We are now identifying that one of the events represented by the Seven Thunders is the work of Christ gathering His people a second time, which He began to do in July 2023. Millerite history identifies that this work is accomplished with the warfare of Islam as the backdrop of the message.
Hiện nay chúng ta nhận định rằng một trong những sự kiện được Bảy Tiếng Sấm biểu thị là công tác của Đấng Christ tập hợp dân Ngài lần thứ hai, điều mà Ngài đã bắt đầu thực hiện vào tháng 7 năm 2023. Lịch sử Millerite xác định rằng công tác này được thực hiện với cuộc chiến của Hồi giáo làm bối cảnh cho sứ điệp.
The message is the Revelation of Jesus Christ, which is unsealed just before probation closes, but that message is carried by (placed within the context of) the message of the Third Woe. At the very time the Lord was stretching His hand a second time in 1849, Sister White was commenting upon the shaking of the angry nations, which is a symbol of Islam.
Sứ điệp ấy là Sự Mặc Khải của Đức Chúa Giê-su Christ, được mở ấn ngay trước khi thời kỳ ân điển kết thúc; nhưng sứ điệp đó được chuyển tải qua (được đặt trong bối cảnh của) sứ điệp về Tai Họa Thứ Ba. Vào chính thời điểm Chúa giơ tay lần thứ hai vào năm 1849, Bà White đã bình luận về sự chấn động của các dân tộc giận dữ, điều tượng trưng cho Hồi giáo.
“December 16, 1848, the Lord gave me a view of the shaking of the powers of the heavens. I saw that when the Lord said ‘heaven,’ in giving the signs recorded by Matthew, Mark, and Luke, He meant heaven, and when He said ‘earth’ He meant earth. The powers of heaven are the sun, moon, and stars. They rule in the heavens. The powers of earth are those that rule on the earth. The powers of heaven will be shaken at the voice of God. Then the sun, moon, and stars will be moved out of their places. They will not pass away, but be shaken by the voice of God.
Ngày 16 tháng 12 năm 1848, Chúa ban cho tôi một khải tượng về sự rung chuyển của các quyền lực trên trời. Tôi thấy rằng khi Chúa nói “trời” trong những dấu hiệu được Matthew, Mark và Luke ghi lại, Ngài muốn nói đến trời; và khi Ngài nói “đất” Ngài muốn nói đến đất. Các quyền lực trên trời là mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Chúng cai trị trên trời. Các quyền lực của đất là những quyền lực cai trị trên đất. Các quyền lực trên trời sẽ bị rung chuyển khi có tiếng của Đức Chúa Trời. Bấy giờ mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao sẽ bị dời khỏi vị trí của chúng. Chúng sẽ không qua đi, nhưng sẽ bị rung chuyển bởi tiếng của Đức Chúa Trời.
“Dark, heavy clouds came up and clashed against each other. The atmosphere parted and rolled back; then we could look up through the open space in Orion, whence came the voice of God. The Holy City will come down through that open space. I saw that the powers of earth are now being shaken and that events come in order. War, and rumors of war, sword, famine, and pestilence are first to shake the powers of earth, then the voice of God will shake the sun, moon, and stars, and this earth also. I saw that the shaking of the powers in Europe is not, as some teach, the shaking of the powers of heaven, but it is the shaking of the angry nations.” Early Writings, 41.
Những đám mây đen, nặng nề kéo đến và va vào nhau. Bầu trời rẽ ra và cuộn lại; rồi chúng tôi có thể ngước nhìn qua khoảng trống trong chòm sao Orion, nơi từ đó vang ra tiếng phán của Đức Chúa Trời. Thành Thánh sẽ đi xuống qua khoảng trống ấy. Tôi thấy rằng các quyền lực trên đất hiện đang bị rung chuyển và các biến cố xảy đến theo thứ tự. Chiến tranh và tin đồn về chiến tranh, gươm giáo, đói kém và dịch bệnh trước hết sẽ làm rung chuyển các quyền lực trên đất; rồi tiếng của Đức Chúa Trời sẽ làm rung chuyển mặt trời, mặt trăng và các vì sao, và cả trái đất này nữa. Tôi thấy rằng sự rung chuyển các quyền lực ở châu Âu không phải, như một số người dạy, là sự rung chuyển các quyền lực trên trời, nhưng đó là sự rung chuyển của các dân tộc nổi giận. Early Writings, 41.
The historians confirm that what was shaking the nations of Europe in 1848, was the activities of the armies of Islam, for prophetically they are symbolized as the power that angers the nations. In the first witness to the Lord stretching out His hand a second time in the history of 1840 to 1844, the message of the Midnight Cry arrived at the Exeter camp meeting. From there unto October 22, 1844 the message swept across the eastern seaboard of the United States like a tidal wave. That movement had been typified by Christ’s triumphal entry into Jerusalem, and it was an ass that carried Christ into Jerusalem.
Các sử gia xác nhận rằng điều đã làm rung chuyển các quốc gia châu Âu vào năm 1848 chính là các hoạt động của các đạo quân Hồi giáo, vì theo ý nghĩa tiên tri, chúng được tượng trưng như một quyền lực khiến các dân tộc phẫn nộ. Trong lời chứng thứ nhất về việc Chúa dang tay lần thứ hai trong giai đoạn lịch sử 1840 đến 1844, sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm đã đến hội trại Exeter. Từ đó cho đến ngày 22 tháng 10 năm 1844, sứ điệp ấy đã quét dọc bờ đông Hoa Kỳ như một cơn sóng thần. Phong trào ấy đã được tiêu biểu bởi cuộc khải hoàn tiến vào Giê-ru-sa-lem của Đấng Christ, và chính một con lừa đã chở Đấng Christ vào Giê-ru-sa-lem.
