In the last article we pointed out that Gabriel provided the conclusion of the “last indignation” in order to confirm the date of 1844, based upon two witnesses. Miller understood the “seven times” of Leviticus twenty-six, that was carried out against the kingdom of Judah, but never reached a point where he saw the purpose and relationship of the judgment of the “seven times,” upon both the northern and southern kingdoms of Israel. Whether he ever recognized the distinction of “the last indignation” in verse nineteen is doubtful, though he no doubt understood in a general sense that the “indignation” was the “seven times.” The light of a first and last indignation was unsealed by Palmoni in 1856, but it was rejected in 1863. Yet Miller’s message of the “seven times” was correct, though limited.
Trong bài viết trước, chúng ta đã chỉ ra rằng Gabriel đã đưa ra điểm kết thúc của "cơn thịnh nộ sau cùng" để xác nhận mốc năm 1844, dựa trên hai nhân chứng. Miller hiểu "bảy lần" của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu, điều đã được thực thi chống lại vương quốc Giu-đa, nhưng ông chưa bao giờ đạt đến chỗ ông thấy mục đích và mối liên hệ của sự phán xét của "bảy lần" đối với cả các vương quốc miền bắc và miền nam của Y-sơ-ra-ên. Việc ông có từng nhận ra sự phân biệt của "cơn thịnh nộ sau cùng" ở câu mười chín hay không là điều đáng nghi ngờ, dù chắc hẳn ông hiểu một cách tổng quát rằng "cơn thịnh nộ" chính là "bảy lần". Ánh sáng về cơn thịnh nộ thứ nhất và sau cùng đã được Palmoni mở ấn vào năm 1856, nhưng nó đã bị bác bỏ vào năm 1863. Tuy vậy, sứ điệp của Miller về "bảy lần" là đúng, dù còn hạn chế.
Miller would not have recognized that the little horn of pagan Rome lifted up and exalted paganism, in verse eleven of Daniel eight, for to Miller “take away” was simply to remove in each of its three occurrences in Daniel. Yet his message was still correct, though limited.
Miller đã không nhận ra rằng, trong câu mười một của Đa-ni-ên đoạn tám, sừng nhỏ của La Mã ngoại giáo đã đề cao và tôn vinh ngoại giáo; vì đối với Miller, "take away" đơn giản chỉ có nghĩa là loại bỏ trong cả ba lần nó xuất hiện trong sách Đa-ni-ên. Tuy vậy, sứ điệp của ông vẫn đúng, dù còn hạn chế.
The Millerites did recognize the “sanctuary” in verse eleven was the pagan temple in the city of Rome (the Pantheon), but the Hebrew language was not what their message was based upon. Miller’s message was focused upon prophetic time. The history where their message was unsealed prevented them from seeing the United States as the sixth kingdom of Bible prophecy, but more than that, it prevented them from seeing the papacy as the fifth kingdom of Bible prophecy.
Những người Millerite đã nhận ra rằng “đền thánh” ở câu mười một là ngôi đền ngoại giáo tại thành Rô-ma (đền Pantheon), nhưng thông điệp của họ không dựa trên tiếng Hê-bơ-rơ. Thông điệp của Miller tập trung vào thời kỳ tiên tri. Bối cảnh lịch sử khi thông điệp của họ được mở ấn đã khiến họ không nhìn nhận Hoa Kỳ là vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh, nhưng hơn thế nữa, điều đó còn khiến họ không thấy giáo triều La Mã là vương quốc thứ năm trong lời tiên tri Kinh Thánh.
Forced by the history in which they lived they applied the prophecies in agreement with their anticipated soon-coming return of Christ, and they were disappointed, yet their message was correct. When Gabriel provides the interpretation of the two visions in verses fifteen through twenty-seven, Miller’s understanding prevented him from grasping the broader revelation of the kingdoms that was represented in the gender oscillation of the little horn in verses nine through twelve. The Millerites only see Rome as a fourth and final earthly kingdom in Gabriel’s interpretation.
