In Miller’s dream he was sent a casket by an unseen hand. In his dream he was led to understand the dimensions of the casket as “six square” by “ten inches.” Ten multiplied by six squared equates to three hundred and sixty, which represents the days in a prophetic year. Miller was given a casket that contained the message he was to proclaim, and the message he was to proclaim was based upon the principle that a day in Bible prophecy represents a year. The casket was the Bible, and for Miller the Bible was to be viewed in the dimension of the “day-for-a-year” principle of Bible prophecy.

Trong giấc mơ của Miller, một bàn tay vô hình đã gửi cho ông một chiếc tráp. Trong giấc mơ, ông được dẫn dắt để hiểu rằng kích thước của chiếc tráp là “sáu bình phương” nhân “mười inch”. Mười nhân với sáu bình phương bằng ba trăm sáu mươi, tượng trưng cho số ngày trong một năm tiên tri. Miller được trao một chiếc tráp chứa đựng thông điệp mà ông phải công bố, và thông điệp ấy dựa trên nguyên tắc rằng một ngày trong lời tiên tri Kinh Thánh tượng trưng cho một năm. Chiếc tráp ấy chính là Kinh Thánh, và đối với Miller, Kinh Thánh phải được nhìn trong chiều kích của nguyên tắc “một ngày bằng một năm” trong lời tiên tri Kinh Thánh.

“Connected with the Word of God there is a key that unlocks the precious casket, to our satisfaction and delight. I feel thankful for every ray of light. In the future, experiences now to us very mysterious will be explained. Some experiences we may never fully comprehend until this mortal shall put on immortality.” Manuscript Releases, volume 17, 261.

“Đi liền với Lời của Đức Chúa Trời có một chiếc chìa khóa mở ra chiếc rương quý báu, đem lại cho chúng ta sự thỏa lòng và vui thích. Tôi biết ơn về từng tia sáng. Trong tương lai, những kinh nghiệm hiện nay đối với chúng ta còn rất huyền nhiệm sẽ được giải thích. Một số kinh nghiệm có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ hiểu hết cho đến khi thân phận hay chết này mặc lấy sự bất tử.” Manuscript Releases, tập 17, 261.

There was a “key” attached to the casket in Miller’s dream which represented the methodology that Miller was led to employ.

Trong giấc mơ của Miller, có một "chìa khóa" gắn vào chiếc quan tài, tượng trưng cho phương pháp mà Miller được dẫn dắt để áp dụng.

“Those who are engaged in proclaiming the third angel’s message are searching the Scriptures upon the same plan that Father Miller adopted. In the little book entitled Views of the Prophecies and Prophetic Chronology, Father Miller gives the following simple but intelligent and important rules for Bible study and interpretation:—

Những người đang dấn thân rao truyền sứ điệp của thiên sứ thứ ba đang khảo cứu Kinh Thánh theo cùng một phương pháp mà Cụ Miller đã áp dụng. Trong quyển sách nhỏ nhan đề “Những Quan Điểm về Các Lời Tiên Tri và Niên Đại Tiên Tri,” Cụ Miller nêu ra những quy tắc sau đây, đơn giản nhưng sáng suốt và quan trọng, cho việc nghiên cứu và giải nghĩa Kinh Thánh:-

“[Rules one through five quoted.]

[Các quy tắc từ 1 đến 5 được trích dẫn.]

“The above is a portion of these rules; and in our study of the Bible we shall all do well to heed the principles set forth.” Review and Herald, November 25, 1884.

"Những điều nêu trên là một phần của các quy tắc này; và trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, tất cả chúng ta đều nên lưu tâm đến các nguyên tắc đã được trình bày." Review and Herald, ngày 25 tháng 11 năm 1884.

When Miller opened the casket, he found “all sorts and sizes of jewels, diamonds, precious stones, and gold and silver coin of every dimension and value, beautifully arranged in their several places in the casket; and thus arranged they reflected a light and glory equaled only to the sun.” Miller discovered the jewels of truths that make up the foundational truths of Adventism. The truths he found were “arranged” in perfect order and reflected the light of the sun.

Khi Miller mở chiếc hộp đựng báu vật, ông thấy "đủ mọi loại và kích cỡ châu báu, kim cương, đá quý, và tiền xu vàng bạc với mọi kích thước và giá trị, được sắp xếp tuyệt đẹp vào những vị trí riêng của chúng trong chiếc hộp; và khi được sắp xếp như vậy, chúng phản chiếu một ánh sáng và vinh quang chỉ có mặt trời mới sánh bằng." Miller đã khám phá ra những viên ngọc của lẽ thật cấu thành các chân lý nền tảng của phong trào Phục Lâm. Những chân lý ông tìm thấy được "sắp đặt" theo một trật tự hoàn hảo và phản chiếu ánh sáng của mặt trời.

