệ cho phần sót lại của dân Ngài, cũng sẽ làm thần của sự xét đoán cho kẻ ngồi xét xử, và làm sức mạnh cho những người đẩy chiến trận đến tận cổng. Nhưng họ cũng lầm lạc vì rượu, và vì đồ uống mạnh mà lạc lối; thầy tế lễ và nhà tiên tri lầm lạc vì đồ uống mạnh, họ bị rượu nuốt mất, họ chệch đường vì đồ uống mạnh; họ sai trong khải tượng, họ vấp váp trong sự xét đoán. Vì mọi bàn đều đầy ói mửa và ô uế, đến nỗi chẳng còn chỗ nào sạch. Ngài sẽ dạy tri thức cho ai? Và khiến ai hiểu giáo huấn? Há chẳng phải là những kẻ đã cai sữa, đã rời vú sao? Vì luật lệ chồng luật lệ, luật lệ chồng luật lệ; dòng trên dòng, dòng trên dòng; chỗ này một ít, chỗ kia một ít. Vì bằng môi lắp bắp và bằng thứ tiếng khác, Ngài sẽ nói với dân này. Ngài đã phán với họ: Đây là sự yên nghỉ để các ngươi cho kẻ mệt mỏi được nghỉ; và đây là sự tươi mới; nhưng họ chẳng chịu nghe. Nhưng lời của Đức Giê-hô-va đối với họ trở nên luật lệ chồng luật lệ, luật lệ chồng luật lệ; dòng trên dòng, dòng trên dòng; chỗ này một ít, chỗ kia một ít; để họ đi rồi ngã ngửa, bị gãy nát, mắc bẫy và bị bắt. Vậy nên, hỡi những kẻ nhạo báng đang cai trị dân này tại Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Ê-sai 28:5-14

The keys of the kingdom are the words of the Scriptures, that are given to God’s last-day people by the Word.

Các chìa khóa của Nước Trời là những lời của Kinh Thánh, được Ngôi Lời ban cho dân sự thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời.

There are truths in the word which, like veins of precious ore, are hidden beneath the surface. The hidden treasure is discovered as it is searched for, as a miner searches for gold and silver. The evidence of the truth of God’s word is in the word itself. Scripture is the key that unlocks scripture. The deep meaning of the truths of God’s word is unfolded to our minds by His Spirit.

Trong Lời có những lẽ thật, như những mạch quặng quý, ẩn giấu dưới bề mặt. Kho báu ẩn giấu được khám phá khi người ta tìm kiếm nó, như thợ mỏ tìm vàng và bạc. Bằng chứng về chân lý của Lời Đức Chúa Trời ở ngay trong chính Lời ấy. Kinh Thánh là chìa khóa mở Kinh Thánh. Ý nghĩa sâu xa của các lẽ thật trong Lời Đức Chúa Trời được Đức Thánh Linh của Ngài mở ra cho tâm trí chúng ta.

“The Bible is the great lesson book for the students in our schools. It teaches the whole will of God concerning the sons and daughters of Adam. It is the rule of life, teaching us of the character that we must form for the future life. We need not the dim light of tradition to make the Scriptures comprehensible. As well might we suppose that the noonday sun needs the glimmering torchlight of earth to increase its glory. The utterances of priest and minister are not needed to save men from error. Those who consult the divine Oracle will have light. In the Bible every duty is made plain. Every lesson given is comprehensible. Every lesson reveals to us the Father and the Son. The word is able to make all wise unto salvation. In the word the science of salvation is plainly revealed. Search the Scriptures, for they are the voice of God speaking to the soul.” Testimonies, volume 8, 157.

Kinh Thánh là sách bài học vĩ đại cho học sinh trong các trường học của chúng ta. Kinh Thánh dạy trọn vẹn ý muốn của Đức Chúa Trời liên quan đến các con trai và con gái của A-đam. Đó là quy tắc của đời sống, dạy chúng ta về nhân cách mà chúng ta phải hình thành cho đời sống tương lai. Chúng ta không cần ánh sáng mờ nhạt của truyền thống để khiến Kinh Thánh trở nên dễ hiểu. Cũng như thể chúng ta lại cho rằng mặt trời giữa trưa cần đến ánh đuốc le lói của trần gian để gia tăng vinh quang của nó. Những lời nói của linh mục và mục sư không cần thiết để cứu con người khỏi lầm lạc. Những ai tìm cầu nơi Lời phán thiêng liêng của Đức Chúa Trời sẽ có ánh sáng. Trong Kinh Thánh, mọi bổn phận đều được bày tỏ rõ ràng. Mọi bài học được ban cho đều dễ hiểu. Mỗi bài học bày tỏ cho chúng ta Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. Lời có thể khiến mọi người trở nên khôn ngoan để được cứu rỗi. Trong Lời, khoa học về sự cứu rỗi được bày tỏ cách rõ ràng. Hãy tra xem Kinh Thánh, vì đó là tiếng của Đức Chúa Trời đang nói với linh hồn." Lời Chứng, tập 8, 157.

