We are currently addressing the “seven times” of Leviticus twenty-six in the book of Daniel. It is hidden to those who have chosen to close their eyes, but it is there for those who wish to see. We will begin in Daniel chapter eight, and verse thirteen.
Hiện chúng ta đang bàn đến "bảy lần" của Lê-vi Ký chương hai mươi sáu trong sách Đa-ni-ên. Điều ấy bị ẩn đối với những người đã chọn nhắm mắt, nhưng vẫn ở đó cho những ai muốn thấy. Chúng ta sẽ bắt đầu ở Đa-ni-ên chương tám, câu mười ba.
Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? Daniel 8:13.
Bấy giờ tôi nghe có một Đấng thánh nói; một Đấng thánh khác nói cùng Đấng thánh đang nói ấy rằng: Sự hiện thấy về việc dâng của lễ hằng ngày, và sự phạm tội làm nên sự hoang vu, sẽ còn đến chừng nào, để cho nơi thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Daniel 8:13.
The verse begins with the word “then,” and is making a distinction between the vision of prophetic history Daniel has just seen in the previous ten verses. Verse one and two of the chapter, identify the year when Daniel received the vision and also that he received it by the Ulai river. From verse three to verse twelve, he “sees” the vision of prophetic history. “Then” he “hears” a heavenly dialogue consisting of a question and an answer. In verse fifteen, he begins to seek what the vision of prophetic history that he had just “seen” represented. It is essential to recognize the distinction between the vision that Daniel “saw” in verses three through twelve, and the heavenly dialogue, which he “heard”—for they are two different visions.
Câu bắt đầu bằng từ "then", và nhằm phân biệt với khải tượng về lịch sử tiên tri mà Đa-ni-ên vừa thấy trong mười câu trước. Câu một và câu hai của chương xác định năm Đa-ni-ên nhận được khải tượng, đồng thời cho biết ông nhận nó bên sông Ulai. Từ câu ba đến câu mười hai, ông "thấy" khải tượng về lịch sử tiên tri. "Then" ông "nghe" một cuộc đối thoại trên trời gồm một câu hỏi và một câu trả lời. Ở câu mười lăm, ông bắt đầu tìm hiểu khải tượng về lịch sử tiên tri mà ông vừa "thấy" đại diện cho điều gì. Điều cốt yếu là phải nhận ra sự phân biệt giữa khải tượng mà Đa-ni-ên "thấy" trong các câu từ ba đến mười hai, và cuộc đối thoại trên trời mà ông "nghe"—vì đó là hai khải tượng khác nhau.
But blessed are your eyes, for they see: and your ears, for they hear. Matthew 13:16.
Nhưng phúc thay cho mắt anh em, vì được thấy; và tai anh em, vì được nghe. Ma-thi-ơ 13:16.
The question in verse thirteen is, “How long shall be the vision,” and the word translated as “vision” is a different Hebrew word than the word translated as “vision” in verse sixteen.
Câu hỏi trong câu mười ba là: “Khải tượng sẽ kéo dài bao lâu?”, và từ được dịch là “khải tượng” ở đây là một từ tiếng Hê-bơ-rơ khác với từ được dịch là “khải tượng” trong câu mười sáu.
And I heard a man’s voice between the banks of Ulai, which called, and said, Gabriel, make this man to understand the vision. Daniel 8:16.
Và tôi nghe tiếng của một người đàn ông giữa hai bờ của Ulai, tiếng ấy gọi và nói: "Gabriel, hãy khiến người này hiểu khải tượng." Daniel 8:16.
By translating two different Hebrew words into the English word “vision,” the “seven times” of Leviticus twenty-six, became “hidden in plain sight”. Biblical students who are satisfied to simply skim the surface consider these two different Hebrew words as the same word, but they do so at their own peril.
Việc dịch hai từ tiếng Hê-bơ-rơ khác nhau thành cùng một từ tiếng Anh "vision" đã khiến cụm "bảy lần" trong Lê-vi Ký hai mươi sáu trở nên "ẩn ngay trước mắt". Những người học Kinh Thánh chỉ hài lòng với việc lướt qua bề mặt coi hai từ Hê-bơ-rơ khác nhau này là cùng một từ, nhưng họ làm vậy là tự chuốc lấy nguy hiểm.
“To skim over the surface will do little good. Thoughtful investigation and earnest, taxing study are required to comprehend it. There are truths in the word which are like veins of precious ore concealed beneath the surface. By digging for them, as the man digs for gold and silver, the hidden treasures are discovered. Be sure that the evidence of truth is in the Scripture itself. One scripture is the key to unlock other scriptures. The rich and hidden meaning is unfolded by the Holy Spirit of God, making plain the word to our understanding: ‘The entrance of Thy words giveth light; it giveth understanding unto the simple.’” Fundamentals of Christian Education, 390.
Chỉ lướt qua bề mặt thì chẳng ích lợi bao nhiêu. Cần có sự khảo cứu thấu đáo và việc học hỏi nghiêm túc, tốn sức thì mới hiểu được. Có những lẽ thật trong Lời giống như những mạch quặng quý ẩn dưới bề mặt. Bằng cách đào tìm chúng, như người ta đào vàng và bạc, những kho báu ẩn giấu được khám phá. Hãy chắc chắn rằng bằng chứng của lẽ thật ở ngay trong Kinh Thánh. Một câu Kinh Thánh là chìa khóa để mở các câu Kinh Thánh khác. Ý nghĩa phong phú và ẩn giấu được Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời mở ra, làm cho Lời trở nên rõ ràng đối với sự hiểu biết của chúng ta: 'Khi lời Ngài được mở ra thì ban ánh sáng; ban sự hiểu biết cho người đơn sơ.' Fundamentals of Christian Education, 390.
We are informed that “every fact has its bearing” in the Word of God, and if we choose to ignore the fact there are two different Hebrew words translated as “vision” in chapter eight, we are responsible for inflicting Laodicean blindness upon ourselves. The old adage is, “there are none so blind as those who will not see.”
Chúng ta được cho biết rằng "mọi chi tiết đều có ý nghĩa" trong Lời Đức Chúa Trời, và nếu chúng ta chọn phớt lờ thực tế rằng có hai từ Hê-bơ-rơ khác nhau được dịch là "khải tượng" trong chương tám, thì chúng ta phải chịu trách nhiệm vì đã tự gây cho mình sự mù lòa La-ô-đi-xê. Câu ngạn ngữ xưa nói rằng, "không ai mù bằng kẻ không chịu thấy."
“The Bible contains all the principles that men need to understand in order to be fitted either for this life or for the life to come. And these principles may be understood by all. No one with a spirit to appreciate its teaching can read a single passage from the Bible without gaining from it some helpful thought. But the most valuable teaching of the Bible is not to be gained by occasional or disconnected study. Its great system of truth is not so presented as to be discerned by the hasty or careless reader. Many of its treasures lie far beneath the surface, and can be obtained only by diligent research and continuous effort. The truths that go to make up the great whole must be searched out and gathered up, ‘here a little, and there a little.’ Isaiah 28:10.
Kinh Thánh chứa đựng tất cả những nguyên tắc mà con người cần hiểu để được trang bị cho đời này cũng như đời hầu đến. Và mọi người đều có thể hiểu những nguyên tắc ấy. Không ai có tấm lòng biết trân trọng những lời dạy của Kinh Thánh mà lại đọc một đoạn Kinh Thánh, dù chỉ một đoạn ngắn, mà không thu nhận từ đó một tư tưởng ích lợi. Nhưng những sự dạy dỗ quý báu nhất của Kinh Thánh không thể có được chỉ bằng việc học thỉnh thoảng hay rời rạc. Hệ thống chân lý vĩ đại của nó không được trình bày theo cách để người đọc vội vàng hay cẩu thả có thể nhận ra. Nhiều kho tàng của nó nằm sâu bên dưới bề mặt và chỉ có thể đạt được bằng sự nghiên cứu siêng năng và nỗ lực không ngừng. Những lẽ thật cấu thành nên toàn thể vĩ đại ấy phải được tìm kiếm và gom góp, 'chút ít ở đây, chút ít ở kia.' Ê-sai 28:10.