Miller then placed the truths “on a center table” and called all to “come and see.” “Come and see,” is a symbol drawn from the opening of the seals in the book of Revelation, and Miller represents the wise that understand the message of Daniel that was unsealed in 1798. The truths that Miller placed upon the table, were the unsealed truths from the book of Daniel that had been unsealed by the Lion of the tribe of Judah, and were to test the generation that was alive when they were unsealed. For this reason, the four beasts of Revelation associated with the first four seals, and Miller, called out for that generation to “come and see.”

Miller sau đó đặt các lẽ thật "trên một chiếc bàn ở giữa phòng" và kêu gọi mọi người "hãy đến và xem." "Hãy đến và xem" là một biểu tượng rút ra từ việc mở các ấn trong sách Khải Huyền, và Miller đại diện cho những người khôn ngoan hiểu sứ điệp của Đa-ni-ên đã được mở ấn vào năm 1798. Những lẽ thật mà Miller đặt trên bàn là các lẽ thật đã được mở ấn từ sách Đa-ni-ên bởi Sư Tử thuộc chi phái Giu-đa, và nhằm thử nghiệm thế hệ đang sống khi chúng được mở ấn. Vì lý do này, bốn sinh vật trong Khải Huyền gắn liền với bốn ấn đầu tiên, và Miller đã kêu gọi thế hệ ấy "hãy đến và xem."

And I saw when the Lamb opened one of the seals, and I heard, as it were the noise of thunder, one of the four beasts saying, Come and see. And I saw, and behold a white horse: and he that sat on him had a bow; and a crown was given unto him: and he went forth conquering, and to conquer. And when he had opened the second seal, I heard the second beast say, Come and see. And there went out another horse that was red: and power was given to him that sat thereon to take peace from the earth, and that they should kill one another: and there was given unto him a great sword. And when he had opened the third seal, I heard the third beast say, Come and see. And I beheld, and lo a black horse; and he that sat on him had a pair of balances in his hand. And I heard a voice in the midst of the four beasts say, A measure of wheat for a penny, and three measures of barley for a penny; and see thou hurt not the oil and the wine. And when he had opened the fourth seal, I heard the voice of the fourth beast say, Come and see. And I looked, and behold a pale horse: and his name that sat on him was Death, and Hell followed with him. And power was given unto them over the fourth part of the earth, to kill with sword, and with hunger, and with death, and with the beasts of the earth. Revelation 6:1–8.

Và tôi thấy khi Chiên Con mở một trong các ấn, và tôi nghe, như tiếng sấm, một trong bốn sinh vật nói: Hãy đến và xem. Và tôi thấy, kìa một con ngựa trắng; người cưỡi nó cầm một cây cung; và một mão miện được trao cho người ấy; và người ấy ra đi, thắng trận và để chinh phục. Và khi Ngài mở ấn thứ hai, tôi nghe sinh vật thứ hai nói: Hãy đến và xem. Và có một con ngựa khác, màu đỏ, đi ra; quyền được ban cho người cưỡi nó để cất sự bình an khỏi đất, khiến người ta giết lẫn nhau; và người ấy được trao cho một thanh gươm lớn. Và khi Ngài mở ấn thứ ba, tôi nghe sinh vật thứ ba nói: Hãy đến và xem. Và tôi nhìn, kìa một con ngựa đen; người cưỡi nó cầm một cái cân trong tay. Và tôi nghe một tiếng ở giữa bốn sinh vật nói: Một đấu lúa mì giá một đồng, và ba đấu lúa mạch giá một đồng; còn dầu và rượu thì đừng làm hại. Và khi Ngài mở ấn thứ tư, tôi nghe tiếng của sinh vật thứ tư nói: Hãy đến và xem. Và tôi nhìn, kìa một con ngựa nhợt nhạt; tên của người cưỡi nó là Sự Chết, và Âm phủ theo sau người ấy. Và quyền được ban cho họ trên một phần tư đất, để giết bằng gươm, bằng đói kém, bằng dịch bệnh, và bằng các thú dữ trên đất. Khải Huyền 6:1-8.

It was Christ, represented as the Lion of the tribe of Judah, who unsealed the book sealed with seven seals in the book of Revelation, and it was the Lion of the tribe of Judah that unsealed the jewels that Miller placed upon the table, and then proclaimed for all to “come and see.”

Chính Đấng Christ, được mô tả như Sư Tử của chi phái Giu-đa, đã mở cuốn sách được niêm bằng bảy ấn trong sách Khải Huyền; và cũng chính Sư Tử của chi phái Giu-đa đã khai mở những viên châu báu mà Miller đã đặt trên bàn, rồi tuyên bố cho mọi người: "Hãy đến mà xem."

