“Ministers and people declared that the prophecies of Daniel and the Revelation were incomprehensible mysteries. But Christ directed his disciples to the words of the prophet Daniel concerning events to take place in their time, and said, ‘Whoso readeth, let him understand.’ Matthew 24:15. And the assertion that the Revelation is a mystery, not to be understood, is contradicted by the very title of the book: ‘The Revelation of Jesus Christ, which God gave unto him, to show unto his servants things which must shortly come to pass. . . . Blessed is he that readeth, and they that hear the words of this prophecy, and keep those things which are written therein; for the time is at hand.’ Revelation 1:1–3.

Các giáo sĩ và giáo dân tuyên bố rằng các lời tiên tri của sách Đa-ni-ên và Khải Huyền là những mầu nhiệm không thể hiểu được. Nhưng Đấng Christ đã chỉ các môn đồ của Ngài đến những lời của nhà tiên tri Đa-ni-ên về các sự kiện sẽ xảy ra trong thời của họ, và phán: "Ai đọc thì hãy hiểu." Ma-thi-ơ 24:15. Và lời khẳng định rằng Khải Huyền là một mầu nhiệm, không thể hiểu, bị chính tựa đề của sách bác bỏ: "Sự mạc khải của Đức Chúa Giê-su Christ, mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài, để chỉ cho các tôi tớ Ngài biết những điều phải xảy đến cách mau chóng... Phước cho kẻ đọc, và những kẻ nghe những lời tiên tri này, và giữ những điều đã chép trong đó; vì thì giờ đã gần." Khải Huyền 1:1-3.

“Says the prophet: ‘Blessed is he that readeth’—there are those who will not read; the blessing is not for them. ‘And they that hear’—there are some, also, who refuse to hear anything concerning the prophecies; the blessing is not for this class. ‘And keep those things which are written therein’—many refuse to heed the warnings and instructions contained in the Revelation. None of these can claim the blessing promised. All who ridicule the subjects of the prophecy, and mock at the symbols here solemnly given, all who refuse to reform their lives, and prepare for the coming of the Son of man, will be unblest.

Nhà tiên tri nói: 'Phước cho người đọc' - có những người sẽ không đọc; phước lành ấy không dành cho họ. 'Và những kẻ nghe' - cũng có những người từ chối nghe bất cứ điều gì liên quan đến các lời tiên tri; phước lành không dành cho hạng người này. 'Và giữ những điều đã chép ở trong đó' - nhiều người từ chối nghe theo các lời cảnh báo và chỉ dẫn được chép trong sách Khải Huyền. Không ai trong số những người này có thể nhận lãnh phước lành đã hứa. Tất cả những ai chế giễu các chủ đề của lời tiên tri, và nhạo báng các biểu tượng được ban ra cách trang nghiêm ở đây, tất cả những ai từ chối cải sửa đời sống mình và chuẩn bị cho sự đến của Con Người, sẽ không được ban phước.

“In view of the testimony of Inspiration, how dare men teach that the Revelation is a mystery, beyond the reach of human understanding? It is a mystery revealed, a book opened. The study of the Revelation directs the mind to the prophecies of Daniel, and both present most important instruction, given of God to men, concerning events to take place at the close of this world’s history.” The Great Controversy, 340.

Xét theo lời chứng của Sự Linh Hứng, làm sao người ta dám dạy rằng Sách Khải Huyền là một mầu nhiệm, vượt ngoài tầm hiểu biết của con người? Ấy là một mầu nhiệm đã được bày tỏ, một quyển sách đã được mở ra. Việc nghiên cứu Sách Khải Huyền hướng tâm trí đến các lời tiên tri của Daniel, và cả hai đều trình bày những lời chỉ dạy quan trọng nhất, do Đức Chúa Trời ban cho loài người, về các sự kiện sẽ xảy ra vào lúc kết thúc lịch sử của thế giới này. The Great Controversy, 340.

The “study of the Revelation directs the mind to the prophecies of Daniel.” Some persons only see prophecy within the book of Daniel. But Daniel presents two lines of truth and the truth that represent his prophecies are the last six chapters of his book. The first six chapters present illustrated prophecy, that, by and large, are still unrecognized. Before we consider the first six chapters of Daniel, we will explain why there is actually only two prophecies represented in the last six chapters of Daniel. Sister White points out the two prophecies by referring to the two great rivers of Shinar. When we accept the symbolism she sets forth we find the key to see two, and only two prophecies in the last six chapters of Daniel.

“Việc nghiên cứu sách Khải Huyền hướng tâm trí đến các lời tiên tri của Đa-ni-ên.” Một số người chỉ thấy lời tiên tri trong sách Đa-ni-ên. Nhưng Đa-ni-ên trình bày hai mạch lẽ thật, và mạch lẽ thật đại diện cho các lời tiên tri của ông nằm ở sáu chương cuối của sách. Sáu chương đầu trình bày những lời tiên tri minh họa, mà nói chung vẫn chưa được nhận ra. Trước khi xem xét sáu chương đầu của Đa-ni-ên, chúng ta sẽ giải thích vì sao thực ra chỉ có hai lời tiên tri được trình bày trong sáu chương cuối của Đa-ni-ên. Bà White chỉ ra hai lời tiên tri ấy bằng cách liên hệ đến hai con sông lớn của Shinar. Khi chấp nhận tính biểu tượng mà bà nêu ra, chúng ta sẽ tìm thấy chìa khóa để thấy có hai, và chỉ hai, lời tiên tri trong sáu chương cuối của Đa-ni-ên.

