The symbol of Nebuchadnezzar in chapter four is amazing. His “seven times,” typified the periods of time that paganism (the daily), and papalism (the transgression of desolation), trampled down the sanctuary and host.

Biểu tượng về Nê-bu-cát-nết-sa trong chương bốn thật đáng kinh ngạc. “Bảy thời kỳ” của ông biểu trưng cho những khoảng thời gian mà ngoại giáo (lễ hằng ngày) và chế độ giáo hoàng (sự phạm pháp gây nên sự hoang tàn) đã giày đạp đền thánh và đạo binh.

Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? Daniel 8:13.

Bấy giờ tôi nghe có một Đấng thánh nói; một Đấng thánh khác nói cùng Đấng thánh đang nói ấy rằng: Sự hiện thấy về việc dâng của lễ hằng ngày, và sự phạm tội làm nên sự hoang vu, sẽ còn đến chừng nào, để cho nơi thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Daniel 8:13.

The trampling down of “both the sanctuary and the host,” noted in verse thirteen, represents the “seven times” that was the last of two of God’s indignations; and Nebuchadnezzar’s “seven times” is representing the “seven times” that was the first of God’s indignations, but both are represented as the same line prophetically.

Sự chà đạp “cả đền thánh lẫn đạo binh” được nêu ở câu mười ba tượng trưng cho “bảy thời kỳ”, tức là lần sau cùng trong hai lần Đức Chúa Trời bày tỏ cơn phẫn nộ; còn “bảy thời kỳ” của Nê-bu-cát-nết-sa tượng trưng cho “bảy thời kỳ” là lần thứ nhất trong hai lần Đức Chúa Trời bày tỏ cơn phẫn nộ, nhưng về phương diện tiên tri thì cả hai đều được trình bày như cùng một dòng thời gian.

And I will stretch over Jerusalem the line of Samaria, and the plummet of the house of Ahab: and I will wipe Jerusalem as a man wipeth a dish, wiping it, and turning it upside down. 2 Kings 21:13.

Ta sẽ giăng trên Giê-ru-sa-lem dây đo của Sa-ma-ri và quả dọi của nhà Ahab; Ta sẽ lau sạch Giê-ru-sa-lem như người ta lau một cái dĩa: lau nó, rồi lật úp nó lại. 2 Các Vua 21:13.

Daniel chapter eight, and verse thirteen, is addressing the second line of God’s indignations, as brought upon the southern kingdom of Judah, beginning in 677 BC. Nebuchadnezzar’s “seven times,” represents the line of God’s first indignation, as brought upon the northern kingdom of Israel, beginning in 723 BC. Nebuchadnezzar’s “seven times” represents twelve hundred and sixty years that paganism trampled down the sanctuary and host, followed by the twelve hundred and sixty years that papalism trampled down the sanctuary and host.

Đa-ni-ên chương tám, câu mười ba, đang đề cập đến dòng thứ hai của sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời, được giáng trên vương quốc miền nam là Giu-đa, bắt đầu từ năm 677 TCN. “Bảy thời kỳ” của Nebuchadnezzar tượng trưng cho dòng sự thịnh nộ thứ nhất của Đức Chúa Trời, được giáng trên vương quốc miền bắc của Y-sơ-ra-ên, bắt đầu từ năm 723 TCN. “Bảy thời kỳ” của Nebuchadnezzar tượng trưng cho một nghìn hai trăm sáu mươi năm mà ngoại giáo đã giày đạp đền thánh và đạo binh, tiếp theo là một nghìn hai trăm sáu mươi năm mà chế độ giáo hoàng đã giày đạp đền thánh và đạo binh.

Papalism is simply paganism covered with the profession of Christianity. “Baptized paganism” as it were. There is nothing that represents Christ or Christianity in Catholicism. The world learned that fact in the history of the Dark Ages, but since 1798, the world has forgotten. The papacy has the same heart as paganism. The religion and the rites of the religions are identical. Nebuchadnezzar’s judgment of “seven times,” consisted of him being given the heart of a beast. The beast’s heart he was given was the heart that represented the religion of paganism, whether it was outright paganism or cloaked paganism in the form of Catholicism. Sister White identifies that the dragon in Revelation twelve is Satan, but in a secondary sense it is pagan Rome.