The truths he discovered were graphically illustrated upon the 1843 pioneer chart, which Sister White said was directed by the hand of the Lord, which was the same unseen hand that had brought Miller the casket full of jewels. The three hundred charts that were produced in 1842, were a fulfillment of Habakkuk’s command to write the vision and make it plain upon tables. Miller’s table in the center of his room represented the three hundred charts (tables) the Millerite messengers took to the world in 1842 and 1843. That chart, along with the 1850 pioneer chart, were the “tables” of Habakkuk chapter two.

Những lẽ thật ông khám phá được đã được minh họa sinh động trên biểu đồ tiên phong năm 1843, mà bà White nói rằng được bàn tay của Chúa hướng dẫn—cũng chính bàn tay vô hình đã mang đến cho Miller chiếc rương đầy châu báu. Ba trăm biểu đồ được xuất bản năm 1842 là sự ứng nghiệm mệnh lệnh của Ha-ba-cúc: hãy chép khải tượng và làm cho nó rõ ràng trên các bảng. Cái bàn của Miller ở giữa phòng ông tượng trưng cho ba trăm biểu đồ (bảng) mà các sứ giả Millerite đã đem đến cho thế giới vào các năm 1842 và 1843. Biểu đồ đó, cùng với biểu đồ tiên phong năm 1850, chính là những “bảng” của Ha-ba-cúc chương hai.

“It was the united testimony of Second Advent lecturers and papers, when standing on ‘the original faith,’ that the publication of the chart was a fulfillment of Habakkuk 2:2, 3. If the chart was a subject of prophecy (and those who deny it leave the original faith), then it follows that BC 457 was the year from which to date the 2300 days. It was necessary that 1843 should be the first published time in order that ‘the vision’ should ‘tarry,’ or that there should be a tarrying time, in which the virgin band was to slumber and sleep on the great subject of time, just before they were to be aroused by the Midnight Cry.” James White, Second Advent Review and Sabbath Herald, Volume 1, Number 2.

“Đó là lời chứng hiệp nhất của các giảng viên và các ấn phẩm về Sự Tái Lâm Thứ Hai, khi đứng trên ‘đức tin ban đầu,’ rằng việc xuất bản biểu đồ là sự ứng nghiệm của Ha-ba-cúc 2:2, 3. Nếu biểu đồ là một đề tài của lời tiên tri (và những người phủ nhận điều ấy là rời bỏ đức tin ban đầu), thì theo đó năm 457 TCN là năm phải lấy làm mốc để tính 2300 ngày. Điều cần thiết là năm 1843 phải là thời điểm đầu tiên được công bố, để ‘khải tượng’ phải ‘chậm lại,’ hay để có một thời kỳ trì hoãn, trong đó đoàn trinh nữ phải thiu ngủ và ngủ mê về vấn đề lớn lao là thời gian, ngay trước khi họ được đánh thức bởi Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm.” James White, Second Advent Review and Sabbath Herald, Volume 1, Number 2.

The people who began to respond to the message (jewels) that was thereafter represented on Habakkuk’s table, were at first a few, but with the confirmation of the day-for-a-year principle on August 11, 1840, the people “increased to a crowd.”

Những người bắt đầu đáp lại sứ điệp (những viên ngọc) vốn về sau được trình bày trên bảng của Ha-ba-cúc, ban đầu chỉ có ít người, nhưng với sự xác nhận của nguyên tắc ngày-ứng-năm vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, số người ấy đã "tăng lên thành một đám đông".

“At the very time specified, Turkey, through her ambassadors, accepted the protection of the allied powers of Europe, and thus placed herself under the control of Christian nations. The event exactly fulfilled the prediction. When it became known, multitudes were convinced of the correctness of the principles of prophetic interpretation adopted by Miller and his associates, and a wonderful impetus was given to the advent movement. Men of learning and position united with Miller, both in preaching and in publishing his views, and from 1840 to 1844 the work rapidly extended.” The Great Controversy, 334, 335.

Đúng vào thời điểm đã định, Thổ Nhĩ Kỳ, thông qua các đại sứ của mình, đã chấp nhận sự bảo hộ của các cường quốc đồng minh ở châu Âu, và như thế tự đặt mình dưới sự kiểm soát của các quốc gia Kitô giáo. Sự kiện ấy đã ứng nghiệm chính xác lời tiên đoán. Khi việc đó được biết đến, đông đảo người đã tin chắc về tính đúng đắn của các nguyên tắc giải nghĩa tiên tri do Miller và các cộng sự của ông áp dụng, và phong trào chờ đợi sự tái lâm nhận được một động lực kỳ diệu. Những người có học thức và địa vị đã hợp tác với Miller, cả trong việc rao giảng lẫn việc xuất bản các quan điểm của ông, và từ năm 1840 đến năm 1844, công việc ấy nhanh chóng được mở rộng. Cuộc Tranh Luận Vĩ Đại, 334, 335.