“When thus searched out and brought together, they will be found to be perfectly fitted to one another. Each Gospel is a supplement to the others, every prophecy an explanation of another, every truth a development of some other truth. The types of the Jewish economy are made plain by the gospel. Every principle in the word of God has its place, every fact its bearing. And the complete structure, in design and execution, bears testimony to its Author. Such a structure no mind but that of the Infinite could conceive or fashion.” Education, 123.
Khi được tra xét và gom lại với nhau như vậy, sẽ thấy chúng ăn khớp với nhau cách hoàn hảo. Mỗi sách Phúc Âm bổ sung cho các sách khác, mỗi lời tiên tri giải thích một lời khác, mỗi lẽ thật là sự phát triển của một lẽ thật khác. Các hình bóng trong hệ thống tôn giáo Do Thái được Phúc Âm làm cho sáng tỏ. Mỗi nguyên tắc trong lời Đức Chúa Trời đều có chỗ của nó, mỗi sự kiện có mối liên hệ của nó. Và toàn bộ cấu trúc, trong thiết kế và thực hiện, làm chứng cho Tác giả của nó. Một cấu trúc như vậy thì không một tâm trí nào, ngoài tâm trí của Đấng Vô Hạn, có thể nghĩ ra hay tạo dựng được. Giáo dục, 123.
The word “vision” occurs ten times in Daniel chapter eight, but those ten times consist of two different Hebrew words, and the meanings of those words are not the same. If they meant the same thing, Daniel would have only used one of those words in each of the ten occurrences. Daniel wrote two words, for each of those two words possess their own meanings, and one represents a vision Daniel “saw”, and the other a vision he “heard”. In verse thirteen, the word translated as “vision” is châzôn, and it means “a sight”, or “a vision”, “a dream” or “an oracle”. I call it the “vision of prophetic history” based upon its definition and on how Daniel employs it.
Từ "khải tượng" xuất hiện mười lần trong Đa-ni-ên chương tám, nhưng mười lần ấy gồm hai từ Hê-bơ-rơ khác nhau, và ý nghĩa của chúng không giống nhau. Nếu chúng có cùng ý nghĩa, Đa-ni-ên đã chỉ dùng một trong hai từ đó cho cả mười lần. Đa-ni-ên đã viết hai từ, vì mỗi từ có ý nghĩa riêng của nó; một từ chỉ khải tượng Đa-ni-ên "thấy", còn từ kia chỉ khải tượng ông "nghe". Ở câu mười ba, từ được dịch là "khải tượng" là châzôn, và nó có nghĩa là "một cảnh tượng", hoặc "một khải tượng", "một giấc mộng" hay "một lời sấm ngôn". Tôi gọi nó là "khải tượng về lịch sử tiên tri" dựa trên định nghĩa của nó và cách Đa-ni-ên sử dụng.
In verse one, of Daniel chapter eight, Daniel says “a vision appeared unto me,” and in verse two he twice states that he “saw in a vision.” Then in verse thirteen, the question is raised of “how long shall be the vision.” All of those usages are the Hebrew word “châzôn.” Then in verse fifteen, we come to perhaps the most important time Daniel used that very same word, for he says, “when I”…“had seen the vision and sought for the meaning.” After Daniel had seen the châzôn vision, he wanted to understand what it meant. This is a fact that has great bearing on the hiding of the “seven times” of Leviticus twenty-six in the chapter.
Trong câu một của Đa-ni-ên đoạn tám, Đa-ni-ên nói: “một khải tượng hiện đến với tôi,” và trong câu hai ông hai lần nói rằng ông “thấy trong khải tượng.” Rồi đến câu mười ba, có câu hỏi được nêu ra: “khải tượng sẽ kéo dài bao lâu.” Tất cả những chỗ dùng ấy đều là từ Hê-bơ-rơ “châzôn.” Kế đến ở câu mười lăm, chúng ta gặp có lẽ lần quan trọng nhất Đa-ni-ên dùng chính từ ấy, vì ông nói: “khi tôi”...“đã thấy khải tượng và tìm hiểu ý nghĩa.” Sau khi Đa-ni-ên đã thấy khải tượng châzôn, ông muốn hiểu nó có nghĩa gì. Đây là một thực tế có ảnh hưởng lớn đến việc giấu kín “bảy lần” của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu trong chương này.
He also uses the word châzôn in verses seventeen and twenty-six. The word “vision” appears ten times in Daniel chapter eight, and the word châzôn represents seven of those occurrences. Daniel uses the other Hebrew word that is translated as “vision” four times. The other Hebrew word is mar’eh, and means “appearance”.
Ông cũng dùng từ châzôn ở các câu 17 và 26. Từ "vision" xuất hiện mười lần trong sách Đa-ni-ên đoạn tám, và từ châzôn chiếm bảy trong số các trường hợp ấy. Đa-ni-ên dùng từ Hê-bơ-rơ khác được dịch là "vision" bốn lần. Từ Hê-bơ-rơ còn lại là mar'eh, và có nghĩa là "diện mạo".
Châzôn is found seven times in Daniel chapter eight, and mar’eh is found four times, and together they represent the ten times the English word “vision” occurs in Daniel chapter eight. Seven plus four is eleven, for one of the times Daniel employed the word mar’eh, it was translated just as it is defined, for in verse fifteen, when Daniel “sought for the meaning” of the châzôn vision of prophetic history, there “stood before” him “as the appearance of a man.” The word “appearance” is mar’eh. Therefore, mar’eh is used by Daniel four times in Daniel eight, and it is translated once in agreement with its primary definition of “appearance,” and the other three times it is translated as “vision.”
Châzôn xuất hiện bảy lần trong Daniel chương tám, và mar'eh xuất hiện bốn lần, và gộp lại chúng tương ứng với mười lần từ tiếng Anh "vision" xuất hiện trong Daniel chương tám. Bảy cộng bốn là mười một, vì trong một lần Daniel dùng từ mar'eh, nó đã được dịch đúng như định nghĩa của nó; bởi ở câu mười lăm, khi Daniel "tìm hiểu ý nghĩa" của khải tượng châzôn về lịch sử tiên tri, đã "đứng trước mặt" ông "như hình dáng của một người." Từ "appearance" là mar'eh. Vì vậy, mar'eh được Daniel dùng bốn lần trong Daniel chương tám, và một lần nó được dịch phù hợp với định nghĩa chính của nó là "appearance", còn ba lần kia nó được dịch là "vision."
I am not suggesting any criticism of the men who translated the King James Bible. It needs to be noted though, that in verse thirteen, is found the only added word in the King James Bible (sacrifice), that inspiration states definitively, “does not belong to the text.” Inspiration further states that the added word had been “added by human wisdom.” In the very same chapter, two different Hebrew words are both translated as the same English word. The reason it is essential to recognize the distinction between these two words is profoundly important.
Tôi không có ý chỉ trích những người đã dịch Kinh Thánh King James. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ở câu mười ba có từ duy nhất được thêm vào trong bản Kinh Thánh King James (sacrifice), mà sự linh hứng khẳng định dứt khoát là "không thuộc về bản văn." Sự linh hứng còn nói rằng từ được thêm ấy đã được "thêm vào bởi sự khôn ngoan của con người." Ngay trong cùng chương đó, hai từ tiếng Hê-bơ-rơ khác nhau đều được dịch thành cùng một từ tiếng Anh. Lý do tại sao việc nhận ra sự khác biệt giữa hai từ này là điều thiết yếu lại mang ý nghĩa hết sức quan trọng.
And it came to pass, when I, even I Daniel, had seen the vision, and sought for the meaning, then, behold, there stood before me as the appearance of a man. And I heard a man’s voice between the banks of Ulai, which called, and said, Gabriel, make this man to understand the vision. Daniel 8:15, 16.