The keys that Christ gave unto the last-day church have the same power they had when they were given to Peter.

Những chìa khóa mà Đấng Christ đã ban cho Hội thánh thời kỳ sau rốt vẫn có cùng uy quyền như khi chúng được trao cho Phê-rô.

“Peter had expressed the truth which is the foundation of the church’s faith, and Jesus now honored him as the representative of the whole body of believers. He said, ‘I will give unto thee the keys of the kingdom of heaven: and whatsoever thou shalt bind on earth shall be bound in heaven: and whatsoever thou shalt loose on earth shall be loosed in heaven.’

Phêrô đã bày tỏ lẽ thật là nền tảng đức tin của Hội Thánh, và Chúa Giêsu nay tôn vinh ông như đại diện cho toàn thể cộng đoàn tín hữu. Ngài nói: “Ta sẽ trao cho con chìa khóa Nước Trời; điều gì con cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng sẽ được cầm buộc; và điều gì con tháo cởi dưới đất thì trên trời cũng sẽ được tháo cởi.”

“‘The keys of the kingdom of heaven’ are the words of Christ. All the words of Holy Scripture are His, and are here included. These words have power to open and to shut heaven. They declare the conditions upon which men are received or rejected. Thus the work of those who preach God’s word is a savor of life unto life or of death unto death. Theirs is a mission weighted with eternal results.” The Desire of Ages, 413.

“Chìa khóa của Nước Trời” là lời của Đấng Christ. Mọi lời trong Thánh Kinh đều là của Ngài, và đều được bao gồm ở đây. Những lời này có quyền năng mở và đóng cửa Nước Trời. Chúng công bố các điều kiện theo đó con người được tiếp nhận hoặc bị loại bỏ. Vì thế, công việc của những người rao giảng lời Đức Chúa Trời là mùi thơm của sự sống dẫn đến sự sống, hoặc của sự chết dẫn đến sự chết. Sứ mạng của họ mang nặng những hệ quả đời đời. The Desire of Ages, 413.

The power that is manifested through His words, when placed in the hands of men is based upon the principles identified in His word. The simplest perhaps, and perhaps the most profound is that truth is established upon the testimony of two.

Quyền năng được bày tỏ qua những lời Ngài phán, khi được trao vào tay con người, dựa trên những nguyên tắc được xác định trong Lời Ngài. Đơn giản nhất, và có lẽ cũng sâu sắc nhất, là chân lý được xác lập dựa trên lời chứng của hai nhân chứng.

“Another grave evil that had arisen in the church was that of brethren going to law against one another. Abundant provision had been made for the settlement of difficulties among believers. Christ Himself had given plain instruction as to how such matters were to be adjusted. ‘If thy brother shall trespass against thee,’ the Saviour had counseled, ‘go and tell him his fault between thee and him alone: if he shall hear thee, thou hast gained thy brother. But if he will not hear thee, then take with thee one or two more, that in the mouth of two or three witnesses every word may be established. And if he shall neglect to hear them, tell it unto the church: but if he neglect to hear the church, let him be unto thee as a heathen man and a publican. Verily I say unto you, Whatsoever ye shall bind on earth shall be bound in heaven: and whatsoever ye shall loose on earth shall be loosed in heaven.” Matthew 18:15–18.” Acts of the Apostles, 304.