Then the crowd began to trouble the jewels. At that point Miller is going to identify the scattering of the jewels. The word “scatter” is one of the primary symbols of Leviticus twenty-six’s “seven times,” and Miller employs some variation of the word “scatter” ten times in the presentation of his dream. “Ten” is the symbol of a test, and marks the correct understanding of the symbolic meaning of Miller’s “scattered” jewels as a prophetic test for those upon whom the ends of the world are come.

Rồi đám đông bắt đầu làm rối loạn những viên ngọc. Vào lúc đó, Miller sẽ xác định sự phân tán của các viên ngọc. Từ "phân tán" là một trong những biểu tượng chủ chốt của "bảy lần" trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu, và Miller dùng một số biến thể của từ "phân tán" mười lần trong phần trình bày về giấc mơ của mình. "Mười" là biểu tượng của một sự thử thách, và đánh dấu việc hiểu đúng ý nghĩa biểu tượng của những viên ngọc "bị phân tán" của Miller như một sự thử thách mang tính tiên tri cho những người trên đó sự tận cùng của thế gian đã đến.

The rejection of the jewel of the “seven times” was the first jewel set aside by Laodicean Adventism as they failed the test of Moses’ “scattering,” which had been presented by Elijah (Miller), in 1863. From that point on the jewels were to be increasingly scattered, mixed with counterfeits and ultimately fully covered up. The covering up of the precious jewels would ultimately reach a point where the casket (the Bible) would be destroyed.

Sự khước từ viên ngọc của “bảy lần” là viên ngọc đầu tiên bị Phục Lâm La-ô-đi-xê gạt sang một bên, khi họ không vượt qua bài thử về “sự tản lạc” của Môi-se, điều đã được Ê-li (Miller) trình bày vào năm 1863. Từ đó trở đi, các viên ngọc ngày càng bị tản mác, lẫn với đồ giả mạo và cuối cùng bị che đậy hoàn toàn. Sự che đậy các viên ngọc quý rốt cuộc sẽ đến mức chiếc tráp (Kinh Thánh) bị hủy hoại.

In Miller’s dream there is a marked distinction between the first “seven times” the word “scatter” is employed by Miller, and the last three times he uses the word. After he mentions “scatter” “seven times,” he “became wholly discouraged and disheartened, and sat down and wept.”

Trong giấc mơ của Miller, có một sự khác biệt rõ rệt giữa "bảy lần" đầu tiên Miller dùng từ "scatter" và ba lần cuối cùng ông dùng từ này. Sau khi ông nhắc đến "scatter" "bảy lần," ông "trở nên hoàn toàn nản lòng và mất tinh thần, và ngồi xuống và khóc."

Before Christ, represented as the Lion of the tribe of Judah, began his work of unsealing the book that was sealed with seven seals in the book of Revelation, John wept. John and Miller both wept when they understood the casket (God’s Word) had been buried up by counterfeit jewels.

Trước khi Đấng Christ, được mô tả như Sư tử của chi phái Giu-đa, bắt đầu công việc mở ấn cuốn sách đã được niêm phong bằng bảy ấn trong sách Khải Huyền, John đã khóc. John và Miller đều khóc khi họ hiểu rằng chiếc hộp báu (Lời Đức Chúa Trời) đã bị chôn vùi bởi những viên ngọc giả.

And I saw in the right hand of him that sat on the throne a book written within and on the backside, sealed with seven seals. And I saw a strong angel proclaiming with a loud voice, Who is worthy to open the book, and to loose the seals thereof? And no man in heaven, nor in earth, neither under the earth, was able to open the book, neither to look thereon. And I wept much, because no man was found worthy to open and to read the book, neither to look thereon. And one of the elders saith unto me, Weep not: behold, the Lion of the tribe of Juda, the Root of David, hath prevailed to open the book, and to loose the seven seals thereof. Revelation 5:1–5.