The message of the Midnight Cry represents the entire prophetic message of the Revelation of Jesus Christ, but that Revelation is placed within the context of Islam of the Third Woe angering the nations, for it is Islam that carries the message that is the Revelation of Jesus Christ. Jesus is the Lion of the tribe of Judah, and He is bound to the message of the “ass.”
Thông điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm đại diện cho toàn bộ thông điệp tiên tri của Sách Khải Huyền về Đức Chúa Giê-xu Christ, nhưng sự Mặc Khải ấy được đặt trong bối cảnh Hồi giáo của tai họa thứ ba đang khiến các dân tộc phẫn nộ, vì chính Hồi giáo mang thông điệp là sự Mặc Khải về Đức Chúa Giê-xu Christ. Đức Chúa Giê-xu là Sư Tử của chi phái Giu-đa, và Ngài bị ràng buộc với thông điệp của “con lừa”.
Judah, thou art he whom thy brethren shall praise: thy hand shall be in the neck of thine enemies; thy father’s children shall bow down before thee. Judah is a lion’s whelp: from the prey, my son, thou art gone up: he stooped down, he couched as a lion, and as an old lion; who shall rouse him up? The sceptre shall not depart from Judah, nor a lawgiver from between his feet, until Shiloh come; and unto him shall the gathering of the people be. Binding his foal unto the vine, and his ass’s colt unto the choice vine; he washed his garments in wine, and his clothes in the blood of grapes: His eyes shall be red with wine, and his teeth white with milk. Genesis 49:8–12.
Giu-đa, ngươi là người mà anh em ngươi sẽ ngợi khen; tay ngươi sẽ đặt trên cổ các kẻ thù ngươi; các con của cha ngươi sẽ cúi lạy trước mặt ngươi. Giu-đa là sư tử con; khỏi mồi, hỡi con ta, ngươi đã đi lên; người cúi rạp xuống, nằm phục như sư tử, như sư tử già; ai sẽ dám đánh thức người chỗi dậy? Cây quyền trượng sẽ chẳng rời khỏi Giu-đa, cũng chẳng kẻ lập pháp từ giữa hai chân người, cho đến khi Si-lô đến; và sự quy tụ của các dân sẽ thuộc về người. Buộc lừa con của mình vào cây nho, và lừa tơ của mình vào gốc nho tốt; người giặt áo mình trong rượu, và áo xống trong máu nho. Mắt người đỏ vì rượu, và răng người trắng vì sữa. Sáng-thế Ký 49:8-12.
It is through Judah that “the gathering of the people” is accomplished. Christ, as Judah, is also the “Vine,” and the “choice vine,” is bound to the “ass’s colt.” His “garments” are washed in “wine,” which was “the blood of grapes.” Christ began shedding His blood in Gethsemane, when He sweat blood, and Gethsemane means the “olive press.” From Gethsemane to the cross He shed His precious blood to gather all men unto Himself.
Chính qua Giu-đa mà “sự quy tụ của dân chúng” được thực hiện. Đấng Christ, như Giu-đa, cũng là “Cây Nho,” và “cây nho tuyển chọn,” được buộc vào “lừa con.” “Áo xống” của Ngài được giặt trong “rượu,” là “máu của trái nho.” Đấng Christ bắt đầu đổ huyết tại Ghết-sê-ma-nê, khi Ngài đổ mồ hôi máu, và Ghết-sê-ma-nê có nghĩa là “chỗ ép dầu ô-liu.” Từ Ghết-sê-ma-nê đến thập tự giá, Ngài đã đổ huyết quý báu để quy tụ mọi người về cùng chính Ngài.
Now is the judgment of this world: now shall the prince of this world be cast out. And I, if I be lifted up from the earth, will draw all men unto me. This he said, signifying what death he should die. John 12:31–33.
Bây giờ là sự phán xét của thế gian này; bây giờ, kẻ cai trị của thế gian này sẽ bị quăng ra ngoài. Còn Ta, khi Ta được giương cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta. Ngài nói điều ấy để chỉ Ngài sẽ chết cách nào. Giăng 12:31-33.
Christ’s work of drawing all men unto Himself is a twostep process, for He first gathers the “outcasts of Israel,” and then uses them as an ensign to draw His other flock.
Việc Chúa Kitô kéo mọi người đến với chính Ngài là một tiến trình hai bước, vì trước hết Ngài quy tụ những “kẻ bị đuổi của Israel”, rồi dùng họ làm ngọn cờ để kéo đàn chiên khác của Ngài.
I am the good shepherd, and know my sheep, and am known of mine. As the Father knoweth me, even so know I the Father: and I lay down my life for the sheep. And other sheep I have, which are not of this fold: them also I must bring, and they shall hear my voice; and there shall be one fold, and one shepherd. John 10:14–16.
Ta là mục tử nhân lành; Ta biết chiên Ta, và chiên Ta cũng biết Ta. Như Cha biết Ta, thì Ta cũng biết Cha; và Ta phó mạng sống mình vì chiên. Ta còn có những chiên khác không thuộc về ràn này; Ta cũng phải đem chúng về, và chúng sẽ nghe tiếng Ta; rồi sẽ có một bầy và một mục tử. Giăng 10:14-16.