Một điều ác nghiêm trọng khác đã nảy sinh trong hội thánh là việc anh em đưa nhau ra tòa kiện tụng lẫn nhau. Đã có những sự sắp đặt đầy đủ để giải quyết những tranh chấp giữa các tín hữu. Chính Đấng Christ đã ban những chỉ dẫn rõ ràng về cách giải quyết những việc như vậy. "Nếu anh em ngươi phạm lỗi cùng ngươi," Đấng Cứu Thế đã khuyên, "hãy đi và chỉ cho người ấy biết lỗi của mình giữa ngươi và người ấy mà thôi; nếu người nghe ngươi, thì ngươi đã được lại anh em mình. Nhưng nếu người không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để bởi miệng hai hoặc ba nhân chứng, mọi lời đều được xác lập. Và nếu người không chịu nghe họ, hãy trình cho hội thánh; nhưng nếu người cũng không chịu nghe hội thánh, hãy coi người như dân ngoại và người thu thuế. Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, điều gì các ngươi buộc ở dưới đất sẽ được buộc ở trên trời; và điều gì các ngươi cởi ở dưới đất sẽ được cởi ở trên trời." Ma-thi-ơ 18:15-18. Công Vụ Các Sứ Đồ, 304.

There are at least three geographical witnesses of the period when the one hundred and forty-four thousand are sealed at the Midnight Cry. Remembering the fact that at the cry at midnight, it is too late to obtain the oil, we find the geographical testimony of the Exeter camp meeting providing an illustration of the point where God’s last-day people are sealed, and we find that truth represented by the geography of Caesarea Philippi, and also by the testimony of the battle of Panium, in verses thirteen to fifteen of Daniel chapter eleven. Perhaps it is a little off to identify these three witnesses as geographical, but I am employing that term because the geography is certainly part of the setting in Exeter and Caesarea Philippi. Jesus places Peter within the prophetic geography that the one hundred and forty-four thousand find themselves in the last days. Then He gives a command.

Ít nhất có ba nhân chứng mang tính địa lý về giai đoạn khi một trăm bốn mươi bốn nghìn được đóng ấn tại tiếng kêu lúc nửa đêm. Nhớ rằng khi tiếng kêu vang lên lúc nửa đêm thì đã quá muộn để lấy dầu, chúng ta thấy nhân chứng mang tính địa lý của hội trại Exeter cung cấp một minh họa về thời điểm dân sự những ngày cuối cùng của Đức Chúa Trời được đóng ấn; và chúng ta thấy lẽ thật ấy được thể hiện qua địa lý của Caesarea Philippi, cũng như bởi lời chứng về trận Panium trong các câu mười ba đến mười lăm của Đa-ni-ên đoạn mười một. Có lẽ hơi khiên cưỡng khi gọi ba nhân chứng này là “địa lý”, nhưng tôi dùng thuật ngữ ấy vì địa lý chắc chắn là một phần của bối cảnh ở Exeter và Caesarea Philippi. Đức Chúa Giê-su đặt Phi-e-rơ trong địa lý tiên tri mà một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ ở trong đó vào những ngày cuối cùng. Rồi Ngài đưa ra một mệnh lệnh.

And I will give unto thee the keys of the kingdom of heaven: and whatsoever thou shalt bind on earth shall be bound in heaven: and whatsoever thou shalt loose on earth shall be loosed in heaven. Then charged he his disciples that they should tell no man that he was Jesus the Christ. From that time forth began Jesus to show unto his disciples, how that he must go unto Jerusalem, and suffer many things of the elders and chief priests and scribes, and be killed, and be raised again the third day. Then Peter took him, and began to rebuke him, saying, Be it far from thee, Lord: this shall not be unto thee. But he turned, and said unto Peter, Get thee behind me, Satan: thou art an offence unto me: for thou savourest not the things that be of God, but those that be of men. Matthew 16:19–23.

Ta sẽ trao cho ngươi những chìa khóa của Nước Trời; điều gì ngươi buộc ở dưới đất sẽ bị buộc ở trên trời, và điều gì ngươi tháo cởi ở dưới đất sẽ được tháo cởi ở trên trời. Bấy giờ Ngài nghiêm dặn các môn đồ đừng nói với ai rằng Ngài là Giê-su, Đấng Christ. Từ lúc đó, Giê-su bắt đầu chỉ cho các môn đồ biết rằng Ngài phải lên Giê-ru-sa-lem, chịu nhiều điều bởi các trưởng lão, các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo, bị giết, và ngày thứ ba sẽ sống lại. Bấy giờ Phi-e-rơ đem Ngài riêng ra và bắt đầu trách Ngài, nói rằng: Lạy Chúa, xin đừng để điều ấy xảy đến cho Chúa; điều đó sẽ chẳng đến với Chúa đâu. Nhưng Ngài quay lại và nói với Phi-e-rơ: Lui ra đằng sau ta, Sa-tan! Ngươi là cớ vấp phạm cho ta, vì ngươi không nghĩ đến những điều thuộc về Đức Chúa Trời, mà chỉ nghĩ đến những điều thuộc về loài người. Ma-thi-ơ 16:19-23.