Rồi tôi thấy nơi tay phải của Đấng ngồi trên ngai có một cuộn sách, chép cả bề trong lẫn bề ngoài, niêm phong bằng bảy ấn. Tôi lại thấy một thiên sứ mạnh mẽ kêu lớn tiếng rằng: Ai xứng đáng mở cuộn sách và tháo các ấn của nó? Nhưng chẳng có ai trên trời, trên đất, hay dưới đất có thể mở cuộn sách, cũng không thể nhìn vào nó. Tôi khóc nhiều, vì không ai được tìm thấy xứng đáng để mở và đọc cuộn sách, cũng không thể nhìn vào nó. Bấy giờ, một trong các trưởng lão nói với tôi: Đừng khóc nữa! Kìa, Sư Tử thuộc chi phái Giu-đa, Rễ của Đa-vít, đã thắng để mở cuộn sách và tháo bảy ấn của nó. Khải Huyền 5:1-5.

Once the escalating rejection of the jewels that Miller discovered and presented to the world reached the point where the Bible (the casket) was destroyed, then Miller wept.

Khi sự bác bỏ ngày càng gia tăng đối với những viên ngọc quý mà Miller đã khám phá và giới thiệu với thế giới đạt tới mức khiến Kinh Thánh (chiếc tráp) bị phá hủy, bấy giờ Miller đã khóc.

“I then saw that among the genuine jewels and coin they had scattered an innumerable quantity of spurious jewels and counterfeit coin. I was highly incensed at their base conduct and ingratitude, and reproved and reproached them for it; but the more I reproved, the more they scattered the spurious jewels and false coin among the genuine.

Bấy giờ tôi thấy rằng giữa những châu báu thật và đồng tiền thật, họ đã rải vô số châu báu giả và đồng tiền giả. Tôi vô cùng phẫn nộ trước hành vi đê tiện và vô ơn của họ, và đã khiển trách, quở trách họ vì điều đó; nhưng tôi càng khiển trách thì họ càng rải châu báu giả và đồng tiền giả lẫn vào châu báu và đồng tiền thật.

“I then became vexed in my physical soul and began to use physical force to push them out of the room; but while I was pushing out one, three more would enter and bring in dirt and shavings and sand and all manner of rubbish, until they covered every one of the true jewels, diamonds, and coins, which were all excluded from sight. They also tore in pieces my casket and scattered it among the rubbish. I thought no man regarded my sorrow or my anger. I became wholly discouraged and disheartened, and sat down and wept.”

Rồi tôi trở nên bực bội trong thân xác mình và bắt đầu dùng sức mạnh thể xác để đẩy chúng ra khỏi phòng; nhưng khi tôi vừa đẩy được một đứa ra thì lại có ba đứa khác ùa vào, mang theo bụi bẩn, mạt vụn, cát và đủ thứ rác rưởi, cho đến khi chúng phủ kín hết mọi viên bảo ngọc, kim cương và đồng tiền thật, khiến tất cả đều khuất khỏi tầm mắt. Chúng cũng xé nát chiếc hộp đựng báu của tôi và vung vãi nó lẫn trong đống rác. Tôi nghĩ chẳng ai đoái hoài đến nỗi buồn hay cơn giận của tôi. Tôi hoàn toàn nản chí, mất hết tinh thần, rồi ngồi xuống mà khóc.

At this point in his dream the word “scatter” has been employed “seven times.” The last three occurrences are distinct, from the first seven, thus placing a prophetic signature upon the seven scatterings as a symbol of the “seven times” of Leviticus twenty six. Miller’s second dream, as with Nebuchadnezzar’s second dream, symbolically identifies the “seven times.”

Tại thời điểm này trong giấc mơ của ông, từ "scatter" đã được dùng "bảy lần". Ba lần xuất hiện cuối cùng khác biệt so với bảy lần đầu, qua đó đặt một dấu ấn tiên tri lên bảy lần tản lạc như một biểu tượng của "bảy lần" trong Lê-vi Ký 26. Giấc mơ thứ hai của Miller, cũng như giấc mơ thứ hai của Nebuchadnezzar, xác định một cách biểu tượng "bảy lần".

As with John in Revelation chapter five, when Miller wept, the dirt brush man (the Lion of the tribe of Judah), then “opened a door” and entered the room. The visual representation of the Father holding the book which was sealed with seven seals, that no man could open, and that had caused John to weep, began in verse one of chapter four.

Cũng như Giăng trong Khải Huyền chương năm, khi Miller khóc, người đàn ông cầm chổi quét bụi (Sư Tử của chi phái Giu-đa) liền "mở một cánh cửa" và bước vào phòng. Hình ảnh mô tả Đức Chúa Cha cầm quyển sách được niêm phong bằng bảy ấn, mà không ai có thể mở ra và đã khiến Giăng khóc, bắt đầu từ câu một của chương bốn.

After this I looked, and, behold, a door was opened in heaven: and the first voice which I heard was as it were of a trumpet talking with me; which said, Come up hither, and I will show thee things which must be hereafter. Revelation 4:1.