“The light that Daniel received from God was given especially for these last days. The visions he saw by the banks of the Ulai and the Hiddekel, the great rivers of Shinar, are now in process of fulfillment, and all the events foretold will soon come to pass.” Testimonies to Ministers, 112.

"Ánh sáng mà Daniel nhận từ Đức Chúa Trời đã được ban đặc biệt cho những ngày sau rốt này. Những khải tượng ông thấy bên bờ sông Ulai và Hiddekel, những con sông lớn của Shinar, hiện đang được ứng nghiệm, và mọi sự kiện đã được báo trước sẽ sớm xảy ra." Testimonies to Ministers, 112.

The vision of chapter eight was given by the Ulai river.

Thị kiến trong chương tám đã được ban bên bờ sông Ulai.

In the third year of the reign of king Belshazzar a vision appeared unto me, even unto me Daniel, after that which appeared unto me at the first. And I saw in a vision; and it came to pass, when I saw, that I was at Shushan in the palace, which is in the province of Elam; and I saw in a vision, and I was by the river of Ulai. Daniel 8:1, 2.

Năm thứ ba đời vua Bên-xát-sa trị vì, một khải tượng hiện ra cho tôi, tức là tôi, Đa-ni-ên, sau khải tượng đã hiện ra cho tôi lúc đầu. Trong khải tượng, tôi thấy mình ở tại Su-san, trong cung điện, thuộc tỉnh Ê-lam; và trong khải tượng, tôi thấy mình đang ở bên sông U-lai. Đa-ni-ên 8:1-2.

When we took the paragraph from Testimonies to Ministers, where Sister White referenced “the Ulai and Hiddekel” and called them “the great rivers of Shinar” we were dissecting that paragraph from one of the most important commentaries on the study of the books of Daniel and Revelation in Sister White’s writings. In the passage she states, “There is need of a much closer study of the word of God; especially should Daniel and the Revelation have attention as never before in the history of our work.”

Khi chúng tôi trích đoạn văn từ Testimonies to Ministers, nơi Bà White nhắc đến "sông Ulai và Hiddekel" và gọi chúng là "những con sông lớn của Shinar", chúng tôi đang phân tích đoạn ấy, vốn thuộc một trong những bài bình luận quan trọng nhất về việc nghiên cứu các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền trong các trước tác của Bà White. Trong đoạn ấy, bà viết: "Cần có một sự nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời kỹ lưỡng hơn nhiều; đặc biệt sách Đa-ni-ên và Khải Huyền cần được chú ý như chưa từng có trong lịch sử công việc của chúng ta."

If we closely study the first two verses we just cited from Daniel chapter eight they provide two internal witnesses to a fact that is often overlooked. Daniel says “in the third year of” Belshazzar “a vision appeared unto me.” Then he adds, “after that which appeared to me at the first.” This verse can be understood two ways, and either way produces the identical conclusion.

Nếu chúng ta nghiên cứu kỹ hai câu đầu mà chúng ta vừa trích trong chương tám sách Đa-ni-ên, thì chúng cung cấp hai bằng chứng nội tại cho một sự thật thường bị bỏ qua. Đa-ni-ên nói: "Vào năm thứ ba đời Bên-xát-sa, một khải tượng hiện ra cho tôi." Rồi ông thêm: "sau khải tượng đã hiện ra cho tôi lúc ban đầu." Câu này có thể được hiểu theo hai cách, và dù theo cách nào thì cũng dẫn đến cùng một kết luận.

The angel Gabriel was the one that brought prophetic light to Daniel, as he did with all the prophets, for he had replaced Satan as the heavenly light bearer. This means that every prophetic rule that is located in the Scriptures was guided by Gabriel. Whether Daniel understood it or not, in verse one of chapter eight, not only is he identifying an important prophetic observation, but he provides two witnesses of the important prophetic observation in the verse. What Daniel recorded in verse one, is that he had received a vision previous to the vision he received by the Ulai river. The vision by the Ulai river came in Belshazzar’s third year. The vision, before the vision by the Ulai river, came in the first year of Belshazzar.

Thiên sứ Gabriel là người đã đem ánh sáng tiên tri đến cho Daniel, như ông đã làm với tất cả các nhà tiên tri, vì ông đã thay thế Satan làm người mang ánh sáng của thiên giới. Điều này có nghĩa là mọi nguyên tắc tiên tri có trong Kinh Thánh đều do Gabriel hướng dẫn. Dù Daniel có hiểu hay không, trong câu một của chương tám, ông không chỉ nêu ra một nhận định tiên tri quan trọng, mà còn đưa ra hai nhân chứng cho nhận định tiên tri quan trọng ấy ngay trong câu. Điều Daniel ghi lại trong câu một là ông đã nhận được một khải tượng trước khải tượng ông nhận bên sông Ulai. Khải tượng bên sông Ulai đến vào năm thứ ba của Belshazzar. Khải tượng, trước khải tượng bên sông Ulai, đến vào năm thứ nhất của Belshazzar.

In the first year of Belshazzar king of Babylon Daniel had a dream and visions of his head upon his bed: then he wrote the dream, and told the sum of the matters. Daniel 7:1.