The word “Exeter” is the name of a city in Devon, England. Its etymology can be traced back to Old English, where it was known as “Exanceaster” or “Execestre.” The name is believed to derive from the Old English words “Exe” (referring to the River Exe, upon which the city is situated) and “ceaster” (meaning “Roman fort” or “walled city”). Therefore, “Exeter” means either the “fort on the River Exe,” or “the walled city by the River Exe.” The geography associated with the arrival and fulfillment of the Midnight Cry in Millerite history identifies a location where there was water, representing the outpouring of the Holy Spirit, and a point where God was raising up an army to proclaim the message to the world, which Sister White informs us went like a “tidal wave.” A tidal wave is not simply river water, it is water that is super empowered.

Từ "Exeter" là tên của một thành phố thuộc hạt Devon, Anh. Từ nguyên của nó có thể truy ngược về tiếng Anh cổ, khi đó nó được gọi là "Exanceaster" hoặc "Execestre." Người ta cho rằng tên này bắt nguồn từ các từ tiếng Anh cổ "Exe" (chỉ sông Exe, nơi thành phố tọa lạc) và "ceaster" (nghĩa là "đồn lũy La Mã" hoặc "thành phố có tường thành"). Vì vậy, "Exeter" có nghĩa là "đồn lũy trên sông Exe" hoặc "thành phố có tường thành bên sông Exe." Địa lý gắn với sự xuất hiện và sự ứng nghiệm của Tiếng Kêu Nửa Đêm trong lịch sử Millerite xác định một địa điểm có nước, tượng trưng cho sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh, và một điểm nơi Đức Chúa Trời đang dựng lên một đạo quân để rao truyền sứ điệp cho thế giới, mà Bà White cho biết đã lan đi như một "cơn sóng thần." Một cơn sóng thần không đơn thuần là nước sông; đó là nước có sức mạnh vượt trội.

Millerite history was the fulfillment of the parable of the ten virgins, and when the one hundred and forty-four thousand are brought to the conclusion of the sealing time, they will repeat the waymarks identified at the beginning of the sealing time, and also the history of the Exeter camp meeting. An angel will descend with a testing message that is required to be eaten. That message will lead to the foundations, and it will confront the two classes with the “seven times,” of Leviticus twenty-six. It will include the Revelation of Jesus Christ, that is represented by Peter as an acceptance that Jesus was anointed as the Christ, when the divine symbol descended in the form of a dove, typifying September 11, 2001. It will include the understanding that Jesus is the divine Son of God, and also that by Jesus taking upon His divine being the flesh of fallen mankind, He is also the Son of man.

Lịch sử của phong trào Millerite là sự ứng nghiệm của dụ ngôn mười trinh nữ, và khi một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đưa đến sự kết thúc của thời kỳ đóng ấn, họ sẽ lặp lại các cột mốc được nhận diện ở lúc khởi đầu của thời kỳ đóng ấn, và cả lịch sử của đại hội trại Exeter. Một thiên sứ sẽ giáng xuống với một sứ điệp thử nghiệm mà người ta phải ăn lấy. Sứ điệp ấy sẽ dẫn đến các nền tảng, và nó sẽ đặt hai hạng người trước vấn đề “bảy lần” trong Lê-vi Ký hai mươi sáu. Nó sẽ bao gồm Sự Mặc Khải của Đức Chúa Giê-su Christ, điều được Phi-e-rơ trình bày như sự chấp nhận rằng Đức Chúa Giê-su đã được xức dầu làm Đấng Christ, khi biểu tượng thiêng liêng ngự xuống dưới hình dạng chim bồ câu, làm hình bóng cho ngày 11 tháng 9 năm 2001. Nó sẽ bao gồm sự hiểu biết rằng Đức Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời mang bản tính thần linh, và cũng rằng khi Ngài mặc lấy xác thịt của nhân loại sa ngã trên bản thể thần linh của Ngài, Ngài cũng là Con Người.

