Belshazzar’s feast identifies the “hour” of the Sunday law, but it places the emphasis upon the judgment of the Republican horn. Nebuchadnezzar’s golden image in Daniel chapter three, places the same history, in the context of God’s faithful people who are then lifted up as an ensign. Daniel chapter six, addresses the same line, but addresses the role of the Protestant horn. Belshazzar is representing the “state,” and he called one thousand of his “lords.”

Bữa tiệc của Bên-xát-sa xác định “giờ” của đạo luật ngày Chủ nhật, nhưng đặt trọng tâm vào sự phán xét đối với sừng Cộng hòa. Hình tượng vàng của Nê-bu-cát-nết-sa trong Đa-ni-ên chương ba trình bày cùng lịch sử ấy trong bối cảnh dân trung tín của Đức Chúa Trời, là những người sau đó được giương lên như một tiêu kỳ. Đa-ni-ên chương sáu cũng đề cập đến cùng mạch ấy, nhưng nêu vai trò của sừng Tin Lành. Bên-xát-sa đại diện cho “nhà nước”, và ông đã triệu tập một nghìn “đại thần” của mình.

Belshazzar the king made a great feast to a thousand of his lords, and drank wine before the thousand. Belshazzar, whiles he tasted the wine, commanded to bring the golden and silver vessels which his father Nebuchadnezzar had taken out of the temple which was in Jerusalem; that the king, and his princes, his wives, and his concubines, might drink therein. Then they brought the golden vessels that were taken out of the temple of the house of God which was at Jerusalem; and the king, and his princes, his wives, and his concubines, drank in them. They drank wine, and praised the gods of gold, and of silver, of brass, of iron, of wood, and of stone. In the same hour came forth fingers of a man’s hand, and wrote over against the candlestick upon the plaster of the wall of the king’s palace: and the king saw the part of the hand that wrote. Daniel 5:1–5.

Vua Bên-xát-sa mở một yến tiệc lớn cho một nghìn đại thần của mình và uống rượu trước mặt họ. Bên-xát-sa, đang khi nếm rượu, truyền đem những chén vàng và bạc mà cha là Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy từ đền thờ ở Giê-ru-sa-lem, để vua, các vương hầu, các vợ và các cung phi uống bằng những chén ấy. Bấy giờ người ta đem những chén vàng đã lấy từ đền thờ của Đức Chúa Trời ở Giê-ru-sa-lem; rồi vua, các vương hầu, các vợ và các cung phi uống bằng các chén ấy. Họ uống rượu và ca ngợi các thần bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ và đá. Chính giờ ấy, những ngón tay của một bàn tay người hiện ra và viết đối diện chân đèn trên lớp vữa của tường trong cung điện vua; và vua thấy phần bàn tay ấy đang viết. Đa-ni-ên 5:1-5.

The number “ten” represents the dragon, and one hundred, and one thousand is simply a magnification of the same symbol. In chapter six, one hundred and twenty push the deceitful law, and one hundred and twenty is a symbol for priests. Considering “line upon line,” Belshazzar’s feast is illustrating the judgment upon a corrupted statecraft, and judgment of a corrupted churchcraft. Belshazzar was drunk with the Babylonian wine, and then determined to desecrate the sacred vessels of God’s temple in Jerusalem.

Số “mười” tượng trưng cho con rồng, còn một trăm và một nghìn chỉ là sự phóng đại của cùng một biểu tượng. Trong chương sáu, một trăm hai mươi thúc đẩy luật dối trá, và một trăm hai mươi là biểu tượng cho giới tư tế. Xét theo “dòng nọ dòng kia,” yến tiệc của Belshazzar minh họa sự phán xét giáng trên nền trị quốc băng hoại, và sự phán xét đối với nền giáo quyền băng hoại. Belshazzar say sưa với rượu Babylon, rồi quyết định phạm thánh các bình thánh của đền thờ Đức Chúa Trời tại Jerusalem.

“The prophet says, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory. And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils’ (Revelation 18:1, 2). This is the same message that was given by the second angel. Babylon is fallen, ‘because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication’ (Revelation 14:8). What is that wine?—Her false doctrines. She has given to the world a false sabbath instead of the Sabbath of the fourth commandment, and has repeated the falsehood that Satan first told Eve in Eden—the natural immortality of the soul. Many kindred errors she has spread far and wide, ‘teaching for doctrines the commandments of men’ (Matthew 15:9).” Selected Messages, book 2, 118.

Nhà tiên tri nói: 'Tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và trái đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người ấy. Ngài kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi, và đã trở nên chỗ ở của các ác quỷ' (Khải Huyền 18:1, 2). Đây chính là sứ điệp đã được thiên sứ thứ hai công bố. Ba-by-lôn đã đổ, 'vì nó đã cho muôn dân uống rượu của cơn thịnh nộ vì sự tà dâm của nó' (Khải Huyền 14:8). Rượu ấy là gì?—Chính là các giáo lý giả dối của nó. Nó đã ban cho thế gian một ngày Sa-bát giả thay cho ngày Sa-bát của điều răn thứ tư, và đã lặp lại sự dối trá mà Sa-tan trước hết nói với Ê-va trong Ê-đen—rằng linh hồn có sự bất tử tự nhiên. Nhiều sai lầm cùng loại khác nó đã truyền bá khắp nơi, 'lấy điều răn của loài người làm giáo lý' (Ma-thi-ơ 15:9)." Selected Messages, quyển 2, 118.

The wine Belshazzar was drinking was the papacy’s idol sabbath, for the feast represented the prophetic “hour” of the Sunday law. The sanctuary vessels he brought into the banquet hall represented not only rebellion against God, but sacred vessels also represent God’s people, for the literal represents the spiritual, and people are vessels.