The one hundred and forty-four thousand are the “sheep” who know Him. The “other sheep” are His flock that come out of Babylon when they see and hear the ensign. Before He lifts up His ensign, which are His sheep, He first gathers them a second time. That line of sacred history aligns with verses thirteen through fifteen of Daniel chapter eleven, and is therefore aligned with the hidden history of verse forty. It represents the line of the true Protestant horn which runs within the history of the apostate Protestant horn, the apostate Republican horn and the arrival of the whore of Tyre, just before the Sunday law of verse forty-one. The line of the true Protestant horn represents both the history and also the message where the one hundred and forty-four thousand are sealed.
Một trăm bốn mươi bốn nghìn là những “chiên” biết Ngài. Những “chiên khác” là bầy của Ngài ra khỏi Ba-by-lôn khi họ thấy và nghe biểu kỳ. Trước khi Ngài giương cao biểu kỳ của Ngài, tức là các con chiên của Ngài, Ngài trước hết quy tụ họ lần thứ hai. Dòng lịch sử thánh ấy tương ứng với các câu mười ba đến mười lăm của Đa-ni-ên chương mười một, và vì thế cũng tương ứng với lịch sử ẩn của câu bốn mươi. Nó đại diện cho dòng của sừng Tin Lành chân thật, dòng này diễn ra trong lịch sử của sừng Tin Lành bội đạo, sừng Cộng hòa bội đạo và sự xuất hiện của dâm phụ Tý-rơ, ngay trước luật Chủ nhật của câu bốn mươi mốt. Dòng của sừng Tin Lành chân thật đại diện cho cả lịch sử lẫn sứ điệp, nơi một trăm bốn mươi bốn nghìn được đóng ấn.
The “outcasts of Israel” represent a line in contrast with the “assembly of mockers”, as Jeremiah identifies them, or as the “synagogue of Satan” as John identifies them in Revelation chapters two and three where the church of Smyrna and Philadelphia are addressed. The Philadelphians represent the “one hundred and forty-four thousand” of Revelation chapter seven, and Smyrna is “the great multitude” of the same chapter, who cannot be numbered. The two classes of redeemed in the last days are in controversy with those who lie, and who are in the synagogue of Satan, and claim they are God’s people, for they say they are Jews.
“Những kẻ bị ruồng bỏ của Israel” đại diện cho một hàng ngũ đối nghịch với “hội của những kẻ nhạo báng”, như Giê-rê-mi gọi họ, hay “hội đường của Sa-tan” như Giăng gọi họ trong Khải Huyền chương hai và ba, nơi các hội thánh Smirna và Phi-la-đen-phi được nhắc đến. Những người Phi-la-đen-phi đại diện cho “một trăm bốn mươi bốn nghìn” của Khải Huyền chương bảy, còn Smirna là “đám đông lớn” trong cùng chương ấy, không thể đếm được. Hai nhóm người được cứu chuộc trong những ngày sau rốt đang đối nghịch với những kẻ nói dối, những kẻ ở trong hội đường của Sa-tan và tự nhận là dân của Đức Chúa Trời, vì họ nói rằng họ là người Do Thái.
The line of the true Protestant horn consists of the controversy that exists between themselves and the former covenant people who are then being passed by. In the same history the faithful are also in controversy with the line of apostate Protestantism and Catholicism. Those three religious entities represent the dragon, the beast and the false prophet at the micro level within the line of the true Protestant horn.
Dòng của sừng Tin Lành chân chính bao gồm sự xung đột tồn tại giữa chính họ và dân giao ước trước kia, những người khi ấy đang bị bỏ qua. Trong cùng lịch sử đó, những người trung tín cũng xung đột với dòng Tin Lành bội đạo và Công giáo. Ba thực thể tôn giáo ấy đại diện cho con rồng, con thú và tiên tri giả ở cấp độ vi mô trong dòng của sừng Tin Lành chân chính.
“I saw the nominal church and nominal Adventists, like Judas, would betray us to the Catholics to obtain their influence to come against the truth. The saints then will be an obscure people, little known to the Catholics; but the churches and nominal Adventists who know of our faith and customs (for they hated us on account of the Sabbath, for they could not refute it) will betray the saints and report them to the Catholics as those who disregard the institutions of the people; that is, that they keep the Sabbath and disregard Sunday.” Spalding and Magan, 1, 2.
“Tôi thấy giáo hội trên danh nghĩa và những Cơ Đốc Phục Lâm trên danh nghĩa, như Giu-đa, sẽ phản bội chúng tôi với người Công giáo để nhờ ảnh hưởng của họ mà chống lại lẽ thật. Bấy giờ các thánh đồ sẽ là một dân ít tiếng tăm, ít được người Công giáo biết đến; nhưng các hội thánh và những Cơ Đốc Phục Lâm trên danh nghĩa, là những người biết về đức tin và tập tục của chúng tôi (vì họ ghét chúng tôi vì cớ ngày Sa-bát, bởi họ không thể bác bỏ điều ấy), sẽ phản bội các thánh đồ và tố cáo họ với người Công giáo như những kẻ xem thường các thiết chế của dân chúng; nghĩa là họ giữ ngày Sa-bát và xem thường ngày Chúa nhật.” Spalding và Magan, 1, 2.