Trong năm thứ nhất đời Bên-xát-sa, vua Ba-by-lôn, Đa-ni-ên có một giấc mộng và những khải tượng trong đầu khi ông đang nằm trên giường; bấy giờ ông chép lại giấc mộng và thuật tóm tắt các việc. Đa-ni-ên 7:1.

In verse one of chapter eight, Daniel is identifying that he also had a vision in the first year of Belshazzar, because he says, “after that which appeared to me at the first.” Did the Ulai vision appear after the vision of Belshazzar’s first year, or did the vision appear after the first of the two parallel visions? Either answer is correct. The vision of the Ulai river is the same vision as the vision of chapter seven. Gabriel is employing the prophetic principle of “repeat and enlarge,” and simultaneously the rule that upon the testimony of two establishes a thing. Both visions address the kingdoms of Bible prophecy.

Trong câu 1 của chương 8, Đa-ni-ên xác định rằng ông cũng đã nhận được một khải tượng vào năm thứ nhất đời Bên-xát-sa, vì ông nói: “sau điều đã hiện ra cho tôi lúc ban đầu.” Khải tượng U-lai xuất hiện sau khải tượng của năm thứ nhất đời Bên-xát-sa, hay khải tượng ấy xuất hiện sau khải tượng thứ nhất trong hai khải tượng song song? Cách hiểu nào cũng đúng. Khải tượng về sông U-lai chính là cùng một khải tượng với khải tượng ở chương bảy. Ga-bri-ên đang áp dụng nguyên tắc tiên tri “lặp lại và mở rộng”, đồng thời luật rằng “bởi lời chứng của hai người thì điều ấy được xác lập.” Cả hai khải tượng đều đề cập đến các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh.

The vision of chapter seven, portrays those kingdoms as beasts of prey, thus emphasizing and presenting them in the setting of their civil power. The vision of chapter eight, portrays those same kingdoms with symbols from God’s sanctuary service, though each of the symbols of the sanctuary service are purposely corrupted, in order to represent a counterfeit worship. Daniel eight, portrays the same kingdoms as the vision of chapter seven, but it places the kingdoms in their religious setting.

Khải tượng ở chương bảy mô tả những vương quốc ấy như những thú săn mồi, qua đó nhấn mạnh và trình bày chúng trong bối cảnh thế quyền. Khải tượng ở chương tám mô tả những vương quốc đó bằng các biểu tượng từ nghi lễ đền thánh của Đức Chúa Trời, dù mỗi biểu tượng của nghi lễ đền thánh đều bị cố ý làm sai lệch để biểu thị sự thờ phượng giả mạo. Đa-ni-ên chương tám mô tả cùng những vương quốc như khải tượng ở chương bảy, nhưng đặt các vương quốc ấy trong bối cảnh tôn giáo.

The Ulai vision of Daniel chapter eight repeats and enlarges the vision of chapter seven. Chapter seven identifies the civil aspect of the kingdoms of Bible prophecy, and chapter eight identifies the religious aspect of the kingdoms of Bible prophecy. When this is recognized, it can then be understood that chapters seven and eight are the same vision. Chapter nine is where Gabriel comes to give the explanation of the element of time in the vision of chapter eight. Therefore, the vision of the Ulai represents chapters seven, eight and nine of the book of Daniel. The river Hiddekel is then introduced in chapter ten.

Khải tượng Ulai ở chương tám sách Đa-ni-ên lặp lại và mở rộng khải tượng của chương bảy. Chương bảy xác định phương diện dân sự của các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh, còn chương tám xác định phương diện tôn giáo của các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh. Khi điều này được nhận ra, có thể hiểu rằng chương bảy và chương tám là cùng một khải tượng. Chương chín là nơi thiên sứ Ga-bri-ên đến để giải thích yếu tố thời gian trong khải tượng của chương tám. Vì vậy, khải tượng Ulai đại diện cho các chương bảy, tám và chín của sách Đa-ni-ên. Sông Hiddekel sau đó được giới thiệu ở chương mười.

In the third year of Cyrus king of Persia a thing was revealed unto Daniel, whose name was called Belteshazzar; and the thing was true, but the time appointed was long: and he understood the thing, and had understanding of the vision. In those days I Daniel was mourning three full weeks. I ate no pleasant bread, neither came flesh nor wine in my mouth, neither did I anoint myself at all, till three whole weeks were fulfilled. And in the four and twentieth day of the first month, as I was by the side of the great river, which is Hiddekel. Daniel 10:1–4.

Trong năm thứ ba của Cyrus, vua Ba Tư, một điều đã được tỏ ra cho Daniel, người có tên gọi là Belteshazzar; điều ấy là thật, nhưng thời kỳ đã định thì lâu dài; và ông hiểu điều ấy và hiểu khải tượng. Trong những ngày ấy, ta là Daniel đã than khóc trọn ba tuần lễ. Ta không ăn bánh ngon, thịt và rượu cũng chẳng vào miệng ta, ta cũng chẳng xức dầu cho mình chút nào, cho đến khi trọn ba tuần lễ đã mãn. Đến ngày hai mươi bốn của tháng thứ nhất, khi ta đang ở bên bờ sông lớn, tức là sông Hiddekel. Daniel 10:1-4.

The vision of the Hiddekel river introduces the prophetic history of the king of the north. It begins with the breakup of Alexander the Great’s kingdom, identifies the ebb and flow of the following history where ultimately the only two antagonists left from the disintegration of Alexander the Great’s former kingdom is a literal southern king versus a literal northern king. Ultimately it arrives at the history of the papacy, who then becomes the spiritual king of the north, who at the end of chapter eleven, comes to his end, Michael stands up and human probation closes. The simple overview is that the Ulai river vision is the internal vision of God’s sanctuary and host, and the Hiddekel river is the external vision of the enemy of God and His people during the same history. It is employing the same principle that is found in Revelation’s seven churches and seven seals.