Sau đó tôi nhìn, và kìa, một cánh cửa mở ra trên trời; và tiếng thứ nhất tôi nghe như tiếng kèn nói với tôi: Hãy lên đây, ta sẽ cho ngươi thấy những điều phải xảy ra sau này. Khải Huyền 4:1.

Miller wept and saw a door opened. “While I was thus weeping and mourning for my great loss and accountability, I remembered God, and earnestly prayed that He would send me help. Immediately the door opened, and a man entered the room, when the people all left it; and he, having a dirt brush in his hand, opened the windows, and began to brush the dirt and rubbish from the room.” The Lion of the tribe of Judah and the dirt brush man arrived at the opening of a door, when John and Miller wept. The opening of a door is a symbol of a dispensational change.

Miller khóc và thấy một cánh cửa mở ra. "Trong khi tôi đang khóc lóc và than thở vì sự mất mát lớn lao và trách nhiệm của mình, tôi nhớ đến Đức Chúa Trời và tha thiết cầu nguyện xin Ngài ban cho tôi sự giúp đỡ. Ngay lập tức cánh cửa mở ra, và một người đàn ông bước vào phòng, còn mọi người thì đều rời khỏi đó; và ông ta, cầm một chiếc bàn chải quét bụi trong tay, mở các cửa sổ và bắt đầu quét bụi bẩn cùng rác rưởi ra khỏi căn phòng." Sư Tử của chi phái Giu-đa và người đàn ông cầm bàn chải quét bụi xuất hiện khi cánh cửa được mở ra, lúc John và Miller khóc. Việc một cánh cửa được mở ra là biểu tượng của sự thay đổi thời kỳ.

With Miller, he wept and a door was opened, but he also prayed. “I became wholly discouraged and disheartened, and sat down and wept. While I was thus weeping and mourning for my great loss and accountability, I remembered God, and earnestly prayed that He would send me help. Immediately the door opened, and a man entered the room, when the people all left it; and he, having a dirt brush in his hand, opened the windows, and began to brush the dirt and rubbish from the room.”

Còn Miller thì ông đã khóc và một cánh cửa được mở ra, nhưng ông cũng đã cầu nguyện. “Tôi hoàn toàn nản chí và mất hết tinh thần, ngồi xuống và khóc. Khi tôi đang khóc lóc như vậy và than khóc vì mất mát lớn lao và trách nhiệm nặng nề của mình, tôi nhớ đến Đức Chúa Trời và tha thiết cầu nguyện xin Ngài sai người đến giúp tôi. Lập tức cánh cửa mở ra, và một người đàn ông bước vào phòng, còn mọi người thì đều rời khỏi đó; và ông ta, tay cầm một chiếc chổi quét bụi, mở các cửa sổ và bắt đầu quét bụi bặm và rác rưởi ra khỏi phòng.”

The prayer that is a waymark in the history of the last days, is the prayer marked by Daniel and the three worthies in chapter two, and also by Daniel in chapter nine. It is the Leviticus twenty-six prayer of the “seven times,” which the two witnesses of Revelation eleven are to pray when they realize that they had been scattered. The two witnesses are to repeat what Daniel had done in chapter nine, when he recognized that he had been “scattered” in fulfillment of the curse of Moses. The two witnesses are to repeat what Miller illustrated in his dream when he reached the point where his jewels had been scattered “seven times.”

Lời cầu nguyện, vốn là một cột mốc trong lịch sử thời kỳ sau rốt, chính là lời cầu nguyện được thể hiện bởi Đa-ni-ên và ba người đáng kính trong chương hai, và cũng bởi Đa-ni-ên trong chương chín. Đó là lời cầu nguyện theo Lê-vi Ký chương hai mươi sáu về “bảy lần”, mà hai nhân chứng trong Khải Huyền mười một sẽ cầu nguyện khi họ nhận ra rằng họ đã bị tản lạc. Hai nhân chứng sẽ lặp lại điều Đa-ni-ên đã làm trong chương chín, khi ông nhận biết rằng mình đã bị “tản lạc” để ứng nghiệm lời nguyền của Môi-se. Hai nhân chứng sẽ lặp lại điều mà Miller đã minh họa trong giấc mơ của ông, khi ông đi đến lúc các châu báu của mình đã bị tản lạc “bảy lần”.

When that prayer is marked a door is opened, the dirt brush man arrives, and the room is empty. The wicked crowd were gone, and a new dispensation had arrived. Then the Lion of the tribe of Judah, whose fan is in His hand, “opened the windows, and began to brush the dirt and rubbish from the room,” and as “he brushed the dirt and rubbish, false jewels and counterfeit coin, all rose and went out of the window like a cloud, and the wind carried them away.”