Và đã xảy ra rằng, khi tôi, chính tôi là Daniel, đã thấy khải tượng và tìm hiểu ý nghĩa, thì kìa, trước mặt tôi có một hình dáng như một người đang đứng. Tôi nghe một giọng người ở giữa hai bờ sông Ulai gọi và nói: “Gabriel, hãy làm cho người này hiểu khải tượng.” Daniel 8:15, 16.
As Daniel “sought for the meaning” of the “châzôn vision” which he had just “seen,” Christ informs Gabriel to “make” Daniel to understand the “mar’eh vision” which he had just “heard”. Daniel wanted to understand the vision of prophetic history, but Christ, who had been identified in verse thirteen as Palmoni (that certain saint which spake), instructed Gabriel to make Daniel understand the “mar’eh vision”, not the “châzôn vision”. In verses fifteen and sixteen, the stated purpose for Gabriel is that he is to make Daniel understand the “mar’eh vision”, which is the word translated as “vision” which means “appearance,” not the vision of prophetic history which Daniel wanted to understand. Without recognizing Gabriel’s job assignment, the “seven times” of Leviticus twenty-six is hidden in plain sight.
Khi Đa-ni-ên “tìm hiểu ý nghĩa” của “khải tượng châzôn” mà ông vừa “thấy”, Đấng Christ bảo Ga-bri-ên “khiến” Đa-ni-ên hiểu “khải tượng mar'eh” mà ông vừa “nghe”. Đa-ni-ên muốn hiểu khải tượng về lịch sử tiên tri, nhưng Đấng Christ, Đấng đã được xác định ở câu mười ba là Palmoni (vị thánh kia đã phán), đã chỉ thị Ga-bri-ên khiến Đa-ni-ên hiểu “khải tượng mar'eh”, chứ không phải “khải tượng châzôn”. Trong các câu mười lăm và mười sáu, mục đích được nêu ra cho Ga-bri-ên là ông phải khiến Đa-ni-ên hiểu “khải tượng mar'eh”, tức là từ được dịch là “khải tượng”, có nghĩa là “sự xuất hiện”, chứ không phải khải tượng về lịch sử tiên tri mà Đa-ni-ên muốn hiểu. Nếu không nhận ra nhiệm vụ được giao cho Ga-bri-ên, thì “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu bị ẩn ngay trước mắt.
In verse twenty-six both Hebrew words that are translated as “vision” are located in the same verse, and the verse becomes one of the primary keys to opening the truth of Daniel’s testimony of the “seven times.”
Ở câu 26, cả hai từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là "khải tượng" đều nằm trong chính câu ấy, và câu ấy trở thành một trong những chìa khóa chính để mở ra chân lý về lời chứng của Đa-ni-ên về "bảy lần".
And the vision of the evening and the morning which was told is true: wherefore shut thou up the vision; for it shall be for many days. Daniel 8:26.
Khải tượng về buổi chiều và buổi mai đã được nói là thật; vì vậy, ngươi hãy niêm phong khải tượng ấy, vì phải còn lâu ngày nữa. Đa-ni-ên 8:26.
In verse twenty-six, the “vision of the evening and mornings” is the mar’eh vision, meaning “appearance”, but the vision that was to be “shut up,” is the châzôn vision of prophetic history. The expression “evening and mornings” is what isolates and identifies the distinction between the two visions. It does so with another illustration of the human factor in producing the Bible. The human factor consisted of both the prophets that recorded the words of the Bible, but also of those that translated the Bible. The Bible, as with Christ, represents a combination of divinity and humanity. That humanity descended down through history, from Adam after he sinned to those who recorded and translated the Bible. Christ and the Bible are both the Word of God, and the Word of God’s is pure, for the divinity of the combination always overruled any limitations that existed in the flesh.
Trong câu hai mươi sáu, “khải tượng về buổi chiều và buổi sáng” là khải tượng mar'eh, nghĩa là “sự xuất hiện”, nhưng khải tượng phải “đóng kín” là khải tượng châzôn về lịch sử tiên tri. Cụm từ “buổi chiều và buổi sáng” chính là yếu tố tách riêng và nhận diện sự khác biệt giữa hai khải tượng. Điều này cũng minh họa thêm yếu tố con người trong việc hình thành Kinh Thánh. Yếu tố con người bao gồm cả các nhà tiên tri ghi chép lời Kinh Thánh, lẫn những người dịch Kinh Thánh. Kinh Thánh, cũng như Đấng Christ, là sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính. Tính nhân loại ấy truyền suốt dòng lịch sử, từ A-đam sau khi ông phạm tội cho đến những người ghi chép và dịch Kinh Thánh. Đấng Christ và Kinh Thánh đều là Lời của Đức Chúa Trời, và Lời của Đức Chúa Trời là tinh sạch, vì thần tính trong sự kết hợp ấy luôn vượt trên và chế ngự mọi giới hạn tồn tại nơi xác thịt.
Paul, a servant of Jesus Christ, called to be an apostle, separated unto the gospel of God, (Which he had promised afore by his prophets in the holy scriptures,) Concerning his Son Jesus Christ our Lord, which was made of the seed of David according to the flesh. Romans 1:1–3.
Phao-lô, tôi tớ của Đức Chúa Giê-xu Christ, được gọi làm sứ đồ, được biệt riêng cho Tin Lành của Đức Chúa Trời, (mà Ngài đã hứa trước bởi các đấng tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh,) về Con Ngài là Đức Chúa Giê-xu Christ, Chúa chúng ta, vốn thuộc dòng dõi Đa-vít theo xác thịt. Rô-ma 1:1-3.
The expression “evening and morning” is found repeatedly in God’s Word, and it is always translated as “evening and morning,” as it is in verse twenty-six, and as it is so often translated in the creation story in Genesis that repeatedly states, “and the evening and the morning were….” In fact, and every fact has its bearing (and this fact is essential to understand), the only place in the Bible that the expression “evening and morning” is not translated as “evening and morning” (as it is in verse twenty-six), is in verse fourteen of Daniel eight. There, and only there in God’s Word the phrase “evening and morning” is translated as simply “days.”
Cụm từ "buổi chiều và buổi mai" xuất hiện nhiều lần trong Lời Đức Chúa Trời, và luôn được dịch là "buổi chiều và buổi mai", như ở câu hai mươi sáu, và như thường được dịch trong câu chuyện sáng tạo trong sách Sáng-thế Ký, nơi nhiều lần chép: "và có buổi chiều và buổi mai...". Thật vậy, và mọi sự kiện đều có ý nghĩa của nó (và sự kiện này là điều cốt yếu để hiểu), chỗ duy nhất trong Kinh Thánh mà cụm từ "buổi chiều và buổi mai" không được dịch là "buổi chiều và buổi mai" (như ở câu hai mươi sáu) là ở câu mười bốn của Đa-ni-ên đoạn tám. Ở đó, và chỉ ở đó trong Lời Đức Chúa Trời, cụm từ "buổi chiều và buổi mai" được dịch đơn giản là "ngày".
And he said unto me, Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed. Daniel 8:14.
Và người ấy nói với tôi: Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy. Đa-ni-ên 8:14.
Twelve verses later, in the same chapter of Daniel, the Hebrew phrase “evening and morning” is translated as it always is; but in the verse that is the central pillar and foundation of Adventism, the phrase is simply translated as “days.” What influence led the translators of the King James Bible to make such a glaring contradiction? They had translated the phrase in verse twenty-six in agreement with every other occurrence of the phrase in the rest of the Bible. But twelve verses before verse twenty-six, in verse fourteen, their humanity placed a special distinction upon the answer to the question of verse thirteen. And the question of verse thirteen, included the one word (sacrifice), that was not to be added to the Bible. God wanted verse fourteen, to stand out in a very profound and distinctive way. In doing so, he also identified what Gabriel was instructed to make Daniel understand.