Khải tượng về sông Hiddekel giới thiệu lịch sử tiên tri của vua phương bắc. Nó bắt đầu với sự tan rã của vương quốc của Alexander Đại đế, cho thấy những thăng trầm của lịch sử tiếp theo, nơi rốt cuộc từ sự tan rã của vương quốc trước kia của Alexander Đại đế chỉ còn lại hai đối thủ: một vua phương nam theo nghĩa đen đối đầu với một vua phương bắc theo nghĩa đen. Cuối cùng, nó đi đến lịch sử của giáo hoàng quyền, vốn rồi trở thành vua phương bắc thuộc linh; đến cuối chương mười một, quyền lực ấy đi đến hồi kết, Michael đứng lên và kỳ ân điển của loài người chấm dứt. Tổng quan đơn giản là khải tượng về sông Ulai là khải tượng bên trong về đền thánh của Đức Chúa Trời và đạo binh của Ngài, còn sông Hiddekel là khải tượng bên ngoài về kẻ thù của Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài trong cùng thời kỳ lịch sử đó. Điều này áp dụng cùng một nguyên tắc được thấy trong bảy hội thánh và bảy ấn của sách Khải Huyền.

“Many ministers make no effort to explain Revelation. They call it an unprofitable book to study. They regard it as a sealed book, because it contains the record of figures and symbols. But the very name that has been given it, ‘Revelation,’ is a denial of this supposition. Revelation is a sealed book, but it is also an opened book. It records marvelous events that are to take place in the last days of this earth’s history. The teachings of this book are definite, not mystical and unintelligible. In it the same line of prophecy is taken up as in Daniel. Some prophecies God has repeated, thus showing that importance must be given to them. The Lord does not repeat things that are of no great consequence.” Manuscript Releases, volume 8, 413.

Nhiều mục sư không hề cố gắng giải thích sách Khải Huyền. Họ gọi đó là một cuốn sách không sinh ích khi nghiên cứu. Họ coi nó như một cuốn sách đã niêm phong, vì nó chứa đựng ghi chép về các hình ảnh và biểu tượng. Nhưng chính tên gọi đã được đặt cho nó, “Khải Huyền”, đã phủ nhận quan niệm này. Khải Huyền là một cuốn sách được niêm phong, nhưng cũng là một cuốn sách được mở ra. Nó ghi lại những sự kiện kỳ diệu sẽ diễn ra trong những ngày cuối cùng của lịch sử trái đất này. Những lời dạy của cuốn sách này là rõ ràng, chứ không huyền bí và khó hiểu. Trong đó, cùng một dòng tiên tri như trong Daniel được tiếp nối. Một số lời tiên tri Đức Chúa Trời đã lặp lại, qua đó cho thấy rằng cần phải coi trọng chúng. Chúa không lặp lại những điều không mấy quan trọng. Manuscript Releases, tập 8, trang 413.

The same internal and external history that is represented in the book of Daniel is taken up in the book of Revelation. Aside from the prophetic light that is produced from these two visions, there is also a confirmation of the methodology of biblical interpretation that was adopted by William Miller, and thereafter by Future for America. Correctly considered, the book of Daniel, as well as the book of Revelation, are absolute gold mines for confirmation of the principles of prophetic interpretation that the Bible identifies within itself.

Cùng một lịch sử nội bộ và bên ngoài được trình bày trong sách Đa-ni-ên cũng được tiếp tục trong sách Khải Huyền. Ngoài ánh sáng tiên tri phát sinh từ hai khải tượng này, còn có sự xác nhận về phương pháp luận giải Kinh Thánh mà William Miller đã chấp nhận, và về sau bởi Future for America. Khi được xem xét đúng đắn, sách Đa-ni-ên cũng như sách Khải Huyền là những mỏ vàng đích thực để xác nhận các nguyên tắc giải nghĩa lời tiên tri mà chính Kinh Thánh tự xác định trong chính nó.

The Ulai being the internal theme and the Hiddekel being the external, also represent the two prophecies that were to be unsealed at the “time of the end.” The Ulai was unsealed at the “time of the end” in 1798, and the Hiddekel was unsealed at the “time of the end” in 1989, when, as described in Daniel eleven, verse forty, the countries representing the former Soviet Union were swept away by the papacy and the United States.

Ulai là chủ đề nội tại và Hiddekel là chủ đề ngoại tại; chúng cũng đại diện cho hai lời tiên tri sẽ được mở ấn vào "thời kỳ cuối cùng". Ulai đã được mở ấn vào "thời kỳ cuối cùng" năm 1798, và Hiddekel đã được mở ấn vào "thời kỳ cuối cùng" năm 1989, khi, như được mô tả trong Daniel chương mười một, câu bốn mươi, các quốc gia đại diện cho Liên Xô cũ đã bị giáo quyền La Mã và Hoa Kỳ cuốn trôi.

When these facts are recognized, it can then also be recognized that the two visions are actually one vision, the same as the prophetic history of the seven churches and the seven seals represent the same prophetic history. The two visions then become the avenue that the Lord used in the past movement of the first angel, and what the Lord will use in the current and future movement of the third angel, to produce a testing process as set forth in Daniel chapter twelve, verses nine and ten.