Chủ nghĩa giáo hoàng đơn giản chỉ là ngoại giáo được che phủ bằng danh xưng Kitô giáo. “Ngoại giáo đã được rửa tội”, có thể nói như vậy. Trong Công giáo không có gì đại diện cho Đấng Christ hay cho Kitô giáo. Thế giới đã học được sự thật đó trong lịch sử Thời Kỳ Tăm Tối, nhưng kể từ năm 1798, thế giới đã quên mất. Chế độ giáo hoàng có cùng một trái tim như ngoại giáo. Tôn giáo và các nghi lễ của chúng là giống hệt nhau. Sự phán xét “bảy thời” dành cho Nê-bu-cát-nết-sa bao gồm việc ông được ban cho lòng của loài thú. Lòng thú mà ông nhận ấy là tấm lòng tượng trưng cho tôn giáo của ngoại giáo, dù đó là ngoại giáo công khai hay ngoại giáo được che đậy dưới hình thức Công giáo. Bà White xác định rằng con rồng trong Khải Huyền đoạn mười hai là Sa-tan, nhưng theo nghĩa thứ yếu thì đó là La Mã ngoại giáo.

“Thus while the dragon, primarily, represents Satan, it is, in a secondary sense, a symbol of pagan Rome.” The Great Controversy, 439.

Do đó, tuy con rồng chủ yếu đại diện cho Sa-tan, nhưng trong nghĩa thứ yếu, nó là biểu tượng của La Mã ngoại giáo. Đại Tranh Chiến, 439.

The beast that Nebuchadnezzar represented for “seven times,” was the beast of the dragon for twelve hundred and sixty days, and then the beast of Catholicism for another twelve hundred and sixty days. At the end of those days Nebuchadnezzar is a symbol of the United States, which is ultimately the false prophet. Prophetically Nebuchadnezzar represented the dragon, the beast and the false prophet which are the three-fold powers that make up spiritual Babylon, and who lead the world to Armageddon. Nebuchadnezzar represents literal Babylon, and in so doing he was employed as a symbol of all three of the powers that make up spiritual Babylon of the last days.

Con thú mà Nebuchadnezzar đại diện trong “bảy thời kỳ” chính là con thú của con rồng trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày, rồi sau đó là con thú của Công giáo trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày nữa. Kết thúc những ngày ấy, Nebuchadnezzar là biểu tượng của Hoa Kỳ, vốn rốt cuộc là tiên tri giả. Về mặt tiên tri, Nebuchadnezzar đại diện cho con rồng, con thú và tiên tri giả, tức ba quyền lực hợp thành Ba-by-lôn thuộc linh, và những quyền lực này dẫn dắt thế giới đến Armageddon. Nebuchadnezzar đại diện cho Ba-by-lôn theo nghĩa đen, và qua đó ông được dùng làm biểu tượng cho cả ba quyền lực cấu thành Ba-by-lôn thuộc linh của những ngày sau rốt.

In order to recognize the symbolism just identified it is important to first locate Nebuchadnezzar in 1798, when his kingdom is restored at the end of the “seven times.” We will establish this waymark in Daniel chapter four, before we begin to proceed through the chapter in a more systematic fashion.

Để nhận ra biểu tượng vừa được xác định, điều quan trọng là trước hết phải xác định vị trí của Nebuchadnezzar vào năm 1798, khi vương quốc của ông được khôi phục vào cuối “bảy thời kỳ.” Chúng ta sẽ xác lập mốc này trong Daniel chương bốn, trước khi bắt đầu đi qua chương đó theo cách có hệ thống hơn.

At the “time of the end” in 1798, the book of Daniel was unsealed, and the book then fulfilled its purpose of presenting an increasing light that would test, purify and produce two classes of worshippers. The unsealing of the book of Daniel marks the beginning of the three-step testing process that is based upon the truths revealed at that time.

Vào “thời kỳ cuối cùng” năm 1798, sách Đa-ni-ên được mở ấn, và sách ấy khi đó đã hoàn thành mục đích của mình là đem đến một ánh sáng ngày càng tỏ rạng, ánh sáng sẽ thử luyện, thanh tẩy và tạo nên hai nhóm người thờ phượng. Việc mở ấn sách Đa-ni-ên đánh dấu sự khởi đầu của tiến trình thử thách gồm ba bước, dựa trên những lẽ thật được bày tỏ vào thời điểm ấy.

And he said, Go thy way, Daniel: for the words are closed up and sealed till the time of the end. Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. Daniel 12:9, 10.

Ngài phán: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi đường mình; vì những lời này đã được đóng lại và niêm phong cho đến thời kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ được tinh luyện, được làm cho trắng sạch và được thử luyện; nhưng kẻ ác sẽ cứ làm điều ác, chẳng ai trong bọn ác hiểu biết; còn người khôn ngoan thì sẽ hiểu. Đa-ni-ên 12:9, 10.

The prophetic purpose of the unsealing of the book that consists of the book of Daniel and the book of Revelation, is to test the generation that is alive during the history that the book is unsealed. In Daniel twelve, there are three time prophecies that are identified. The first is the twelve hundred and sixty years that the power of the holy people was to be scattered.