Rượu mà Bên-xát-sa đang uống chính là Sa-bát thờ hình tượng của chế độ giáo hoàng, vì bữa tiệc ấy tượng trưng cho “giờ” tiên tri của luật Chủ nhật. Các khí dụng của đền thánh mà ông mang vào phòng yến tiệc không chỉ biểu trưng cho sự phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời, mà những khí dụng thánh ấy còn tượng trưng cho dân sự của Đức Chúa Trời, vì điều thuộc nghĩa đen đại diện cho điều thuộc linh, và con người là những bình chứa.

Nevertheless the foundation of God standeth sure, having this seal, The Lord knoweth them that are his. And, Let everyone that nameth the name of Christ depart from iniquity. But in a great house there are not only vessels of gold and of silver, but also of wood and of earth; and some to honour, and some to dishonour. If a man therefore purge himself from these, he shall be a vessel unto honour, sanctified, and meet for the master’s use, and prepared unto every good work. 2 Timothy 2:19–21.

Dầu vậy, nền tảng của Đức Chúa Trời vẫn vững chắc, có ấn chứng này: “Chúa biết những ai thuộc về Ngài.” Và: “Ai xưng danh Đấng Christ hãy lìa khỏi gian ác.” Trong một nhà lớn, không chỉ có những đồ dùng bằng vàng và bạc, mà còn có bằng gỗ và bằng đất; cái thì dùng vào việc tôn quý, cái thì dùng vào việc hèn hạ. Vậy nếu ai tự thanh tẩy mình khỏi những điều ấy, người ấy sẽ trở nên một đồ dùng cho việc tôn quý, được thánh hóa, thích hợp cho chủ dùng, và sẵn sàng cho mọi việc lành. 2 Ti-mô-thê 2:19-21.

In the midst of desecrating God’s people through enforced Sunday worship, the fiery handwriting spells out Belshazzar’s doom.

Giữa lúc giày xéo dân của Đức Chúa Trời bằng việc cưỡng bức thờ phượng vào ngày Chủ nhật, dòng chữ rực lửa tuyên án diệt vong cho Bên-xát-sa.

In the same hour came forth fingers of a man’s hand, and wrote over against the candlestick upon the plaster of the wall of the king’s palace: and the king saw the part of the hand that wrote. Then the king’s countenance was changed, and his thoughts troubled him, so that the joints of his loins were loosed, and his knees smote one against another. The king cried aloud to bring in the astrologers, the Chaldeans, and the soothsayers. And the king spake, and said to the wise men of Babylon, Whosoever shall read this writing, and show me the interpretation thereof, shall be clothed with scarlet, and have a chain of gold about his neck, and shall be the third ruler in the kingdom. Daniel 5:5–7.

Ngay trong giờ ấy, các ngón tay của một bàn tay người xuất hiện và viết đối diện chân đèn trên lớp vữa của bức tường trong cung điện vua; và vua thấy phần bàn tay đang viết. Bấy giờ nét mặt vua biến đổi, ý tưởng trong lòng rối bời, đến nỗi các khớp hông rã rời, và đầu gối đập vào nhau. Vua lớn tiếng truyền đem các nhà chiêm tinh, người Canh-đê và các thầy bói vào. Vua nói với các nhà thông thái của Ba-by-lôn: Ai đọc được dòng chữ này và chỉ cho ta sự giải nghĩa của nó sẽ được mặc áo điều, đeo một sợi dây chuyền vàng trên cổ, và sẽ làm người cai trị thứ ba trong vương quốc. Đa-ni-ên 5:5-7.

Historically the passage is understood to be identifying that Belshazzar’s father, had left the political throne to Belshazzar, and for this reason the best his son could offer for an interpretation of the handwriting was a position of being the third ruler. Leading up to the Sunday law in the United States, the political leadership will be in a subservient position to the religious leadership who will be working to introduce a new form of worship. The image of the beast represents the combination of church and state with the church in control of the relationship, and at the Sunday law Belshazzar was the political king, thus symbolizing the state, but he was only the second in command to his father’s religious authority. The best he could offer Daniel was to be third.

Về mặt lịch sử, đoạn này được hiểu là xác định rằng cha của Belshazzar đã nhường ngôi vị chính trị cho Belshazzar, và vì thế điều tốt nhất mà người con có thể trao cho người giải nghĩa dòng chữ là địa vị người cai trị thứ ba. Trong tiến trình dẫn đến luật Chủ nhật tại Hoa Kỳ, giới lãnh đạo chính trị sẽ ở vị thế lệ thuộc vào giới lãnh đạo tôn giáo, những người sẽ nỗ lực đưa vào một hình thức thờ phượng mới. Hình tượng của con thú tượng trưng cho sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, trong đó giáo hội nắm quyền kiểm soát mối quan hệ ấy, và tại thời điểm luật Chủ nhật, Belshazzar là vua về mặt chính trị, qua đó tượng trưng cho nhà nước, nhưng ông chỉ là người thứ hai dưới thẩm quyền tôn giáo của cha mình. Điều tốt nhất ông có thể ban cho Daniel là trở thành người cai trị thứ ba.

“When the early church became corrupted by departing from the simplicity of the gospel and accepting heathen rites and customs, she lost the Spirit and power of God; and in order to control the consciences of the people, she sought the support of the secular power. The result was the papacy, a church that controlled the power of the state and employed it to further her own ends, especially for the punishment of ‘heresy.’ In order for the United States to form an image of the beast, the religious power must so control the civil government that the authority of the state will also be employed by the church to accomplish her own ends. . . .