Mười hai câu sau đó, trong cùng chương của sách Đa-ni-ên, cụm từ tiếng Hê-bơ-rơ “chiều và sáng” được dịch như vẫn luôn được dịch; nhưng ở câu vốn là trụ cột và nền tảng trung tâm của Phục Lâm, cụm từ ấy lại chỉ được dịch là “ngày”. Ảnh hưởng nào đã khiến các dịch giả của Bản Kinh Thánh King James đưa ra một mâu thuẫn hiển nhiên như vậy? Họ đã dịch cụm từ ở câu hai mươi sáu phù hợp với mọi lần cụm từ đó xuất hiện trong phần còn lại của Kinh Thánh. Nhưng mười hai câu trước câu hai mươi sáu, ở câu mười bốn, bản tính con người của họ đã đặt một sự phân biệt đặc biệt lên câu trả lời cho câu hỏi ở câu mười ba. Và câu hỏi ở câu mười ba có bao hàm một từ (tế lễ), là từ không được phép thêm vào Kinh Thánh. Đức Chúa Trời muốn câu mười bốn nổi bật theo một cách rất sâu sắc và đặc biệt. Khi làm như vậy, Ngài cũng xác định điều mà Ga-bri-ên được chỉ dạy phải làm cho Đa-ni-ên hiểu.
In verse sixteen, Jesus commanded Gabriel to make Daniel understand the mar’eh vision, in spite of the fact that Daniel was seeking to understand the châzôn vision of prophetic history. Verse twenty-six says the “vision of the evenings and mornings which was told” was “true.” The châzôn vision had been a prophetic “sight”, but the mar’eh vision was “told,” for it had been spoken. It had been spoken in verse fourteen when Palmoni said “unto two thousand and three hundred evenings and mornings; then shall the sanctuary be cleansed.” Verse twenty-six, employs the expression “evening and mornings,” as it identifies it as the vision that had been “spoken” to identify the distinction between the two visions in Daniel chapter eight. The vision of prophetic history that Daniel had “seen”, and that Daniel wished to understand, was different from the vision that was “spoken” which Daniel had “heard”. More importantly, the vision that Daniel “heard” was the vision that Gabriel was to give Daniel understanding of.
Trong câu mười sáu, Chúa Giê-su truyền cho Ga-bri-ên khiến Đa-ni-ên hiểu khải tượng mar'eh, mặc dù Đa-ni-ên đang tìm cách hiểu khải tượng châzôn về lịch sử tiên tri. Câu hai mươi sáu nói rằng “khải tượng về buổi chiều và buổi sáng đã được nói” là “chân thật.” Khải tượng châzôn là một “thị kiến” tiên tri, còn khải tượng mar'eh thì được “truyền,” vì nó đã được phán ra. Nó đã được phán trong câu mười bốn khi Palmoni nói: “cho đến hai nghìn ba trăm buổi chiều và buổi sáng; rồi nơi thánh sẽ được thanh sạch.” Câu hai mươi sáu dùng cách nói “buổi chiều và buổi sáng,” vì nó xác định đó là khải tượng đã được “phán,” nhằm nêu rõ sự phân biệt giữa hai khải tượng trong Đa-ni-ên chương tám. Khải tượng về lịch sử tiên tri mà Đa-ni-ên đã “thấy,” và mà Đa-ni-ên muốn hiểu, khác với khải tượng đã được “phán” mà Đa-ni-ên đã “nghe.” Quan trọng hơn, khải tượng mà Đa-ni-ên “nghe” mới là khải tượng mà Ga-bri-ên phải giúp Đa-ni-ên hiểu.
The humanity that participated in creating the Holy Bible recorded the word “vision” ten times in Daniel chapter eight, and in so doing it hid the distinction of a vision that was “seen” and another vision that was “heard”. In doing so, it obscured the emphasis that identifies that Christ’s intent was for Daniel to understand the vision he had “heard”, above understanding the vision he had “seen”. We can now consider what Gabriel does in order to fulfill his job assignment.
Những con người tham gia vào việc biên soạn Kinh Thánh đã ghi chép từ “khải tượng” mười lần trong chương tám của sách Daniel, và khi làm vậy họ đã che khuất sự phân biệt giữa một khải tượng được “thấy” và một khải tượng được “nghe”. Như thế, họ đã làm lu mờ điểm nhấn cho thấy rằng ý định của Đấng Christ là để Daniel hiểu khải tượng ông đã “nghe” hơn là hiểu khải tượng ông đã “thấy”. Giờ đây chúng ta có thể xem Gabriel làm gì để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
So he came near where I stood: and when he came, I was afraid, and fell upon my face: but he said unto me, Understand, O son of man: for at the time of the end shall be the vision. Now as he was speaking with me, I was in a deep sleep on my face toward the ground: but he touched me, and set me upright. And he said, Behold, I will make thee know what shall be in the last end of the indignation: for at the time appointed the end shall be. Daniel 8:17–19.
Vậy người đến gần chỗ tôi đứng; khi người đến, tôi sợ hãi và sấp mặt xuống đất. Nhưng người nói với tôi: Hãy hiểu, hỡi con người, vì khải tượng ấy là cho thời kỳ cuối cùng. Trong khi người đang nói với tôi, tôi rơi vào cơn mê, mặt úp xuống đất; nhưng người chạm vào tôi và đỡ tôi đứng thẳng dậy. Người nói: Kìa, ta sẽ cho ngươi biết điều gì sẽ xảy ra vào kỳ cuối cùng của cơn thịnh nộ, vì đến kỳ đã định thì sự cuối cùng sẽ đến. Đa-ni-ên 8:17-19.
Gabriel now begins his work of making Daniel to understand the vision of the twenty-three hundred evenings and mornings, which is true. He first informs him that the vision of prophetic history, the châzôn vision, would be at the “time of the end.” Then, while Daniel was in a prophetic sleep, Gabriel touched Daniel and set him upright. He informs him “I will make thee know.”
Bây giờ Gáp-ri-ên bắt đầu công việc khiến Đa-ni-ên hiểu khải tượng về hai nghìn ba trăm buổi chiều và buổi sáng, là điều chân thật. Trước hết, Ngài cho ông biết rằng khải tượng về lịch sử tiên tri, tức khải tượng châzôn, sẽ xảy ra vào "thời kỳ cuối cùng." Rồi, trong khi Đa-ni-ên đang ở trong cơn mê tiên tri, Gáp-ri-ên chạm vào ông và đỡ ông đứng thẳng dậy. Ngài bảo ông: "Ta sẽ cho ngươi biết."
That is what Palmoni (Christ), had told Gabriel to do, when he said, “Gabriel, make this man to understand the mar’eh vision” of the evening and mornings. Gabriel says that he will make Daniel “know what shall be in the last end of the indignation.” There it is! There is the “seven times” of Leviticus twenty-six! It is hidden by the very prophetic technique which Gabriel had led the prophets repeatedly to testify to and employ in their writings! That technique is “line upon line, here a little and there a little”.
Đó là điều Palmoni (Đấng Christ) đã bảo Ga-bri-ên làm, khi Ngài nói: "Ga-bri-ên, hãy làm cho người này hiểu khải tượng mar'eh" về các buổi chiều và buổi sáng. Ga-bri-ên nói rằng ông sẽ khiến Đa-ni-ên "biết điều gì sẽ có trong thời kỳ cuối cùng của cơn phẫn nộ." Chính đó! Chính là "bảy lần" của Lê-vi Ký hai mươi sáu! Nó bị ẩn giấu bởi chính kỹ thuật tiên tri mà Ga-bri-ên đã dẫn dắt các nhà tiên tri nhiều lần làm chứng và sử dụng trong các trước tác của họ! Kỹ thuật ấy là "dòng trên dòng, chút ít ở đây, chút ít ở kia".
In the book “Thoughts on Daniel and the Revelation”, by Uriah Smith (which all Adventists, and even their neighbors, should be familiar with), Smith comments on verses seventeen to nineteen of Daniel chapter eight:
Trong cuốn sách "Thoughts on Daniel and the Revelation" của Uriah Smith (mà tất cả tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm, thậm chí cả hàng xóm của họ, đều nên biết rõ), Smith bình luận về các câu 17 đến 19 của sách Đa-ni-ên đoạn 8:
“With a general statement that at the time appointed the end shall be, and that he will make him to know what shall be in the last end of the indignation, he enters upon an interpretation of the vision. The indignation must be understood to cover a period of time. What time? God told his people Israel that he would pour upon them his indignation for their wickedness; and thus he gave directions concerning the ‘profane wicked prince of Israel:’ ‘Remove the diadem, and take off the crown. . . . I will overturn, overturn, overturn it: and it shall be no more, until he come whose right it is; and I will give it him.’ Ezekiel 21:25–27, 31.