These truths will produce two classes of worshippers, as they did post-September 11, 2001. The two classes were represented at the Exeter camp meeting, for at that camp meeting there was a tent set up by a group from Watertown, who rejected the message of the Midnight Cry as presented through Samuel Snow. They held counterfeit meetings that were so loud and emotional the leaders of the meetings of Snow went to them and informed them to quiet down. At the camp meeting there were two classes manifested, and both professed to be associated with water, but one was a counterfeit and represented the foolish who were without oil. The group in the Exeter tent were the army who were the city, that was also a fort, for they were typifying Ezekiel’s dead dry bones who are raised up as a mighty army at the message of the Midnight Cry.

Những lẽ thật này sẽ tạo ra hai hạng người thờ phượng, như chúng đã làm sau ngày 11 tháng 9 năm 2001. Hai hạng người ấy đã được đại diện tại kỳ nhóm trại ở Exeter, vì tại kỳ nhóm ấy có một lều do một nhóm từ Watertown dựng lên; họ đã khước từ sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm được trình bày qua Samuel Snow. Họ tổ chức những buổi nhóm giả mạo ồn ào và đầy cảm xúc đến nỗi các người lãnh đạo các buổi nhóm của Snow đã đến gặp họ và yêu cầu họ bớt ồn ào. Tại kỳ nhóm trại ấy có hai hạng người được bày tỏ, và cả hai đều xưng là có liên hệ với nước, nhưng một hạng là giả mạo và tượng trưng cho những kẻ dại dột không có dầu. Nhóm ở lều Exeter là đạo quân, là thành, cũng là một đồn lũy, vì họ tiêu biểu cho những xương khô chết trong sách Ê-xê-chi-ên, được dựng dậy thành một đạo quân hùng mạnh bởi sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm.

In the history where those two classes are manifested Peter represented both classes. His confession that identified Jesus as the Christ, and the Son of God was produced by the inspiration of the Holy Spirit, for Christ plainly told him, “Flesh and blood hath not revealed it unto thee, but my Father which is in heaven.” When Jesus then informed the disciples of the cross, Peter, lacking the influence of the Holy Spirit at that moment, took Christ, “and began to rebuke Him, saying, Be it far from thee, Lord: this shall not be unto thee. But He turned, and said unto Peter, Get thee behind me, Satan: thou art an offence unto me: for thou savourest not the things that be of God, but those that be of men.”

Trong tường thuật nơi hai hạng người ấy được bày tỏ, Phi-e-rơ đại diện cho cả hai hạng. Lời xưng nhận của ông, xác định Chúa Giê-xu là Đấng Christ và Con Đức Chúa Trời, là do Đức Thánh Linh soi dẫn, vì chính Đấng Christ đã nói rõ với ông: "Chẳng phải xác thịt và huyết bày tỏ điều ấy cho ngươi đâu, nhưng là Cha ta ở trên trời." Khi Chúa Giê-xu sau đó báo cho các môn đồ biết về thập tự giá, thì Phi-e-rơ, lúc ấy thiếu sự tác động của Đức Thánh Linh, bèn kéo Đấng Christ qua một bên, "và bắt đầu quở trách Ngài, nói: Lạy Chúa, xin đừng để như vậy; điều ấy sẽ chẳng xảy đến cho Chúa đâu." Nhưng Ngài quay lại và phán với Phi-e-rơ: "Hỡi Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi là cớ vấp phạm cho ta, vì ngươi chẳng để tâm đến những điều thuộc về Đức Chúa Trời, mà chỉ những điều thuộc về loài người."

The emotional outburst of Peter aligned with the emotional worship that was occurring in the Watertown tent when Samuel Snow was presenting the message of the Midnight Cry. At that level Peter represents those who are candidates to be among the one hundred and forty-four thousand. Those candidates represent a class that has the oil, which is the Holy Spirit, and it is the message and it is the character, and the other class lacks the oil. In the setting of Caesarea Philippi, Christ began to unfold “that he must go unto Jerusalem, and suffer many things of the elders and chief priests and scribes, and be killed, and be raised again the third day.”

Sự bộc phát cảm xúc của Peter phù hợp với sự thờ phượng đầy cảm xúc đang diễn ra trong lều ở Watertown khi Samuel Snow đang trình bày sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm. Ở mức độ đó, Peter đại diện cho những người là ứng viên để thuộc về số một trăm bốn mươi bốn nghìn. Những ứng viên ấy đại diện cho một lớp người có dầu, tức là Đức Thánh Linh; dầu ấy cũng là sứ điệp và là tính cách; còn lớp kia thì thiếu dầu. Trong bối cảnh tại Caesarea Philippi, Christ bắt đầu bày tỏ "rằng Ngài phải đi lên Jerusalem, và chịu nhiều điều bởi các trưởng lão, các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo, và bị giết, và đến ngày thứ ba sẽ sống lại."