Khi giáo hội sơ khai bị băng hoại do rời bỏ sự đơn sơ của Phúc Âm và chấp nhận các nghi lễ và tập tục ngoại giáo, giáo hội đã đánh mất Thánh Linh và quyền năng của Đức Chúa Trời; và để kiểm soát lương tâm của dân chúng, giáo hội tìm kiếm sự hậu thuẫn của quyền lực thế tục. Kết quả là chế độ giáo hoàng, một giáo hội kiểm soát quyền lực của nhà nước và sử dụng nó để phục vụ các mục đích riêng của mình, đặc biệt là để trừng phạt 'dị giáo.' Để Hoa Kỳ dựng nên hình tượng của con thú, quyền lực tôn giáo phải kiểm soát chính quyền dân sự đến mức thẩm quyền của nhà nước cũng sẽ được giáo hội sử dụng để thực hiện các mục đích riêng của mình. . . .

“The enforcement of Sundaykeeping on the part of Protestant churches is an enforcement of the worship of the papacy—of the beast. Those who, understanding the claims of the fourth commandment, choose to observe the false instead of the true Sabbath are thereby paying homage to that power by which alone it is commanded. But in the very act of enforcing a religious duty by secular power, the churches would themselves form an image to the beast; hence the enforcement of Sundaykeeping in the United States would be an enforcement of the worship of the beast and his image.” The Great Controversy, 443, 448, 449.

"Việc các giáo hội Tin Lành áp đặt việc giữ ngày Chủ nhật chính là áp đặt sự thờ phượng chế độ giáo hoàng—tức con thú. Những ai, hiểu những yêu sách của điều răn thứ tư, mà chọn giữ Sa-bát giả thay vì Sa-bát chân thật thì qua đó đang bày tỏ sự tôn kính đối với quyền lực duy nhất đã truyền điều đó. Nhưng chính trong hành động dùng quyền lực thế tục để cưỡng bách một bổn phận tôn giáo, các giáo hội sẽ tự mình làm nên một hình tượng cho con thú; vì thế, việc cưỡng bách giữ ngày Chủ nhật tại Hoa Kỳ sẽ là cưỡng bách sự thờ phượng con thú và tượng của nó." Cuộc Đại Tranh Chiến, 443, 448, 449.

It is in a crisis that character is revealed, and the mysterious message on the wall produced a crisis in Belshazzar’s experience and marked the end of his kingdom, thus symbolizing the end of the kingdom of the earth beast. Belshazzar died that very night, representing the Sunday law, when the United States is overthrown as the sixth kingdom of Bible prophecy at the Sunday law, but the United States immediately transitions into the premier king of the ten kings. The ten kings are the seventh kingdom of Bible prophecy, and they immediately agree to give their seventh kingdom to the beast.

Chính trong khủng hoảng mà tính cách được bày tỏ, và thông điệp bí ẩn trên tường đã gây ra một cơn khủng hoảng trong kinh nghiệm của Bên-xát-sa và đánh dấu sự chấm dứt vương quốc của ông, qua đó tượng trưng cho sự kết thúc của vương quốc của con thú từ đất. Bên-xát-sa đã chết ngay đêm đó, tượng trưng cho luật Chủ nhật, khi Hoa Kỳ bị lật đổ với tư cách là vương quốc thứ sáu của lời tiên tri Kinh Thánh tại luật Chủ nhật, nhưng Hoa Kỳ ngay lập tức chuyển thành vị vua đứng đầu trong mười vua. Mười vua là vương quốc thứ bảy trong lời tiên tri Kinh Thánh, và họ lập tức đồng ý trao vương quốc thứ bảy của mình cho con thú.

For God hath put in their hearts to fulfil his will, and to agree, and give their kingdom unto the beast, until the words of God shall be fulfilled. Revelation 17:17.

Vì Đức Chúa Trời đã đặt vào lòng họ ý muốn làm trọn ý Ngài, khiến họ đồng lòng trao nước mình cho con thú, cho đến khi lời Đức Chúa Trời được ứng nghiệm. Khải Huyền 17:17.

The final movements are rapid ones, and the transition from the sixth kingdom to the seventh, and then to the eighth is rapid, for the world is then in a great crisis. The overthrow of the earth beast causes Belshazzar to fear, and as the premier king of the ten kings, he represents the fear that all the kings of the earth will experience at the overthrow of the United States. In Revelation chapter eleven, the “hour” that the handwriting appears upon the wall, is the “hour” of the great earthquake. At that point three symbols of Islam are marked, and it is Islam that causes the kings to fear in the last days.

Những diễn biến cuối cùng diễn ra nhanh chóng, và sự chuyển tiếp từ vương quốc thứ sáu sang thứ bảy, rồi đến thứ tám cũng mau lẹ, vì lúc ấy thế giới đang ở trong một cuộc khủng hoảng lớn. Sự lật đổ con thú từ đất khiến Belshazzar sợ hãi, và với tư cách là vua đứng đầu trong mười vua, ông đại diện cho nỗi sợ hãi mà tất cả các vua trên đất sẽ trải nghiệm khi Hoa Kỳ bị lật đổ. Trong Khải Huyền chương mười một, “giờ” mà chữ viết tay xuất hiện trên tường là “giờ” của trận động đất lớn. Vào thời điểm đó, ba biểu tượng của Hồi giáo được ghi dấu, và chính Hồi giáo khiến các vua sợ hãi trong những ngày cuối cùng.

For, lo, the kings were assembled, they passed by together. They saw it, and so they marvelled; they were troubled, and hasted away. Fear took hold upon them there, and pain, as of a woman in travail. Thou breakest the ships of Tarshish with an east wind. As we have heard, so have we seen in the city of the Lord of hosts, in the city of our God: God will establish it forever. Selah. Psalm 48:4–8.

