That “certain saint which spake” in Daniel chapter eight, verses thirteen and fourteen is Christ as Palmoni. In the book of Revelation, Christ is identified as Alpha and Omega, which among other wonderful truths, identifies Christ as the Wonderful Linguist, and together the books of Daniel and Revelation represent Christ as the Master of time and language. It is beyond human ability to understand the significance and depth of what it means that Christ, as Palmoni (the Numberer of Secrets), introduces that attribute of His character in the two verses that establish the central pillar of Adventism, but the secrets which the Numberer of Secrets chooses to reveal are our responsibility to recognize and defend.

“Vị thánh kia đã nói” trong sách Đa-ni-ên chương tám, câu mười ba và mười bốn, chính là Đấng Christ, tức Palmoni. Trong sách Khải Huyền, Đấng Christ được xưng là Alpha và Omega, điều này, giữa nhiều lẽ thật kỳ diệu khác, cho thấy Ngài là Nhà ngôn ngữ kỳ diệu; và hai sách Đa-ni-ên và Khải Huyền cùng trình bày Đấng Christ như Chủ tể của thời gian và ngôn ngữ. Điều vượt quá khả năng của con người là hiểu hết ý nghĩa và chiều sâu của việc Đấng Christ, với tư cách Palmoni (Đấng Đếm số các điều bí ẩn), giới thiệu thuộc tính ấy của bản tính Ngài trong hai câu làm nên trụ cột trung tâm của Phái Cơ Đốc Phục Lâm; nhưng những bí mật mà Đấng Đếm số các điều bí ẩn chọn bày tỏ lại là trách nhiệm của chúng ta phải nhận biết và bảo vệ.

The secret things belong unto the Lord our God: but those things which are revealed belong unto us and to our children forever, that we may do all the words of this law. Deuteronomy 29:29.

Những điều kín giấu thuộc về Chúa là Đức Chúa Trời của chúng ta; còn những điều đã được tỏ ra thì thuộc về chúng ta và con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp này. Phục Truyền Luật Lệ Ký 29:29.

A secret that has been revealed is that the Numberer of Secrets (Palmoni), is that “certain saint which spake,” and in the two verses where He reveals Himself, the central pillar of Adventism is identified. In those two verses the Wonderful Numberer identifies the “increase of knowledge” that He, as the Lion of the tribe of Judah unsealed in 1798. In those two verses, the jewels of Miller’s dream, that represent the “increase of knowledge,” were, by the direction of Palmoni’s hand, published upon the two tables of Habakkuk.

Một bí mật đã được tỏ lộ là Đấng Đếm các bí mật (Palmoni) chính là “vị thánh kia đã phán”, và trong hai câu Kinh Thánh nơi Ngài tự bày tỏ, trụ cột trung tâm của Phong trào Phục Lâm được xác định. Trong hai câu ấy, Đấng Đếm Kỳ Diệu xác định “sự gia tăng tri thức” mà Ngài, với tư cách là Sư Tử của chi phái Giu-đa, đã mở ấn vào năm 1798. Trong hai câu ấy, những viên ngọc quý trong giấc mơ của Miller, tượng trưng cho “sự gia tăng tri thức”, đã được, dưới sự chỉ dẫn của bàn tay Palmoni, công bố trên hai bảng của Ha-ba-cúc.

Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? And he said unto me, Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed. Daniel 8:13, 14.

Bấy giờ tôi nghe một vị thánh nói, và một vị thánh khác nói với vị thánh đang nói: Bao lâu nữa thì khải tượng về của lễ hằng ngày và sự vi phạm gây nên cảnh hoang tàn sẽ còn kéo dài, để cả đền thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Người nói với tôi: Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy. Đa-ni-ên 8:13, 14.

After Daniel received the prophetic vision of the kingdoms of Bible prophecy, and then heard the heavenly dialogue in verses thirteen and fourteen, he sought to understand the “vision.”

Sau khi Đa-ni-ên nhận được khải tượng về các vương quốc trong lời tiên tri của Kinh Thánh, và sau đó nghe cuộc đối thoại trên trời trong các câu 13 và 14, ông tìm cách hiểu 'khải tượng'.

And it came to pass, when I, even I Daniel, had seen the vision, and sought for the meaning, then, behold, there stood before me as the appearance of a man. And I heard a man’s voice between the banks of Ulai, which called, and said, Gabriel, make this man to understand the vision. Daniel 8:15, 16.

Và đã xảy ra rằng, khi tôi, chính tôi là Daniel, đã thấy khải tượng và tìm hiểu ý nghĩa, thì kìa, trước mặt tôi có một hình dáng như một người đang đứng. Tôi nghe một giọng người ở giữa hai bờ sông Ulai gọi và nói: “Gabriel, hãy làm cho người này hiểu khải tượng.” Daniel 8:15, 16.

The “vision” which Daniel is seeking to understand is the “chazon” vision, but the “mareh” vision, is what Gabriel is told to make Daniel understand. Every fact has its bearing, and if this fact is missed, the structure and design of the passage is essentially destroyed. In verse fifteen, when Daniel seeks to understand the “chazon” vision, the “mareh” is hidden, but still represented, for with the “appearance of a man” (Gabriel), the Hebrew word “mareh” is translated as “appearance”. In verse fifteen both words which have been translated as “vision” are represented. Daniel, in verse fifteen, seeks to understand the “chazon,” but Palmoni commands Gabriel, in verse sixteen to make Daniel understand the “mareh.” The design of these two verses is purposeful, and emphasizes the connection and difference between the two words.

