At the “time of the end,” in 1798, the book of Daniel, and more specifically the vision represented by the Ulai River was unsealed. The vision announced the starting of the investigative judgment on October 22, 1844. The verse that became the foundation for that truth is Daniel chapter eight, and verse fourteen. William Miller, the messenger chosen to recognize the unsealing of the message, never fully understood all the truths associated with the vision, but he did fulfill the work which was given to him.
Vào “thời kỳ cuối cùng”, tức năm 1798, sách Đa-ni-ên, và cụ thể hơn là khải tượng về sông Ulai, đã được mở ấn. Khải tượng ấy công bố sự khởi đầu của cuộc phán xét điều tra vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Câu Kinh Thánh trở thành nền tảng cho lẽ thật ấy là Đa-ni-ên chương tám, câu mười bốn. William Miller, sứ giả được chọn để nhận biết sự mở ấn của thông điệp, chưa bao giờ hiểu trọn vẹn mọi lẽ thật liên quan đến khải tượng ấy, nhưng ông đã hoàn thành công việc đã được giao cho mình.
As Miller began his study of the prophetic word, he came to understand certain rules of prophetic interpretation that were identified and established within the Bible. Those rules became encoded and identified as William Miller’s Rules of Interpretation. Those rules are endorsed by inspiration and identified as the rules that will be used by those who announce the starting of the executive judgment at the Sunday law. Miller testified that he began his study of the Bible at the beginning of the Bible and only proceeded onward as he understood what he was then considering. From this approach it is easy to see why the first time-prophecy Miller recognized, that had bearing upon the message he was to identify as being fulfilled in 1844, was the “seven times” of Leviticus twenty-six.
Khi Miller bắt đầu nghiên cứu lời tiên tri, ông đi đến chỗ hiểu những quy tắc giải thích lời tiên tri đã được xác định và thiết lập ngay trong Kinh Thánh. Những quy tắc ấy được đúc kết và được gọi là Các Quy tắc Giải thích của William Miller. Những quy tắc đó được sự linh hứng xác nhận và được xác định là những quy tắc sẽ được những người công bố sự khởi đầu của phán xét thi hành vào thời điểm luật Chủ nhật sử dụng. Miller làm chứng rằng ông bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh từ phần mở đầu của Kinh Thánh và chỉ tiếp tục tiến lên khi ông hiểu điều mình đang xem xét. Từ cách tiếp cận ấy, dễ thấy vì sao lời tiên tri về thời gian đầu tiên mà Miller nhận ra, có liên hệ đến sứ điệp ông sẽ xác định là được ứng nghiệm vào năm 1844, chính là “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn 26.
Inspiration informs us that the angel Gabriel, along with other holy angels, directed the mind of Miller, just as Gabriel had directed the minds of Daniel, John the revelator and all the prophets of the Bible, for Gabriel had been given the job that Satan forfeited. Gabriel’s job was represented in Satan’s first name, Lucifer, which means light bearer. Gabriel brought the prophetic light to Miller, and in obedience to the light he presented the message that announced the opening of the investigative judgment on October 22, 1844.
Sự linh hứng cho chúng ta biết rằng thiên sứ Gabriel, cùng với các thiên sứ thánh khác, đã hướng dẫn tâm trí của Miller, cũng như Gabriel đã hướng dẫn tâm trí của Daniel, John, nhà khải thị, và tất cả các tiên tri trong Kinh Thánh; vì Gabriel đã được giao nhiệm vụ mà Satan đã đánh mất. Chức vụ của Gabriel được biểu thị trong tên ban đầu của Satan, Lucifer, nghĩa là “người mang ánh sáng”. Gabriel đã mang ánh sáng tiên tri đến cho Miller, và vâng theo ánh sáng ấy, ông đã trình bày sứ điệp công bố việc khai mở cuộc phán xét điều tra vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.
Hindsight allows those who wish to understand the work of William Miller, to recognize that he was given certain insights to the prophetic word that became keys for his work of assembling the message of the approaching judgment. One of those keys was his recognition that a day represented a year in prophetic application. Another was a prophetic structure which he employed to place and align the lines of prophecy he discovered. That structure was based upon the two satanic powers that brought desolation to God’s people and God’s sanctuary. All of Miller’s discoveries were placed upon the prophetic structure that represented the history of paganism followed by papalism that consecutively trampled down both God’s sanctuary and God’s people from the time of ancient Israel, until the Second coming of Christ.
Nhìn lại cho phép những ai muốn hiểu công việc của William Miller nhận ra rằng ông đã được ban cho những thấu hiểu nhất định về lời tiên tri, trở thành các chìa khóa cho công việc hệ thống hóa sứ điệp về sự phán xét đang đến gần. Một trong những chìa khóa ấy là sự nhận biết của ông rằng trong ứng dụng tiên tri, một ngày tượng trưng cho một năm. Một chìa khóa khác là một cấu trúc tiên tri mà ông dùng để sắp đặt và căn chỉnh các dòng tiên tri mà ông đã khám phá. Cấu trúc ấy dựa trên hai quyền lực Sa-tan đã gây ra sự hoang tàn cho dân sự của Đức Chúa Trời và đền thánh của Ngài. Tất cả các phát hiện của Miller đều được đặt trên cấu trúc tiên tri ấy, cấu trúc trình bày lịch sử của ngoại giáo tiếp nối bởi giáo hoàng quyền, vốn lần lượt chà đạp cả đền thánh của Đức Chúa Trời lẫn dân sự của Ngài từ thời Y-sơ-ra-ên cổ đại cho đến Sự tái lâm của Đấng Christ.