Vì kìa, các vua đã nhóm lại, cùng nhau đi ngang qua. Vừa thấy điều ấy, họ liền kinh ngạc; họ bối rối và vội vã chạy trốn. Tại đó, sự sợ hãi bắt lấy họ, và cơn đau như đàn bà đang chuyển dạ. Ngài bẻ gãy các tàu của Tarshish bởi gió đông. Như chúng tôi đã nghe, chúng tôi cũng đã thấy trong thành của Chúa các đạo quân, trong thành của Đức Chúa Trời chúng tôi: Đức Chúa Trời sẽ lập nó đến đời đời. Sê-la. Thi Thiên 48:4-8.

The lords, or kings were assembled at Belshazzar’s feast, drinking the wine of Babylon and handling and looking upon the sacred vessels of God’s sanctuary, when fear took hold of them, as represented by Belshazzar’s fear when the handwriting appeared upon the wall. Belshazzar’s fear began an escalating fear that is represented by a woman in travail, and Revelation eleven’s “hour” leads into chapter twelve, where the ensign is represented as a woman about to give birth. The first labor pain is the handwriting on the wall of the banquet hall. The fear is caused by the “east wind” of Islam, that “breakest the ships of Tarshish.”

Các bậc quyền quý, hay các vua, đã tụ họp tại yến tiệc của Bên-xát-sa, uống rượu của Ba-by-lôn và cầm nắm, ngắm nghía các bình thánh của đền thánh Đức Chúa Trời; bấy giờ sợ hãi chiếm lấy họ, như được thể hiện qua nỗi sợ của Bên-xát-sa khi chữ viết hiện ra trên tường. Nỗi sợ của Bên-xát-sa khởi đầu một nỗi sợ leo thang, được tượng trưng bằng hình ảnh một người nữ đang chuyển dạ, và “giờ” trong Khải Huyền chương mười một dẫn sang chương mười hai, nơi điềm ấy được thể hiện như một người nữ sắp sinh. Cơn đau chuyển dạ đầu tiên chính là chữ viết trên tường của đại sảnh yến tiệc. Nỗi sợ ấy do “gió đông” của Hồi giáo gây ra, thứ “bẻ gãy các tàu của Ta-rê-si.”

In Belshazzar’s banquet hall, “one thousand lords” are consuming the wine of Babylon, which represents Sunday enforcement. At that time, Nebuchadnezzar’s orchestra begins to play the music, as Belshazzar has the ornaments of the sanctuary brought in. The whore of Tyre begins to sing, and apostate Israel begins to dance around Nebuchadnezzar’s golden idol. But the party is crashed by the “east wind,” which is the “third woe” that comes quickly, and is the “seventh trumpet.” When Islam crashes the party, the “nations are angered.” They are angered, for the ships of Tarshish, the symbol of the economic structure of planet earth is then sank in the midst of the sea.

Trong đại sảnh yến tiệc của Belshazzar, “một nghìn vị quý tộc” đang uống rượu của Babylon, thứ tượng trưng cho việc cưỡng chế ngày Chủ nhật. Vào lúc đó, dàn nhạc của Nebuchadnezzar bắt đầu tấu nhạc, khi Belshazzar cho mang các đồ thánh của đền thánh vào. Kỹ nữ của Tyre bắt đầu cất tiếng hát, và Israel bội đạo bắt đầu nhảy múa quanh tượng thần bằng vàng của Nebuchadnezzar. Nhưng bữa tiệc bị “gió đông” ập vào phá đám, đó là “tai họa thứ ba” đến một cách nhanh chóng, và là “tiếng kèn thứ bảy”. Khi Hồi giáo phá đám bữa tiệc, thì “các dân tộc nổi giận”. Họ nổi giận, vì các con tàu của Tarshish, biểu tượng của cấu trúc kinh tế của trái đất, bị đánh chìm giữa biển.

Tarshish was thy merchant by reason of the multitude of all kind of riches; with silver, iron, tin, and lead, they traded in thy fairs. Javan, Tubal, and Meshech, they were thy merchants: they traded the persons of men and vessels of brass in thy market. They of the house of Togarmah traded in thy fairs with horses and horsemen and mules. The men of Dedan were thy merchants; many isles were the merchandise of thine hand: they brought thee for a present horns of ivory and ebony. Syria was thy merchant by reason of the multitude of the wares of thy making: they occupied in thy fairs with emeralds, purple, and broidered work, and fine linen, and coral, and agate. Judah, and the land of Israel, they were thy merchants: they traded in thy market wheat of Minnith, and Pannag, and honey, and oil, and balm. Damascus was thy merchant in the multitude of the wares of thy making, for the multitude of all riches; in the wine of Helbon, and white wool. Dan also and Javan going to and fro occupied in thy fairs: bright iron, cassia, and calamus, were in thy market. Dedan was thy merchant in precious clothes for chariots. Arabia, and all the princes of Kedar, they occupied with thee in lambs, and rams, and goats: in these were they thy merchants. The merchants of Sheba and Raamah, they were thy merchants: they occupied in thy fairs with chief of all spices, and with all precious stones, and gold. Haran, and Canneh, and Eden, the merchants of Sheba, Asshur, and Chilmad, were thy merchants. These were thy merchants in all sorts of things, in blue clothes, and broidered work, and in chests of rich apparel, bound with cords, and made of cedar, among thy merchandise. The ships of Tarshish did sing of thee in thy market: and thou wast replenished, and made very glorious in the midst of the seas. Thy rowers have brought thee into great waters: the east wind hath broken thee in the midst of the seas. Thy riches, and thy fairs, thy merchandise, thy mariners, and thy pilots, thy calkers, and the occupiers of thy merchandise, and all thy men of war, that are in thee, and in all thy company which is in the midst of thee, shall fall into the midst of the seas in the day of thy ruin. Ezekiel 27:12–26.