The disappointment of the disciples when those events were actually fulfilled at the cross is the history Sister White employs to illustrate the disappointment of October 22, 1844, and the disappointment of the Hebrews at the Red Sea crossing with Pharaoh’s army closing in and the waters of the sea in front of them. All of those witnesses identify the soon coming Sunday law, and the revelation of verses thirteen to fifteen of Daniel eleven, provides the testimony of the events that lead to that Sunday law. In doing so they also represent the “portion of the prophecy of Daniel relating to the last days.”

Sự thất vọng của các môn đồ khi những sự kiện ấy thực sự được ứng nghiệm tại thập tự giá là lịch sử mà Bà White dùng để minh họa cho sự thất vọng ngày 22 tháng 10 năm 1844, và sự thất vọng của người Hê-bơ-rơ tại cuộc vượt Biển Đỏ, khi đạo quân của Pha-ra-ôn đang áp sát phía sau còn nước biển thì ở trước mặt họ. Tất cả những nhân chứng ấy đều chỉ ra đạo luật Chủ nhật sắp đến, và sự mạc khải của các câu 13 đến 15 trong Đa-ni-ên chương mười một cung cấp lời chứng về các sự kiện dẫn đến đạo luật Chủ nhật ấy. Qua đó, chúng cũng tiêu biểu cho “phần của lời tiên tri của Đa-ni-ên liên hệ đến thời kỳ sau rốt.”

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“A careful study of types and antitypes led to the observation that the crucifixion of Christ took place on the very day in the yearly round of ceremonies given to Israel when the Passover lamb was slain. Would not the cleansing of the sanctuary typified in the Day of Atonement—falling on the tenth day of the seventh month—likewise take place on the very day in the year celebrated in the type? (see The Great Controversy, 399). This, according to the true Mosaic reckoning of time, would be October 22. Early in August, 1844, at a camp meeting at Exeter, New Hampshire, this view was introduced and it was accepted as the date for the fulfillment of the prophecy of the 2300 days. The parable of the ten virgins in Matthew 25:1–13 took on particular significance—the tarrying of the bridegroom, the waiting and slumbering of those who awaited the marriage, the cry at midnight, the shutting of the door, et cetera. The message that Christ was coming on October 22 came to be known as the ‘midnight cry.’ ‘The ‘midnight cry,’ wrote Ellen White, ‘was heralded by thousands of believers.’ She added:

Một nghiên cứu cẩn thận về các kiểu tượng và phản kiểu dẫn đến nhận thấy rằng sự đóng đinh của Đấng Christ đã diễn ra đúng vào ngày, trong chu kỳ lễ nghi hằng năm được ban cho Israel, khi con chiên Lễ Vượt Qua bị giết. Vậy chẳng phải việc thanh tẩy đền thánh—được tượng trưng trong Ngày Chuộc Tội, rơi vào ngày mười tháng bảy—cũng sẽ diễn ra đúng vào ngày ấy trong năm như đã được cử hành trong kiểu tượng sao? (xem The Great Controversy, 399). Theo cách tính thời gian đúng theo Môi-se, điều này sẽ là ngày 22 tháng 10. Đầu tháng Tám năm 1844, tại một kỳ nhóm trại ở Exeter, New Hampshire, quan điểm này được giới thiệu và được chấp nhận là ngày ứng nghiệm lời tiên tri về 2.300 ngày. Dụ ngôn mười trinh nữ trong Ma-thi-ơ 25:1-13 trở nên đặc biệt ý nghĩa—sự chậm trễ của chàng rể, sự trông đợi rồi ngủ thiếp của những người chờ lễ cưới, tiếng kêu lúc nửa đêm, việc cánh cửa bị đóng lại, v.v. Sứ điệp rằng Đấng Christ sẽ đến vào ngày 22 tháng 10 được gọi là “tiếng kêu nửa đêm.” Ellen White viết: “Tiếng kêu nửa đêm đã được hàng nghìn tín hữu rao truyền.” Bà còn nói thêm:

“‘Like a tidal wave the [seventh-month] movement swept over the land. From city to city, from village to village, and into remote country places it went, until the waiting people of God were fully aroused.—The Great Controversy, 400.’