That prophetic structure allowed him to accurately identify every truth needed to establish October 22, 1844, as the opening of the judgment. But that truth was limited, for he could not see the third persecuting power that followed paganism and papalism in prophetic history. It was not necessary for him to see that truth, for his work was to announce October 22, 1844, and the light of the third persecuting power would be unsealed after that date.
Cấu trúc tiên tri đó cho phép ông xác định một cách chính xác mọi lẽ thật cần thiết để xác lập ngày 22 tháng 10 năm 1844 là sự khai mở cuộc phán xét. Nhưng lẽ thật ấy bị giới hạn, vì ông không thể thấy quyền lực bách hại thứ ba nối tiếp ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng trong lịch sử tiên tri. Ông không cần phải thấy lẽ thật ấy, vì công việc của ông là công bố ngày 22 tháng 10 năm 1844, và ánh sáng về quyền lực bách hại thứ ba sẽ được mở ấn sau ngày đó.
In connection with aligning his prophetic understandings upon a structure of the two desolating powers of pagan Rome, followed by papal Rome, was his understanding that the word translated as “the daily,” in the book of Daniel, was a symbol of paganism, and or, pagan Rome. The word “tamid” translated as “the daily” is employed by Daniel five times. It is always used in conjunction with a symbol that Miller correctly understood to represent the papacy. The symbol of the papacy that always occurs in connection with “the daily,” is represented with two symbols. Either way, the two symbols of the papal power, both identify the papacy, yet none-the-less, when Daniel employed the word “tamid” that is translated as “the daily,” it was always used with and before the symbol of the papacy. Miller’s understanding that “the daily,” in the book of Daniel, became the foundation of the structure he saw that was based upon the two desolating powers of paganism followed by papalism. Miller’s identification of “the daily,” as paganism in the book of Daniel was destined to become a giant controversy within Adventism, beginning in Adventism’s second generation, which began in 1888.
Gắn liền với việc ông sắp xếp những nhận thức tiên tri của mình trên một cấu trúc gồm hai quyền lực tàn phá—La Mã ngoại giáo rồi đến La Mã giáo hoàng—là sự hiểu biết của ông rằng từ được dịch là “the daily” trong sách Đa-ni-ên là một biểu tượng của chủ nghĩa ngoại giáo, và/hoặc La Mã ngoại giáo. Từ “tamid” được dịch là “the daily” được Đa-ni-ên sử dụng năm lần. Nó luôn được dùng cùng với một biểu tượng mà Miller hiểu đúng là đại diện cho giáo hoàng quyền. Biểu tượng của giáo hoàng quyền luôn xuất hiện liên hệ với “the daily” được trình bày qua hai biểu tượng. Dù theo cách nào, cả hai biểu tượng của quyền lực giáo hoàng đều nhận diện giáo hoàng quyền; tuy vậy, mỗi khi Đa-ni-ên dùng từ “tamid” được dịch là “the daily”, nó luôn đi kèm và đứng trước biểu tượng của giáo hoàng quyền. Sự hiểu biết của Miller về “the daily” trong sách Đa-ni-ên trở thành nền tảng cho cấu trúc mà ông nhận thấy, vốn dựa trên hai quyền lực tàn phá: chủ nghĩa ngoại giáo rồi đến chủ nghĩa giáo hoàng. Việc Miller xác định “the daily” trong sách Đa-ni-ên là chủ nghĩa ngoại giáo đã được định sẵn sẽ trở thành một cuộc tranh cãi lớn trong Phong trào Phục Lâm, bắt đầu từ thế hệ thứ hai của Phục Lâm, khởi sự vào năm 1888.
The first prophetic truth Miller discovered that was a component of the understanding of October 22, 1844, was the “seven times,” of Leviticus twenty-six, and it was the first of Miller’s established truths that was rejected in 1863. That rejection began the first generation of Adventism, when they began wandering through the wilderness of Laodicea. The second generation began at the Minneapolis General Conference in 1888, and in the aftermath of the rebellion that occurred there, the satanic work of rejecting Miller’s identification of “the daily” as paganism began in 1901. The correct understanding of “the daily,” was not fully set aside until after the death of the prophetess, who had identified that the view being promoted in opposition to Miller’s correct view of “the daily,” had been delivered by “angels that were expelled from heaven.” The full rejection took place in the third generation around 1931. The third generation had begun with the publication of the book by W. W. Prescott, titled, The Doctrine of Christ, just after the 1919 Bible Conference. In 1919, the third generation began and continued until the publication of the book, Questions on Doctrine in 1957.