Tarshish là thương nhân của ngươi vì sự phong phú của mọi thứ của cải; bằng bạc, sắt, thiếc và chì, họ buôn bán trong các hội chợ của ngươi. Javan, Tubal và Meshech, họ là các thương nhân của ngươi: họ buôn bán người và các đồ bằng đồng trong chợ của ngươi. Những người thuộc nhà Togarmah buôn bán trong các hội chợ của ngươi với ngựa, kỵ sĩ và la. Người Dedan là thương nhân của ngươi; nhiều hòn đảo là chỗ buôn bán của tay ngươi: họ mang đến cho ngươi làm quà những sừng bằng ngà và gỗ mun. Syria là thương nhân của ngươi vì sự phong phú của các sản phẩm do ngươi làm: họ buôn bán trong các hội chợ của ngươi với ngọc lục bảo, điều tía, đồ thêu, vải gai mịn, san hô và mã não. Judah và xứ Israel, họ là các thương nhân của ngươi: họ buôn bán trong chợ của ngươi lúa mì của Minnith, và Pannag, cùng mật ong, dầu và nhựa thơm. Damascus là thương nhân của ngươi vì sự phong phú của các sản phẩm do ngươi làm, vì sự phong phú của mọi của cải; với rượu Helbon và len trắng. Dan cũng vậy và Javan đi đi lại lại buôn bán trong các hội chợ của ngươi: sắt sáng, cassia và calamus có trong chợ của ngươi. Dedan là thương nhân của ngươi về các áo quý dùng cho xe ngựa. Arabia và hết thảy các vương công của Kedar, họ cùng ngươi buôn bán chiên con, cừu đực và dê; về những thứ ấy họ là các thương nhân của ngươi. Các thương nhân của Sheba và Raamah, họ là thương nhân của ngươi: họ buôn bán trong các hội chợ của ngươi với các thứ hương liệu thượng hạng, cùng mọi thứ đá quý và vàng. Haran, và Canneh, và Eden, các thương nhân của Sheba, Asshur và Chilmad, đều là thương nhân của ngươi. Những người này là thương nhân của ngươi về đủ các thứ, về áo màu xanh biếc và đồ thêu, và trong những rương y phục sang trọng, buộc bằng dây và làm bằng gỗ bá hương, ở giữa hàng hóa của ngươi. Các tàu của Tarshish ca tụng ngươi trong chợ của ngươi; và ngươi đã được chất đầy và trở nên rất vinh hiển giữa biển khơi. Những tay chèo của ngươi đã đưa ngươi vào những dòng nước lớn; gió đông đã bẻ gãy ngươi giữa biển khơi. Của cải của ngươi, và các hội chợ của ngươi, hàng hóa của ngươi, các thủy thủ của ngươi và các hoa tiêu của ngươi, những người trét hắc ín của ngươi và những người giao dịch hàng hóa của ngươi, và tất cả những người chiến trận của ngươi ở trong ngươi, cùng toàn thể đoàn của ngươi ở giữa ngươi, sẽ đổ xuống giữa biển vào ngày ngươi bị hủy diệt. Ezekiel 27:12-26.

The “ships of Tarshish” are the symbol of the economic structure of planet earth, and they are sunk in the midst of the sea by the “east wind.” Ezekiel informs us this takes place in the “day of thy ruin,” and the subject of Ezekiel chapter twenty-seven, is the lamentation for Tyrus.

Các "tàu của Tarshish" là biểu tượng của cấu trúc kinh tế của hành tinh Trái Đất, và chúng bị đánh chìm giữa lòng biển bởi "gió đông." Ezekiel cho chúng ta biết điều này diễn ra vào "ngày diệt vong của ngươi," và chủ đề của chương hai mươi bảy sách Ezekiel là bài ai ca cho Tyrus.

The word of the Lord came again unto me, saying, Now, thou son of man, take up a lamentation for Tyrus; And say unto Tyrus, O thou that art situate at the entry of the sea, which art a merchant of the people for many isles, Thus saith the Lord God; O Tyrus, thou hast said, I am of perfect beauty. Ezekiel 27:1–3.

Lời của Chúa lại đến cùng tôi, phán rằng: Bây giờ, hỡi con người, hãy cất lời ai ca cho Ty-rơ; và hãy nói với Ty-rơ: Hỡi ngươi, kẻ ở nơi cửa biển, làm thương nhân cho các dân của nhiều hải đảo, Chúa, là Đức Chúa Trời, phán như vầy: Hỡi Ty-rơ, ngươi đã nói: Ta có vẻ đẹp hoàn hảo. Ê-xê-chi-ên 27:1-3.

The day of the ruin of Tyrus is the subject of the lamentation. The day of the ruin of Tyrus is the Sunday law, for Tyrus is a symbol of the papacy, whose judgment begins in the “hour” that the second voice of Revelation eighteen begins to call people out of Babylon.

Ngày sụp đổ của Ty-rơ là đề tài của lời than khóc. Ngày sụp đổ của Ty-rơ chính là luật ngày Chủ nhật, vì Ty-rơ là biểu tượng của giáo hoàng quyền; sự phán xét của giáo hoàng quyền khởi sự trong "giờ" khi tiếng nói thứ hai của Khải Huyền đoạn mười tám bắt đầu kêu gọi mọi người ra khỏi Ba-by-lôn.