Với lời tuyên bố tổng quát rằng đến kỳ đã định thì sự cuối cùng sẽ đến, và rằng ông sẽ cho người kia biết điều gì sẽ xảy ra trong phần cuối cùng của cơn thịnh nộ, ông bắt đầu giải nghĩa khải tượng. Cơn thịnh nộ phải được hiểu là bao trùm một giai đoạn thời gian. Thời kỳ nào? Đức Chúa Trời đã nói với dân Ngài là Israel rằng vì sự gian ác của họ, Ngài sẽ đổ cơn thịnh nộ của Ngài trên họ; và như vậy Ngài đã ban chỉ thị liên quan đến “vị vương phàm tục, gian ác của Israel:” “Hãy cất bỏ mũ miện, và tháo bỏ vương miện. . . . Ta sẽ lật đổ, lật đổ, lật đổ nó: và nó sẽ không còn nữa, cho đến khi người có quyền đối với nó đến; và Ta sẽ ban nó cho người ấy.” Ezekiel 21:25-27, 31.
“Here is the period of God’s indignation against his covenant people; the period during which the sanctuary and host are to be trodden under foot. The diadem was removed, and the crown taken off, when Israel was subjected to the kingdom of Babylon. It was overturned again by the Medes and Persians, again by the Grecians, again by the Romans, corresponding to the three times the word is repeated by the prophet. The Jews then, having rejected Christ, were soon scattered abroad over the face of the earth; and spiritual Israel has taken the place of the literal seed; but they are in subjection to earthly powers, and will be till the throne of David is again set up,—till He who is its rightful heir, the Messiah, the Prince of peace, shall come, and then it will be given him. Then the indignation will have ceased. What shall take place in the last end of this period, the angel is now to make known to Daniel.” Uriah Smith, Daniel and the Revelation, 201, 202.
Đây là thời kỳ cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời chống lại dân giao ước của Ngài; thời kỳ trong đó đền thánh và đạo binh bị giày đạp. Mão triều bị cất đi, và vương miện bị tháo bỏ, khi Israel bị đặt dưới ách vương quốc Babylon. Nó lại bị lật đổ bởi người Mê-đi và Ba Tư, lại bởi người Hy Lạp, lại bởi người La Mã, ứng với ba lần từ ấy được nhà tiên tri lặp lại. Bấy giờ, vì đã khước từ Đấng Christ, người Do Thái chẳng bao lâu bị tản lạc khắp mặt đất; và Israel thuộc linh đã thay thế dòng dõi theo xác thịt; nhưng họ vẫn ở dưới quyền các thế lực trần gian, và sẽ như vậy cho đến khi ngai của Đa-vít lại được lập—cho đến khi Đấng là người thừa kế chính đáng của ngai ấy, Đấng Mê-si, Hoàng Tử Bình An, đến; bấy giờ nó sẽ được trao cho Ngài. Khi ấy cơn thịnh nộ sẽ chấm dứt. Những gì sẽ xảy ra vào đoạn cuối cùng của thời kỳ này, thiên sứ nay sẽ cho Đa-ni-ên biết. Uriah Smith, Đa-ni-ên và Khải Huyền, 201, 202.
The “indignation” that Smith is identifying, began when Manasseh was carried to Babylon by the Assyrians in 677 BC. Unfortunately, Smith takes Zedekiah’s overthrow in 586 BC and assigns that as the starting point of the period of the “indignation” of verse nineteen. Smith simply does not address what it means that the verse states “the last end of the indignation.” He treats it as simply “indignation,” though if there is a “last end” of the indignation, grammar and logic demand that there is also at minimum a “first end” of the indignation. Smith knew the seventy years of captivity began with the first attack of Nebuchadnezzar against Jehoiakim in 606 BC, but determined the starting for the period of the indignation was the third of Nebuchadnezzar’s attacks, which was carried out against Zedekiah, the last Judean king.
“Sự phẫn nộ” mà Smith đang xác định bắt đầu khi Manasseh bị người Assyria đưa đến Babylon vào năm 677 TCN. Thật không may, Smith lấy sự lật đổ của Zedekiah vào năm 586 TCN và coi đó là điểm khởi đầu của thời kỳ “sự phẫn nộ” ở câu mười chín. Smith đơn giản không đề cập đến ý nghĩa của việc câu nói “kết cuộc sau cùng của sự phẫn nộ.” Ông coi đó đơn thuần là “sự phẫn nộ,” dù rằng nếu có một “kết cuộc sau cùng” của sự phẫn nộ, thì ngữ pháp và logic đòi hỏi ít nhất cũng phải có một “kết cuộc đầu tiên” của sự phẫn nộ. Smith biết bảy mươi năm lưu đày bắt đầu với cuộc tấn công đầu tiên của Nebuchadnezzar chống lại Jehoiakim vào năm 606 TCN, nhưng ông lại xác định mốc bắt đầu cho thời kỳ “phẫn nộ” là cuộc tấn công thứ ba của Nebuchadnezzar, được thực hiện chống lại Zedekiah, vị vua Giu-đa cuối cùng.
“Though we have a more minute account of his [Daniel’s] early life than is recorded of that of any other prophet, yet his birth and lineage are left in complete obscurity, except that he was of the royal line, probably of the house of David, which had at this time become very numerous. He first appears as one of the noble captives of Judah, in the first year of Nebuchadnezzar, king of Babylon, at the commencement of the seventy years’ captivity, BC 606. Jeremiah and Habakkuk were yet uttering their prophecies. Ezekiel commenced soon after, and a little later, Obadiah; but both these finished their work years before the close of the long and brilliant career of Daniel. Three prophets only succeeded him, Haggai and Zechariah, who exercised the prophetic office for a brief period contemporaneously, BC 520–518, and Malachi, the last of the Old Testament prophets, who flourished a little season about BC 397.” Uriah Smith, Daniel and the Revelation, 19.
“Mặc dù chúng ta có một bản tường thuật về thời niên thiếu của ông [Đa-ni-ên] chi tiết hơn điều được ghi lại về bất cứ nhà tiên tri nào khác, song sự chào đời và dòng dõi của ông vẫn hoàn toàn bị phủ trong mờ tối, ngoại trừ việc ông thuộc hoàng tộc, có lẽ thuộc nhà Đa-vít, vốn vào thời ấy đã trở nên rất đông. Ông trước hết xuất hiện như một trong những tù binh cao quý của Giu-đa, vào năm đầu triều Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, khi bắt đầu thời kỳ lưu đày bảy mươi năm, năm 606 TCN. Giê-rê-mi và Ha-ba-cúc vẫn còn đang công bố các lời tiên tri của mình. Ê-xê-chi-ên bắt đầu ít lâu sau đó, và một thời gian ngắn sau nữa là Áp-đia; nhưng cả hai vị này đều kết thúc chức vụ của mình nhiều năm trước khi sự nghiệp lâu dài và rực rỡ của Đa-ni-ên khép lại. Chỉ có ba nhà tiên tri tiếp nối ông: A-ghê và Xa-cha-ri, là những người thi hành chức vụ tiên tri trong một thời gian ngắn đồng thời với nhau, vào các năm 520–518 TCN, và Ma-la-chi, nhà tiên tri cuối cùng của Cựu Ước, người đã hưng thịnh trong một thời gian ngắn vào khoảng năm 397 TCN.” Uriah Smith, Daniel and the Revelation, 19.
Smith correctly identified the “indignation” of verse nineteen as a period of time. He correctly identified the period as the treading down of the sanctuary and host in agreement with Daniel chapter eight verse thirteen, and he correctly identified the ending point as October 22, 1844.