Khi những sự thật này được nhận ra, thì cũng có thể nhận ra rằng hai khải tượng thực ra là một khải tượng, giống như lịch sử tiên tri của bảy hội thánh và bảy ấn đại diện cho cùng một lịch sử tiên tri. Khi ấy, hai khải tượng trở thành phương tiện mà Chúa đã dùng trong phong trào trước đây của thiên sứ thứ nhất, và là phương tiện Chúa sẽ dùng trong phong trào hiện tại và tương lai của thiên sứ thứ ba, để tạo ra một quá trình thử thách như được nêu trong Đa-ni-ên chương mười hai, câu 9 và 10.

And he said, Go thy way, Daniel: for the words are closed up and sealed till the time of the end. Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. Daniel 12:9, 10.

Ngài phán: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi đường mình; vì những lời này đã được đóng lại và niêm phong cho đến thời kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ được tinh luyện, được làm cho trắng sạch và được thử luyện; nhưng kẻ ác sẽ cứ làm điều ác, chẳng ai trong bọn ác hiểu biết; còn người khôn ngoan thì sẽ hiểu. Đa-ni-ên 12:9, 10.

As an example of the unsealing of the Hiddekel in 1989, consider what inspiration has said.

Như một ví dụ về việc mở niêm phong Hiddekel vào năm 1989, hãy xem xét những gì cảm hứng đã nói.

“In the Revelation all the books of the Bible meet and end. Here is the complement of the book of Daniel. One is a prophecy; the other a revelation. The book that was sealed is not the Revelation, but that portion of the prophecy of Daniel relating to the last days. The angel commanded, ‘But thou, O Daniel, shut up the words, and seal the book, even to the time of the end.’ Daniel 12:4.” Acts of the Apostles, 585.

"Trong sách Khải Huyền, mọi sách trong Kinh Thánh đều hội tụ và kết thúc. Ở đây là phần bổ sung cho sách Đa-ni-ên. Một cuốn là lời tiên tri; cuốn kia là sự mặc khải. Quyển sách bị niêm phong không phải là Khải Huyền, mà là phần lời tiên tri của Đa-ni-ên liên quan đến những ngày sau rốt. Thiên sứ phán: 'Còn ngươi, hỡi Đa-ni-ên, hãy đóng lại những lời này và niêm phong sách, cho đến thời kỳ cuối cùng.' Đa-ni-ên 12:4." Công vụ các Sứ đồ, 585.

Both the Ulai and Hiddekel relate to the last days, but Adventism has only been willing to acknowledge that 1798 was Daniel’s “time of the end,” when his book was to be unsealed. Yet the portion of the prophecy “relating to the last days” is more accurately the last six verses of Daniel chapter eleven, for those verses conclude with Michael standing up when human probation closes.

Cả Ulai lẫn Hiddekel đều liên hệ đến những ngày sau rốt, nhưng phái Phục Lâm chỉ thừa nhận rằng năm 1798 là “thì cuối cùng” của Daniel, khi sách của ông sẽ được mở ấn. Tuy nhiên, phần của lời tiên tri “liên quan đến những ngày sau rốt” đúng hơn là sáu câu cuối của chương mười một trong sách Daniel, vì các câu ấy kết thúc với việc Michael đứng lên khi thời kỳ ân điển cho loài người chấm dứt.

The vision of the judgment, as identified in Daniel chapters seven, eight and nine, was sealed up until the “time of the end” in 1798. The light (which the Ulai vision that was unsealed produced) was the announcement of the opening of the investigative judgment, not the close of judgment. The light that was unsealed with the Hiddekel vision, identifies the close of the investigative judgment, and it is also the passage in Daniel that contains “the portion of the prophecy relating to the last days.”

Khải tượng về sự phán xét, như được xác định trong các chương bảy, tám và chín của sách Đa-ni-ên, đã bị niêm phong cho đến "thời kỳ cuối cùng" vào năm 1798. Ánh sáng (mà khải tượng Ulai được mở ấn mang lại) là lời công bố về việc mở đầu cuộc phán xét điều tra, chứ không phải sự kết thúc của phán xét. Ánh sáng được mở ấn cùng với khải tượng Hiddekel xác định sự kết thúc của cuộc phán xét điều tra, và nó cũng là đoạn trong sách Đa-ni-ên chứa "phần của lời tiên tri liên quan đến những ngày sau rốt."

The unsealing in 1798 announced the opening of the investigative judgment. The unsealing in 1989 announced the near-approaching close of the investigative judgment. The signature of Alpha and Omega is easily seen in the book of Daniel, but only if you know what it is, and are willing to look for it.

Việc mở ấn vào năm 1798 đã báo hiệu sự bắt đầu của cuộc phán xét điều tra. Việc mở ấn vào năm 1989 đã báo hiệu sự kết thúc gần kề của cuộc phán xét điều tra. Dấu ấn của Alpha và Omega có thể dễ dàng thấy trong sách Đa-ni-ên, nhưng chỉ khi bạn biết đó là gì và sẵn lòng tìm kiếm nó.

When probation closes in Daniel chapter eleven, verse forty-five, the signature of Alpha and Omega is recorded. The beginning of Daniel illustrates exactly where it ends. It begins with a literal war between literal Babylon and literal Israel, and literal Babylon is victorious.