Mục đích tiên tri của việc mở ấn cuốn sách, vốn gồm sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền, là để thử thách thế hệ đang sống trong thời kỳ lịch sử khi cuốn sách được mở ấn. Trong Đa-ni-ên đoạn mười hai, có ba lời tiên tri về thời gian được nêu ra. Lời thứ nhất là một nghìn hai trăm sáu mươi năm, trong thời kỳ đó sức mạnh của dân thánh sẽ bị phân tán.

But thou, O Daniel, shut up the words, and seal the book, even to the time of the end: many shall run to and fro, and knowledge shall be increased. Then I Daniel looked, and, behold, there stood other two, the one on this side of the bank of the river, and the other on that side of the bank of the river. And one said to the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, How long shall it be to the end of these wonders? And I heard the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, when he held up his right hand and his left hand unto heaven, and sware by him that liveth for ever that it shall be for a time, times, and an half; and when he shall have accomplished to scatter the power of the holy people, all these things shall be finished. Daniel 12:4–7.

Nhưng ngươi, hỡi Đa-ni-ên, hãy đóng kín những lời này và niêm phong sách cho đến thời cuối cùng; nhiều người sẽ chạy tới lui, và sự hiểu biết sẽ gia tăng. Bấy giờ tôi, Đa-ni-ên, nhìn lên, và kìa, có hai người khác đứng đó, một người ở bên bờ sông này, và người kia ở bên bờ sông kia. Một người nói với người mặc vải gai mịn, đang ở trên mặt nước sông: Bao lâu nữa thì đến lúc kết thúc những điều lạ lùng này? Tôi nghe người mặc vải gai mịn, đang ở trên mặt nước sông, khi ông giơ tay phải và tay trái lên trời, và thề bởi Đấng hằng sống đời đời rằng sẽ là một thời, các thời, và nửa thời; và khi việc làm tan tác quyền lực của dân thánh đã hoàn tất, thì mọi điều ấy sẽ chấm dứt. Đa-ni-ên 12:4-7.

The other two prophetic periods in chapter twelve are twelve hundred and ninety days and thirteen hundred and thirty-five days.

Hai thời kỳ tiên tri khác trong chương mười hai là một nghìn hai trăm chín mươi ngày và một nghìn ba trăm ba mươi lăm ngày.

And I heard, but I understood not: then said I, O my Lord, what shall be the end of these things? And he said, Go thy way, Daniel: for the words are closed up and sealed till the time of the end. Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. And from the time that the daily sacrifice shall be taken away, and the abomination that maketh desolate set up, there shall be a thousand two hundred and ninety days. Blessed is he that waiteth, and cometh to the thousand three hundred and five and thirty days. Daniel 12:8–12.

Và tôi nghe, nhưng không hiểu; bấy giờ tôi nói: Lạy Chúa của con, kết cuộc của những điều này sẽ như thế nào? Người phán: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi đường mình; vì những lời này đã được đóng lại và niêm phong cho đến thời cuối cùng. Nhiều người sẽ được thanh luyện, được làm cho trắng sạch và được thử luyện; nhưng kẻ ác sẽ cứ làm điều ác; không một ai trong bọn ác sẽ hiểu, còn những người khôn ngoan thì sẽ hiểu. Từ lúc của lễ hằng ngày bị cất đi, và sự gớm ghiếc gây hoang tàn được dựng lên, sẽ có một ngàn hai trăm chín mươi ngày. Phước cho người nào chờ đợi và đạt đến một ngàn ba trăm ba mươi lăm ngày. Đa-ni-ên 12:8-12.

In the verses the “time of the end,” is twice referenced and defined as the point when the words of Daniel would be unsealed. The words that are the subject of being unsealed at the “time of the end” are the three prophetic periods of twelve hundred and sixty (time, times, and a half), twelve hundred and ninety, and thirteen hundred and thirty-five. Two of the three periods are defined as “days.” Two of the three ended in 1798, and the third ended at the very end of 1843. It is at the very end of 1843, for the verse states, “blessed is he that waiteth, and cometh to…”

Trong các câu ấy, “thời kỳ cuối cùng” được nhắc đến hai lần và được định nghĩa là thời điểm khi những lời của Đa-ni-ên sẽ được mở ấn. Những lời được nói đến như sẽ được mở ấn vào “thời kỳ cuối cùng” là ba thời kỳ tiên tri: một nghìn hai trăm sáu mươi (một thời, hai thời, và nửa thời), một nghìn hai trăm chín mươi, và một nghìn ba trăm ba mươi lăm. Hai trong ba thời kỳ được định là “ngày”. Hai trong ba thời kỳ kết thúc vào năm 1798, và thời kỳ thứ ba kết thúc vào tận cuối năm 1843. Chính là vào tận cuối năm 1843, vì câu chép: “phước thay cho người chờ đợi, và đạt đến...”