Bị bối cảnh lịch sử họ đang sống chi phối, họ đã áp dụng các lời tiên tri theo kỳ vọng về sự tái lâm sớm của Đấng Christ, và họ đã thất vọng, nhưng sứ điệp của họ vẫn đúng. Khi Gabriel đưa ra sự giải nghĩa về hai khải tượng trong các câu 15 đến 27, cách hiểu của Miller đã khiến ông không nắm bắt được sự mặc khải rộng hơn về các vương quốc, điều được thể hiện qua sự dao động về giới tính của sừng nhỏ trong các câu 9 đến 12. Những người Millerite chỉ nhìn thấy Rome như vương quốc trần thế thứ tư và cuối cùng trong sự giải nghĩa của Gabriel.
And it came to pass, when I, even I Daniel, had seen the vision, and sought for the meaning, then, behold, there stood before me as the appearance of a man. And I heard a man’s voice between the banks of Ulai, which called, and said, Gabriel, make this man to understand the vision. So he came near where I stood: and when he came, I was afraid, and fell upon my face: but he said unto me, Understand, O son of man: for at the time of the end shall be the vision. Now as he was speaking with me, I was in a deep sleep on my face toward the ground: but he touched me, and set me upright. And he said, Behold, I will make thee know what shall be in the last end of the indignation: for at the time appointed the end shall be. The ram which thou sawest having two horns are the kings of Media and Persia. And the rough goat is the king of Grecia: and the great horn that is between his eyes is the first king. Now that being broken, whereas four stood up for it, four kingdoms shall stand up out of the nation, but not in his power. And in the latter time of their kingdom, when the transgressors are come to the full, a king of fierce countenance, and understanding dark sentences, shall stand up. And his power shall be mighty, but not by his own power: and he shall destroy wonderfully, and shall prosper, and practise, and shall destroy the mighty and the holy people. And through his policy also he shall cause craft to prosper in his hand; and he shall magnify himself in his heart, and by peace shall destroy many: he shall also stand up against the Prince of princes; but he shall be broken without hand. And the vision of the evening and the morning which was told is true: wherefore shut thou up the vision; for it shall be for many days. And I Daniel fainted, and was sick certain days; afterward I rose up, and did the king’s business; and I was astonished at the vision, but none understood it. Daniel 8:15–27.
Và xảy ra rằng, khi ta, chính ta là Đa-ni-ên, đã thấy khải tượng và tìm kiếm ý nghĩa, kìa, có một đấng như hình dáng một người đứng trước mặt ta. Ta nghe tiếng một người nam ở giữa hai bờ sông U-lai, tiếng ấy gọi và nói: “Ga-bri-ên, hãy làm cho người này hiểu khải tượng.” Người bèn đến gần chỗ ta đứng; khi người đến, ta sợ hãi và sấp mặt xuống đất; nhưng người nói với ta: “Hỡi con người, hãy hiểu, vì khải tượng là về thời cuối cùng.” Đang khi người nói với ta, ta chìm vào giấc ngủ mê, mặt úp xuống đất; nhưng người chạm đến ta và dựng ta đứng thẳng lên. Người nói: “Này, ta sẽ cho ngươi biết điều sẽ xảy ra vào đoạn cuối của cơn thịnh nộ; vì sự cuối cùng sẽ đến vào thời kỳ đã định. Con chiên đực mà ngươi thấy, con có hai sừng, là các vua Mê-đi và Ba Tư. Còn con dê đực lông rậm là vua của Hy Lạp; cái sừng lớn ở giữa hai mắt nó là vị vua đầu tiên. Khi sừng lớn ấy bị gãy, bốn cái khác mọc lên thay cho nó: bốn vương quốc sẽ dấy lên từ trong dân ấy, nhưng không theo quyền lực của nó. Đến thời kỳ cuối cùng của vương quốc họ, khi sự vi phạm đã đầy dẫy, sẽ có một vua mặt mày dữ tợn, hiểu các lời kín ẩn, nổi lên. Quyền thế của nó sẽ mạnh, nhưng không phải bởi quyền của chính nó; nó sẽ hủy diệt cách lạ lùng, sẽ thịnh đạt và hành động, và sẽ tiêu diệt những người mạnh mẽ cùng dân thánh. Nhờ sách lược của mình, nó làm cho sự gian xảo thịnh vượng trong tay nó; nó sẽ tự tôn mình trong lòng, và nhờ sự bình an sẽ tiêu diệt nhiều người; nó cũng sẽ dấy lên chống lại Thủ lãnh các thủ lãnh, nhưng sẽ bị bẻ gãy, không bởi tay người. Khải tượng về buổi chiều và buổi sáng đã được nói là chân thật; vì vậy hãy giữ kín khải tượng, vì nó còn cho nhiều ngày sau.” Còn ta, Đa-ni-ên, thì ngất đi và đau ốm mấy ngày; sau đó ta đứng dậy và làm công việc của vua; ta kinh ngạc về khải tượng, nhưng chẳng ai hiểu nó. Đa-ni-ên 8:15-27.