Lẽ thật tiên tri đầu tiên mà Miller phát hiện, vốn là một thành phần của sự hiểu biết về ngày 22 tháng 10 năm 1844, là “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu, và đó cũng là lẽ thật đầu tiên trong các lẽ thật đã được Miller xác lập bị bác bỏ vào năm 1863. Sự bác bỏ đó mở đầu cho thế hệ thứ nhất của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, khi họ bắt đầu lang thang trong đồng vắng của Laodicea. Thế hệ thứ hai bắt đầu tại Đại Hội đồng Minneapolis năm 1888, và sau cuộc phản loạn xảy ra ở đó, công việc của Sa-tan nhằm bác bỏ sự xác định của Miller về “the daily” như là ngoại giáo đã khởi sự vào năm 1901. Sự hiểu đúng về “the daily” chưa bị gạt bỏ hoàn toàn cho đến sau khi nữ tiên tri qua đời; bà đã xác nhận rằng quan điểm được cổ xúy để chống lại quan điểm đúng đắn của Miller về “the daily” là do “các thiên sứ bị đuổi khỏi thiên đàng” truyền đến. Sự bác bỏ hoàn toàn diễn ra trong thế hệ thứ ba, khoảng năm 1931. Thế hệ thứ ba đã bắt đầu với việc xuất bản cuốn sách của W. W. Prescott, tựa đề The Doctrine of Christ, ngay sau Hội nghị Kinh Thánh năm 1919. Năm 1919, thế hệ thứ ba bắt đầu và tiếp diễn cho đến khi xuất bản cuốn sách Questions on Doctrine vào năm 1957.
After Miller’s work was established and made plain upon Habakkuk’s two tables (the 1843 and 1850 pioneer charts), the Lord then began to open up the truth that there was another, a third, desolating power that would follow paganism and papalism that would also persecute God’s people.
Sau khi công việc của Miller được xác lập và được làm rõ ràng trên hai bảng của Ha-ba-cúc (các biểu đồ tiên phong năm 1843 và 1850), thì Chúa bắt đầu mở ra lẽ thật rằng có một quyền lực gây hoang tàn khác, quyền lực thứ ba, sẽ nối tiếp ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng và cũng sẽ bách hại dân của Đức Chúa Trời.
“Through paganism, and then through the Papacy, Satan exerted his power for many centuries in an effort to blot from the earth God’s faithful witnesses. Pagans and papists were actuated by the same dragon spirit. They differed only in that the Papacy, making a pretense of serving God, was the more dangerous and cruel foe. Through the agency of Romanism, Satan took the world captive. The professed church of God was swept into the ranks of this delusion, and for more than a thousand years the people of God suffered under the dragon’s ire. And when the Papacy, robbed of its strength, was forced to desist from persecution, John beheld a new power coming up to echo the dragon’s voice, and carry forward the same cruel and blasphemous work. This power, the last that is to wage war against the church and the law of God, was symbolized by a beast with lamblike horns. The beasts preceding it had risen from the sea, but this came up out of the earth, representing the peaceful rise of the nation which is symbolized. The ‘two horns like a lamb’ well represent the character of the United States Government, as expressed in its two fundamental principles, Republicanism and Protestantism. These principles are the secret of our power and prosperity as a nation. Those who first found an asylum on the shores of America rejoiced that they had reached a country free from the arrogant claims of popery and the tyranny of kingly rule. They determined to establish a government upon the broad foundation of civil and religious liberty.” Signs of the Times, November 1, 1899.
"Qua ngoại giáo, rồi qua chế độ giáo hoàng, Sa-tan đã vận dụng quyền lực của mình suốt nhiều thế kỷ nhằm xóa sạch khỏi đất những chứng nhân trung tín của Đức Chúa Trời. Những người ngoại giáo và những người theo giáo hoàng đều bị chi phối bởi cùng một tinh thần của con rồng. Họ chỉ khác nhau ở chỗ chế độ giáo hoàng, làm ra vẻ phụng sự Đức Chúa Trời, là kẻ thù nguy hiểm và tàn ác hơn. Thông qua công cụ của Giáo hội La Mã, Sa-tan đã giam cầm cả thế giới. Hội thánh xưng danh Đức Chúa Trời đã bị cuốn vào hàng ngũ của sự lừa dối này, và suốt hơn một ngàn năm, dân sự của Đức Chúa Trời chịu khổ dưới cơn thịnh nộ của con rồng. Và khi chế độ giáo hoàng, bị tước mất sức mạnh, buộc phải thôi bắt bớ, Giăng thấy một quyền lực mới nổi lên để vang lại tiếng nói của con rồng và tiếp tục công việc tàn ác và phạm thượng ấy. Quyền lực này, kẻ cuối cùng sẽ gây chiến chống lại hội thánh và luật pháp của Đức Chúa Trời, được tượng trưng bằng một con thú có hai sừng như chiên con. Các con thú trước đó trồi lên từ biển, còn con này lại lên từ đất, tượng trưng cho sự trỗi dậy trong hòa bình của quốc gia được tượng trưng. 'Hai sừng như chiên con' rất thích hợp để biểu trưng cho đặc tính của Chính phủ Hoa Kỳ, được thể hiện trong hai nguyên tắc căn bản: chủ nghĩa cộng hòa và Tin Lành. Những nguyên tắc này là bí quyết sức mạnh và thịnh vượng của chúng ta như một quốc gia. Những người đầu tiên tìm được chốn tị nạn trên bờ biển châu Mỹ đã vui mừng vì họ đã đến một đất nước thoát khỏi những đòi hỏi ngạo mạn của giáo hoàng giáo và ách chuyên chế của vương quyền. Họ quyết tâm thiết lập một chính quyền trên nền tảng rộng lớn của tự do dân sự và tự do tôn giáo." Signs of the Times, ngày 1 tháng 11, 1899.
Miller could not see the third persecuting power, and for this reason his structure was incomplete, though perfectly suited to fulfill his work. Sister White identifies that Miller was God’s chosen messenger, that he had been typified by Elijah and John the Baptist in his work, and by Elisha in his calling to his work, and by Moses in his death. Few in sacred history have inspired commentary that identifies that the angels are waiting by the grave to resurrect them, but this is the commentary of Miller. The fact that his work was limited by the history in which he was raised up is not a derogatory statement of Miller, simply a necessity to recognize, if his work is going to be considered in the true light of God’s prophetic Word.