The word “cometh,” means touches. Blessed therefore is he who waits, and also touches the first day of 1844. The tarrying time of the parable of the ten virgins began at the first disappointment in Millerite history, and that disappointment arrived on the very last day of 1843, and the very last day of 1843, touches the very first day of 1844. The blessing of waiting began when the tarrying time began at the first disappointment.

Từ "cometh" có nghĩa là chạm. Vậy, phước thay cho người chờ đợi và cũng chạm đến ngày đầu tiên của năm 1844. Thời kỳ trì hoãn trong dụ ngôn mười trinh nữ bắt đầu từ nỗi thất vọng đầu tiên trong lịch sử Millerite, và nỗi thất vọng đó đến vào đúng ngày cuối cùng của năm 1843, và ngày cuối cùng của năm 1843 chạm vào ngày đầu tiên của năm 1844. Phước lành của sự chờ đợi bắt đầu khi thời kỳ trì hoãn bắt đầu với nỗi thất vọng đầu tiên.

There is a great deal more to address in these verses, but the point we are considering here is the prophetic role of Daniel. The purpose of the book of Daniel, which Daniel represents in the passage, is to produce a three-step testing process when the book is unsealed. Daniel was told to go his way until the time of the end when the book was to be unsealed. The conclusion of the chapter emphasizes what will happen when the time of the end arrives.

Có rất nhiều điều nữa cần bàn trong những câu này, nhưng điều chúng ta đang xem xét ở đây là vai trò tiên tri của Đa-ni-ên. Mục đích của sách Đa-ni-ên, mà trong đoạn này được Đa-ni-ên đại diện, là tạo ra một quy trình thử nghiệm ba bước khi quyển sách được tháo niêm phong. Đa-ni-ên được bảo hãy đi con đường mình cho đến thời kỳ cuối cùng, khi quyển sách sẽ được tháo niêm phong. Phần kết của chương nhấn mạnh điều gì sẽ xảy ra khi thời kỳ cuối cùng đến.

But go thou thy way till the end be: for thou shalt rest, and stand in thy lot at the end of the days. Daniel 12:13.

Nhưng ngươi hãy đi đường mình cho đến kỳ cuối; vì ngươi sẽ được yên nghỉ, và vào cuối các ngày, ngươi sẽ đứng trong phần số của ngươi. Đa-ni-ên 12:13.

The book of Daniel was to stand in its lot at the end of the prophetic days of Daniel.

Sách Đa-ni-ên sẽ đứng trong phần đã định của nó vào cuối những ngày tiên tri của Đa-ni-ên.

“When God gives a man a special work to do, he is to stand in his lot and place as did Daniel, ready to answer the call of God, ready to fulfill His purpose.” Manuscript Releases, volume 6, 108.

“Khi Đức Chúa Trời giao cho một người một công việc đặc biệt để làm, người ấy phải đứng vào vị trí và phần việc của mình như Daniel đã làm, sẵn sàng đáp lại sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, sẵn sàng hoàn thành mục đích của Ngài.” Manuscript Releases, quyển 6, 108.

At the time of the end in 1798, Daniel stood in his lot, which is expressed in verse thirteen as “at the end of the days.” The end of Nebuchadnezzar’s banishment of “seven times” identifies 1798, for it concluded at “the end of the days.”

Vào thời kỳ cuối cùng, năm 1798, Đa-ni-ên đứng trong phần của mình, điều được diễn tả ở câu mười ba là “vào cuối những ngày.” Sự kết thúc thời kỳ Nê-bu-cát-nết-sa bị đày ải “bảy thì” xác định năm 1798, vì nó đã kết thúc “vào cuối những ngày.”

And at the end of the days I Nebuchadnezzar lifted up mine eyes unto heaven, and mine understanding returned unto me, and I blessed the most High, and I praised and honoured him that liveth for ever, whose dominion is an everlasting dominion, and his kingdom is from generation to generation: And all the inhabitants of the earth are reputed as nothing: and he doeth according to his will in the army of heaven, and among the inhabitants of the earth: and none can stay his hand, or say unto him, What doest thou? At the same time my reason returned unto me; and for the glory of my kingdom, mine honour and brightness returned unto me; and my counsellors and my lords sought unto me; and I was established in my kingdom, and excellent majesty was added unto me. Now I Nebuchadnezzar praise and extol and honour the King of heaven, all whose works are truth, and his ways judgment: and those that walk in pride he is able to abase. Daniel 4:34–37.