“Khải tượng” mà Daniel đang tìm hiểu là khải tượng “chazon”, nhưng khải tượng “mareh” mới là điều Gabriel được bảo phải khiến Daniel hiểu. Mỗi chi tiết đều có ý nghĩa của nó, và nếu bỏ qua chi tiết này, cấu trúc và dụng ý của đoạn văn về cơ bản sẽ bị phá vỡ. Trong câu mười lăm, khi Daniel tìm cách hiểu khải tượng “chazon”, “mareh” thì ẩn đi nhưng vẫn được biểu thị, vì với “hình dáng của một người” (Gabriel), từ Hê-bơ-rơ “mareh” được dịch là “hình dáng”. Trong câu mười lăm, cả hai từ đã được dịch là “khải tượng” đều hiện diện. Daniel, ở câu mười lăm, tìm cách hiểu “chazon”; nhưng Palmoni, ở câu mười sáu, truyền cho Gabriel khiến Daniel hiểu “mareh”. Cấu trúc của hai câu này là có chủ ý và nhấn mạnh mối liên hệ cũng như sự khác biệt giữa hai từ ấy.

It is Palmoni that commands Gabriel to make Daniel understand the “mareh,” for the One that commands Gabriel is the One who stands upon the water, and Gabriel heard His voice, “a man’s voice between the banks of Ulai.” It is the Ulai river that runs between the banks, and it is Christ who stands upon the water in the Scriptures. Accompanied with that fact, is the fact that Christ, as the archangel, is the One who commands the angels. The voice between the banks, is the voice of “that certain saint” in verse thirteen, and it is His word that commands Gabriel to make Daniel understand the “mareh” vision. In chapter twelve of Daniel, Christ once again is between the banks of the river. In chapter twelve He is clothed in linen, and swares by Him that liveth forever.

Chính Palmoni đã truyền cho Ga-bri-ên làm cho Đa-ni-ên hiểu “mareh,” vì Đấng truyền lệnh cho Ga-bri-ên là Đấng đứng trên mặt nước, và Ga-bri-ên đã nghe tiếng Ngài: “một tiếng người giữa hai bờ sông Ulai.” Chính sông Ulai chảy giữa hai bờ ấy, và trong Kinh Thánh, chính Đấng Christ là Đấng đứng trên mặt nước. Cùng với thực tế đó còn có thực tế rằng Đấng Christ, với tư cách là tổng lãnh thiên sứ, là Đấng truyền lệnh cho các thiên sứ. Tiếng nói giữa hai bờ ấy là tiếng của “vị thánh nào đó” trong câu mười ba, và chính lời của Ngài truyền cho Ga-bri-ên khiến Đa-ni-ên hiểu khải tượng “mareh.” Trong chương mười hai của sách Đa-ni-ên, Đấng Christ một lần nữa ở giữa hai bờ của con sông. Trong chương mười hai, Ngài mặc áo vải gai mịn và thề bởi Đấng hằng sống đời đời.

But thou, O Daniel, shut up the words, and seal the book, even to the time of the end: many shall run to and fro, and knowledge shall be increased. Then I Daniel looked, and, behold, there stood other two, the one on this side of the bank of the river, and the other on that side of the bank of the river. And one said to the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, How long shall it be to the end of these wonders? And I heard the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, when he held up his right hand and his left hand unto heaven, and sware by him that liveth for ever that it shall be for a time, times, and an half; and when he shall have accomplished to scatter the power of the holy people, all these things shall be finished. Daniel 12:4–7.

Nhưng ngươi, hỡi Đa-ni-ên, hãy đóng kín những lời này và niêm phong sách cho đến thời cuối cùng; nhiều người sẽ chạy tới lui, và sự hiểu biết sẽ gia tăng. Bấy giờ tôi, Đa-ni-ên, nhìn lên, và kìa, có hai người khác đứng đó, một người ở bên bờ sông này, và người kia ở bên bờ sông kia. Một người nói với người mặc vải gai mịn, đang ở trên mặt nước sông: Bao lâu nữa thì đến lúc kết thúc những điều lạ lùng này? Tôi nghe người mặc vải gai mịn, đang ở trên mặt nước sông, khi ông giơ tay phải và tay trái lên trời, và thề bởi Đấng hằng sống đời đời rằng sẽ là một thời, các thời, và nửa thời; và khi việc làm tan tác quyền lực của dân thánh đã hoàn tất, thì mọi điều ấy sẽ chấm dứt. Đa-ni-ên 12:4-7.

The Man who was “clothed in linen, which was upon the waters of the river,” “held up His right hand and His left hand unto heaven, and sware by Him that liveth forever,” and He is the same Man, who in chapter eight commanded Gabriel. In Revelation chapter ten, Christ also held up His hand and swore by Him who lives forever, but there He is standing upon both the water and the earth.

Người "mặc áo vải lanh, đứng trên mặt nước của con sông," "giơ tay phải và tay trái lên trời, và thề bởi Đấng hằng sống đời đời," và ấy chính là Người đã truyền lệnh cho Ga-bri-ên trong chương tám. Trong Khải Huyền chương mười, Đấng Christ cũng giơ tay lên và thề bởi Đấng hằng sống đời đời, nhưng ở đó Ngài đứng trên cả mặt nước và đất.

And the angel which I saw stand upon the sea and upon the earth lifted up his hand to heaven, And sware by him that liveth for ever and ever, who created heaven, and the things that therein are, and the earth, and the things that therein are, and the sea, and the things which are therein, that there should be time no longer. Revelation 10:5, 6.

Và thiên sứ mà tôi thấy đứng trên biển và trên đất giơ tay lên trời, và thề bởi Đấng hằng sống đời đời, là Đấng đã dựng nên trời cùng mọi vật trong đó, đất cùng mọi vật trong đó, và biển cùng mọi vật trong đó, rằng sẽ không còn thì giờ nữa. Khải Huyền 10:5, 6.