Miller đã không thể nhìn thấy quyền lực bách hại thứ ba, và vì lý do đó hệ thống của ông chưa trọn vẹn, dẫu vẫn hoàn toàn phù hợp để hoàn thành sứ mạng của ông. Bà White xác nhận rằng Miller là sứ giả được Đức Chúa Trời lựa chọn; rằng trong công tác của mình ông được biểu trưng bởi Ê-li và Giăng Báp-tít, trong sự kêu gọi vào công tác ông được biểu trưng bởi Ê-li-sê, và trong sự qua đời ông được biểu trưng bởi Môi-se. Rất ít người trong lịch sử thánh có lời chú giải được linh hứng xác nhận rằng các thiên sứ đang chờ đợi bên mộ để khiến họ sống lại; nhưng đó lại là điều được nói về Miller. Việc công việc của ông bị giới hạn bởi bối cảnh lịch sử trong đó ông được dấy lên không phải là một lời hạ thấp Miller, mà chỉ là điều cần phải nhìn nhận, nếu công việc của ông được xem xét trong ánh sáng chân thật của Lời tiên tri của Đức Chúa Trời.
Miller was given specific, angelic, direction that allowed him to construct a prophetic framework that was based upon the two desolating powers of paganism followed by papalism. For this reason, prophecies that identified history beyond the desolation accomplished by those two powers were misunderstood by Miller. Yet none of those misunderstandings made their way onto the two sacred tables of Habakkuk, where the foundations that were erected through the work of Miller were graphically represented. This is why inspiration could record of the 1843 chart that it was directed by the hand of the Lord.
Miller đã được ban cho những chỉ dẫn cụ thể từ các thiên sứ, cho phép ông xây dựng một khung khổ tiên tri dựa trên hai quyền lực gây hoang tàn: ngoại giáo, rồi tiếp theo là chủ nghĩa giáo hoàng. Vì lý do này, những lời tiên tri xác định lịch sử vượt ra ngoài sự hoang tàn do hai quyền lực ấy gây nên đã bị Miller hiểu sai. Tuy vậy, không một sự hiểu sai nào trong số đó lọt vào hai bảng thiêng liêng của Ha-ba-cúc, nơi các nền tảng được dựng lập qua công việc của Miller được trình bày bằng hình ảnh. Đây là lý do vì sao sự linh hứng có thể ghi lại về biểu đồ năm 1843 rằng nó đã được hướng dẫn bởi bàn tay của Chúa.
“The Lord showed me that the 1843 chart was directed by his hand, and that no part of it should be altered; that the figures were as he wanted them. That his hand was over and hid a mistake in some of the figures, so that none could see it, until his hand was removed.
Chúa cho tôi thấy rằng tấm biểu đồ năm 1843 được chính tay Ngài hướng dẫn, và rằng không một phần nào của nó được phép sửa đổi; rằng các con số đã đúng như Ngài muốn. Rằng tay Ngài ở trên đó và đã che giấu một sai sót trong một vài con số, đến nỗi không ai có thể thấy nó, cho đến khi Ngài cất tay khỏi đó.
“Then I saw in relation to the ‘Daily,’ that the word ‘sacrifice’ was supplied by man’s wisdom, and does not belong to the text; and that the Lord gave the correct view of it to those who gave the judgment hour cry. When union existed, before 1844, nearly all were united on the correct view of the ‘Daily;’ but since 1844, in the confusion, other views have been embraced, and darkness and confusion has followed.” Review and Herald, November 1, 1850.
Rồi tôi thấy, liên quan đến 'Daily', rằng từ 'sacrifice' do sự khôn ngoan của loài người thêm vào và không thuộc về bản văn; và rằng Chúa đã ban quan điểm đúng đắn về điều đó cho những người đã cất tiếng kêu giờ phán xét. Khi còn có sự hiệp nhất, trước năm 1844, hầu như tất cả đều đồng thuận về quan điểm đúng đắn đối với 'Daily'; nhưng từ năm 1844, trong sự rối loạn, những quan điểm khác đã được chấp nhận, và bóng tối cùng hỗn loạn đã theo sau. Review and Herald, ngày 1 tháng 11, 1850.
The truths assembled by Miller at the direction of angels was directed by the Lord, and within the endorsement of the 1843 chart, inspiration included that Miller’s understanding that “the daily” represented paganism was correct. Five times the Hebrew word “tamid” translated as “the daily,” occurs in the book of Daniel, and it always represents the relationship between the two desolating powers of paganism followed by papalism.
Những lẽ thật do Miller tập hợp theo sự chỉ dẫn của các thiên sứ đã được Chúa hướng dẫn, và trong sự phê chuẩn của biểu đồ năm 1843, sự linh hứng đã bao gồm việc xác nhận rằng cách hiểu của Miller rằng “the daily” đại diện cho ngoại giáo là đúng. Từ tiếng Hê-bơ-rơ “tamid”, được dịch là “the daily”, xuất hiện năm lần trong sách Đa-ni-ên, và nó luôn biểu thị mối liên hệ giữa hai quyền lực gây hoang tàn: ngoại giáo, rồi đến quyền giáo hoàng.