'Như một cơn sóng thần, phong trào [tháng thứ bảy] đã quét khắp xứ sở. Từ thành phố này đến thành phố khác, từ làng này sang làng khác, và nó đi đến cả những miền thôn quê hẻo lánh, cho đến khi dân sự của Đức Chúa Trời đang chờ đợi hoàn toàn được thức tỉnh.-Cuộc Tranh Chiến Vĩ Đại, 400.'

“The rapidity with which the message spread is depicted by writers cited by L. E. Froom:

Tốc độ lan rộng của thông điệp được mô tả bởi các tác giả mà L. E. Froom trích dẫn:

“‘Bates left the record that the Exeter message ‘flew as it were upon the wings of the wind.’ Men and women sped by rail and water, by stagecoach and horseback, with bundles of books and papers, distributing them as ‘profusely as the leaves of autumn.’ White said, ‘The work before us was to fly to every part of that wide field, sound the alarm, and wake the slumbering ones.’ And Wellcome adds that the movement broke forth like the released waters of a dam. Fields of ripened grain were left standing unharvested, and full-grown potatoes left undug in the ground. The coming of the Lord was nigh. There was no time now for such earthly things.—The Prophetic Faith of Our Fathers, Vol. IV, p. 816.

Bates để lại ghi chép rằng sứ điệp Exeter “bay cứ như thể trên đôi cánh của gió.” Đàn ông và phụ nữ vội vã đi bằng đường sắt và đường thủy, bằng xe ngựa đường dài và cưỡi ngựa, mang theo những bó sách và tài liệu, phân phát chúng “nhiều như lá mùa thu.” White nói: “Công việc trước mắt chúng ta là bay đến mọi nơi của cánh đồng rộng lớn ấy, gióng lên hồi chuông báo động và đánh thức những người đang ngủ mê.” Và Wellcome còn nói thêm rằng phong trào ấy bùng phát như dòng nước được xả khỏi đập. Những cánh đồng ngũ cốc đã chín bị bỏ mặc không thu hoạch, và những luống khoai tây đã đến lứa bị bỏ lại chưa đào lên khỏi đất. Sự giáng lâm của Chúa đã gần kề. Giờ đây không còn thời gian cho những việc trần thế như vậy. - Đức Tin Tiên Tri của Các Tổ Phụ Chúng Ta, Tập IV, tr. 816.

“As an eyewitness and participant in the movement, Ellen White described the character of the rapidly accelerating work:

Là một nhân chứng tận mắt và người tham gia phong trào, Ellen White đã mô tả đặc điểm của công cuộc đang tăng tốc nhanh chóng:

“‘Believers saw their doubt and perplexity removed, and hope and courage animated their hearts. The work was free from those extremes which are ever manifested when there is human excitement without the controlling influence of the word and Spirit of God…. It bore the characteristics that mark the work of God in every age. There was little ecstatic joy, but rather deep searching of heart, confession of sin, and forsaking of the world. A preparation to meet the Lord was the burden of agonizing spirits….

'Tín hữu thấy những nghi ngờ và bối rối của họ được cất bỏ, và hy vọng cùng dũng khí bừng lên trong lòng họ. Công cuộc ấy không hề có những cực đoan vốn luôn bộc lộ khi con người phấn khích mà thiếu ảnh hưởng chế ngự của Lời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời.... Nó mang những đặc điểm đánh dấu công việc của Đức Chúa Trời trong mọi thời đại. Ít có niềm vui cuồng nhiệt, mà đúng hơn là sự soi xét sâu xa trong lòng, xưng tội, và từ bỏ thế gian. Sự chuẩn bị để gặp Chúa là gánh nặng trên những tâm hồn quằn quại....

“‘Of all the great religious movements since the days of the apostles, none have been more free from human imperfection and the wiles of Satan than was that of the autumn of 1844. Even now, after the lapse of many years [1888], all who shared in that movement and who have stood firm upon the platform of truth still feel the holy influence of that blessed work and bear witness that it was of God.—Ibid., 400, 401.’

'Trong tất cả các phong trào tôn giáo vĩ đại kể từ thời các sứ đồ, không phong trào nào ít vướng sự bất toàn của con người và mưu kế của Sa-tan hơn phong trào vào mùa thu năm 1844. Ngay cả bây giờ, sau khi đã trôi qua nhiều năm [1888], tất cả những ai đã dự phần trong phong trào ấy và vẫn đứng vững trên nền tảng của lẽ thật vẫn cảm nhận ảnh hưởng thánh khiết của công việc phước hạnh đó và làm chứng rằng điều ấy đến từ Đức Chúa Trời.-Ibid., 400, 401.'