Đến cuối những ngày ấy, ta, Nebuchadnezzar, ngước mắt lên trời, và trí khôn lại trở về với ta; ta chúc tụng Đấng Tối Cao, ta ngợi khen và tôn vinh Đấng hằng sống đời đời, quyền cai trị của Ngài là quyền cai trị đời đời, và vương quốc của Ngài từ thế hệ này đến thế hệ kia. Hết thảy dân cư trên đất đều bị coi như hư không; Ngài làm theo ý muốn Ngài giữa đạo binh trên trời và giữa dân cư trên đất; chẳng ai có thể ngăn tay Ngài, cũng chẳng ai dám nói với Ngài rằng: Ngài làm gì vậy? Cùng lúc ấy, lý trí ta trở lại với ta; vì vinh quang vương quốc ta, danh dự và vẻ rạng rỡ của ta cũng trở lại; các mưu sĩ và các quan lớn tìm đến ta; ta được vững lập trong vương quốc ta, và sự oai nghi tuyệt hảo được thêm cho ta. Nay, ta, Nebuchadnezzar, ca ngợi, tôn cao và tôn vinh Vua trên trời; mọi công việc của Ngài đều là chân thật, các đường lối của Ngài đều là công bình; và kẻ nào bước đi trong kiêu ngạo, Ngài có thể hạ xuống. Đa-ni-ên 4:34-37.

The expression “end of the days” represents the time of the end in 1798. Nebuchadnezzar was then established in his kingdom, which was no longer the history of the beasts of paganism and papalism. At that point, Nebuchadnezzar represented a fully converted man, and in so doing represented the earth beast of Bible prophecy that began to reign in 1798, and it began as a lamb, though it was destined to eventually speak as a dragon. He represents the earth beast that would reign for seventy symbolic years in fulfillment of Isaiah twenty-three, just as his literal kingdom reigned for seventy literal years. The symbolism is “air tight.”

Cụm từ "end of the days" biểu thị thời kỳ cuối cùng vào năm 1798. Khi ấy Nebuchadnezzar đã được lập vững trong vương quốc của mình, và vương quốc ấy không còn thuộc về lịch sử của các con thú của ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng nữa. Ở thời điểm đó, Nebuchadnezzar tượng trưng cho một người đã được hoán cải hoàn toàn, và qua đó tượng trưng cho con thú từ đất trong lời tiên tri Kinh Thánh, con thú bắt đầu trị vì vào năm 1798; nó khởi đầu như một con chiên, dù rồi sẽ nói như một con rồng. Ông đại diện cho con thú từ đất sẽ trị vì bảy mươi năm mang tính biểu tượng để ứng nghiệm Ê-sai đoạn hai mươi ba, cũng như vương quốc theo nghĩa đen của ông đã trị vì bảy mươi năm theo nghĩa đen. Tính biểu tượng này "kín kẽ tuyệt đối."

Nebuchadnezzar represents a prophetic link between the three powers represented in Revelation chapters twelve and thirteen. There they are identified as the dragon, the sea beast and the earth beast. In Revelation sixteen they are identified as the three powers that lead the world to Armageddon. Nebuchadnezzar’s “seven times,” ties together all three of those beasts, for literal Babylon illustrates spiritual Babylon, and the same line of prophecy that is located in the book of Daniel is taken up in the book of Revelation, for the two books bring each other to perfection.

Nê-bu-cát-nết-sa đóng vai trò như một mối liên kết tiên tri giữa ba quyền lực được trình bày trong Khải Huyền chương mười hai và mười ba. Ở đó chúng được nhận diện là con rồng, con thú từ biển và con thú từ đất. Trong Khải Huyền mười sáu, chúng được nhận diện là ba quyền lực dẫn dắt thế giới đến A-ma-ghê-đôn. “Bảy thì” của Nê-bu-cát-nết-sa liên kết cả ba con thú ấy lại với nhau, vì Ba-by-lôn theo nghĩa đen minh họa cho Ba-by-lôn thuộc linh, và cùng một dòng tiên tri có trong sách Đa-ni-ên được tiếp tục trong sách Khải Huyền, vì hai sách ấy bổ túc, làm trọn lẫn nhau.

Nebuchadnezzar represents 1798 as a prophetic link between the dragon, the beast and the false prophet. 1798 was “the time of the end” for the message of the first angel and the Millerite history. William Miller was led to place all of his prophetic structure upon his recognition of the dragon of paganism and the beast of Catholicism, but he did not see the United States as the earth beast and false prophet. He could see the history prior to “the time of the end” in 1798, but the future was yet future. At “the time of the end” in 1989, all three powers would then be recognized.