Khi thời kỳ ân điển chấm dứt trong sách Đa-ni-ên chương mười một, câu bốn mươi lăm, dấu ấn của Alpha và Omega được ghi lại. Phần mở đầu của Đa-ni-ên cho thấy chính xác nó kết thúc ở đâu. Nó bắt đầu bằng một cuộc chiến theo nghĩa đen giữa Ba-by-lôn theo nghĩa đen và Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen, và Ba-by-lôn theo nghĩa đen giành chiến thắng.

In the third year of the reign of Jehoiakim king of Judah came Nebuchadnezzar king of Babylon unto Jerusalem, and besieged it. And the Lord gave Jehoiakim king of Judah into his hand, with part of the vessels of the house of God: which he carried into the land of Shinar to the house of his god; and he brought the vessels into the treasure house of his god. Daniel 1:1, 2.

Năm thứ ba đời trị vì của Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến Giê-ru-sa-lem và bao vây thành. Chúa đã phó Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, vào tay ông, cùng với một phần các đồ dùng của đền thờ Đức Chúa Trời; ông mang chúng đến xứ Si-nê-a, vào nhà của thần mình; và ông đem các đồ dùng ấy vào kho báu của nhà thần mình. Đa-ni-ên 1:1, 2.

In Daniel chapter eleven, verse forty-five a spiritual war between spiritual Babylon, symbolized as “the king of the north”, and spiritual Israel, represented by “the glorious holy mountain”, concludes, and spiritual Israel is victorious over spiritual Babylon.

Trong Đa-ni-ên chương mười một, câu bốn mươi lăm, một cuộc chiến thuộc linh giữa Ba-by-lôn thuộc linh, được biểu trưng là “vua phương bắc”, và Y-sơ-ra-ên thuộc linh, được đại diện bởi “núi thánh vinh hiển”, kết thúc, và Y-sơ-ra-ên thuộc linh chiến thắng Ba-by-lôn thuộc linh.

And he shall plant the tabernacles of his palace between the seas in the glorious holy mountain; yet he shall come to his end, and none shall help him. And at that time shall Michael stand up, the great prince which standeth for the children of thy people: and there shall be a time of trouble, such as never was since there was a nation even to that same time: and at that time thy people shall be delivered, every one that shall be found written in the book. Daniel 11:45; 12:1.

Người sẽ dựng các lều của cung điện mình giữa các biển, tại núi thánh vinh hiển; nhưng rồi người sẽ đến hồi kết, chẳng ai trợ giúp người. Bấy giờ Mi-ca-ên, vị đại thủ lãnh, là Đấng đứng lên vì con cái dân ngươi, sẽ đứng dậy; và sẽ có một thời kỳ hoạn nạn, chưa hề có như vậy từ khi có nước cho đến lúc ấy; và trong thời ấy, dân ngươi sẽ được giải cứu, tất cả những ai được tìm thấy có tên ghi trong sách. Đa-ni-ên 11:45; 12:1.

The books of Daniel and Revelation are one book:

Hai sách Đa-ni-ên và Khải Huyền là một quyển sách:

“The books of Daniel and the Revelation are one. One is a prophecy, the other a revelation; one a book sealed, the other a book opened. John heard the mysteries which the thunders uttered, but he was commanded not to write them.” The Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 7, 971.

"Sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền là một. Một sách là lời tiên tri, sách kia là sự mặc khải; một sách bị niêm phong, sách kia được mở ra. Giăng đã nghe những điều mầu nhiệm mà các tiếng sấm phán ra, nhưng ông được truyền không được viết chúng." Chú giải Kinh Thánh của Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, tập 7, 971.

The two books, which are one book, are the masterpiece of the angel Gabriel’s prophetic instruction. I write this knowing full well that what Gabriel delivered to Daniel and John came from Jesus, who received it from the Father. My point is not to lift up Gabriel, but to lift up the profound revelation of the evidences in both books, of how the Alpha and Omega designed prophetic rules of biblical interpretation which were to be represented within the two books, if we are willing to see.

Hai cuốn sách, vốn là một cuốn, là kiệt tác của sự chỉ dạy tiên tri của thiên sứ Gabriel. Tôi viết điều này, biết rất rõ rằng những gì Gabriel đã truyền cho Đa-ni-ên và Giăng đều đến từ Đức Chúa Giê-su, Đấng đã nhận từ Đức Chúa Cha. Ý tôi không phải để tôn cao Gabriel, mà là để nêu cao sự mặc khải sâu nhiệm về những bằng chứng trong cả hai sách—về việc Đấng Alpha và Omega đã thiết lập các quy tắc tiên tri cho việc giải nghĩa Kinh Thánh như thế nào, những quy tắc ấy được thể hiện trong hai sách, nếu chúng ta sẵn lòng nhìn ra.

Let me remind you that, at this point, my purpose and intent is not to present an interpretation of the two prophecies of the Ulai and Hiddekel rivers. My purpose and intent are to deal with the prophecies in the first six chapters of Daniel’s book. I am simply making a case for the fact that the books of Daniel and Revelation are, perhaps, the most profoundly constructed books in the Word of God. They present the prophetic message, while also identifying God’s character, while also identifying the very rules necessary to be employed if a person would know the prophecies, and also know the One who set forth the prophecies.