The mighty angel of chapter ten of Revelation, is Palmoni, who spake to Gabriel from between the banks of the river in chapter eight, and identified when the “end of” the “wonders” would occur in chapter twelve. In Revelation chapter ten, He is the one who roared as a “lion,” for He is there represented as the Lion of the tribe of Judah.

Vị thiên sứ mạnh mẽ ở chương mười của sách Khải Huyền là Palmoni, Đấng đã phán với Gabriel từ giữa hai bờ sông ở chương tám, và đã xác định khi nào “kết thúc của” các “sự lạ” sẽ xảy ra ở chương mười hai. Trong chương mười của Khải Huyền, chính Ngài là Đấng gầm lên như một “sư tử”, vì ở đó Ngài được trình bày như Sư Tử của chi phái Giu-đa.

And one of the elders saith unto me, Weep not: behold, the Lion of the tribe of Juda, the Root of David, hath prevailed to open the book, and to loose the seven seals thereof. And I beheld, and, lo, in the midst of the throne and of the four beasts, and in the midst of the elders, stood a Lamb as it had been slain, having seven horns and seven eyes, which are the seven Spirits of God sent forth into all the earth. And he came and took the book out of the right hand of him that sat upon the throne. Revelation 5:5–7.

Và một trong các trưởng lão nói với tôi: Đừng khóc; kìa, Sư Tử của chi phái Giu-đa, Gốc rễ của Đa-vít, đã đắc thắng để mở quyển sách và mở bảy ấn của nó. Tôi thấy, kìa, ở giữa ngai và bốn sinh vật, và giữa các trưởng lão, có một Chiên Con đứng đó như đã bị giết, có bảy sừng và bảy mắt, là bảy Thần của Đức Chúa Trời được sai đi khắp đất. Ngài đến và lấy quyển sách khỏi tay hữu của Đấng ngồi trên ngai. Khải Huyền 5:5-7.

As the Lion of the tribe of Judah, Christ is the lamb that prevailed to unseal the book that was sealed with seven seals. Whether He is walking upon the water in the book of Daniel, or has one foot on the sea and the other on the earth in Revelation, each of the prophetic representations are associated with prophetic time. And as the Lion of the tribe of Judah, Christ both seals up and unseals His Word. As He sealed up the book of Daniel, He also sealed up the seven thunders in Revelation chapter ten.

Là Sư Tử của chi phái Giu-đa, Đấng Christ là Chiên Con đã thắng để mở cuộn sách đã được niêm kín bằng bảy ấn. Dù Ngài đi trên mặt nước trong sách Đa-ni-ên, hay đặt một chân trên biển và chân kia trên đất trong sách Khải Huyền, mỗi biểu tượng tiên tri ấy đều gắn liền với thời kỳ tiên tri. Và với tư cách là Sư Tử của chi phái Giu-đa, Đấng Christ vừa niêm kín vừa mở ấn Lời Ngài. Như Ngài đã niêm kín sách Đa-ni-ên, Ngài cũng đã niêm kín bảy tiếng sấm trong Khải Huyền đoạn mười.

“The mighty angel who instructed John was no less a personage than Jesus Christ. Setting His right foot on the sea, and His left upon the dry land, shows the part which He is acting in the closing scenes of the great controversy with Satan. This position denotes His supreme power and authority over the whole earth. The controversy had waxed stronger and more determined from age to age, and will continue to do so, to the concluding scenes when the masterly working of the powers of darkness shall reach their height. Satan, united with evil men, will deceive the whole world and the churches who receive not the love of the truth. But the mighty angel demands attention. He cries with a loud voice. He is to show the power and authority of His voice to those who have united with Satan to oppose the truth.

Vị thiên sứ quyền năng đã hướng dẫn Giăng chẳng phải ai khác hơn là Chúa Giê-xu Christ. Việc Ngài đặt chân phải trên biển, còn chân trái trên đất khô, cho thấy vai trò Ngài đang đảm nhận trong những cảnh kết thúc của cuộc đại tranh đấu với Sa-tan. Tư thế ấy bày tỏ quyền năng và thẩm quyền tối thượng của Ngài trên khắp đất. Cuộc tranh đấu đã càng lúc càng mạnh mẽ và quyết liệt qua từng thời đại, và sẽ còn tiếp diễn như thế cho đến những cảnh cuối cùng khi sự hoạt động điêu luyện của các quyền lực tối tăm đạt đến tột đỉnh. Sa-tan, liên hiệp với những kẻ gian ác, sẽ lừa dối cả thế gian và các hội thánh không tiếp nhận lòng yêu mến lẽ thật. Nhưng vị thiên sứ quyền năng ấy đòi hỏi mọi người phải chú ý. Ngài kêu lớn tiếng. Ngài sẽ cho những kẻ đã liên kết với Sa-tan để chống đối lẽ thật biết quyền năng và thẩm quyền trong tiếng phán của Ngài.

“After these seven thunders uttered their voices, the injunction comes to John as to Daniel in regard to the little book: ‘Seal up those things which the seven thunders uttered.’ These relate to future events which will be disclosed in their order. Daniel shall stand in his lot at the end of the days. John sees the little book unsealed. Then Daniel’s prophecies have their proper place in the first, second, and third angels’ messages to be given to the world. The unsealing of the little book was the message in relation to time.