We have dealt with this passage before, and in so doing identified that the expression “nominal church” and the expression “nominal Adventist” would have had a different meaning and application when Sister White penned the words. Yet the prophets spoke more for the last days than they did for their own history, so in this passage the nominal church in the last days would be apostate Protestantism. The word “nominal” means “in name only”.
Chúng ta đã bàn về đoạn này trước đây, và khi làm như vậy đã nhận ra rằng các cụm từ “hội thánh trên danh nghĩa” và “người Cơ Đốc Phục Lâm trên danh nghĩa” vào thời Bà White viết những lời ấy đã có ý nghĩa và cách áp dụng khác. Tuy nhiên, các nhà tiên tri nói về những ngày sau rốt nhiều hơn là về lịch sử của chính họ; vì vậy, trong đoạn này, hội thánh trên danh nghĩa trong những ngày sau rốt sẽ là giới Tin Lành bội đạo. Từ “nominal” có nghĩa là “chỉ trên danh nghĩa”.
The so-called Protestant church ceased to protest Rome in 1844, when they rebelled against entering into the Most Holy Place by faith, where they could have recognized the seventh-day Sabbath is the correct day of worship. Instead, they retained the worship of the sun, which is the mark of Catholicism. It is impossible to “protest” Rome, which is the only definition of the word “Protestant,” if you have accepted her symbol of authority, which the Roman church has repeatedly identified as her authority to change the day of worship in the Bible from the seventh-day Sabbath unto Sunday.
Cái gọi là Giáo hội Kháng Cách đã thôi phản đối Rôma vào năm 1844, khi họ chống lại việc bước vào Nơi Chí Thánh bằng đức tin, nơi họ đã có thể nhận ra rằng ngày Sa-bát thứ bảy mới là ngày thờ phượng đúng. Thay vào đó, họ giữ lại sự thờ lạy mặt trời, vốn là dấu ấn của Công giáo. Không thể “phản đối” Rôma, điều vốn là định nghĩa duy nhất của từ “Kháng Cách,” nếu bạn đã chấp nhận biểu tượng thẩm quyền của Giáo hội ấy, điều mà Giáo hội Rôma đã nhiều lần xác nhận là thẩm quyền cho phép họ đổi ngày thờ phượng trong Kinh Thánh từ ngày Sa-bát thứ bảy sang Chủ nhật.
“Nominal Adventists” are those who profess to be Seventh-day Adventists, but they are also identified as Judas, who is the symbol of a disciple that has betrayed his profession. The nominal Seventh-day Adventist church will hate the “saints” and those saints “will” then “be an obscure people.” They hate the obscure saints, “on account of the Sabbath,” truth they cannot “refute.” The Sabbath truth in Sister White’s history was the seventh-day Sabbath, but it typifies the Sabbath truth of the last days, which cannot be refuted, and that is the doctrine that was first rejected by Laodicean Seventh-day Adventism in their rebellion in 1863. That doctrine was the first foundational truth discovered by William Miller, and it represents the foundational truths of Adventism that the nominal Adventists refuse to walk in, as represented by Jeremiah’s old paths. That Sabbath truth is the “seven times,” of Leviticus twenty-six.
“Những người Cơ Đốc Phục Lâm trên danh nghĩa” là những người xưng là tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, nhưng họ cũng được nhận diện như Giu-đa, biểu tượng cho một môn đồ đã phản bội điều mình xưng nhận. Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm trên danh nghĩa sẽ ghét các “thánh đồ”, và những thánh đồ ấy rồi “sẽ” trở nên “một dân ít ai biết đến”. Họ ghét những thánh đồ ít ai biết đến “vì cớ ngày Sa-bát”, lẽ thật mà họ không thể “bác bỏ”. Lẽ thật về ngày Sa-bát trong lịch sử của Bà White là Sa-bát ngày thứ bảy, nhưng nó tiêu biểu cho lẽ thật về Sa-bát trong những ngày sau rốt, điều không thể bị bác bỏ, và đó là giáo lý đã lần đầu tiên bị phái Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê khước từ trong cuộc phản nghịch của họ vào năm 1863. Giáo lý ấy là lẽ thật nền tảng đầu tiên được William Miller khám phá, và nó đại diện cho các lẽ thật nền tảng của Phục Lâm mà những người Cơ Đốc Phục Lâm trên danh nghĩa từ chối bước đi trong đó, như được biểu trưng bởi “những nẻo đường xưa” của Giê-rê-mi. Lẽ thật về Sa-bát ấy chính là “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu.
The line of true Protestantism that is made up of Philadelphia and Smyrna are betrayed by those represented as Judas. Judas covenanted to betray Jesus three times, thus identifying a progressive betrayal that preceded and concluded at the cross. Verse sixteen of Daniel eleven represents the Sunday law, which was typified by the cross. Therefore, in the verses leading to the Sunday law of verse sixteen, which is also the Sunday law of verse forty-one, a three-step betrayal is brought upon the saints of the last days. The betrayal occurs during the period when the Lord is gathering His last-day ensign a second time.