Cho phép tôi nhắc lại rằng, vào thời điểm này, mục đích và ý định của tôi không phải là đưa ra một cách giải thích về hai lời tiên tri liên quan đến sông Ulai và sông Hiddekel. Mục đích và ý định của tôi là đề cập đến các lời tiên tri trong sáu chương đầu của sách Đa-ni-ên. Tôi chỉ đang lập luận rằng sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền có lẽ là những sách có cấu trúc sâu sắc nhất trong Lời Đức Chúa Trời. Chúng trình bày sứ điệp tiên tri, đồng thời bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời, đồng thời nêu rõ chính những quy tắc cần phải được áp dụng nếu một người muốn biết các lời tiên tri, và cũng biết Đấng đã ban bố các lời tiên tri.

Another example of the profound nature of the books is Daniel’s presentation of the “seven times” of Leviticus twenty-six. The prophecy of the “seven times” was and is to be the “stumbling stone” for God’s people, both in ancient Israel, in the Millerite movement of the first angel, and also in the current and future movement of the third angel. A “stumbling stone”, by simple definition, is something that you do not see, even though it is clearly there. Therefore, once you recognize the “seven times” in the book of Daniel, you see that it is clearly there, but you also see that it is hidden to those who choose not to see.

Một ví dụ khác về tính chất sâu sắc của các sách là cách Đa-ni-ên trình bày về “bảy lần” trong Lê-vi Ký 26. Lời tiên tri về “bảy lần” đã và vẫn sẽ là “hòn đá vấp chân” cho dân sự của Đức Chúa Trời, cả trong Y-sơ-ra-ên thời cổ, trong phong trào Millerite của thiên sứ thứ nhất, cũng như trong phong trào hiện tại và tương lai của thiên sứ thứ ba. Theo định nghĩa đơn giản, một “hòn đá vấp chân” là điều bạn không thấy, mặc dù nó hiện diện rất rõ ràng. Vì vậy, khi bạn đã nhận ra “bảy lần” trong sách Đa-ni-ên, bạn thấy rằng nó ở đó một cách rõ ràng, nhưng bạn cũng thấy rằng nó bị ẩn đi đối với những ai chọn không nhìn thấy.

Hiding something while it is in the open grammatically is a profound accomplishment, it’s something that could not be embedded into any human mystery novel. It’s a masterpiece, for it is there, plain to see for any who wish not to stumble, but impossible to see for those who do choose to stumble. It is “hiding in plain sight”, so to speak. It is accomplished by a combination of humanity and divinity.

Giấu một điều, trong khi về mặt ngữ pháp nó vẫn phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật, là một thành tựu sâu sắc; đó là điều mà không một tiểu thuyết trinh thám nào do con người viết có thể chứa đựng. Đó là một kiệt tác, vì nó ở đó, rõ mồn một cho bất kỳ ai không muốn vấp ngã, nhưng những ai chọn vấp ngã thì lại không thể nhìn thấy. Nói một cách nào đó, đó là “ẩn mình ngay trước mắt”. Điều ấy được thực hiện nhờ sự kết hợp giữa nhân tính và thần tính.

I make that claim, for I wish to remind us at this point, that there is a Catholic teaching within Adventism, at least since the publication of Questions on Doctrine in 1957, and that has also raised its unrighteous head within this present truth movement of Future for America. The idea is that Christ, at the incarnation, did not take the flesh He inherited from Mary. Of course, those who uphold this teaching do not express it that way, but it is none-the-less what they teach. I call it a Catholic teaching, for the premise that Christ’s flesh was as pure as the flesh of Adam before he sinned, is the very satanic logic employed by the Catholic church with their teaching of the so-called “immaculate conception.” And if you are unfamiliar with the pagan teaching of the “immaculate conception,” it teaches that Christ’s flesh was supernaturally made as was Adam’s lower nature was, before he and Eve sinned or, as it is claimed, Christ had Adam’s pre-fallen, sinless nature. It teaches that Mary herself was miraculously given the fleshly unfallen nature of Adam before he sinned, so that she could be a perfect vessel for the Holy Spirit to incarnate the baby Jesus into her perfect flesh.

Tôi đưa ra khẳng định đó, vì tôi muốn nhắc chúng ta lúc này rằng có một giáo lý mang tính Công giáo bên trong phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, ít nhất kể từ khi ấn phẩm Questions on Doctrine được xuất bản năm 1957, và nó cũng đã ngóc đầu dậy cách bất chính trong phong trào “chân lý hiện tại” này của Future for America. Ý tưởng đó là Đấng Christ, khi nhập thể, đã không mang lấy xác thịt Ngài thừa hưởng từ Mary. Dĩ nhiên, những người bênh vực giáo lý này không diễn đạt theo cách ấy, nhưng dù vậy, đó chính là điều họ dạy. Tôi gọi đó là một giáo lý Công giáo, vì tiền đề cho rằng xác thịt của Đấng Christ thanh sạch như xác thịt của Adam trước khi ông phạm tội chính là thứ lý luận mang tính Sa-tan mà Giáo hội Công giáo sử dụng trong giáo lý cái gọi là “vô nhiễm nguyên tội.” Và nếu bạn chưa quen với giáo lý ngoại giáo về “vô nhiễm nguyên tội,” thì nó dạy rằng xác thịt của Đấng Christ đã được tạo dựng một cách siêu nhiên như bản tính thấp hơn của Adam trước khi ông và Eve phạm tội; hay nói cách khác, như người ta khẳng định, Đấng Christ có bản tính tiền-sa ngã, không tội lỗi của Adam. Nó dạy rằng chính Mary đã được ban cho cách mầu nhiệm bản tính xác thịt chưa sa ngã của Adam trước khi ông phạm tội, để bà có thể trở thành một bình chứa trọn vẹn cho Đức Thánh Linh nhập thể Hài Nhi Giê-su vào trong xác thịt hoàn hảo của bà.