Though Daniel received the vision of the Ulai River (which is now in the process of fulfillment), in the history of Babylon, the first kingdom is left out of the vision. It had been included as the head of gold, and the lion in chapters two and seven, but the prophetic attribute of Babylon being removed and restored was emphasized in chapter eight. Nebuchadnezzar had typified the deadly wound of the papacy when he was driven from men for “seven times,” thus typifying the symbolic seventy years that the whore of Tyre is forgotten. In Daniel chapter eight, Babylon is forgotten from the kingdoms of Bible prophecy and the vision begins with the Medes and Persians (the ram), which was followed by Greece (the goat).
Dù Đa-ni-ên đã nhận được khải tượng về sông U-lai (hiện đang trong quá trình ứng nghiệm), nhưng xét theo lịch sử Ba-by-lôn, vương quốc thứ nhất lại bị bỏ khỏi khải tượng. Trước đó, nó đã được bao gồm như cái đầu bằng vàng và con sư tử trong các chương hai và bảy, nhưng khía cạnh tiên tri về việc Ba-by-lôn bị dời bỏ rồi được phục hồi được nhấn mạnh trong chương tám. Nê-bu-cát-nết-sa đã làm hình bóng cho vết thương chí tử của quyền giáo hoàng khi ông bị đuổi khỏi loài người trong “bảy kỳ”, qua đó tượng trưng cho bảy mươi năm mang tính biểu tượng khi con điếm của Ty-rơ bị lãng quên. Trong chương tám sách Đa-ni-ên, Ba-by-lôn bị bỏ quên khỏi các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh, và khải tượng bắt đầu với Mê-đi và Ba Tư (con chiên đực), tiếp theo là Hy Lạp (con dê đực).
The kingdom of Alexander the Great disintegrated into four kingdoms of lesser power than Alexander, as had also been represented in chapter seven with the leopard which had four wings and four heads. Four represents worldwide as represented by north, east, south and west. In verse eight of chapter eight, four notable ones came up towards the four winds of heaven. In chapter seven Greece’s four wings align with the four winds of chapter eight, and Greece’s four heads align with the four notable ones. The four heads and four notable ones represent the four kingdoms Alexander’s original kingdom disintegrated into, and the four wings and four winds represent the four areas of division. The distinction of the point is important to see, for it represents an argument which the Millerites had against the traditional understanding of the Protestants about the fourth kingdom of Rome.
Vương quốc của Alexander Đại đế đã tan rã thành bốn vương quốc có quyền lực kém hơn Alexander, như cũng đã được mô tả ở chương bảy với hình tượng con beo có bốn cánh và bốn đầu. Số bốn tượng trưng cho toàn thế giới, được biểu hiện qua bốn phương: bắc, đông, nam và tây. Ở câu tám của chương tám, bốn vật nổi bật đã nổi lên hướng về bốn gió trời. Trong chương bảy, bốn cánh của Hy Lạp tương ứng với bốn gió trời của chương tám, và bốn đầu của Hy Lạp tương ứng với bốn vật nổi bật. Bốn đầu và bốn vật nổi bật đại diện cho bốn vương quốc mà vương quốc ban đầu của Alexander tan rã thành, còn bốn cánh và bốn gió tượng trưng cho bốn khu vực phân chia. Sự phân biệt này là điều quan trọng cần nhận ra, vì nó thể hiện một lập luận mà những người Millerite đã đưa ra chống lại cách hiểu truyền thống của giới Tin Lành về vương quốc thứ tư là La Mã.