Sau khi bảy tiếng sấm này cất tiếng, một mệnh lệnh được ban cho Giăng, cũng như đã ban cho Đa-ni-ên, liên quan đến quyển sách nhỏ: “Hãy niêm phong những điều mà bảy tiếng sấm đã phán ra.” Những điều ấy liên quan đến các sự kiện tương lai sẽ lần lượt được bày tỏ. Đa-ni-ên sẽ đứng trong phần số của mình vào cuối các ngày. Giăng thấy quyển sách nhỏ được mở ấn. Bấy giờ các lời tiên tri của Đa-ni-ên có vị trí thích hợp trong sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba để rao truyền cho thế gian. Việc mở ấn quyển sách nhỏ chính là sứ điệp liên quan đến thời gian.

“The books of Daniel and the Revelation are one. One is a prophecy, the other a revelation; one a book sealed, the other a book opened. John heard the mysteries which the thunders uttered, but he was commanded not to write them.

Sách Đa-ni-ên và sách Khải Huyền là một. Một quyển là lời tiên tri, quyển kia là sự mặc khải; một quyển là sách đã đóng ấn, quyển kia là sách đã mở. Giăng đã nghe những điều mầu nhiệm mà các tiếng sấm nói ra, nhưng ông được truyền không được chép lại.

“The special light given to John which was expressed in the seven thunders was a delineation of events which would transpire under the first and second angels’ messages.” The Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 7, 971.

"Ánh sáng đặc biệt được ban cho Giăng, vốn được bày tỏ qua bảy tiếng sấm, là sự phác họa các sự kiện sẽ diễn ra trong bối cảnh sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai." Chú Giải Kinh Thánh của Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, tập 7, trang 971.

Christ, represented as Palmoni, the Man in chapters eight and twelve who is upon the water, is also the mighty angel with the little book in His hand. He is the Lion of the tribe of Judah that seals and unseals His Word, and He is the one who commands Gabriel, for He is Michael the archangel.

Đấng Christ, được mô tả là Palmoni, là Người ở trên mặt nước trong các chương 8 và 12, cũng chính là thiên sứ quyền năng cầm quyển sách nhỏ trong tay Ngài. Ngài là Sư tử của chi phái Giu-đa, Đấng đóng ấn và mở ấn Lời Ngài, và chính Ngài là Đấng truyền lệnh cho Ga-bri-ên, vì Ngài là Tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-ên.

Yet Michael the archangel, when contending with the devil he disputed about the body of Moses, durst not bring against him a railing accusation, but said, The Lord rebuke thee. Jude 1:9.

Tuy nhiên, tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-ên, khi tranh cãi với ma quỷ về thi thể của Môi-se, đã không dám đưa ra lời cáo buộc lăng mạ chống lại hắn, nhưng nói: Chúa quở trách ngươi. Giu-đe 1:9.

Michael is Christ’s name, and that name represents that He is the commander of not only the angels, but He is also the one who has the power to resurrect. The name Michael means “who is like God”. When Nebuchadnezzar saw one like unto the son of God in the furnace with the three worthies, he saw Michael. And the archangel Michael, is also the prince of God’s people that the little horn of pagan Rome magnified themselves against at the cross in fulfillment of Daniel chapter eight, verse eleven.

Mi-ca-ên là tên của Đấng Christ, và tên ấy biểu thị rằng Ngài là vị chỉ huy không chỉ của các thiên sứ, mà Ngài còn là Đấng có quyền phục sinh. Tên Mi-ca-ên có nghĩa là "ai giống như Đức Chúa Trời". Khi Nê-bu-cát-nết-xa thấy một người giống như Con Đức Chúa Trời trong lò lửa cùng với ba người trung tín, ông đã thấy Mi-ca-ên. Và thiên sứ trưởng Mi-ca-ên cũng là vị thủ lãnh của dân Đức Chúa Trời, Đấng mà cái sừng nhỏ của La Mã ngoại giáo đã tự tôn mình lên nghịch lại Ngài tại thập tự giá, ứng nghiệm Đa-ni-ên đoạn tám, câu mười một.

But I will show thee that which is noted in the scripture of truth: and there is none that holdeth with me in these things, but Michael your prince. Daniel 10:21.

Nhưng ta sẽ cho ngươi biết điều đã được ghi chép trong sách chân lý; và chẳng có ai đứng về phía ta trong những việc này, chỉ có Mi-ca-ên, vị thủ lãnh của các ngươi. Đa-ni-ên 10:21.

It is Michael who commands the angels, who resurrects the dead and who decides when probation closes.

Chính Michael chỉ huy các thiên thần, cho người chết sống lại và quyết định khi nào kỳ thử thách kết thúc.

“‘And at that time shall Michael stand up, the great prince which standeth for the children of thy people: and there shall be a time of trouble, such as never was since there was a nation even to that same time: and at that time thy people shall be delivered, everyone that shall be found written in the book.’ When this time of trouble comes, every case is decided; there is no longer probation, no longer mercy for the impenitent. The seal of the living God is upon His people. This small remnant, unable to defend themselves in the deadly conflict with the powers of earth that are marshaled by the dragon host, make God their defense. The decree has been passed by the highest earthly authority that they shall worship the beast and receive his mark under pain of persecution and death. May God help His people now, for what can they then do in such a fearful conflict without His assistance!” Testimonies, volume 5, 212.