Dòng Tin Lành chân chính gồm Philadelphia và Smyrna bị phản bội bởi những kẻ được ví như Giu-đa. Giu-đa đã thỏa thuận để nộp Chúa Giê-su ba lần, qua đó cho thấy một sự phản bội tiến triển, diễn ra trước và kết thúc tại thập tự giá. Câu mười sáu của Đa-ni-ên chương mười một tượng trưng cho luật ngày Chủ nhật, điều đã được hình bóng bởi thập tự giá. Vì vậy, trong các câu dẫn đến luật ngày Chủ nhật của câu mười sáu, vốn cũng là luật ngày Chủ nhật của câu bốn mươi mốt, một sự phản bội theo ba bước được giáng trên các thánh đồ trong thời kỳ sau rốt. Sự phản bội ấy diễn ra trong thời kỳ khi Chúa đang quy tụ dấu kỳ sau rốt của Ngài lần thứ hai.
And in that day there shall be a root of Jesse, which shall stand for an ensign of the people; to it shall the Gentiles seek: and his rest shall be glorious. And it shall come to pass in that day, that the Lord shall set his hand again the second time to recover the remnant of his people, which shall be left, from Assyria, and from Egypt, and from Pathros, and from Cush, and from Elam, and from Shinar, and from Hamath, and from the islands of the sea. And he shall set up an ensign for the nations, and shall assemble the outcasts of Israel, and gather together the dispersed of Judah from the four corners of the earth. The envy also of Ephraim shall depart, and the adversaries of Judah shall be cut off: Ephraim shall not envy Judah, and Judah shall not vex Ephraim. But they shall fly upon the shoulders of the Philistines toward the west; they shall spoil them of the east together: they shall lay their hand upon Edom and Moab; and the children of Ammon shall obey them. Isaiah 11:10–14.
Trong ngày ấy sẽ có một rễ của Gie-sê, rễ ấy sẽ đứng làm cờ cho các dân; các dân ngoại sẽ tìm đến Ngài; và nơi an nghỉ của Ngài sẽ vinh hiển. Và sẽ xảy ra trong ngày ấy, Chúa sẽ lại giơ tay lần thứ hai để thu hồi phần còn sót của dân Ngài, tức những người còn lại, từ A-si-ri, từ Ê-díp-tô, từ Pa-th-rốt, từ Cút, từ Ê-lam, từ Si-nê-a, từ Ha-mát, và từ các đảo của biển. Ngài sẽ giương cờ cho các nước, nhóm hiệp những kẻ bị đuổi của Y-sơ-ra-ên, và nhóm lại những người tan lạc của Giu-đa từ bốn phương đất. Sự ganh tị của Êp-ra-im cũng sẽ dứt, và các kẻ thù nghịch của Giu-đa sẽ bị dứt trừ; Êp-ra-im sẽ không còn ganh tị với Giu-đa, và Giu-đa sẽ không làm khổ Êp-ra-im. Nhưng họ sẽ bay sà trên vai người Phi-li-tin về phía tây; họ sẽ cùng nhau cướp bóc các dân phương đông; họ sẽ tra tay trên Ê-đôm và Mô-áp; và con cháu Am-môn sẽ vâng phục họ. Ê-sai 11:10-14.
Isaiah identifies the historical setting for this passage in verse ten, with the expression “in that day.” That “day” has therefore been identified in the verses that preceded verse ten. When we trace this particular prophetic narrative back to a reference that allows us to identify when “that day” is, we come to verse one, of chapter ten.
Isaiah xác định bối cảnh lịch sử cho đoạn này ở câu mười, với cụm từ “trong ngày ấy.” “Ngày” ấy vì thế đã được xác định trong những câu đứng trước câu mười. Khi chúng ta lần theo mạch tường thuật tiên tri này trở lại điểm tham chiếu cho phép xác định “ngày ấy” là khi nào, chúng ta đến câu một của chương mười.
Woe unto them that decree unrighteous decrees, and that write grievousness which they have prescribed. Isaiah 10:1.
Khốn thay cho những kẻ ban hành những sắc lệnh bất chính, và chép ra sự áp bức mà chính họ đã quy định. Ê-sai 10:1.
Sister White identifies the “unrighteous decree” of this verse as the soon coming Sunday law:
Bà White xác định "sắc lệnh bất chính" của câu này là đạo luật ngày Chủ nhật sắp đến:
“An idol sabbath has been set up, as the golden image was set up in the plains of Dura. And as Nebuchadnezzar, the king of Babylon, issued a decree that all who would not bow down and worship this image should be killed, so a proclamation will be made that all who will not reverence the Sunday institution will be punished with imprisonment and death. Thus the Sabbath of the Lord is trampled underfoot. But the Lord has declared, ‘Woe unto them that decree unrighteous decrees, and write grievousness which they have prescribed’ [Isaiah 10:1]. [Zephaniah 1:14–18]” Manuscript Releases, volume 14, 92.
Một ngày Sa-bát thờ hình tượng đã được thiết lập, như tượng vàng đã được dựng lên tại đồng bằng Du-ra. Và cũng như Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã ban hành một sắc lệnh rằng hết thảy ai không quỳ lạy và thờ phượng tượng này sẽ bị giết, thì cũng vậy, sẽ có một tuyên cáo rằng mọi kẻ không tôn kính thiết chế ngày Chúa nhật sẽ bị trừng phạt bằng tù đày và tử hình. Như thế, ngày Sa-bát của Chúa bị chà đạp dưới chân. Nhưng Chúa đã phán: “Khốn cho những kẻ ban hành các sắc lệnh bất công, và viết ra những điều khắc nghiệt mà họ đã quy định” [Ê-sai 10:1]. [Sô-phô-ni 1:14-18] Manuscript Releases, tập 14, 92.