Khi lời cầu nguyện ấy được ghi dấu, một cánh cửa mở ra, người cầm chổi quét rác đến, và căn phòng trở nên trống trơn. Đám đông kẻ gian ác đã biến mất, và một thời kỳ mới đã đến. Bấy giờ Sư tử của chi phái Giu-đa, Đấng cầm chiếc quạt trong tay, "mở các cửa sổ, và bắt đầu quét bụi bẩn cùng rác rưởi khỏi phòng," và khi "Ngài quét bụi bẩn và rác rưởi, những châu báu giả và những đồng tiền giả mạo, tất cả đều bốc lên và bay ra ngoài cửa sổ như một đám mây, và gió cuốn chúng đi."

The open windows also mark a division, for as the rubbish is carried out of the window, those who have fulfilled the command found in Malachi, that directs the “priests” of the last days to, “bring ye all the tithes into the storehouse, that there may be meat in mine house, and prove me now herewith, saith the Lord of hosts, if I will not open you the windows of heaven, and pour you out a blessing, that there shall not be room enough to receive it.” The open door and the open windows represent a change in dispensation that is fulfilled at the time the wicked priests are removed, and the righteous priests are being blessed.

Những cửa sổ mở cũng đánh dấu một sự phân chia, vì khi rác rưởi được mang ra ngoài qua cửa sổ, thì những ai đã làm trọn mệnh lệnh chép trong Ma-la-chi, truyền cho các “thầy tế lễ” của những ngày sau rốt rằng: “Hãy đem hết thảy phần mười vào nhà kho, để trong nhà Ta có lương thực, và bây giờ hãy thử Ta trong điều này, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, xem Ta há chẳng mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi và đổ xuống cho các ngươi một phước lành, đến nỗi không còn chỗ để chứa chăng.” Cánh cửa mở và các cửa sổ mở tượng trưng cho một sự thay đổi trong thời kỳ quản trị, được ứng nghiệm vào lúc các thầy tế lễ gian ác bị cất bỏ, còn các thầy tế lễ công chính thì được ban phước.

As the dirt brush man begins to purge his floor, Miller closes his eyes for a moment. “In the bustle I closed my eyes for a moment; when I opened them, the rubbish was all gone. The precious jewels, the diamonds, the gold and silver coins, lay scattered in profusion all over the room.” The precious and the vile were then fully separated.

Khi người quét rác bắt đầu dọn sạch sàn nhà, Miller nhắm mắt lại trong chốc lát. “Giữa lúc bận rộn, tôi nhắm mắt một lát; khi mở mắt ra, mọi rác rưởi đã biến mất. Những viên ngọc quý, những viên kim cương, những đồng tiền vàng và bạc nằm rải la liệt khắp căn phòng.” Khi ấy, cái quý giá và cái hèn mọn đã được tách biệt hoàn toàn.

The larger casket was then placed upon the table, and the scattered jewels were cast into it. “He then placed on the table a casket, much larger and more beautiful than the former, and gathered up the jewels, the diamonds, the coins, by the handful, and cast them into the casket, till not one was left, although some of the diamonds were not bigger than the point of a pin.” Miller’s foundational truths were then brought together with not only the Bible, but with the Spirit of Prophecy, and those truths were more beautiful and brighter than they originally were.

Chiếc tráp lớn hơn được đặt lên bàn, và những châu báu vương vãi được đổ vào trong đó. "Rồi ông đặt lên bàn một chiếc tráp lớn hơn nhiều và đẹp hơn chiếc trước, và nhặt châu báu, kim cương, tiền xu thành từng nắm, đổ chúng vào tráp, cho đến khi không còn sót lại một món nào, mặc dù có những viên kim cương không lớn hơn đầu một chiếc ghim." Những lẽ thật nền tảng của Miller sau đó được gom lại, không chỉ với Kinh Thánh mà còn với Thần khí của lời tiên tri, và những lẽ thật ấy trở nên đẹp đẽ và rực rỡ hơn trước.

As we evaluate the vision of the Ulai River in the terms of the message that was unsealed in 1798, it is to be understood that some of those truths were limited by the framework given to Miller. It is also to be expected that some of those truths will therefore be larger and more beautiful, even though some of them might appear small or minor.

Khi chúng ta đánh giá khải tượng về sông Ulai dưới góc độ của sứ điệp đã được mở ấn vào năm 1798, cần hiểu rằng một số lẽ thật ấy đã bị giới hạn bởi khuôn khổ được ban cho Miller. Cũng nên kỳ vọng rằng vì vậy một số lẽ thật ấy sẽ lớn hơn và đẹp đẽ hơn, mặc dù một vài điều trong số đó có thể có vẻ nhỏ bé hoặc thứ yếu.