Nê-bu-cát-nết-sa trình bày năm 1798 như một mắt xích tiên tri giữa con rồng, con thú và tiên tri giả. Năm 1798 là “thì kỳ cuối cùng” đối với sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và lịch sử phong trào Millerite. William Miller đã được dẫn dắt để đặt toàn bộ cấu trúc tiên tri của mình trên sự nhận biết về con rồng của ngoại giáo và con thú của Công giáo La Mã, nhưng ông không nhìn thấy Hoa Kỳ như con thú từ đất và tiên tri giả. Ông có thể thấy lịch sử trước “thì kỳ cuối cùng” vào năm 1798, nhưng tương lai thì vẫn còn ở phía trước. Đến “thì kỳ cuối cùng” vào năm 1989, khi ấy cả ba quyền lực sẽ được nhận diện.

The unsealing of the prophetic recognition of the dragon and beast in 1798, is represented by the Ulai River of chapters seven, eight and nine. The unsealing of the prophetic recognition of the dragon, beast and false prophet in 1989, is represented by the Hiddekel River of chapters ten, eleven and twelve. Nebuchadnezzar represents the movement of the first angel that arrived in 1798, and he typifies Belshazzar who represents the movement of the third angel that arrived in 1989. For this reason, Nebuchadnezzar’s second dream, in chapter four, represents the message of the first angel.

Việc mở ấn sự nhận diện tiên tri về con rồng và con thú vào năm 1798 được tượng trưng bởi sông Ulai trong các chương bảy, tám và chín. Việc mở ấn sự nhận diện tiên tri về con rồng, con thú và tiên tri giả vào năm 1989 được tượng trưng bởi sông Hiddekel trong các chương mười, mười một và mười hai. Nebuchadnezzar đại diện cho phong trào của thiên sứ thứ nhất xuất hiện năm 1798, và ông là hình bóng của Belshazzar, người đại diện cho phong trào của thiên sứ thứ ba xuất hiện năm 1989. Vì vậy, giấc mơ thứ hai của Nebuchadnezzar, ở chương bốn, đại diện cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất.

Nebuchadnezzar’s “seven times” concluded at “the time of the end” in 1798, with the arrival of the warning message of judgment to come. At the “end of the days,” he is a converted man, thus representing the Republican horn of the earth beast, when it was lamblike. He simultaneously represents the Philadelphian Protestant horn of the earth beast.

"Bảy thời kỳ" của Nê-bu-cát-nết-sa kết thúc vào "thời kỳ cuối cùng" năm 1798, khi thông điệp cảnh báo về sự phán xét sắp đến xuất hiện. Vào "cuối những ngày," ông là một người đã được cải đạo, qua đó đại diện cho sừng Cộng hòa của con thú từ đất khi nó còn giống như chiên con. Đồng thời, ông cũng đại diện cho sừng Tin Lành thời Phi-la-đen-phi của con thú từ đất.

As the first king of Babylon, he typifies Belshazzar the last king of Babylon. His judgment was typified by the judgment of Nimrod, and in turn typified the judgment of Belshazzar. His judgment represented the opening of the investigative judgment on October 22, 1844.

Là vị vua đầu tiên của Ba-by-lôn, ông là hình bóng cho Bên-xát-sa, vị vua cuối cùng của Ba-by-lôn. Sự phán xét của ông được báo trước bởi sự phán xét của Nim-rốt, và đến lượt mình lại làm hình bóng cho sự phán xét của Bên-xát-sa. Sự phán xét của ông tượng trưng cho việc khai mở cuộc phán xét điều tra vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.

Nebuchadnezzar the king, unto all people, nations, and languages, that dwell in all the earth; Peace be multiplied unto you. I thought it good to show the signs and wonders that the high God hath wrought toward me. How great are his signs! and how mighty are his wonders! his kingdom is an everlasting kingdom, and his dominion is from generation to generation. I Nebuchadnezzar was at rest in mine house, and flourishing in my palace: I saw a dream which made me afraid, and the thoughts upon my bed and the visions of my head troubled me. Daniel 4:1–5.

Vua Nê-bu-cát-nết-xa gửi đến mọi dân, mọi nước và mọi thứ tiếng cư ngụ trên khắp mặt đất: Nguyện bình an được thêm bội phần cho các ngươi. Ta thấy là điều tốt để tỏ ra các dấu lạ và phép mầu mà Đức Chúa Trời Chí Cao đã làm cho ta. Các dấu lạ của Ngài lớn biết bao! Phép mầu của Ngài quyền năng dường nào! Nước của Ngài là nước đời đời, và quyền cai trị của Ngài từ đời này sang đời khác. Ta, Nê-bu-cát-nết-xa, đang yên ổn trong nhà ta và thịnh vượng trong cung điện ta; ta thấy một chiêm bao khiến ta sợ hãi, và những tư tưởng trên giường ta cùng các khải tượng trong đầu ta làm ta bối rối. Đa-ni-ên 4:1-5.

The dream made Nebuchadnezzar afraid, and the symbolism of the dream represents the everlasting gospel of the first angel, which commands men to “fear God.”