The context of the Lord gathering His people a second time is placed in the history of the approaching Sunday law crisis, for in verse twelve of chapter ten, Isaiah speaks of the Lord finishing a work among His people before, He brings His Executive Judgment at the unrighteous decree, which is the Sunday law.
Ngữ cảnh về việc Chúa quy tụ dân Ngài lần thứ hai được đặt trong bối cảnh lịch sử của cuộc khủng hoảng luật Chủ nhật đang đến gần, vì ở câu 12 chương 10, Ê-sai nói rằng Chúa sẽ hoàn tất một công việc giữa dân Ngài trước khi Ngài mang đến Sự Phán Xét Thi Hành khi ban hành sắc lệnh bất chính, tức là luật Chủ nhật.
Wherefore it shall come to pass, that when the Lord hath performed his whole work upon mount Zion and on Jerusalem, I will punish the fruit of the stout heart of the king of Assyria, and the glory of his high looks. Isaiah 10:12.
Bởi cớ đó, sẽ xảy ra rằng, khi Chúa đã hoàn tất trọn công việc của Ngài trên núi Si-ôn và tại Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ trừng phạt bông trái của lòng kiêu căng cứng cỏi của vua A-si-ri, và sự vinh hiển của cái nhìn kiêu ngạo của ông. Ê-sai 10:12.
The “work upon Zion and on Jerusalem”, which the Lord “performs” before the punishment of the papacy begins at the Sunday law, is the sealing of the one hundred and forty-four thousand. In Ezekiel chapter nine, the man with the writer’s inkhorn goes through Jerusalem placing a mark upon those “that sigh and cry for the abominations done in the land” and in the church. That work includes the process of the Lord gathering together the outcasts of Israel a second time. He gathers them from the four corners of the earth, and the “four corners of earth” is represented by eight geographical areas. Eight is the symbol of the testing process of the image of the beast, thus identifying that the final gathering of those who would be the ensign takes place during the period when the image of the beast test is being accomplished in the earth.
"Công việc 'trên Si-ôn và trên Giê-ru-sa-lem', mà Chúa 'thực hiện' trước khi sự trừng phạt đối với giáo hoàng quyền bắt đầu với luật ngày Chủ nhật, chính là việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Trong Ê-xê-chi-ên chương chín, người mang bình mực của người ký lục đi khắp Giê-ru-sa-lem, đặt một dấu trên những người 'rên siết và khóc than vì các sự gớm ghiếc đã làm trong xứ' và trong hội thánh. Công việc đó bao gồm tiến trình Chúa nhóm lại những kẻ tản lạc của Y-sơ-ra-ên lần thứ hai. Ngài nhóm họ lại từ bốn góc của trái đất, và 'bốn góc của trái đất' được biểu trưng bởi tám khu vực địa lý. Con số tám là biểu tượng của quá trình thử thách về hình tượng của con thú, qua đó cho thấy rằng cuộc nhóm lại sau cùng của những người sẽ trở thành cờ hiệu diễn ra trong thời kỳ khi bài thử về hình tượng con thú đang được thực hiện trên đất."
The unity represented by “Ephraim” “not envying Judah, and Judah” “not vexing Ephraim,” occurs when the adversaries of Judah are cut off. Prophetically, the former covenant people, represented by Judas, or the synagogue of Satan, or the assembly of mockers, or the Protestants of Millerite history, or the Jews of Christ’s history are “cut off” at the first disappointment. When Jeremiah represents that very history, he was instructed that he could never return to the assembly of mockers, though they could return to him if they chose to repent.
Sự hiệp nhất được biểu thị qua hình ảnh “Êpraim không ganh tị Giu-đa, và Giu-đa không quấy rầy Êpraim” xảy ra khi các kẻ thù của Giu-đa bị diệt trừ. Theo phương diện tiên tri, dân giao ước trước kia—được đại diện bởi Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, hoặc “hội đường của Sa-tan”, hoặc “hội của những kẻ nhạo báng”, hoặc những người Kháng Cách trong lịch sử Millerite, hoặc người Do Thái trong lịch sử của Đấng Christ—đều bị “cắt đứt” tại lần thất vọng thứ nhất. Khi Giê-rê-mi trình bày chính lịch sử ấy, ông được dạy rằng ông không bao giờ được trở lại với hội của những kẻ nhạo báng, dù họ có thể trở lại với ông nếu họ chọn ăn năn.
From July 18, 2020 unto the Sunday law the Lord gathers His last-day people a second time. He gathers them from around the world, during a period when He is finishing His whole work on Judah and Jerusalem. In that sealing time, God’s last-day people will be obscure, but will never-the-less be confronted by a threefold union which opposes their work.
Từ ngày 18 tháng 7 năm 2020 cho đến khi có luật ngày Chủ nhật, Đức Chúa Trời tập hợp dân sự thời kỳ cuối cùng của Ngài lần thứ hai. Ngài tập hợp họ từ khắp thế giới, trong một giai đoạn khi Ngài đang hoàn tất toàn bộ công việc của Ngài đối với Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Trong thời kỳ ấn chứng ấy, dân sự thời kỳ cuối cùng của Đức Chúa Trời sẽ ẩn khuất, nhưng dẫu vậy vẫn sẽ phải đối mặt với một liên minh ba bên chống đối công việc của họ.