And I heard another voice from heaven, saying, Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. For her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities. Reward her even as she rewarded you, and double unto her double according to her works: in the cup which she hath filled fill to her double. How much she hath glorified herself, and lived deliciously, so much torment and sorrow give her: for she saith in her heart, I sit a queen, and am no widow, and shall see no sorrow. Therefore shall her plagues come in one day, death, and mourning, and famine; and she shall be utterly burned with fire: for strong is the Lord God who judgeth her. And the kings of the earth, who have committed fornication and lived deliciously with her, shall bewail her, and lament for her, when they shall see the smoke of her burning, Standing afar off for the fear of her torment, saying, Alas, alas that great city Babylon, that mighty city! for in one hour is thy judgment come. And the merchants of the earth shall weep and mourn over her; for no man buyeth their merchandise any more. Revelation 18:4–11.

Và tôi nghe một tiếng khác từ trời phán rằng: Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi đừng dự phần vào tội lỗi của nó và đừng nhận lấy những tai họa của nó. Vì tội lỗi của nó đã chất cao đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ sự gian ác của nó. Hãy báo trả nó như nó đã báo trả các ngươi, và theo các việc làm của nó, hãy trả lại cho nó gấp đôi; trong chén mà nó đã rót, hãy rót cho nó gấp đôi. Nó tự tôn vinh mình bao nhiêu và đã sống xa hoa bấy nhiêu, thì hãy cho nó khốn khổ và buồn rầu bấy nhiêu; vì nó nói trong lòng: Ta ngồi như nữ hoàng, ta chẳng phải là góa phụ, và sẽ chẳng thấy buồn rầu. Bởi vậy, trong một ngày, các tai họa của nó sẽ đến: sự chết, than khóc và đói kém; và nó sẽ bị thiêu rụi hoàn toàn bằng lửa, vì Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng xét xử nó, là Đấng quyền năng. Và các vua trên đất, là những kẻ đã phạm tà dâm và sống xa hoa với nó, sẽ than khóc và ai oán cho nó, khi họ thấy khói của lửa thiêu nó, đứng xa xa vì sợ hình phạt của nó, mà nói rằng: Khốn thay, khốn thay, thành lớn Babylon, thành quyền thế! vì chỉ trong một giờ, án phán xét của ngươi đã đến. Và các thương nhân trên đất sẽ khóc lóc và than thở về nó, vì chẳng còn ai mua hàng hóa của họ nữa. Khải Huyền 18:4-11.

The word that is used five times as “hour,” in the book of Daniel, always represents some type of judgment. The type of judgment is determined by the context of the passage where it is employed. In Daniel chapter four, the word “hour” is used first to announce the coming of judgment, whether it was the investigative judgment that began on October 22, 1844, or the executive judgment that begins at the Sunday law. In both cases, the investigative or executive judgments are progressive. The executive judgment of the papacy begins at the Sunday law in the United States. That marks the “hour” that the papacy’s executive judgment begins, and that “hour” is the “hour” of the great earthquake of Revelation eleven, when the two witnesses, represented by Shadrach, Meshach and Abednego are cast into the furnace as the ensign that is lifted up as Ezekiel’s mighty army. That “hour” is when the handwriting appears upon Belshazzar’s wall.

Từ "giờ" được dùng năm lần trong sách Đa-ni-ên, và luôn biểu thị một loại phán xét nào đó. Loại phán xét ấy được quyết định bởi bối cảnh của đoạn văn nơi nó được dùng. Trong Đa-ni-ên đoạn bốn, từ "giờ" trước hết được dùng để báo trước sự phán xét sắp đến, bất kể đó là sự phán xét điều tra bắt đầu vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, hay sự phán xét thi hành bắt đầu tại đạo luật Chủ nhật. Trong cả hai trường hợp, cả sự phán xét điều tra lẫn sự phán xét thi hành đều mang tính tiệm tiến. Sự phán xét thi hành đối với giáo hoàng quyền bắt đầu tại đạo luật Chủ nhật ở Hoa Kỳ. Điều đó đánh dấu "giờ" mà sự phán xét thi hành của giáo hoàng quyền khởi sự, và "giờ" ấy là "giờ" của trận động đất lớn trong Khải Huyền đoạn mười một, khi hai nhân chứng, được đại diện bởi Sadrác, Mêsác và Abêđnêgô, bị quăng vào lò lửa như lá cờ hiệu được giương cao của đạo quân hùng mạnh trong sách Ê-xê-chi-ên. "Giờ" ấy là lúc chữ viết tay xuất hiện trên bức tường của Bên-xát-sa.

The “ships of Tarshish”, which represent the structure of the economic supply-lines of planet earth are sunk in the midst of the seas at that time, and it causes the merchants and kings of the earth to fear as represented by Belshazzar.

Các “tàu của Tarshish”, vốn tượng trưng cho cấu trúc của các tuyến cung ứng kinh tế của Trái Đất, bị đắm giữa biển cả vào thời điểm đó, và điều đó khiến các thương nhân và vua chúa trên đất khiếp sợ, như được thể hiện qua Belshazzar.

In Revelation eleven, the “hour” is when the “third Woe” of Islam comes quickly, and the Seventh Trumpet sounds, and the nations are made angry. All three of those symbols point to Islam as the providential tool the Lord uses to accomplish the slaying of Belshazzar at that very “hour.” Belshazzar was slain by enemies that secretly came into his kingdom through the gates that had been carelessly left open, just as the border wall between Mexico and the United States has been carelessly left open, as the “hour” of the “great earthquake” approaches.