'Vào thời ấy, Mi-ca-ên sẽ đứng lên, vị thủ lãnh lớn đứng ra vì con cái dân ngươi; và sẽ có một thời kỳ hoạn nạn, chưa từng có kể từ khi có một dân tộc cho đến chính thời ấy; và vào thời ấy, dân ngươi sẽ được giải cứu, hết thảy những ai được tìm thấy có tên ghi trong sách.' Khi thời kỳ hoạn nạn này đến, mọi trường hợp đều đã được định đoạt; không còn thời kỳ ân điển, không còn thương xót cho kẻ không ăn năn. Dấu ấn của Đức Chúa Trời hằng sống ở trên dân Ngài. Nhóm còn sót lại nhỏ bé này, không thể tự bảo vệ mình trong cuộc xung đột chết người với các quyền lực trần gian do đạo quân của con rồng huy động, bèn lấy Đức Chúa Trời làm sự bảo vệ của mình. Sắc lệnh đã được ban hành bởi thẩm quyền cao nhất trên đất, buộc họ phải thờ lạy con thú và nhận dấu của nó, dưới hình phạt bách hại và sự chết. Nguyện Đức Chúa Trời giúp dân Ngài ngay bây giờ, vì khi ấy, trong một cuộc xung đột đáng kinh khiếp như vậy, họ có thể làm gì nếu không có sự trợ giúp của Ngài! Chứng ngôn, tập 5, 212.

The final secret which the Lion of the tribe of Judah unseals is the Revelation of Jesus Christ, and it includes that He is in control of the design and structure of every element of His prophetic Word. The Man in linen that stands upon the waters, who lifts up His hand and swares by Him that liveth forever, and who cries as a Lion, which causes seven thunders to utter their voices, is He who seals up the book of Daniel and seals up the seven thunders of Revelation. It is He who unseals the book that is sealed with seven seals, who has the power to resurrect, and who is the great Prince that stands up and announces the end of probation. When Palmoni commanded Gabriel to make Daniel to understand the “mareh” vision, He meant exactly that.

Bí mật cuối cùng mà Sư tử của chi phái Giu-đa mở ấn chính là Khải Huyền của Chúa Giê-su Christ, và điều đó bao hàm rằng Ngài kiểm soát thiết kế và cấu trúc của mọi yếu tố trong Lời tiên tri của Ngài. Người mặc vải gai đứng trên mặt nước, Đấng giơ tay lên và thề bởi Đấng hằng sống đời đời, và Đấng gầm như sư tử khiến bảy tiếng sấm cất tiếng, chính là Đấng niêm phong sách Đa-ni-ên và niêm phong bảy tiếng sấm của Khải Huyền. Chính Ngài là Đấng mở quyển sách đã được đóng bảy ấn, Đấng có quyền năng phục sinh, và là vị Đại Thủ Lãnh đứng dậy và tuyên bố sự kết thúc của thời kỳ ân điển. Khi Palmoni truyền cho Ga-bri-ên làm cho Đa-ni-ên hiểu khải tượng “mareh”, Ngài muốn nói chính xác như thế.

He did not command Gabriel to make Daniel understand the “chazon” vision. The “chazon” vision is the vision of the kingdoms of Bible prophecy in Daniel chapter eight, verses one through twelve, and it is also the “vision” that is referenced in verse thirteen, within a question of duration. “How long shall be the vision?” The “chazon” vision concerns the daily (paganism) and the transgression (papalism) desolating powers that trample down the sanctuary and host.

Ông không truyền cho Gabriel khiến Daniel hiểu khải tượng "chazon". Khải tượng "chazon" là khải tượng về các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh ở sách Đa-ni-ên chương tám, các câu một đến mười hai; và đó cũng là "khải tượng" được nhắc đến ở câu mười ba, trong một câu hỏi về thời lượng: "Khải tượng sẽ kéo dài bao lâu?" Khải tượng "chazon" liên quan đến các quyền lực gây hoang tàn — "sự hằng ngày" (chủ nghĩa ngoại giáo) và "sự vi phạm" (chủ nghĩa giáo hoàng) — vốn giày đạp đền thánh và đạo binh.

Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? Daniel 8:13.

Bấy giờ tôi nghe có một Đấng thánh nói; một Đấng thánh khác nói cùng Đấng thánh đang nói ấy rằng: Sự hiện thấy về việc dâng của lễ hằng ngày, và sự phạm tội làm nên sự hoang vu, sẽ còn đến chừng nào, để cho nơi thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Daniel 8:13.

Christ, as Palmoni (the Wonderful Numberer), is asked “how long” shall be the “chazon” vision, and he answers, “unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed.” Daniel then desires to understand the “chazon” vision which concerns “the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot.” But Gabriel is commanded to make Daniel understand the “mareh” vision. Every fact has its bearing in God’s Word. The “mareh” vision, is the vision of the evening and mornings identified in verse twenty-six.

Đấng Christ, với tư cách là Palmoni (Đấng Đếm Kỳ Diệu), được hỏi "bao lâu" thì khải tượng "chazon" sẽ kéo dài; và Ngài đáp: "cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy." Đa-ni-ên bấy giờ mong muốn hiểu khải tượng "chazon" liên quan đến "của lễ hằng ngày, và sự vi phạm gây hoang tàn, để phó cả đền thánh lẫn đạo binh cho bị giày đạp." Nhưng Ga-bri-ên được truyền bảo làm cho Đa-ni-ên hiểu khải tượng "mareh". Mỗi chi tiết đều có ý nghĩa trong Lời Đức Chúa Trời. Khải tượng "mareh" là khải tượng về những buổi chiều và buổi sáng được nêu trong câu hai mươi sáu.

And the vision of the evening and the morning which was told is true: wherefore shut thou up the vision; for it shall be for many days. Daniel 8:26.

Khải tượng về buổi chiều và buổi mai đã được nói là thật; vì vậy, ngươi hãy niêm phong khải tượng ấy, vì phải còn lâu ngày nữa. Đa-ni-ên 8:26.