Giấc mơ khiến Nebuchadnezzar sợ hãi, và ý nghĩa biểu tượng của giấc mơ ấy chỉ về Tin Lành đời đời của thiên sứ thứ nhất, với lời truyền cho mọi người 'hãy kính sợ Đức Chúa Trời'.

And I saw another angel fly in the midst of heaven, having the everlasting gospel to preach unto them that dwell on the earth, and to every nation, and kindred, and tongue, and people, Saying with a loud voice, Fear God, and give glory to him; for the hour of his judgment is come: and worship him that made heaven, and earth, and the sea, and the fountains of waters. Revelation 14:6, 7.

Và tôi thấy một thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời để rao giảng cho những người ở trên đất, cho mọi dân tộc, mọi chi phái, mọi tiếng và mọi dân, nói lớn tiếng rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng đã dựng nên trời, đất, biển và các nguồn nước. Khải Huyền 14:6, 7.

The everlasting gospel is a three-step message, the first step, as represented in the first angel, is to fear God, the second step is to give him glory and the third is represented by the hour of his judgment. “Glory” represents character, and the second “go to” in the story of Nimrod’s rebellion is where the character of the city and the tower was investigated. It was an investigative judgment. The combination of church and state is the image of the beast, and Nimrod’s second step was in manifesting the image of the beast, but the second step of the everlasting gospel produces a glorification of God’s character, not Nimrod’s.

Phúc âm đời đời là một sứ điệp ba bước: bước thứ nhất, như được thể hiện trong thiên sứ thứ nhất, là kính sợ Đức Chúa Trời; bước thứ hai là tôn vinh Ngài; và bước thứ ba được biểu thị bởi giờ phán xét của Ngài. “Vinh hiển” tượng trưng cho bản tánh, và “hãy nào” thứ hai trong câu chuyện về cuộc nổi loạn của Nim-rốt là nơi bản chất của thành và tháp được tra xét. Đó là một cuộc phán xét điều tra. Sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước là ảnh tượng con thú, và bước thứ hai của Nim-rốt là bộc lộ ảnh tượng con thú; nhưng bước thứ hai của phúc âm đời đời tạo nên sự tôn vinh bản tánh của Đức Chúa Trời, chứ không phải của Nim-rốt.

Nebuchadnezzar’s fear is a symbol of the first test, just as was Daniel’s choice to not eat Babylon’s diet, for Daniel feared God. The first angel arrived in history in 1798, and was thereafter empowered on August 11, 1840. Nebuchadnezzar’s dream locates the arrival of the first message at the time of the end in 1798.

Nỗi sợ hãi của Nê-bu-cát-nết-sa là biểu tượng cho kỳ thử thách thứ nhất, giống như việc Đa-ni-ên chọn không ăn thức ăn của Ba-by-lôn, vì Đa-ni-ên kính sợ Đức Chúa Trời. Thiên sứ thứ nhất xuất hiện trong lịch sử vào năm 1798, và sau đó được trao thêm quyền năng vào ngày 11 tháng 8 năm 1840. Giấc mộng của Nê-bu-cát-nết-sa xác định thời điểm sứ điệp thứ nhất đến là vào thời kỳ tận cùng, năm 1798.

I saw a dream which made me afraid, and the thoughts upon my bed and the visions of my head troubled me. Therefore made I a decree to bring in all the wise men of Babylon before me, that they might make known unto me the interpretation of the dream. Then came in the magicians, the astrologers, the Chaldeans, and the soothsayers: and I told the dream before them; but they did not make known unto me the interpretation thereof. But at the last Daniel came in before me, whose name was Belteshazzar, according to the name of my god, and in whom is the spirit of the holy gods: and before him I told the dream, saying, O Belteshazzar, master of the magicians, because I know that the spirit of the holy gods is in thee, and no secret troubleth thee, tell me the visions of my dream that I have seen, and the interpretation thereof. Daniel 4:5–9.

Ta đã thấy một giấc mộng khiến ta sợ hãi, và những tư tưởng khi ta nằm trên giường cùng các khải tượng trong đầu ta làm ta bối rối. Vì vậy ta ban sắc lệnh triệu tập tất cả những người khôn ngoan của Ba-by-lôn đến trước mặt ta, để họ cho ta biết sự giải nghĩa của giấc mộng. Bấy giờ các thuật sĩ, các chiêm tinh gia, người Canh-đê và các thầy bói vào; ta thuật giấc mộng trước mặt họ, nhưng họ không thể cho ta biết sự giải nghĩa của nó. Nhưng cuối cùng Daniel vào trước mặt ta, tên người là Belteshazzar, theo tên của thần ta, và trong người có linh của các thần thánh; trước mặt người ta thuật giấc mộng mà rằng: Hỡi Belteshazzar, trưởng của các thuật sĩ, vì ta biết nơi ngươi có linh của các thần thánh, và chẳng có điều kín nhiệm nào làm ngươi bối rối, hãy cho ta biết những khải tượng của giấc mộng mà ta đã thấy, và sự giải nghĩa của nó. Daniel 4:5-9.