When the truths are restored, they are cast into a larger casket, then the call is once again made, not by Miller, but by Christ, (who is the dirt brush man, who is the Lion of the tribe of Judah) to, “come and see.” This identifies that an unsealing has just taken place, and the final unsealing is the Revelation of Jesus Christ that takes place just before probation closes, or as Sister White identifies, when the dirt brush man has entered.

Khi các lẽ thật được phục hồi, chúng được đặt vào một cái tráp lớn hơn; rồi lời kêu gọi lại được đưa ra — không phải bởi Miller, mà bởi Đấng Christ (người cầm chổi quét bụi, là Sư Tử của chi phái Giu-đa) — rằng: “Hãy đến và xem.” Điều này cho thấy rằng một sự mở ấn vừa diễn ra, và sự mở ấn cuối cùng chính là Khải Huyền của Đức Chúa Jêsus Christ, diễn ra ngay trước khi thời kỳ ân điển đóng lại, hay như Bà White xác định, là khi người cầm chổi quét bụi đã bước vào.

“I looked into the casket, but my eyes were dazzled with the sight. They shone with ten times their former glory. I thought they had been scoured in the sand by the feet of those wicked persons who had scattered and trod them in the dust. They were arranged in beautiful order in the casket, everyone in its place, without any visible pains of the man who cast them in. I shouted with very joy, and that shout awoke me.” Early Writings, 83.

"Tôi nhìn vào chiếc hộp, nhưng mắt tôi lóa lên trước cảnh tượng đó. Chúng sáng rực gấp mười lần vẻ rực rỡ trước kia. Tôi nghĩ rằng chúng đã bị chà xát trong cát bởi bàn chân của những kẻ gian ác, những kẻ đã làm chúng vương vãi và giẫm vùi chúng xuống bụi đất. Chúng được sắp xếp thật đẹp đẽ trong chiếc hộp, mỗi thứ ở đúng vị trí của nó, mà không hề thấy người đã ném chúng vào phải nhọc công gì. Tôi kêu lên vì quá vui mừng, và tiếng kêu ấy đã đánh thức tôi." Những Bài Viết Sớm, 83.

The tarrying time and the first disappointment arrived on July 18, 2020, and since July of 2023, the Lion of the tribe of Judah has been unsealing the message of the Revelation of Jesus Christ. That unsealing includes the book of Daniel, and we will finish our consideration of Miller’s dream in the next article.

Thời kỳ trì hoãn và nỗi thất vọng đầu tiên đã đến vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, và kể từ tháng 7 năm 2023, Sư tử của chi phái Giu-đa đang mở ấn thông điệp của sách Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ. Việc mở ấn đó bao gồm cả sách Đa-ni-ên, và chúng ta sẽ hoàn tất việc xem xét giấc mơ của Miller trong bài viết tiếp theo.

The work of the dirt brush man is carried out in cooperation with the “wise priests”, and the work of those “priests”, who are the two witnesses of Revelation chapter eleven, and who are the resurrected dead bones of Ezekiel chapter thirty-seven are also represented by other lines of God’s Word. We will employ a few of those lines as second witnesses for what we have identified concerning William Miller’s second dream.

Công việc của người quét bụi được thực hiện phối hợp với các “thầy tế lễ khôn ngoan”, và công việc của những “thầy tế lễ” ấy, là hai nhân chứng của Khải Huyền chương mười một và là những xương khô được sống lại trong Ê-xê-chi-ên chương ba mươi bảy, cũng được thể hiện qua những chỗ khác trong Lời Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ sử dụng một vài trong những chỗ ấy như những nhân chứng thứ hai cho những gì chúng ta đã xác định liên quan đến giấc mơ thứ hai của William Miller.

“The Scriptures are given for our benefit that we may have instruction in righteousness. Precious rays of light have been obscured by the clouds of error, but Christ is ready to sweep away the mists of error and superstition, and to reveal to us the brightness of the Father’s glory, so that we shall say as did the disciples, ‘Did not our heart burn within us, while he talked with us by the way?’” Publishing Ministry, 68.

Kinh Thánh được ban cho vì ích lợi của chúng ta, để chúng ta được dạy dỗ trong sự công bình. Những tia sáng quý báu đã bị mây mù của lầm lạc che khuất, nhưng Đấng Christ sẵn sàng quét sạch màn sương mù của lầm lạc và mê tín, và bày tỏ cho chúng ta vẻ rực rỡ của vinh quang Cha, để chúng ta cũng sẽ nói như các môn đồ đã nói: “Lòng chúng ta há chẳng bừng cháy trong chúng ta sao, khi Ngài nói chuyện với chúng ta dọc đường?” Tác vụ Xuất bản, 68.