The word “vision” is mentioned twice in the verse. The first reference is the “mareh” vision and the second is the “chazon” vision. The “mareh” vision is the vision of “the evening and mornings.” The Hebrew expression of “evening and mornings” is often found in the Bible, and it is always translated as “evening and mornings,” as it is in verse twenty-six. The only place in the Bible where it is translated differently than “evening and mornings,” is in verse fourteen, where it is translated as simply “days.” The actual Hebrew of verse fourteen would read, “Unto twenty-three hundred evenings and mornings.”

Từ "khải tượng" được nhắc đến hai lần trong câu. Lần thứ nhất là khải tượng "mareh" và lần thứ hai là khải tượng "chazon". Khải tượng "mareh" là khải tượng về "buổi chiều và những buổi sáng". Cụm từ tiếng Hê-bơ-rơ "buổi chiều và những buổi sáng" thường được thấy trong Kinh Thánh, và nó luôn được dịch là "buổi chiều và những buổi sáng", như ở câu hai mươi sáu. Chỉ có một chỗ trong Kinh Thánh mà nó được dịch khác với "buổi chiều và những buổi sáng", đó là ở câu mười bốn, nơi nó được dịch đơn giản là "ngày". Nguyên văn tiếng Hê-bơ-rơ của câu mười bốn sẽ là: "Cho đến hai nghìn ba trăm buổi chiều và buổi sáng."

The verse that is the central pillar of Adventism, is the only verse in God’s Word where “evening and mornings” is expressed simply as “days.” Every fact has its bearing, and if nothing else, it is clear that Palmoni was purposely emphasizing the verse. He did so by directing the minds of those who translated the King James Bible to write the phrase differently than it is always written in His Word. The point that is to be derived from this fact, is that when Gabriel is told to make Daniel understand the “mareh” vision, he is being told to make Daniel understand the vision of the appearance of 1844, and not the “chazon” vision concerning the trampling down the sanctuary and the host.

Câu Kinh Thánh làm trụ cột trung tâm của Cơ Đốc Phục Lâm là câu duy nhất trong Lời của Đức Chúa Trời mà “chiều và sáng” được diễn đạt đơn giản là “ngày”. Mọi dữ kiện đều có ý nghĩa; và ít nhất thì cũng rõ ràng rằng Palmoni đã cố ý nhấn mạnh câu ấy. Ngài đã làm như vậy bằng cách hướng dẫn tâm trí những người dịch Kinh Thánh King James viết cụm từ ấy khác đi so với cách nó luôn được viết trong Lời của Ngài. Điều cần rút ra từ sự kiện này là: khi Gabriel được bảo phải khiến Daniel hiểu khải tượng “mareh”, thì ông được bảo làm cho Daniel hiểu khải tượng về sự xuất hiện của năm 1844, chứ không phải khải tượng “chazon” liên quan đến việc chà đạp đền thánh và đạo binh.

The vision of the “evening and mornings” is about an appearance that occurs when the cleansing of the sanctuary began on October 22, 1844. The vision of the appearance of October 22, 1844, is not about the trampling down of the sanctuary, but of the cleansing of the sanctuary. Was there a prophetic appearance on that date?

Khải tượng về “chiều và sáng” nói đến một sự xuất hiện diễn ra khi sự thanh tẩy đền thánh bắt đầu vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Khải tượng về sự xuất hiện vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 không nói về việc đền thánh bị chà đạp, mà nói về sự thanh tẩy đền thánh. Vào ngày đó có một sự xuất hiện mang tính tiên tri không?

“The coming of Christ as our high priest to the most holy place, for the cleansing of the sanctuary, brought to view in Daniel 8:14; the coming of the Son of man to the Ancient of Days, as presented in Daniel 7:13; and the coming of the Lord to His temple, foretold by Malachi, are descriptions of the same event; and this is also represented by the coming of the bridegroom to the marriage, described by Christ in the parable of the ten virgins, of Matthew 25.” The Great Controversy, 426.

Sự đến của Đấng Christ, với tư cách là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta, vào Nơi Chí Thánh để thanh tẩy đền thánh, được trình bày trong Đa-ni-ên 8:14; sự đến của Con Người đến với Đấng Thượng Cổ, như được trình bày trong Đa-ni-ên 7:13; và việc Chúa đến đền thờ của Ngài, đã được Ma-la-chi tiên báo, đều là những mô tả về cùng một sự kiện; và điều này cũng được minh họa bằng việc chàng rể đến dự lễ cưới, được Đấng Christ mô tả trong dụ ngôn mười trinh nữ ở Ma-thi-ơ 25." Đại Tranh Chiến, 426.

Gabriel was instructed to make Daniel understand the prophetic appearance of Christ in His temple on October 22, 1844. For this reason, Gabriel gave Daniel a second witness to the date of October 22, 1844, for Gabriel led every Bible author that recorded some form of the biblical principle that identifies that truth is established upon the testimony of two. If Gabriel was to make Daniel understand October 22, 1844, he would need a second witness to establish “the vision of the appearance.”

Gabriel được chỉ bảo phải làm cho Đa-ni-ên hiểu về sự xuất hiện theo lời tiên tri của Đấng Christ trong đền thờ của Ngài vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Vì lẽ đó, Gabriel đã ban cho Đa-ni-ên một lời chứng thứ hai về ngày 22 tháng 10 năm 1844, vì Gabriel đã hướng dẫn mọi tác giả Kinh Thánh từng ghi lại, dưới nhiều hình thức, nguyên tắc Kinh Thánh khẳng định rằng lẽ thật được xác lập dựa trên lời chứng của hai người. Nếu Gabriel phải làm cho Đa-ni-ên hiểu về ngày 22 tháng 10 năm 1844, ông sẽ cần một lời chứng thứ hai để xác lập "khải tượng về sự xuất hiện".