Catholicism is the beast of the threefold union, and one of her daughters is the class Sister White identifies as the nominal church. They represent the false prophet. The nominal Laodicean Adventists, represented by Judas, are the dragon in this representation. The rebellion of 1863 was typified by the rebellion of ancient Israel at the first Kadesh, when they chose to reject the message of Joshua and Caleb and return to Egypt. Egypt is a symbol of the dragon.
Công giáo là con thú của liên minh ba bên, và một trong các “con gái” của nó là nhóm mà Bà White gọi là “hội thánh danh nghĩa”. Họ đại diện cho tiên tri giả. Những người Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea danh nghĩa, được tượng trưng bởi Giu-đa, là con rồng trong sự trình bày này. Cuộc nổi loạn năm 1863 được tượng trưng bởi cuộc nổi loạn của Y-sơ-ra-ên xưa tại Kadesh lần thứ nhất, khi họ chọn khước từ sứ điệp của Giô-suê và Ca-lép và quay trở về Ai Cập. Ai Cập là một biểu tượng của con rồng.
Son of man, set thy face against Pharaoh king of Egypt, and prophesy against him, and against all Egypt: Speak, and say, Thus saith the Lord God; Behold, I am against thee, Pharaoh king of Egypt, the great dragon that lieth in the midst of his rivers, which hath said, My river is mine own, and I have made it for myself. Ezekiel 29:2, 3.
Hỡi con người, hãy hướng mặt ngươi chống lại Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, và nói tiên tri nghịch cùng người và nghịch cùng cả Ai Cập: Hãy nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Này, ta nghịch cùng ngươi, hỡi Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, con rồng lớn ở giữa các sông của mình, là kẻ đã nói: Sông của ta là của riêng ta, ta đã làm nên nó cho chính mình. Ê-xê-chi-ên 29:2, 3.
The rebellion at Kadesh represented the tenth test in a testing process that brought about the rejection and death of the chosen people who had been brought out of Egypt, and typified the final test of a testing process that was brought upon Philadelphian Millerite Adventism on October 22, 1844 and concluded with the rebellion of 1863. At the very end of ancient Israel’s history, the Jews “cried out, ‘Away with him, away with him, crucify him’. Pilate saith unto them, ‘Shall I crucify your King?’ The chief priests answered, ‘We have no king but Caesar.’” In the first rebellion and the last rebellion the former covenant people chose to identify a symbol of the dragon (Egypt and pagan Rome) as their king.
Cuộc nổi loạn tại Kadesh đại diện cho bài thử thách thứ mười trong một quá trình thử thách đã dẫn đến sự khước từ và cái chết của dân được chọn, những người đã được đưa ra khỏi Ai Cập, và tiêu biểu cho bài thử thách cuối cùng của một quá trình thử thách đã giáng trên Chủ nghĩa Phục Lâm Millerite thuộc Philadelphia vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 và kết thúc bằng cuộc nổi loạn năm 1863. Vào tận cuối lịch sử của Israel cổ đại, người Do Thái "kêu lớn, 'Đem hắn đi, đem hắn đi, đóng đinh hắn.' Phi-lát nói với họ, 'Ta có nên đóng đinh Vua của các ngươi sao?' Các thầy tế lễ cả đáp, 'Chúng tôi không có vua nào ngoài Sê-sa.'" Trong cuộc nổi loạn đầu tiên và cuộc nổi loạn cuối cùng, dân giao ước trước kia đã chọn xem một biểu tượng của con rồng (Ai Cập và La Mã ngoại giáo) là vua của họ.
On July 18, 2020, the “adversaries of Judah” were “cut off,” and the temple of the one hundred and forty-four thousand was set up. All that was left was for the temple to be cleansed, in advance of the Messenger of the Covenant suddenly coming to His temple. The temple of Millerite history was erected in forty-six years from 1798 unto 1844. At the first disappointment of April 19, 1844 the Protestants were cut off and became part of the synagogue of Satan, the assembly of mockers, a daughter of Rome. From that point until October 22, 1844 a purification process occurred in advance of the faithful following Christ into the Most Holy Place, that He might accomplish the work of joining His divinity to their humanity.
Vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, “những kẻ thù của Giu-đa” đã bị “cắt bỏ”, và đền thờ của một trăm bốn mươi bốn nghìn đã được thiết lập. Điều còn lại chỉ là đền thờ được thanh tẩy, để chuẩn bị cho Sứ giả của Giao ước đột nhiên đến đền thờ của Ngài. Đền thờ trong lịch sử Millerite đã được dựng nên trong bốn mươi sáu năm, từ 1798 đến 1844. Vào lần thất vọng thứ nhất ngày 19 tháng 4 năm 1844, những người Tin Lành đã bị cắt bỏ và trở thành một phần của hội đường của Sa-tan, hội của những kẻ nhạo báng, một con gái của Rô-ma. Từ thời điểm đó cho đến ngày 22 tháng 10 năm 1844, một tiến trình thanh tẩy diễn ra để chuẩn bị cho những người trung tín theo Đấng Christ vào Nơi Chí Thánh, hầu Ngài có thể hoàn thành công việc kết hiệp thần tính của Ngài với nhân tính của họ.
The history of the true Protestant horn, that is gathered a second time just before the unrighteous decree, that they might be the ensign that God employs to call His other flock out of Babylon, occurs in the same period where the apostate Republican and Protestant horns are joining together, committing spiritual fornication, thus becoming one flesh, or one temple, which is the image of the beast. God’s temple is simultaneously forming the image of Christ.