Miller’s understanding of “the daily,” as a symbol of paganism, was absolutely essential in the prophetic framework he employed, for the sequential relationship of paganism followed by papalism became his point of reference in aligning all the prophecies he was led to understand.
Sự hiểu biết của Miller về “the daily”, như một biểu tượng của ngoại giáo, là hoàn toàn thiết yếu trong khuôn khổ tiên tri mà ông sử dụng, vì mối quan hệ tuần tự của ngoại giáo rồi đến chủ nghĩa giáo hoàng đã trở thành điểm tham chiếu của ông trong việc sắp xếp mọi lời tiên tri mà ông được dẫn dắt để hiểu.
At “the time of the end,” in 1798, the book of Daniel was unsealed, and the primary passage that was what Sister White identified as the “central pillar” and “foundation” of the advent movement, was Daniel chapter eight, and verse fourteen.
Vào “thời kỳ cuối cùng”, năm 1798, sách Đa-ni-ên được mở ấn, và đoạn then chốt mà Bà White xác định là “trụ cột trung tâm” và “nền tảng” của phong trào chờ đợi Chúa tái lâm là Đa-ni-ên đoạn 8, câu 14.
“The scripture which above all others had been both the foundation and central pillar of the Advent faith was the declaration, ‘Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed.’ [Daniel 8:14.]” The Great Controversy, 409.
Đoạn Kinh Thánh vượt trên mọi đoạn khác, từng là cả nền tảng lẫn trụ cột trung tâm của đức tin về sự tái lâm, chính là lời tuyên bố: 'Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy.' [Đa-ni-ên 8:14.] Cuộc Đại Tranh Chiến, 409.
Verse fourteen is the answer to verse thirteen, and the answer is meaningless without the context of the question.
Câu mười bốn là lời đáp cho câu mười ba, và lời đáp ấy trở nên vô nghĩa nếu không có bối cảnh của câu hỏi.
Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? And he said unto me, Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed. Daniel 8:13, 14.
Bấy giờ tôi nghe một vị thánh nói, và một vị thánh khác nói với vị thánh đang nói: Bao lâu nữa thì khải tượng về của lễ hằng ngày và sự vi phạm gây nên cảnh hoang tàn sẽ còn kéo dài, để cả đền thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Người nói với tôi: Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy. Đa-ni-ên 8:13, 14.
These two verses are the symbol of the increase of knowledge that was produced when the book of Daniel was unsealed at “the time of the end,” in 1798. Verse thirteen, identifies the two desolating powers that Miller formed his prophetic model upon. Miller identified “the daily,” in verse thirteen as paganism, and the “transgression of desolation” as papalism. It is important to recognize that the prophetic model the angels led Miller to recognize, is identified in the two verses that represent the increase of knowledge that arrived in history in 1798. Yet Miller was not given to see the next power to come upon the prophetic stage and persecute God’s people.
Hai câu này là biểu tượng cho sự gia tăng tri thức được tạo ra khi sách Daniel được mở ấn vào “thời kỳ cuối cùng”, năm 1798. Câu mười ba xác định hai quyền lực gây hoang tàn mà Miller đã dựa vào để hình thành mô hình tiên tri của mình. Miller xác định “sự thường nhật” trong câu mười ba là chủ nghĩa ngoại giáo, và “sự phạm tội gây hoang tàn” là chủ nghĩa giáo hoàng. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng mô hình tiên tri mà các thiên sứ dẫn dắt Miller nhận biết được, được xác định trong hai câu đại diện cho sự gia tăng tri thức đã xuất hiện trong lịch sử vào năm 1798. Tuy nhiên, Miller không được cho thấy quyền lực kế tiếp sẽ bước lên sân khấu tiên tri và bắt bớ dân của Đức Chúa Trời.
“I saw that the two-horned beast had a dragon’s mouth, and that his power was in his head, and that the decree would go out of his mouth. Then I saw the Mother of Harlots; that the mother was not the daughters, but separate and distinct from them. She has had her day, and it is past, and her daughters, the Protestant sects, were the next to come on the stage and act out the same mind that the mother had when she persecuted the saints. I saw that as the mother has been declining in power, the daughters had been growing, and soon they will exercise the power once exercised by the mother.” Spalding and Magan, 1.
"Tôi thấy rằng con thú có hai sừng có miệng rồng, và quyền lực của nó ở trong đầu nó, và sắc lệnh sẽ phát ra từ miệng nó. Rồi tôi thấy Mẹ của các dâm phụ; người mẹ không phải là các con gái, nhưng tách biệt và khác hẳn với họ. Bà đã có thời của mình, và thời ấy đã qua, và các con gái của bà, tức các giáo phái Tin Lành, là những kẻ kế tiếp bước lên sân khấu và thể hiện cùng một tinh thần mà người mẹ đã có khi bà bắt bớ các thánh đồ. Tôi thấy rằng khi quyền lực của người mẹ suy giảm, các con gái lại lớn mạnh, và chẳng bao lâu nữa họ sẽ thi hành quyền lực mà trước kia người mẹ đã thi hành." Spalding and Magan, 1.