Trong Khải Huyền đoạn mười một, "giờ" ấy là khi "Tai họa thứ ba" của Hồi giáo đến nhanh chóng, Kèn Thứ Bảy vang lên, và các dân tộc nổi giận. Cả ba biểu tượng đó đều cho thấy Hồi giáo là khí cụ theo sự quan phòng mà Chúa dùng để thực hiện việc hạ sát Belshazzar ngay trong "giờ" ấy. Belshazzar đã bị hạ sát bởi những kẻ thù lén lút vào vương quốc của ông qua những cổng thành bị bỏ ngỏ một cách cẩu thả, giống như bức tường biên giới giữa Mexico và Hoa Kỳ đã bị bỏ ngỏ một cách cẩu thả, khi "giờ" của "trận động đất lớn" đang đến gần.

The healing of the deadly wound of the papacy is set forth in the last six verses of Daniel chapter eleven. In those verses three obstacles are identified that are overcome as the papacy’s deadly wound is healed. The King of the North always conquers three obstacles on his way to supreme power, and always in the order of: first his enemy, second his ally, and then finally his victim. The first to be conquered was the King of the South, representing the Soviet Union, the last enemy of Rome, that was swept away in 1989. The second obstacle is the glorious land, which is Rome’s ally who conquered the USSR for Rome, the United States, which is conquered in the “hour” we are now considering. Thereafter the third obstacle, represented as Egypt, represents when the papacy takes control of its victim, the United Nations.

Sự chữa lành vết thương chí tử của giáo quyền Rôma được trình bày trong sáu câu cuối của chương mười một sách Đa-ni-ên. Trong những câu ấy, ba chướng ngại được xác định, và chúng được vượt qua khi vết thương chí tử của giáo quyền Rôma được chữa lành. Vua phương Bắc luôn chinh phục ba chướng ngại trên con đường lên quyền lực tối thượng, và luôn theo trật tự: trước hết là kẻ thù, kế đến là đồng minh, và sau cùng là nạn nhân. Chướng ngại đầu tiên bị khuất phục là Vua phương Nam, tượng trưng cho Liên Xô, kẻ thù cuối cùng của Rôma, đã bị quét sạch vào năm 1989. Chướng ngại thứ hai là “đất vinh hiển”, tức đồng minh của Rôma, kẻ đã chinh phục Liên Xô cho Rôma—Hoa Kỳ—và bị chinh phục trong “giờ” mà chúng ta hiện đang xem xét. Sau đó, chướng ngại thứ ba, được tượng trưng bởi Ai Cập, đánh dấu lúc giáo quyền Rôma nắm quyền kiểm soát nạn nhân của mình, là Liên Hợp Quốc.

In 1989, when the unsealing of those verses occurred, and there was thereafter an increase of knowledge of those verses, it was recognized that pagan Rome, papal Rome and then modern Rome (represented as the King of the North in the last six verses of Daniel chapter eleven), each needed to overcome three geographical obstacles before they were established as a kingdom. For pagan Rome, those three obstacles were represented as three directions.

Năm 1989, khi những câu ấy được mở ấn, và sau đó tri thức về những câu ấy gia tăng, người ta nhận ra rằng La Mã ngoại giáo, La Mã giáo hoàng và rồi La Mã hiện đại (được mô tả là Vua phương Bắc trong sáu câu cuối của chương mười một sách Đa-ni-ên), mỗi bên đều cần vượt qua ba chướng ngại địa lý trước khi được thiết lập thành một vương quốc. Đối với La Mã ngoại giáo, ba chướng ngại ấy được biểu trưng như ba phương hướng.

And out of one of them came forth a little horn, which waxed exceeding great, toward the south, and toward the east, and toward the pleasant land. Daniel 8:9.

Và từ một trong số đó mọc lên một cái sừng nhỏ, sừng ấy trở nên hết sức lớn mạnh, về phía nam, về phía đông, và về miền đất tốt đẹp. Đa-ni-ên 8:9.

For papal Rome they were three horns that needed to be plucked up.

Đối với La Mã giáo hoàng, chúng là ba cái sừng cần phải bị nhổ bật lên.

I considered the horns, and, behold, there came up among them another little horn, before whom there were three of the first horns plucked up by the roots: and, behold, in this horn were eyes like the eyes of man, and a mouth speaking great things. Daniel 7:8.

Tôi nhìn xem các sừng, thì kìa, ở giữa chúng mọc lên một cái sừng nhỏ khác; trước nó, ba trong các sừng đầu tiên bị nhổ bật gốc; và kìa, trên sừng ấy có mắt như mắt người và một cái miệng nói những lời lớn lao. Đa-ni-ên 7:8.

For modern Rome (the king of the north), represented in the last six verses of Daniel eleven, the three obstacles were the king of the south, the glorious land, and Egypt. As with pagan Rome and papal Rome the three obstacles represented geographic obstacles. Modern Rome, represented as the king of the north in the last six verses of Daniel eleven, needed to overcome three “walls”, and with the first wall there was a philosophical “wall” that was removed at the same time a literal wall was removed. In 1989, when the king of the north brought down the Soviet Union (the king of the south), the philosophical “wall” of the “iron curtain” was removed, as the Berlin wall was dismantled.

Đối với La Mã hiện đại (vua phương bắc), được trình bày trong sáu câu cuối của Đa-ni-ên đoạn mười một, ba chướng ngại là vua phương nam, xứ vinh hiển và Ai Cập. Cũng như với La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng, ba chướng ngại này tượng trưng cho các chướng ngại địa lý. La Mã hiện đại, được mô tả là vua phương bắc trong sáu câu cuối của Đa-ni-ên đoạn mười một, cần vượt qua ba “bức tường”; và với bức tường thứ nhất, có một “bức tường” mang tính triết học đã được dỡ bỏ đồng thời với việc một bức tường vật chất được dỡ bỏ. Năm 1989, khi vua phương bắc làm sụp đổ Liên Xô (vua phương nam), “bức tường” triết học của “bức màn sắt” đã được tháo bỏ, đồng thời Bức tường Berlin bị dỡ bỏ.