Smith đã xác định đúng “sự phẫn nộ” ở câu mười chín là một khoảng thời gian. Ông đã xác định đúng khoảng thời gian ấy là sự giày đạp đền thánh và đạo binh, phù hợp với sách Đa-ni-ên chương 8 câu 13, và ông cũng xác định đúng điểm kết thúc là ngày 22 tháng 10 năm 1844.
Smith was partially correct, but missed the truth by doing what was the characteristic of his prophetic applications. He allowed history to guide his interpretation of the prophetic word, instead of allowing the prophetic word to guide his understanding of history. If we allow the Bible to define prophetic history, we then have the correct information to approach history.
Smith đúng một phần, nhưng đã bỏ lỡ chân lý khi làm điều vốn là đặc trưng trong cách ông áp dụng lời tiên tri. Ông đã để lịch sử dẫn dắt cách ông giải thích lời tiên tri, thay vì để lời tiên tri hướng dẫn sự hiểu biết của ông về lịch sử. Nếu chúng ta để Kinh Thánh định nghĩa lịch sử tiên tri, thì chúng ta sẽ có thông tin đúng đắn để tiếp cận lịch sử.
The Bible teaches that by whom a man is overcome, he is that man’s servant.
Kinh Thánh dạy rằng người nào bị ai chế ngự thì trở nên tôi tớ của người ấy.
While they promise them liberty, they themselves are the servants of corruption: for of whom a man is overcome, of the same is he brought in bondage. 2 Peter 2:19.
Trong khi họ hứa ban tự do cho người khác, chính họ lại là nô lệ của sự hư hoại; vì ai bị ai thắng thì người ấy trở nên nô lệ của kẻ ấy. 2 Phi-e-rơ 2:19.
Manasseh was taken captive to Babylon in 677 BC. It is there that Judah was overcome and brought into bondage. This is the starting point that is represented on both the 1843 and the 1850 charts, which Sister White endorses as correct. Smith starts the treading down of Daniel chapter eight, and verse thirteen with Zedekiah, the last of Judah’s kings. Zedekiah was the end of a progressive judgment and not the beginning. Sister White identifies that Manasseh’s captivity in Babylon was an “earnest” of what was to come. An “earnest” is a down payment, and marks the beginning of a purchase that has other payments to follow.
Ma-na-se bị bắt lưu đày đến Ba-by-lôn vào năm 677 TCN. Chính tại đó, Giu-đa bị khuất phục và bị đưa vào ách nô lệ. Đây là điểm khởi đầu được thể hiện trên cả các biểu đồ năm 1843 và 1850, mà Bà White xác nhận là đúng. Smith khởi đầu sự “chà đạp” trong Đa-ni-ên đoạn tám, câu mười ba từ thời Sê-đê-kia, vị vua cuối cùng của Giu-đa. Sê-đê-kia là điểm kết thúc của một tiến trình phán xét chứ không phải khởi đầu. Bà White cho biết việc Ma-na-se bị lưu đày tại Ba-by-lôn là một “earnest” về những điều sẽ đến. Một “earnest” là một khoản đặt cọc, và đánh dấu sự khởi đầu của một việc mua còn có các khoản thanh toán tiếp theo.
“Faithfully the prophets continued their warnings and their exhortations; fearlessly they spoke to Manasseh and to his people; but the messages were scorned; backsliding Judah would not heed. As an earnest of what would befall the people should they continue impenitent, the Lord permitted their king to be captured by a band of Assyrian soldiers, who ‘bound him with fetters, and carried him to Babylon,’ their temporary capital. This affliction brought the king to his senses; ‘he besought the Lord his God, and humbled himself greatly before the God of his fathers, and prayed unto Him: and He was entreated of him, and heard his supplication, and brought him again to Jerusalem into his kingdom. Then Manasseh knew that the Lord He was God.’ 2 Chronicles 33:11–13. But this repentance, remarkable though it was, came too late to save the kingdom from the corrupting influence of years of idolatrous practices. Many had stumbled and fallen, never again to rise.” Prophets and Kings, 382.
"Các tiên tri vẫn trung tín tiếp tục đưa ra những lời cảnh báo và khuyên răn; họ không hề sợ hãi mà nói với Manasseh và dân của ông; nhưng các sứ điệp ấy bị khinh thường; Judah sa sút đức tin đã không chịu lắng nghe. Như một điềm báo trước về điều sẽ xảy đến cho dân nếu họ cứ tiếp tục không ăn năn, Chúa cho phép vua của họ bị một toán lính Assyrian bắt, những người đã ‘trói ông bằng xiềng xích và đưa ông đến Babylon,’ thủ đô tạm thời của họ. Tai họa này khiến vua tỉnh ngộ; ‘ông khẩn cầu Chúa là Đức Chúa Trời của mình, và hết mực tự hạ trước Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, và cầu nguyện với Ngài; và Ngài đã động lòng vì ông, nghe lời nài xin của ông, và lại đưa ông trở về Jerusalem vào trong vương quốc của ông. Bấy giờ Manasseh biết rằng Chúa chính là Đức Chúa Trời.’ 2 Sử Ký 33:11-13. Nhưng sự ăn năn này, dẫu đáng chú ý đến đâu, cũng đã quá muộn để cứu vương quốc khỏi ảnh hưởng băng hoại của bao năm thực hành thờ thần tượng. Nhiều người đã vấp ngã và gục xuống, chẳng bao giờ đứng dậy nữa." Tiên Tri và Các Vua, 382.
Manasseh marked the “down payment” that began the “curse” of the “seven times,” which was the last “indignation,” for the “first indignation,” had already begun when the northern kingdom was taken into captivity in 723 BC. Then at Jehoiakim’s overthrow, when Daniel was carried into captivity, the seventy years of captivity that Jeremiah identified began in 606 BC. Two kings after Jehoiakim, Jerusalem was destroyed and the last Judean king, Zedekiah, watched as his sons were slain before him, then he had his eyes gouged out and was carried captive into Babylon.
Ma-na-se đã đánh dấu “khoản đặt cọc” mở đầu cho “lời nguyền” của “bảy lần”, vốn là “cơn thịnh nộ” sau cùng, vì “cơn thịnh nộ” thứ nhất đã bắt đầu khi vương quốc phương bắc bị đưa vào lưu đày vào năm 723 TCN. Rồi khi Giê-hô-gia-kim bị lật đổ, lúc Đa-ni-ên bị đem đi lưu đày, bảy mươi năm lưu đày mà Giê-rê-mi đã xác định bắt đầu vào năm 606 TCN. Hai đời vua sau Giê-hô-gia-kim, Giê-ru-sa-lem bị phá hủy và vị vua Giu-đa cuối cùng, Sê-đê-kia, đã chứng kiến các con trai mình bị giết trước mặt ông; rồi ông bị chọc mù mắt và bị đem đi lưu đày sang Ba-by-lôn.
Smith assigned the entire progressive judgment to Zedekiah and employed the judgment of Zedekiah as the proof text for his supposition. The judgment of Zedekiah, who was the “wicked and profane prince,” did identify that the crown of Judah was to be removed until Christ came to set up a kingdom. Smith said, “they are in subjection to earthly powers, and will be till the throne of David is again set up,—till He who is its rightful heir, the Messiah, the Prince of peace, shall come, and then it will be given him.” On October 22, 1844, in fulfillment of Daniel chapter seven, and verses thirteen and fourteen, Christ, represented as the Son of man, came before the Father to receive a kingdom.
Smith quy toàn bộ tiến trình phán xét cho Xê-đê-kia và dùng lời phán xét về Xê-đê-kia làm văn bản bằng chứng cho giả thuyết của mình. Lời phán xét dành cho Xê-đê-kia, người là “vị vương gian ác và phạm thánh,” quả thật chỉ ra rằng vương miện của Giu-đa sẽ bị cất bỏ cho đến khi Đấng Christ đến để lập một vương quốc. Smith nói, “họ lệ thuộc các quyền lực trần thế, và sẽ còn như vậy cho đến khi ngai Đa-vít được lập lại,—cho đến khi Đấng là người thừa kế hợp pháp của ngai ấy, Đấng Mê-si, Vị Hoàng Tử của sự bình an, đến, và bấy giờ nó sẽ được trao cho Ngài.” Ngày 22 tháng 10 năm 1844, ứng nghiệm Đa-ni-ên chương bảy, câu mười ba và mười bốn, Đấng Christ, được mô tả là Con Người, đã đến trước mặt Cha để nhận lãnh một vương quốc.