“In spite of the evidences of a work sweeping across the land and drawing thousands into the fellowship of the Second Advent, and some two hundred ministers from various churches united in spreading the message, [See C. M. Maxwell, Tell it to the world, pp. 19, 20.] the Protestant churches as a whole spurned it and used every means at their command to prevent the belief in Christ’s soon coming from spreading. No one dared to mention in a church service the hope of the soon coming of Jesus, but to those awaiting the event it was quite different.

Bất chấp những bằng chứng về một công cuộc lan rộng khắp đất nước, thu hút hàng nghìn người gia nhập cộng đồng những người trông đợi Sự Tái Lâm, và khoảng hai trăm mục sư từ các hội thánh khác nhau hiệp lại để truyền bá sứ điệp, [Xem C. M. Maxwell, Tell it to the world, tr. 19, 20.] các hội thánh Tin Lành nói chung đã bác bỏ điều ấy và dùng mọi phương tiện trong tầm tay để ngăn chặn việc lan truyền niềm tin rằng Đấng Christ sắp đến. Không ai dám nhắc đến trong một buổi thờ phượng tại nhà thờ niềm hy vọng về việc Chúa Giê-su sắp đến; nhưng đối với những người đang trông đợi biến cố ấy thì lại hoàn toàn khác.

“Ellen White told what it was like:

Ellen White đã kể lại điều đó ra sao:

“‘Every moment seemed precious and of the utmost importance to me. I felt that we were doing work for eternity, and that the careless and uninterested were in the greatest peril. My faith was unclouded, and I appropriated the precious promises of Jesus to myself….

'Mỗi khoảnh khắc dường như đều quý giá và vô cùng quan trọng đối với tôi. Tôi cảm thấy rằng chúng tôi đang làm công việc cho cõi vĩnh hằng, và rằng những người bất cẩn và không quan tâm đang ở trong hiểm họa lớn nhất. Đức tin của tôi không hề bị che mờ, và tôi nhận lấy những lời hứa quý báu của Chúa Giê-su cho chính mình....

“‘With diligent searching of hearts and humble confession we came prayerfully up to the time of expectation. Every morning we felt that it was our first business to secure the evidence that our lives were right before God. We realized that if we were not advancing in holiness we were sure to retrograde. Our interest for each other increased; we prayed much with and for one another.

'Với sự tra xét lòng mình một cách siêng năng và sự xưng tội khiêm nhu, chúng tôi trong tinh thần cầu nguyện tiến đến thời điểm trông đợi. Mỗi buổi sáng, chúng tôi cảm thấy việc đầu tiên của mình là bảo đảm chắc chắn rằng đời sống của chúng tôi đúng đắn trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng tôi nhận ra rằng nếu không tiến triển trong sự thánh khiết, ắt hẳn chúng tôi sẽ thụt lùi. Mối quan tâm dành cho nhau tăng lên; chúng tôi cầu nguyện nhiều với nhau và cho nhau.

“‘We assembled in the orchards and groves to commune with God and to offer up our petitions to Him, feeling more clearly His presence when surrounded by His natural works. The joys of salvation were more necessary to us than our food and drink. If clouds obscured our minds we dared not rest or sleep till they were swept away by the consciousness of our acceptance with the Lord.—Life Sketches of James White and Ellen G. White (1880), 188, 189.” Arthur White, The Ellen White Biography, volume 1, 51, 52.

'Chúng tôi tụ họp trong các vườn cây ăn quả và lùm cây để hiệp thông với Đức Chúa Trời và dâng lên Ngài những lời khẩn nguyện của chúng tôi, cảm nhận rõ ràng hơn sự hiện diện của Ngài khi được bao quanh bởi các công trình thiên nhiên của Ngài. Niềm vui cứu rỗi đối với chúng tôi còn cần thiết hơn cả lương thực và nước uống. Nếu mây mù che phủ tâm trí chúng tôi, chúng tôi không dám nghỉ ngơi hay ngủ cho đến khi chúng bị quét tan bởi ý thức rằng chúng tôi đã được Chúa chấp nhận.-Life Sketches of James White and Ellen G. White (1880), 188, 189." Arthur White, The Ellen White Biography, tập 1, 51, 52.