Miller’s inability to see the third power forced him to make conclusions that were simply wrong. Miller identified the sea beast of Revelation thirteen as pagan Rome and the earth beast as papal Rome. His application of Revelation chapter seventeen, was also flawed by his inability to see prophetic history that extended beyond the second desolating power of papalism. For this reason, when Miller identified the Roman power in Daniel’s prophecy, he treated them as one power that came in two phases. That was and is an accurate application, but it prevented him from understanding the kingdoms of Bible prophecy as anything that reached beyond a fourth kingdom represented by Rome. He saw and identified that the fourth kingdom of Rome had two phases, represented as pagan Rome and papal Rome, but could not see that papal Rome was also the fifth kingdom which was to be followed by a sixth kingdom.
Việc Miller không thể nhận thấy quyền lực thứ ba đã buộc ông phải đưa ra những kết luận đơn giản là sai. Miller xác định con thú từ biển trong Khải Huyền 13 là La Mã ngoại giáo và con thú từ đất là La Mã giáo hoàng. Cách ông áp dụng Khải Huyền 17 cũng bị sai lệch bởi việc ông không thấy lịch sử tiên tri vượt ra ngoài quyền lực tàn phá thứ hai là giáo hoàng quyền. Vì lý do này, khi Miller xác định quyền lực La Mã trong lời tiên tri của Đa-ni-ên, ông xem đó là một quyền lực xuất hiện trong hai giai đoạn. Đó đã và vẫn là một cách áp dụng chính xác, nhưng nó ngăn cản ông hiểu rằng các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh vượt quá vương quốc thứ tư là La Mã. Ông thấy và xác định rằng vương quốc thứ tư là La Mã có hai giai đoạn, được mô tả là La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng, nhưng ông không thấy rằng La Mã giáo hoàng cũng là vương quốc thứ năm, sẽ được tiếp nối bởi một vương quốc thứ sáu.
In Daniel chapter two, the Millerites brought the elements of the fifth kingdom of Bible prophecy together with the fourth kingdom. At the basic level their application was correct, but incomplete, for the first reference of the kingdoms of Bible prophecy must agree with the last reference of the kingdoms of Bible prophecy, because Jesus, as the Alpha and Omega always illustrates the end with the beginning. Unable to see a distinction of two sequential kingdoms made it impossible for Miller to recognize that Revelation chapter twelve, is identifying paganism (the dragon), and the sea beast of Revelation chapter thirteen, as papalism (the beast) and the earth beast of Revelation chapter thirteen as apostate Protestantism (the false prophet).
Trong sách Đa-ni-ên chương hai, những người theo Miller đã trộn lẫn các yếu tố của vương quốc thứ năm trong lời tiên tri Kinh Thánh với vương quốc thứ tư. Ở mức độ cơ bản, cách áp dụng của họ là đúng nhưng chưa trọn vẹn, vì sự nhắc đến đầu tiên về các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh phải phù hợp với sự nhắc đến cuối cùng về các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh, bởi vì Chúa Giê-su, là Alpha và Omega, luôn minh họa phần kết bằng phần khởi đầu. Vì không thấy được sự phân biệt giữa hai vương quốc nối tiếp nhau, Miller đã không thể nhận ra rằng sách Khải Huyền chương mười hai đang xác định ngoại giáo (con rồng), còn con thú từ biển của sách Khải Huyền chương mười ba là chế độ giáo hoàng (con thú), và con thú từ đất của sách Khải Huyền chương mười ba là Tin Lành bội đạo (tiên tri giả).
Miller was unable to see the dragon, the beast and the false prophet as three consecutive kingdoms in chapters twelve and thirteen of Revelation, and was thus forced by his prophetic logic to assume the two chapters were not a consecutive illustration of the three powers that lead the world to Armageddon. The light Miller was given was the perfect light for his generation, and his generation was tested by that light.
Miller đã không thể thấy con rồng, con thú và tiên tri giả như ba vương quốc liên tiếp trong các chương mười hai và mười ba của Khải Huyền, và do đó, theo lập luận tiên tri của mình, ông buộc phải cho rằng hai chương ấy không phải là một minh họa theo trình tự về ba quyền lực dẫn dắt thế giới đến Armageddon. Ánh sáng được ban cho Miller là ánh sáng hoàn hảo cho thế hệ của ông, và thế hệ của ông đã được thử thách bởi ánh sáng ấy.
The light of the three desolating powers (the dragon, the beast and the false prophet), was given to Future for America at the “time of the end,” in 1989. The passage of Daniel which was unsealed with the collapse of the Soviet Union in fulfillment of Daniel chapter eleven, and verse forty was the light of the third angel, whereas Miller had been given the light of the first angel. The last six verses of Daniel eleven, were seen to be the foundation and central pillar of the movement of Future for America, and verse forty, of Daniel chapter eleven summarizes that light, just as verses thirteen and fourteen, of Daniel chapter eight summarized the light that was unsealed in the Millerite movement.
Ánh sáng về ba quyền lực gây tàn phá (con rồng, con thú và tiên tri giả) đã được ban cho Future for America vào "thời kỳ cuối cùng" năm 1989. Đoạn sách Đa-ni-ên đã được mở ấn cùng với sự sụp đổ của Liên Xô, ứng nghiệm Đa-ni-ên chương mười một, câu bốn mươi, là ánh sáng của thiên sứ thứ ba, trong khi Miller đã được ban ánh sáng của thiên sứ thứ nhất. Sáu câu cuối của Đa-ni-ên chương mười một được xem là nền tảng và trụ cột trung tâm của phong trào Future for America; và câu bốn mươi của Đa-ni-ên chương mười một tóm lược ánh sáng ấy, cũng như các câu mười ba và mười bốn của Đa-ni-ên chương tám đã tóm lược ánh sáng được mở ấn trong phong trào Millerite.