In the “hour” of Belshazzar’s judgment, when the handwriting is on the wall, and his enemies are secretly entering in through the unguarded gates, the philosophical “wall” of the separation of church and state is removed, while Islam of the third Woe has secretly entered through the unattended “wall” on the southern border of the glorious land.

Trong "giờ" phán xét của Belshazzar, khi chữ viết đã hiện trên tường, và kẻ thù của ông đang lén lút xâm nhập qua những cổng không người canh giữ, bức "tường" triết học của sự tách biệt giữa giáo hội và nhà nước bị dỡ bỏ, trong khi Hồi giáo thuộc "Tai họa thứ ba" đã bí mật xâm nhập qua "bức tường" không ai trông coi ở biên giới phía nam của xứ vinh hiển.

When “Egypt”, representing the United Nations, is conquered, and the philosophical “wall of national sovereignty” is removed, as every nation is forced to accept the one-world government that is directed by the whore of Tyre. At that time, a financial crash will occur that produces the martial law and despotism of the last days. Something may very well happen on a street that is called “Wall Street”.

Khi “Ai Cập”, đại diện cho Liên Hợp Quốc, bị chinh phục, và “bức tường chủ quyền quốc gia” mang tính triết học bị dỡ bỏ, khi mọi quốc gia bị buộc phải chấp nhận chính phủ một thế giới do gái điếm của Tyre chi phối. Vào lúc đó, sẽ xảy ra một cú sụp đổ tài chính tạo ra thiết quân luật và chế độ chuyên chế của những ngày cuối cùng. Một điều gì đó rất có thể sẽ xảy ra trên con phố gọi là “Phố Wall”.

“The very means that is now so sparingly invested in the cause of God, and that is selfishly retained, will, in a little while, be cast with all idols to the moles and to the bats. Money will soon depreciate in value very suddenly when the reality of eternal scenes opens to the senses of man.” Welfare Ministry, 266.

"Chính của cải hiện nay được đầu tư quá dè sẻn cho sự nghiệp của Đức Chúa Trời và bị giữ lại một cách ích kỷ sẽ chẳng bao lâu nữa bị quăng, cùng với mọi thần tượng, cho chuột chũi và dơi. Tiền bạc sẽ sớm mất giá trị một cách rất đột ngột khi thực tại của những cảnh tượng đời đời mở ra trước cảm quan của con người." Welfare Ministry, 266.

We continue our study of Belshazzar in the next article.

Chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu về Belshazzar trong bài viết tiếp theo.

“Today, as in the days of Elijah, the line of demarcation between God’s commandment-keeping people and the worshipers of false gods is clearly drawn. ‘How long halt ye between two opinions?’ Elijah cried; ‘if the Lord be God, follow Him: but if Baal, then follow him.’ 1 Kings 18:21. And the message for today is: ‘Babylon the great is fallen, is fallen…. Come out of her, My people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. For her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities.’ Revelation 18:2, 4, 5.

Hôm nay, cũng như trong những ngày của Ê-li, ranh giới phân định giữa dân vâng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và những kẻ thờ lạy tà thần đã được vạch ra cách rõ ràng. “Các ngươi còn do dự giữa hai ý kiến đến bao giờ?” Ê-li kêu lên; “nếu Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, hãy theo Ngài; còn nếu Ba-anh, thì hãy theo nó.” 1 Các Vua 18:21. Và sứ điệp cho ngày nay là: “Ba-by-lôn lớn đã đổ, đã đổ... Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi không dự phần vào tội lỗi nó và không nhận lấy các tai vạ của nó. Vì tội lỗi nó đã chất đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến các gian ác của nó.” Khải Huyền 18:2, 4, 5.

“The time is not far distant when the test will come to every soul. The observance of the false sabbath will be urged upon us. The contest will be between the commandments of God and the commandments of men. Those who have yielded step by step to worldly demands and conformed to worldly customs will then yield to the powers that be, rather than subject themselves to derision, insult, threatened imprisonment, and death. At that time the gold will be separated from the dross. True godliness will be clearly distinguished from the appearance and tinsel of it. Many a star that we have admired for its brilliance will then go out in darkness. Those who have assumed the ornaments of the sanctuary, but are not clothed with Christ’s righteousness, will then appear in the shame of their own nakedness.” Prophets and Kings, 187, 188.

"Thời điểm không còn xa khi sự thử thách sẽ đến với mọi linh hồn. Việc tuân giữ ngày Sa-bát giả dối sẽ bị áp đặt lên chúng ta. Cuộc xung đột sẽ là giữa các điều răn của Đức Chúa Trời và các điều răn của loài người. Những ai đã nhượng bộ từng bước trước các đòi hỏi của thế gian và chiều theo các phong tục thế gian sẽ rồi nhượng bộ các thế lực đương quyền, hơn là tự đặt mình dưới sự chế giễu, sỉ nhục, đe dọa bị bỏ tù, và cái chết. Lúc bấy giờ vàng sẽ được tách khỏi tạp chất. Sự tin kính chân thật sẽ được phân biệt rõ ràng khỏi vẻ bề ngoài và sự hào nhoáng giả tạo của nó. Biết bao ngôi sao mà chúng ta từng ngưỡng mộ vì vẻ rực rỡ của chúng sẽ bấy giờ tắt lịm trong bóng tối. Những kẻ khoác lên mình các trang sức của đền thánh, nhưng không mặc lấy sự công bình của Đấng Christ, sẽ bấy giờ hiện ra trong nỗi hổ thẹn vì sự trần truồng của chính mình." Các Tiên tri và Các Vua, 187, 188.