Gabriel begins his work by first addressing Daniel’s desire to understand the “chazon” vision, and he does so by identifying that the “chazon” vision, is the vision that concludes at the “time of the end” in 1798.

Gabriel bắt đầu công việc của mình bằng cách trước hết đề cập đến mong muốn hiểu khải tượng "chazon" của Daniel, và ông làm như vậy bằng cách xác định rằng khải tượng "chazon" là khải tượng kết thúc vào "thời kỳ cuối cùng" năm 1798.

And I heard a man’s voice between the banks of Ulai, which called, and said, Gabriel, make this man to understand the vision. So he came near where I stood: and when he came, I was afraid, and fell upon my face: but he said unto me, Understand, O son of man: for at the time of the end shall be the vision. Daniel 8:16, 17.

Và tôi nghe tiếng một người đàn ông giữa hai bờ sông Ulai, người ấy gọi và nói: Gabriel, hãy làm cho người này hiểu khải tượng. Thế rồi ông đến gần chỗ tôi đứng; khi ông đến, tôi sợ hãi và sấp mặt xuống, nhưng ông nói với tôi: Hãy hiểu, hỡi con người, vì khải tượng thuộc về thời kỳ cuối cùng. Daniel 8:16, 17.

The “vision” in the previous verse, that is “at the time of the end” is the “chazon” vision, and the “time of the end” in the book of Daniel is 1798. This is the “vision” which Daniel had sought to understand, but it was not the “vision” Gabriel was told to make Daniel to understand. For that Gabriel is going to provide a second witness.

“Khải tượng” ở câu trước, tức “vào thời kỳ cuối cùng”, là khải tượng “chazon”, và “thời kỳ cuối cùng” trong sách Đa-ni-ên là năm 1798. Đây là khải tượng mà Đa-ni-ên đã tìm cách hiểu, nhưng đó không phải là khải tượng mà Gabriel được truyền phải làm cho Đa-ni-ên hiểu. Để làm điều ấy, Gabriel sẽ đưa ra một lời chứng thứ hai.

So he came near where I stood: and when he came, I was afraid, and fell upon my face: but he said unto me, Understand, O son of man: for at the time of the end shall be the vision. Now as he was speaking with me, I was in a deep sleep on my face toward the ground: but he touched me, and set me upright. And he said, Behold, I will make thee know what shall be in the last end of the indignation: for at the time appointed the end shall be. Daniel 8:17–19.

Vậy người đến gần chỗ tôi đứng; khi người đến, tôi sợ hãi và sấp mặt xuống đất. Nhưng người nói với tôi: Hãy hiểu, hỡi con người, vì khải tượng ấy là cho thời kỳ cuối cùng. Trong khi người đang nói với tôi, tôi rơi vào cơn mê, mặt úp xuống đất; nhưng người chạm vào tôi và đỡ tôi đứng thẳng dậy. Người nói: Kìa, ta sẽ cho ngươi biết điều gì sẽ xảy ra vào kỳ cuối cùng của cơn thịnh nộ, vì đến kỳ đã định thì sự cuối cùng sẽ đến. Đa-ni-ên 8:17-19.

Gabriel takes up his job assignment by informing Daniel to, “behold,” which is informing Daniel to consider the next fact. The next fact is that the “last indignation,” of the two “seven times” of Leviticus twenty-six, ends in 1844. The “last indignation” is directly identified as a time prophecy, for it has a “time appointed” that it will “end.” The “indignation” must represent a period of time, for it has a “time appointed” for its ending. If the “indignation” was simply a point in time it would not have an end, it would simply be the point when it took place.

Ga-bri-ên bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của mình bằng cách bảo Đa-ni-ên: "Kìa," tức là bảo ông xem xét sự kiện kế tiếp. Sự kiện kế tiếp là rằng "cơn phẫn nộ sau cùng" của hai "bảy lần" trong Lê-vi Ký hai mươi sáu kết thúc vào năm 1844. "Cơn phẫn nộ sau cùng" được xác định trực tiếp là một lời tiên tri về thời kỳ, vì nó có một "kỳ đã định" để nó "kết thúc". "Cơn phẫn nộ" hẳn phải biểu thị một khoảng thời gian, vì nó có một "kỳ đã định" cho sự chấm dứt của nó. Nếu "cơn phẫn nộ" chỉ là một thời điểm thì nó sẽ không có kết thúc; nó đơn giản chỉ là thời điểm khi nó diễn ra.

The “indignation” had an ending point that is marked, so it represents the end of a period of time. The period of time is represented as “the last indignation.” If there is a last, then there must be a first. The “first indignation” is identified in Daniel chapter eleven, and there it is also a period of time, for the papacy was going to “practice and prosper” until the end of the “indignation”.

“Indignation” có một điểm kết thúc được xác định, nên nó đại diện cho sự chấm dứt của một thời kỳ. Thời kỳ ấy được gọi là “sự phẫn nộ sau cùng”. Nếu đã có cái sau cùng thì ắt phải có cái thứ nhất. “Sự phẫn nộ thứ nhất” được xác định trong sách Đa-ni-ên, chương mười một; và ở đó nó cũng là một thời kỳ, vì chế độ giáo hoàng sẽ “hành động và thịnh vượng” cho đến khi “sự phẫn nộ” chấm dứt.

And some of them of understanding shall fall, to try them, and to purge, and to make them white, even to the time of the end: because it is yet for a time appointed. And the king shall do according to his will; and he shall exalt himself, and magnify himself above every god, and shall speak marvellous things against the God of gods, and shall prosper till the indignation be accomplished: for that that is determined shall be done. Daniel 11:35, 36.