Of course, those in Adventism that uphold the very same conclusion concerning the flesh of Jesus, do not point to any miracles with Mary, but they do wrest passages of Sister White and the Bible, to teach the very same Catholic concept. Why did I just digress and turn away from the discussion of the book of Daniel? I’ll answer that.

Dĩ nhiên, những người trong phái Cơ Đốc Phục Lâm ủng hộ cùng một kết luận về xác thịt của Chúa Giê-su thì không viện dẫn bất kỳ phép lạ nào liên quan đến Đức Maria, nhưng họ lại vặn vẹo các đoạn văn của Bà White và Kinh Thánh để dạy cùng một khái niệm Công giáo như vậy. Tại sao tôi vừa lạc đề và rời khỏi cuộc thảo luận về sách Đa-ni-ên? Tôi sẽ trả lời điều đó.

The miraculous structure and design of Daniel and the Revelation was accomplished by a combination of humanity and divinity. Jesus is the Word of God, and the Bible is the Word of God. Jesus’ divine and human nature is fully represented in the Bible. The words therein are divine and contain the creative power to transform hearts and minds. Those words are the very same power that brought all things into existence. But those men who God chose to be His instruments in recording the Bible, were all sinners. The human part of the equation is represented by fallen human beings. The Bible is a combination of human and divine, and the prophets were sinners, as every child of Adam has been. Christ never sinned in thought, word or deed. But He did take the flesh of Mary after four thousand years of degeneration. If He actually did take the lower fleshly nature of Adam before Adam had sinned, it would demand that every biblical author would have been sinless too.

Cấu trúc và thiết kế kỳ diệu của Sách Đa-ni-ên và Sách Khải Huyền đã được tạo nên bởi sự kết hợp giữa nhân tính và thần tính. Chúa Giê-su là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời, và Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời. Bản tính thần linh và nhân loại của Chúa Giê-su được thể hiện trọn vẹn trong Kinh Thánh. Những lời trong đó là thiêng liêng và chứa đựng quyền năng sáng tạo để biến đổi tấm lòng và tâm trí. Những lời ấy chính là quyền năng đã làm cho muôn vật hiện hữu. Nhưng những người mà Đức Chúa Trời chọn làm khí cụ của Ngài để ghi chép Kinh Thánh đều là tội nhân. Yếu tố con người trong phương trình ấy được thể hiện bởi những con người sa ngã. Kinh Thánh là sự kết hợp giữa con người và thần linh, và các vị tiên tri cũng là tội nhân, như mọi con cháu của A-đam. Đấng Christ chưa từng phạm tội trong ý nghĩ, lời nói hay việc làm. Nhưng Ngài đã mang lấy xác thịt của Ma-ri sau bốn ngàn năm suy đồi. Nếu thật sự Ngài đã mang lấy bản chất xác thịt thấp hơn của A-đam trước khi A-đam phạm tội, thì điều đó sẽ đòi hỏi rằng mọi tác giả Kinh Thánh cũng đều vô tội.

The “hiding in plain sight” of the “seven times” in the book of Daniel was accomplished, not only by the words that Daniel recorded, but further by the fallen human beings that translated the King James Bible. Fallen human beings twice touched the book of Daniel, and what was accomplished would be impossible for any human being to do without God’s divine providential oversight.

Sự “ẩn ngay trước mắt” của “bảy lần” trong sách Đa-ni-ên đã được thực hiện, không chỉ bởi những lời mà Đa-ni-ên ghi chép, mà còn bởi những con người sa ngã đã dịch Bản Kinh Thánh King James. Những con người sa ngã đã hai lần chạm đến sách Đa-ni-ên, và điều đã được hoàn thành là điều không một con người nào có thể làm được nếu không có sự quan phòng của Đức Chúa Trời.

In our next article we will begin to show how divinity and humanity hid the “seven times” of Leviticus twenty-six in plain sight in the book of Daniel, for God foreknew, and even designed, that it should be the testing “stumbling stone” for both those in the movement of the first angel, and also for those in the movement of the third angel.

Trong bài viết tiếp theo, chúng tôi sẽ bắt đầu cho thấy cách thần tính và nhân tính đã ẩn giấu “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu ngay trước mắt trong sách Đa-ni-ên, vì Đức Chúa Trời đã biết trước, thậm chí đã sắp đặt, rằng điều đó sẽ là “hòn đá vấp phạm” dùng để thử thách cả những người trong phong trào của thiên sứ thứ nhất lẫn những người trong phong trào của thiên sứ thứ ba.

“The light that Daniel received from God was given especially for these last days. The visions he saw by the banks of the Ulai and the Hiddekel, the great rivers of Shinar, are now in process of fulfillment, and all the events foretold will soon come to pass.” Testimonies to Ministers, 112.

"Ánh sáng mà Daniel nhận từ Đức Chúa Trời đã được ban đặc biệt cho những ngày sau rốt này. Những khải tượng ông thấy bên bờ sông Ulai và Hiddekel, những con sông lớn của Shinar, hiện đang được ứng nghiệm, và mọi sự kiện đã được báo trước sẽ sớm xảy ra." Testimonies to Ministers, 112.