I saw in the night visions, and, behold, one like the Son of man came with the clouds of heaven, and came to the Ancient of days, and they brought him near before him. And there was given him dominion, and glory, and a kingdom, that all people, nations, and languages, should serve him: his dominion is an everlasting dominion, which shall not pass away, and his kingdom that which shall not be destroyed. Daniel 7:13, 14.
Tôi thấy trong những khải tượng ban đêm, kìa, có một Đấng giống như Con Người đến cùng mây trời, đến với Đấng Thượng Cổ; họ đưa Người đến gần trước mặt Đấng ấy. Người được ban cho quyền cai trị, vinh quang và một vương quốc, để mọi dân, mọi nước và mọi ngôn ngữ đều phục vụ Người; quyền cai trị của Người là quyền cai trị đời đời, chẳng hề qua đi, và vương quốc của Người là vương quốc sẽ không bị hủy diệt. Đa-ni-ên 7:13, 14.
Sister White confirms that Daniel chapter seven, and verses thirteen and fourteen were fulfilled on October 22, 1844.
Bà White xác nhận rằng Đa-ni-ên chương bảy, câu mười ba và mười bốn đã được ứng nghiệm vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.
“The coming of Christ as our high priest to the most holy place, for the cleansing of the sanctuary, brought to view in Daniel 8:14; the coming of the Son of man to the Ancient of Days, as presented in Daniel 7:13; and the coming of the Lord to His temple, foretold by Malachi, are descriptions of the same event; and this is also represented by the coming of the bridegroom to the marriage, described by Christ in the parable of the ten virgins, of Matthew 25.” The Great Controversy, 426.
Sự đến của Đấng Christ, với tư cách là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta, vào Nơi Chí Thánh để thanh tẩy đền thánh, được trình bày trong Đa-ni-ên 8:14; sự đến của Con Người đến với Đấng Thượng Cổ, như được trình bày trong Đa-ni-ên 7:13; và việc Chúa đến đền thờ của Ngài, đã được Ma-la-chi tiên báo, đều là những mô tả về cùng một sự kiện; và điều này cũng được minh họa bằng việc chàng rể đến dự lễ cưới, được Đấng Christ mô tả trong dụ ngôn mười trinh nữ ở Ma-thi-ơ 25." Đại Tranh Chiến, 426.
Smith did not address the key element of the “last end of the indignation.” He avoided the biblical principle that identified that Judah was overcome in the time of Manasseh, and that the captivity which began two kings before Zedekiah, also represented that Judah was already in subjection to Babylon, before Zedekiah met his fate. With these blatant omissions, he still stated, “here is the period of God’s indignation against his covenant people; the period during which the sanctuary and host are to be trodden under foot.” He therefore, directly associates “the period of God’s indignation” with Daniel chapter eight, and verse thirteen’s question of “how long.” The answer in verse fourteen, was until October 22, 1844.
Smith đã không đề cập đến yếu tố then chốt của “kỳ cuối của cơn thịnh nộ.” Ông đã tránh nguyên tắc Kinh Thánh xác định rằng Giu-đa bị khuất phục trong thời Manase, và rằng cuộc lưu đày bắt đầu hai đời vua trước Xê-đê-kia cũng cho thấy Giu-đa đã ở dưới ách Ba-by-lôn trước khi Xê-đê-kia gặp số phận của mình. Với những sự bỏ sót lộ liễu ấy, ông vẫn nói: “đây là thời kỳ cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời chống lại dân giao ước của Ngài; thời kỳ trong đó đền thánh và đạo binh bị chà đạp.” Vì vậy, ông trực tiếp liên kết “thời kỳ cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời” với chương tám sách Đa-ni-ên và câu hỏi “bao lâu” ở câu mười ba. Câu trả lời ở câu mười bốn là cho đến ngày 22 tháng 10 năm 1844.
The scattering into Babylonian slavery was a progressive history beginning in 677 BC, and continuing until 1844. That period equates to twenty-five hundred and twenty years, which is of course the “seven times” of Leviticus twenty-six. The end of that period of time on October 22, 1844 provided Daniel with a second witness to the “mar’eh vision” of the twenty-three hundred evening and mornings.
Sự tản lạc vào ách nô lệ Ba-by-lôn là một tiến trình lịch sử bắt đầu từ năm 677 TCN và kéo dài cho đến năm 1844. Khoảng thời gian đó tương đương hai nghìn năm trăm hai mươi năm, tức là “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn 26. Sự kết thúc của khoảng thời gian ấy vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 đã đem lại cho Đa-ni-ên một lời chứng thứ hai về “khải tượng mar'eh” của hai nghìn ba trăm buổi chiều và buổi mai.
Gabriel was told to make Daniel understand that vision, and what Gabriel did was provide a second witness to the termination date of October 22, 1844. Not only did he provide a second witness to establish the date of the fulfillments of both time prophecies, but as Smith correctly pointed out, the period of time associated with the second witness to 1844, had been identified in verse thirteen, as the period that the sanctuary and host were to be trodden under foot. The question in verse thirteen is, “How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot?” That period of time was the “seven times” of Leviticus twenty-six.
Ga-bri-ên được bảo phải làm cho Đa-ni-ên hiểu khải tượng ấy, và điều Ga-bri-ên đã làm là đưa ra một lời chứng thứ hai xác nhận ngày kết thúc là 22 tháng 10 năm 1844. Không những ông cung cấp một lời chứng thứ hai để xác lập ngày ứng nghiệm của cả hai lời tiên tri về thời kỳ, mà như Smith đã chỉ ra một cách chính xác, khoảng thời gian gắn với lời chứng thứ hai về năm 1844 đã được xác định ở câu mười ba là thời kỳ đền thánh và đạo binh bị chà đạp. Câu hỏi ở câu mười ba là: “Khải tượng về của lễ hằng ngày và sự vi phạm gây hoang tàn sẽ còn bao lâu, để cho cả đền thánh và đạo binh bị chà đạp?” Khoảng thời gian đó chính là “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu.
What Smith did not see, or avoided identifying, was that the “indignation” of verse nineteen, was the “last end” of that indignation. If there is a “last” then there is also a “first”, and Daniel identifies when the “first indignation” ended, in chapter eleven. He is identifying the papacy reigning during the Dark Ages, and he states that the papacy would prosper until the indignation was accomplished, or ended.
Điều mà Smith không nhìn thấy, hoặc đã tránh không xác định, là “cơn phẫn nộ” ở câu mười chín chính là “kết cuộc cuối cùng” của cơn phẫn nộ ấy. Nếu đã có “cuối cùng” thì cũng có “đầu tiên”, và trong chương mười một, Đa-ni-ên xác định khi “cơn phẫn nộ thứ nhất” chấm dứt. Ông đang chỉ ra giáo hoàng quyền cai trị trong Thời kỳ Tăm Tối, và ông nói rằng giáo hoàng quyền sẽ thịnh vượng cho đến khi cơn phẫn nộ được hoàn tất, hoặc chấm dứt.
And the king shall do according to his will; and he shall exalt himself, and magnify himself above every god, and shall speak marvellous things against the God of gods, and shall prosper till the indignation be accomplished: for that that is determined shall be done. Daniel 11:36.
Vua ấy sẽ làm theo ý muốn mình; sẽ tự tôn mình và tự nâng mình lên trên mọi thần, nói những điều lạ lùng chống lại Đức Chúa Trời của các thần, và sẽ thịnh vượng cho đến khi cơn thịnh nộ được hoàn tất; vì điều đã định ắt sẽ xảy ra. Đa-ni-ên 11:36.
Verse thirty-six is widely understood to be the verse the apostle Paul paraphrases in his second letter to the Thessalonians.