Lịch sử của sừng Tin Lành chân chính, sừng được quy tụ lần thứ hai ngay trước sắc lệnh bất nghĩa để sừng ấy trở thành tiêu kỳ mà Đức Chúa Trời dùng để kêu gọi bầy chiên khác của Ngài ra khỏi Ba-by-lôn, diễn ra trong cùng thời kỳ khi các sừng Cộng hòa và Tin Lành đã bội đạo đang hiệp lại, phạm tội gian dâm thuộc linh, từ đó trở nên một thịt, hay một đền thờ, tức là hình tượng của con thú. Đồng thời, đền thờ của Đức Chúa Trời đang hình thành hình ảnh của Đấng Christ.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
The word that came to Jeremiah from the Lord, saying, Stand in the gate of the Lord’s house, and proclaim there this word, and say, Hear the word of the Lord, all ye of Judah, that enter in at these gates to worship the Lord. Thus saith the Lord of hosts, the God of Israel, Amend your ways and your doings, and I will cause you to dwell in this place. Trust ye not in lying words, saying, The temple of the Lord, The temple of the Lord, The temple of the Lord, are these. For if ye throughly amend your ways and your doings; if ye throughly execute judgment between a man and his neighbour; If ye oppress not the stranger, the fatherless, and the widow, and shed not innocent blood in this place, neither walk after other gods to your hurt: Then will I cause you to dwell in this place, in the land that I gave to your fathers, for ever and ever. Behold, ye trust in lying words, that cannot profit. Will ye steal, murder, and commit adultery, and swear falsely, and burn incense unto Baal, and walk after other gods whom ye know not; And come and stand before me in this house, which is called by my name, and say, We are delivered to do all these abominations? Is this house, which is called by my name, become a den of robbers in your eyes? Behold, even I have seen it, saith the Lord.
Lời từ Chúa đến với Giê-rê-mi, phán rằng: Hãy đứng ở cổng nhà của Chúa, và công bố tại đó lời này, mà nói: Hỡi tất cả các ngươi thuộc Giu-đa, là những người vào qua các cổng này để thờ phượng Chúa, hãy nghe lời của Chúa. Chúa các đạo binh, Đức Chúa Trời của Israel, phán như vầy: Hãy sửa đổi đường lối và việc làm của các ngươi, thì Ta sẽ cho các ngươi ở trong nơi này. Đừng tin vào những lời dối trá rằng: Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa là đây! Vì nếu các ngươi thật lòng sửa đổi đường lối và việc làm mình; nếu các ngươi thực thi công lý giữa người với người lân cận mình; nếu các ngươi không áp bức kiều dân, kẻ mồ côi và góa phụ, không đổ máu vô tội trong nơi này, và cũng không theo các thần khác để chuốc hại cho mình; thì Ta sẽ cho các ngươi được ở trong nơi này, trong đất mà Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi, đến đời đời. Kìa, các ngươi tin cậy những lời dối trá, chẳng đem lại ích lợi gì. Há các ngươi lại ăn trộm, giết người, ngoại tình, thề gian, dâng hương cho Ba-anh, và theo đuổi những thần khác mà các ngươi không biết; rồi đến đứng trước mặt Ta trong nhà này, nơi được gọi theo danh Ta, mà nói: Chúng ta được giải cứu để làm mọi điều ghê tởm ấy sao? Phải chăng nhà này, nơi được gọi theo danh Ta, đã trở thành một hang trộm cướp trước mắt các ngươi? Này, chính Ta đã thấy điều đó, Chúa phán.
But go ye now unto my place which was in Shiloh, where I set my name at the first, and see what I did to it for the wickedness of my people Israel. And now, because ye have done all these works, saith the Lord, and I spake unto you, rising up early and speaking, but ye heard not; and I called you, but ye answered not; Therefore will I do unto this house, which is called by my name, wherein ye trust, and unto the place which I gave to you and to your fathers, as I have done to Shiloh. And I will cast you out of my sight, as I have cast out all your brethren, even the whole seed of Ephraim. Therefore pray not thou for this people, neither lift up cry nor prayer for them, neither make intercession to me: for I will not hear thee. Seest thou not what they do in the cities of Judah and in the streets of Jerusalem? Jeremiah 7:1–17.
Nhưng bây giờ, các ngươi hãy đi đến nơi của ta ở Shiloh, nơi lúc ban đầu ta đã đặt danh ta, và xem ta đã làm gì cho nơi ấy vì sự gian ác của dân ta Israel. Và bây giờ, bởi vì các ngươi đã làm mọi điều này, Chúa phán, ta đã phán với các ngươi, dậy sớm mà nói, nhưng các ngươi chẳng nghe; ta đã gọi các ngươi, nhưng các ngươi chẳng đáp; cho nên ta sẽ làm đối với nhà này, là nơi được gọi theo danh ta, nơi các ngươi nương cậy, và đối với nơi ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi, như ta đã làm cho Shiloh. Ta sẽ đuổi các ngươi khỏi trước mặt ta, như ta đã đuổi hết thảy anh em các ngươi, tức toàn thể dòng dõi Ephraim. Vậy nên, ngươi chớ cầu nguyện cho dân này, đừng cất tiếng kêu than hay lời cầu nguyện nào cho họ, cũng đừng nài xin cùng ta; vì ta sẽ chẳng nghe ngươi. Há ngươi chẳng thấy họ làm gì trong các thành của Judah và trên các đường phố Jerusalem sao? Jeremiah 7:1-17.