Trong những người thông sáng, có kẻ sẽ vấp ngã, để thử luyện, tẩy sạch và làm cho họ nên trắng, cho đến thời kỳ cuối cùng; vì còn cho đến kỳ đã định. Vua sẽ làm theo ý mình; sẽ tôn cao mình và tự tôn mình trên mọi thần, và sẽ nói những lời lạ lùng chống lại Đức Chúa Trời của các thần, và sẽ thịnh vượng cho đến khi cơn thịnh nộ được hoàn tất; vì điều đã định tất sẽ được thực hiện. Daniel 11:35, 36.

In these two verses, the king that does according to his will and exalts himself is the subject. Verse thirty-six is the verse Paul paraphrases, as he identifies the “man of sin” who is seated in the temple of God showing himself that he is God. The persecution of the Dark Ages from the year 538 through to 1798 is identified in verse thirty-five, and it continues until “the time of the end” which was 1798, which was the “time appointed.” Verse thirty-six then identifies that the papacy would “prosper” “till the indignation be accomplished.” The verse identifies that the papacy prospered until 1798, at which point, the first “indignation,” had been “accomplished.” God’s prophetic Word had “determined” that the papacy would continue for twelve hundred and sixty years, until 1798, which was the “time of the end.”

Trong hai câu này, đối tượng được nói đến là vị vua làm theo ý mình và tôn cao chính mình. Câu ba mươi sáu là câu Phao-lô diễn giải lại, khi ông xác định “người của tội lỗi” là kẻ ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời, tỏ ra chính mình là Đức Chúa Trời. Cuộc bắt bớ trong Thời Kỳ Tăm Tối từ năm 538 đến 1798 được nêu ở câu ba mươi lăm, và nó tiếp diễn cho đến “thì kỳ cuối cùng” là năm 1798, tức “thì kỳ đã định”. Câu ba mươi sáu sau đó cho biết rằng chế độ giáo hoàng sẽ “thịnh vượng” “cho đến khi cơn phẫn nộ được hoàn tất”. Câu này xác định rằng chế độ giáo hoàng đã thịnh vượng cho đến năm 1798; vào thời điểm đó, “cơn phẫn nộ” thứ nhất đã “được hoàn tất”. Lời tiên tri của Đức Chúa Trời đã “định” rằng chế độ giáo hoàng sẽ tiếp tục trong một nghìn hai trăm sáu mươi năm, cho đến năm 1798, là “thì kỳ cuối cùng”.

The first “indignation” ended in 1798, and “the last indignation” ended in 1844. Both indignations are represented as periods of time, which had specific endings, thus identifying them both as time prophecies. Gabriel was commanded by Palmoni to make Daniel understand the appearance vision (“mareh”), of the “evening and mornings” (days) that identified October 22, 1844, and he did so by providing a second witness to that date.

Kỳ "phẫn nộ" thứ nhất kết thúc vào năm 1798, và "kỳ phẫn nộ sau cùng" kết thúc vào năm 1844. Cả hai kỳ phẫn nộ được trình bày như những khoảng thời gian có điểm kết thúc cụ thể, qua đó xác định chúng đều là những lời tiên tri về thời gian. Gáp-ri-ên được Palmoni truyền lệnh phải giúp Đa-ni-ên hiểu khải tượng về "sự hiện ra" ("mareh") của các "chiều và sáng" (ngày) vốn xác định ngày 22 tháng 10 năm 1844, và ông đã làm như vậy bằng cách cung cấp một bằng chứng thứ hai cho ngày đó.

The “chazon” vision of verse thirteen, which Daniel desired to understand, was the vision of the trampling down that ended at the “time of the end” in 1798. The “mareh” vision of verse fourteen, ended with the appearance of Christ in the Most Holy Place on October 22, 1844, in fulfillment of the time prophecy of twenty-three hundred years, and also the fulfillment of the time prophecy of the twenty-five hundred and twenty years. Both of those time prophecies are represented upon Habakkuk’s sacred tables, which Sister White identifies were directed by the hand of the Lord, and should not be altered.

Khải tượng "chazon" ở câu mười ba, điều Đa-ni-ên ao ước hiểu, là khải tượng về sự chà đạp kết thúc tại "thời kỳ cuối cùng" vào năm 1798. Khải tượng "mareh" ở câu mười bốn kết thúc bằng sự xuất hiện của Đấng Christ trong Nơi Chí Thánh vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, ứng nghiệm lời tiên tri thời gian hai nghìn ba trăm năm, và cũng ứng nghiệm lời tiên tri thời gian hai nghìn năm trăm hai mươi năm. Cả hai lời tiên tri thời gian đó được trình bày trên các bảng thánh của Habakkuk, mà Bà White xác định là do bàn tay của Chúa hướng dẫn và không nên bị thay đổi.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“We have many lessons to learn, and many, many to unlearn. God and heaven alone are infallible. Those who think that they will never have to give up a cherished view, never have occasion to change an opinion, will be disappointed. As long as we hold to our own ideas and opinions with determined persistency, we cannot have the unity for which Christ prayed.” Review and Herald, July 26, 1892.

Chúng ta có nhiều bài học phải học, và cũng có rất, rất nhiều điều phải bỏ đi. Chỉ riêng Đức Chúa Trời và thiên đàng là không thể sai lầm. Những ai nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ phải từ bỏ một quan điểm trân quý, chẳng bao giờ có dịp phải thay đổi ý kiến, sẽ thất vọng. Chừng nào chúng ta còn khăng khăng giữ những ý tưởng và ý kiến riêng của mình, chúng ta không thể có được sự hiệp nhất mà Đấng Christ đã cầu nguyện. Review and Herald, ngày 26 tháng 7, năm 1892.