And at the time of the end shall the king of the south push at him: and the king of the north shall come against him like a whirlwind, with chariots, and with horsemen, and with many ships; and he shall enter into the countries, and shall overflow and pass over. Daniel 11:40.
Vào thời kỳ cuối cùng, vua phương nam sẽ tấn công người ấy; còn vua phương bắc sẽ kéo đến chống lại người ấy như cơn lốc, với chiến xa, kỵ binh và nhiều tàu thuyền; và ông sẽ tiến vào các xứ, tràn ngập và vượt qua. Đa-ni-ên 11:40.
The verse identifies a war that began at the “time of the end” in 1798, between the king of the south and the king of the north. The king of the south represented atheistic France, that delivered the deadly wound to the papacy in that very year. The papacy is there represented as the king of the north. France, prophetically in 1798, was one tenth of the ten kingdoms of Daniel chapter seven. Those ten kingdoms represent pagan Rome, and pagan Rome represents the dragon. The papacy (the king of the north) represents the beast. The verse identifies the king of the north (the papacy), who had been given its deadly wound at the opening of the verse, would ultimately retaliate against the king of the south (the king of atheism). When the papacy did retaliate, the king of atheism had moved from the nation of France, to the confederacy of the Soviet Union. France was one nation, yet when the papacy retaliated against the king of the south in the verse, the king of the south was identified as “countries,” as was the former Soviet Union.
Câu Kinh Thánh xác định một cuộc chiến bắt đầu vào "thời kỳ cuối cùng" năm 1798, giữa vua phương nam và vua phương bắc. Vua phương nam tượng trưng cho nước Pháp vô thần, nước đã giáng cho giáo quyền một vết thương chí tử ngay trong năm đó. Ở đó, giáo quyền được biểu thị là vua phương bắc. Về phương diện tiên tri, năm 1798, nước Pháp là một phần mười trong mười vương quốc của Đa-ni-ên đoạn bảy. Mười vương quốc ấy tượng trưng cho La Mã ngoại giáo, và La Mã ngoại giáo tượng trưng cho con rồng. Giáo quyền (vua phương bắc) tượng trưng cho con thú. Câu Kinh Thánh cho biết vua phương bắc (giáo quyền), vốn đã bị giáng vết thương chí tử ở phần mở đầu câu, rốt cuộc sẽ trả đũa vua phương nam (vua của chủ nghĩa vô thần). Khi giáo quyền thực sự trả đũa, vua của chủ nghĩa vô thần đã chuyển từ quốc gia Pháp sang liên bang Xô viết. Pháp là một quốc gia, nhưng khi giáo quyền trả đũa vua phương nam trong câu ấy, vua phương nam được gọi là "các nước", như chính Liên Xô trước đây.
When the king of the north (the papacy) did retaliate it brought with it “chariots,” “horsemen” and “many ships.” Chariots and horsemen are symbols of military strength, and ships are symbols of economic strength. The power that formed an unholy alliance with the papacy for the purpose of bringing down the Soviet Union was the United States, and the two strengths of the United States in Revelation chapter thirteen, is identified as its ability to force the world to receive the mark of papal authority by the force of arms and economics. Men will be forbidden to buy or sell without the mark, and then further, without the mark, men will be put to death.
Khi vua phương bắc (giáo hoàng quyền) đáp trả, quyền lực ấy đã mang theo "chiến xa", "kỵ binh" và "nhiều tàu thuyền". Chiến xa và kỵ binh là biểu tượng của sức mạnh quân sự, còn tàu thuyền là biểu tượng của sức mạnh kinh tế. Quyền lực đã lập một liên minh bất chính với giáo hoàng quyền nhằm lật đổ Liên Xô chính là Hoa Kỳ, và trong Khải Huyền chương mười ba, hai sức mạnh của Hoa Kỳ được xác định là khả năng buộc thế giới phải nhận dấu của thẩm quyền giáo hoàng bằng vũ lực và kinh tế. Người ta sẽ bị cấm mua bán nếu không có dấu ấy, và hơn nữa, nếu không có dấu, người ta sẽ bị xử tử.
Verse forty directly identifies the dragon (the king of the south), the beast (the papacy) and the false prophet (the United States). The foundational verse for “the time of the end” in 1989, identifies the three desolating powers that lead the world to Armageddon, just as the foundational verses of the Millerite movement identified the two desolating powers of paganism followed by papalism.
Câu bốn mươi trực tiếp xác định con rồng (vua phương Nam), con thú (giáo quyền La Mã) và tiên tri giả (Hoa Kỳ). Câu nền tảng cho “thời kỳ cuối cùng” vào năm 1989 xác định ba quyền lực tàn phá dẫn dắt thế giới đến Armageddon, cũng như các câu nền tảng của phong trào Millerite đã xác định hai quyền lực tàn phá là ngoại giáo rồi đến chủ nghĩa giáo hoàng.
The verse begins with a battle between the king of the south and the king of the north. In the beginning of the verse (1798), the king of the south prevails, but in the verse, the king of the north retaliates and prevails over the king of the south. The beginning of the verse marks the battle between the king of the north and the king of the south, and in the ending of the message contained in the verse the same battle between the northern and southern kings is illustrated, but with the opposite results. The beginning marked the “time of the end” in 1798, and the ending battle marks the “time of the end” in 1989. The verse contains within its written testimony the signature Alpha and Omega, the beginning and the ending.