The arrival of the first message at the time of the end in 1798, that is represented by Nebuchadnezzar’s fear, marks the point when the book of Daniel was to be unsealed.

Sự xuất hiện của thông điệp thứ nhất vào thời kỳ cuối cùng năm 1798, vốn được biểu trưng bởi nỗi sợ của Nê-bu-cát-nết-sa, đánh dấu thời điểm sách Đa-ni-ên được mở ấn.

But thou, O Daniel, shut up the words, and seal the book, even to the time of the end: many shall run to and fro, and knowledge shall be increased. … And he said, Go thy way, Daniel: for the words are closed up and sealed till the time of the end. Many shall be purified, and made white, and tried; but the wicked shall do wickedly: and none of the wicked shall understand; but the wise shall understand. Daniel 12:4, 9, 10.

Nhưng ngươi, hỡi Đa-ni-ên, hãy đóng kín những lời này và niêm phong quyển sách cho đến kỳ cuối cùng; nhiều người sẽ qua lại đây đó, và sự hiểu biết sẽ gia tăng. ... Và Ngài nói: Hỡi Đa-ni-ên, hãy đi đường mình; vì những lời ấy đã được đóng kín và niêm phong cho đến kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ được tinh luyện, được làm nên trắng, và được thử luyện; nhưng kẻ ác sẽ cứ làm điều ác; không ai trong kẻ ác sẽ hiểu; còn người khôn ngoan sẽ hiểu. Đa-ni-ên 12:4, 9, 10.

When the book of Daniel was unsealed at “the time of the end”, men were called to come and investigate the increase of knowledge, and that call eventually produced two classes of worshippers. One class could not understand and the other class could. The wise men of Babylon, represented as “the magicians, the astrologers, the Chaldeans, and the soothsayers” could not understand, but Daniel understood. The Babylonian “wise men” could not understand, and therefore represent the wicked. Daniel represented the wise.

Khi sách Đa-ni-ên được mở ấn vào “thời kỳ cuối cùng”, người ta được kêu gọi đến và tra xét sự gia tăng tri thức, và lời kêu gọi đó rốt cuộc đã tạo ra hai hạng người thờ phượng. Một hạng thì không thể hiểu, còn hạng kia thì hiểu được. Các nhà thông thái của Ba-by-lôn, được mô tả là “các pháp sư, các chiêm tinh gia, người Canh-đê và các thầy bói”, đã không hiểu, nhưng Đa-ni-ên thì hiểu. Những “nhà khôn ngoan” của Ba-by-lôn đã không hiểu, nên họ tượng trưng cho kẻ ác. Đa-ni-ên tượng trưng cho những người khôn ngoan.

We will continue Daniel chapter four in the next article.

Chúng ta sẽ tiếp tục chương bốn của Daniel trong bài viết tiếp theo.

“Those who are unfaithful to the work of God are lacking in principle; their motives are not of a character to lead them to choose the right under all circumstances. The servants of God are to feel at all times that they are under the eye of their employer. He who watched the sacrilegious feast of Belshazzar is present in all our institutions, in the counting-room of the merchant, in the private workshop; and the bloodless hand is as surely recording your neglect as it recorded the awful judgment of the blasphemous king. Belshazzar’s condemnation was written in words of fire, ‘Thou art weighed in the balances, and art found wanting’; and if you fail to fulfill your God-given obligations your condemnation will be the same.” Messages to Young People, 229.

Những ai không trung tín với công việc của Đức Chúa Trời thì thiếu nguyên tắc đạo đức; động cơ của họ không có bản chất khiến họ chọn điều đúng trong mọi hoàn cảnh. Các tôi tớ của Đức Chúa Trời phải luôn cảm biết rằng họ ở dưới con mắt của Chủ mình. Đấng đã chứng kiến bữa tiệc phạm thánh của Bên-xát-sa hiện diện trong mọi cơ sở của chúng ta, trong phòng kế toán của thương gia, trong xưởng tư nhân; và bàn tay không huyết nhục ấy cũng chắc chắn đang ghi lại sự lơ là của bạn như nó đã ghi lại bản án kinh khiếp dành cho vị vua phạm thượng. Bản án kết tội Bên-xát-sa đã được viết bằng những chữ lửa: “Ngươi đã bị cân trên bàn cân và thấy thiếu”; và nếu bạn không chu toàn những nghĩa vụ Đức Chúa Trời giao phó, thì sự kết án của bạn cũng sẽ như vậy. Sứ điệp gửi thanh niên, 229.