Câu 36 được nhiều người cho là câu mà sứ đồ Phao-lô đã diễn ý lại trong thư thứ hai gửi cho người Tê-sa-lô-ni-ca.
Let no man deceive you by any means: for that day shall not come, except there come a falling away first, and that man of sin be revealed, the son of perdition; Who opposeth and exalteth himself above all that is called God, or that is worshipped; so that he as God sitteth in the temple of God, showing himself that he is God. 2 Thessalonians 2:3, 4.
Đừng để ai dùng bất cứ cách nào lừa dối anh em; vì ngày ấy sẽ không đến, nếu trước hết không xảy ra sự bội đạo, và kẻ tội ác, con của sự hư mất, được bày tỏ; kẻ chống nghịch và tự tôn mình lên trên mọi cái gọi là thần, hoặc mọi vật được thờ phượng; đến nỗi người ấy ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời như Đức Chúa Trời, tỏ mình ra là Đức Chúa Trời. 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3, 4.
Paul’s “man of sin” who is also “the son of perdition,” who “opposeth and exalteth himself above all that is called God, or that is worshipped,” is also the “king” who “shall do according to his will; and he shall exalt himself, and magnify himself above every god.” Both passages refer to the pope of Rome. Daniel writes that the pope would prosper, which means push forward, until the “indignation be accomplished.” The indignation in verse thirty-six had been “determined.” The word “determined” means “to wound”.
“Người của tội lỗi” của Phao-lô, cũng là “con của sự hư mất,” kẻ “chống đối và tôn mình lên trên mọi điều được gọi là Đức Chúa Trời, hoặc được thờ phượng,” cũng chính là “vị vua” kẻ “sẽ làm theo ý mình; và sẽ tôn mình lên, và tự làm cho mình lớn hơn mọi thần.” Cả hai đoạn đều ám chỉ giáo hoàng La Mã. Đa-ni-ên viết rằng giáo hoàng sẽ thịnh vượng, nghĩa là tiến lên, cho đến khi “cơn phẫn nộ được hoàn tất.” Cơn phẫn nộ ở câu ba mươi sáu đã được “định.” Từ “determined” có nghĩa là “làm bị thương.”
The papacy received its “deadly wound” in 1798, and at that point the “first indignation” was accomplished or terminated. The word “accomplish” means to end or cease. The end of “the indignation” in chapter eight, and verse nineteen identified the end of the period that the sanctuary and host were to be trampled down. It ended in 1844, but the “first” indignation ended in 1798.
Giáo hoàng quyền đã nhận “vết thương chí tử” vào năm 1798, và vào thời điểm đó “cơn thịnh nộ thứ nhất” đã được hoàn tất hay chấm dứt. Từ “accomplish” có nghĩa là kết thúc hoặc chấm dứt. Sự chấm dứt của “cơn thịnh nộ” trong chương tám, câu mười chín xác định sự kết thúc của thời kỳ mà đền thánh và đạo binh bị chà đạp. Thời kỳ ấy kết thúc vào năm 1844, nhưng “cơn thịnh nộ” thứ nhất đã kết thúc vào năm 1798.
The “last indignation” ended in 1844, twenty-five hundred and twenty years after king Manasseh was carried to Babylon by the Assyrians in 677 BC. The “first” indignation ended in 1798, twenty-five hundred and twenty years after the northern kingdom of Israel was carried into slavery by the Assyrians in 723 BC.
“Cơn phẫn nộ cuối cùng” kết thúc vào năm 1844, hai nghìn năm trăm hai mươi năm sau khi vua Manasseh bị người Assyria đưa đến Babylon vào năm 677 trước Công nguyên. “Cơn phẫn nộ đầu tiên” kết thúc vào năm 1798, hai nghìn năm trăm hai mươi năm sau khi Vương quốc Israel phía Bắc bị người Assyria đưa vào ách nô lệ vào năm 723 trước Công nguyên.
There is more to say about the hidden “seven times” in the book of Daniel and we will address that in our next article.
Còn nhiều điều để nói về “bảy lần” ẩn giấu trong sách Daniel và chúng tôi sẽ đề cập đến điều đó trong bài viết tiếp theo.
“‘And unto the angel of the church of the Laodiceans write: These things saith the Amen, the faithful and true Witness, the beginning of the creation of God; I know thy works, that thou art neither cold nor hot: I would thou wert cold or hot. So then because thou art lukewarm, and neither cold nor hot, I will spew thee out of My mouth. Because thou sayest, I am rich, and increased with goods, and have need of nothing; and knowest not that thou art wretched, and miserable, and poor, and blind, and naked.’
'Và hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh tại Laodicea: Nầy là lời phán của Đấng A-men, Chứng Nhân thành tín và chân thật, là khởi đầu của sự sáng tạo của Đức Chúa Trời: Ta biết các việc làm của ngươi: ngươi chẳng lạnh cũng chẳng nóng; ước chi ngươi lạnh hoặc nóng! Vậy, bởi vì ngươi hâm hẩm, chẳng lạnh cũng chẳng nóng, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. Vì ngươi nói: Ta giàu có, đã phát đạt, chẳng cần chi hết; mà chẳng biết rằng ngươi khốn khổ, đáng thương, nghèo nàn, đui mù và trần truồng.'
“The Lord here shows us that the message to be borne to His people by ministers whom He has called to warn the people is not a peace-and-safety message. It is not merely theoretical, but practical in every particular. The people of God are represented in the message to the Laodiceans as in a position of carnal security. They are at ease, believing themselves to be in an exalted condition of spiritual attainments. ‘Because thou sayest, I am rich, and increased with goods, and have need of nothing; and knowest not that thou art wretched, and miserable, and poor, and blind, and naked.’
Chúa cho chúng ta thấy rằng sứ điệp mà các mục sư Ngài kêu gọi để cảnh báo dân sự phải mang đến cho dân Ngài không phải là một sứ điệp bình an và yên ổn. Nó không chỉ là lý thuyết, mà còn thực tiễn trong mọi phương diện. Dân sự của Đức Chúa Trời được mô tả trong sứ điệp gửi cho người La-ô-đi-xê là đang ở trong tình trạng an ổn theo xác thịt. Họ an ổn, tin rằng mình đang ở trong một tình trạng cao trọng về thành tựu thuộc linh. “Vì ngươi nói rằng: Ta giàu có, đã nên giàu rồi, chẳng cần chi hết; mà không biết rằng ngươi khốn khổ, đáng thương, nghèo nàn, đui mù, và trần truồng.”
“What greater deception can come upon human minds than a confidence that they are right when they are all wrong! The message of the True Witness finds the people of God in a sad deception, yet honest in that deception. They know not that their condition is deplorable in the sight of God. While those addressed are flattering themselves that they are in an exalted spiritual condition, the message of the True Witness breaks their security by the startling denunciation of their true condition of spiritual blindness, poverty, and wretchedness. The testimony, so cutting and severe, cannot be a mistake, for it is the True Witness who speaks, and His testimony must be correct.” Testimonies, volume 3, 252.
“Có sự lừa dối nào lớn hơn có thể ập đến trên tâm trí loài người hơn sự tin chắc rằng họ đúng trong khi họ hoàn toàn sai lầm! Sứ điệp của Đấng Chứng Nhân Chân Thật thấy dân của Đức Chúa Trời đang ở trong một sự lầm lạc đáng buồn, song chân thành trong sự lầm lạc ấy. Họ không biết rằng tình trạng của mình là đáng thương trước mắt Đức Chúa Trời. Trong khi những người được nhắm đến đang tự tâng bốc rằng họ ở trong một tình trạng thuộc linh cao trọng, thì sứ điệp của Đấng Chứng Nhân Chân Thật phá vỡ sự yên ổn của họ bằng lời quở trách gây kinh ngạc về tình trạng thật của họ: mù lòa thuộc linh, nghèo khó, và khốn cùng. Lời chứng, sắc bén và nghiêm khắc đến thế, không thể là một sự sai lầm, vì chính Đấng Chứng Nhân Chân Thật đang phán, và lời chứng của Ngài ắt phải đúng.” Lời Chứng, quyển 3, trang 252.