Câu Kinh Thánh này mở đầu bằng một trận chiến giữa vua phương nam và vua phương bắc. Ở phần đầu của câu (1798), vua phương nam thắng thế; nhưng rồi vua phương bắc phản công và thắng thế trước vua phương nam. Phần mở đầu của câu đánh dấu trận chiến giữa vua phương bắc và vua phương nam, và ở phần kết của sứ điệp mà câu này chứa đựng, cùng một trận chiến giữa hai vua bắc và nam được minh họa, nhưng với kết quả ngược lại. Phần mở đầu đánh dấu “thời kỳ cuối cùng” vào năm 1798, và trận chiến ở phần kết đánh dấu “thời kỳ cuối cùng” vào năm 1989. Câu Kinh Thánh này, trong lời chứng được chép lại của nó, mang dấu ấn Anpha và Ômêga, khởi đầu và kết thúc.
The actual history of the verse continues on past the collapse of the Soviet Union in 1989, through to the Sunday law of verse forty-one. At the Sunday law the three-fold union of modern Babylon is brought about by a series of rapid events. Verse forty therefore begins when the deadly wound is delivered in 1798, and the whore of Tyre is forgotten. The history represented by the verse completely ends at the Sunday law of verse forty-one, where the deadly wound is healed and the whore of Tyre is remembered. The signature of the beginning and ending is written not only upon the text found in the verse, but also the complete history represented by the verse. The verse identifies the prophetic framework that is based not upon simply paganism (the dragon) and papalism (the beast), but it identifies the structure of the three desolating powers that lead the world to Armageddon.
Lịch sử thực tế của câu ấy tiếp tục sau sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1989, cho đến luật ngày Chủ nhật của câu bốn mươi mốt. Tại thời điểm luật ngày Chủ nhật, liên minh ba phần của Ba-by-lôn hiện đại được hình thành bởi một loạt các biến cố diễn ra nhanh chóng. Vì vậy, câu bốn mươi bắt đầu khi vết thương chí tử được giáng vào năm 1798, và kỹ nữ Ty-rơ bị lãng quên. Lịch sử được câu ấy đại diện hoàn toàn kết thúc tại luật ngày Chủ nhật của câu bốn mươi mốt, nơi vết thương chí tử được chữa lành và kỹ nữ Ty-rơ được nhớ lại. Dấu ấn của phần khởi đầu và kết thúc được ghi không chỉ trên văn bản trong câu, mà còn trên toàn bộ lịch sử mà câu ấy đại diện. Câu ấy xác định khuôn khổ tiên tri không chỉ dựa trên chủ nghĩa ngoại giáo (con rồng) và chủ nghĩa giáo hoàng (con thú), mà còn chỉ ra cấu trúc của ba quyền lực tàn phá dẫn dắt thế giới đến A-ma-ghê-đôn.
Miller’s prophetic framework announced the arrival of God’s investigative judgment, and the prophetic framework of Future for America announces the arrival of God’s executive judgment. At the “time of the end” in 1989, a three-step testing and purification process began when the last six verses of Daniel eleven were unsealed at the collapse of the Soviet Union. The distinction of Miller only seeing paganism and papalism, and not seeing apostate Protestantism, must be understood to rightly understand the vision of the Ulai River that was unsealed in 1798.
Khuôn khổ tiên tri của Miller loan báo sự đến của cuộc phán xét điều tra của Đức Chúa Trời, và khuôn khổ tiên tri của Future for America loan báo sự đến của cuộc phán xét thi hành của Đức Chúa Trời. Vào “thời kỳ cuối cùng” năm 1989, một tiến trình thử thách và thanh luyện gồm ba bước đã bắt đầu khi sáu câu cuối của Đa-ni-ên đoạn mười một được mở ấn lúc Liên Xô sụp đổ. Việc Miller chỉ thấy ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng, mà không thấy Tin Lành bội đạo, cần được hiểu thì mới có thể hiểu đúng khải tượng về sông Ulai đã được mở ấn vào năm 1798.
We will continue that consideration in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục bàn về vấn đề đó trong bài viết tiếp theo.
“We have no time to lose. Troublous times are before us. The world is stirred with the spirit of war. Soon the scenes of trouble spoken of in the prophecies will take place. The prophecy in the eleventh of Daniel has nearly reached its complete fulfillment. Much of the history that has taken place in fulfillment of this prophecy will be repeated.
Chúng ta không còn thời gian để mất. Những thời kỳ rối ren đang ở trước mắt chúng ta. Thế giới đang bị khuấy động bởi tinh thần chiến tranh. Chẳng bao lâu nữa, những cảnh khốn khó được nói đến trong những lời tiên tri sẽ xảy ra. Lời tiên tri trong đoạn mười một của sách Đa-ni-ên hầu như đã được ứng nghiệm trọn vẹn. Phần lớn những biến cố lịch sử đã xảy ra để ứng nghiệm lời tiên tri này sẽ lặp lại.
“In the thirtieth verse a power is spoken of that ‘verses 30 through thirty-six quoted.’
Trong câu thứ ba mươi, có nói đến một quyền năng rằng 'các câu 30 đến 36 được trích dẫn.'
“Scenes similar to those described in these words will take place.” Manuscript Releases, number 13, 394.
"Những cảnh tượng tương tự như những gì được mô tả trong những lời này sẽ diễn ra." Các Bản Thảo Được Phát Hành, số 13, 394.