On the tables of Habakkuk, represented by the 1843 and 1850 pioneer charts, there is only one representation which is not illustrating a prophetic application, and it has to do with the distinction between the four heads and notable ones, and the four wings and winds. In an effort to obscure the truth of Rome as the fourth kingdom of Bible prophecy, Satan introduced an argument concerning the true or false meaning of the four heads and notable ones, and the four wings and winds. Satan did so for the book of Daniel clearly identifies that there is one distinct symbol in the book of Daniel that established the vision. Part of the evidence which establishes that symbol is in the four heads and notable ones, and the four wings and winds. The Protestants upheld a satanic view of this argument, and the argument was so significant to Millerite history that they referenced the argument upon the chart. The power which establishes the “chazon” vision in the book of Daniel is identified as the “robbers of thy people,” and the Protestants identified that power as one of a long line of Syrian kings named Antiochus Epiphanes, and Miller identified them as Rome.
Trên các bảng của Ha-ba-cúc, được thể hiện qua các biểu đồ tiên phong năm 1843 và 1850, chỉ có một hình minh họa không trình bày một sự áp dụng tiên tri, và điều đó liên quan đến sự phân biệt giữa bốn đầu và bốn cái nổi bật, và giữa bốn cánh và bốn gió. Trong nỗ lực che mờ lẽ thật rằng La Mã là vương quốc thứ tư của lời tiên tri Kinh Thánh, Sa-tan đã đưa ra một lập luận về ý nghĩa đúng hay sai của bốn đầu và bốn cái nổi bật, và của bốn cánh và bốn gió. Sa-tan làm như vậy vì sách Đa-ni-ên nêu rõ rằng có một biểu tượng riêng biệt trong sách Đa-ni-ên đã thiết lập khải tượng. Một phần bằng chứng xác lập biểu tượng ấy nằm ở bốn đầu và bốn cái nổi bật, và ở bốn cánh và bốn gió. Những người Tin Lành đã giữ một quan điểm mang tính Sa-tan về lập luận này, và lập luận đó quan trọng đến mức trong lịch sử Millerite họ đã dẫn chiếu lập luận ấy trên biểu đồ. Quyền lực thiết lập khải tượng “chazon” trong sách Đa-ni-ên được nhận diện là “những kẻ cướp của dân ngươi”, và người Tin Lành xác định quyền lực đó là một trong chuỗi dài các vua Syria tên là Antiochus Epiphanes, còn Miller thì xác định đó là La Mã.
And in those times there shall many stand up against the king of the south: also the robbers of thy people shall exalt themselves to establish the vision; but they shall fall. Daniel 11:14.
Trong thời ấy sẽ có nhiều người đứng lên chống lại vua phương nam; cả những kẻ cướp trong dân ngươi cũng sẽ tự tôn mình lên để làm cho khải tượng được ứng nghiệm; nhưng rồi chúng sẽ thất bại. Đa-ni-ên 11:14.
Antiochus was one of the kings, in a line of kings that descended out of one of the four kingdoms which Alexander’s kingdom had disintegrated into. The little horn of verse nine of Daniel eight, had followed the kingdom of Alexander, and verse nine says that out of one of them, came forth the little horn.
Antiochus là một trong các vua, thuộc dòng các vua xuất thân từ một trong bốn vương quốc mà vương quốc của Alexander đã tan rã thành. Cái sừng nhỏ ở câu chín của Đa-ni-ên đoạn tám đã theo sau vương quốc của Alexander, và câu chín nói rằng từ một trong số chúng, cái sừng nhỏ đã xuất hiện.
And out of one of them came forth a little horn, which waxed exceeding great, toward the south, and toward the east, and toward the pleasant land. Daniel 8:9.
Và từ một trong số đó mọc lên một cái sừng nhỏ, sừng ấy trở nên hết sức lớn mạnh, về phía nam, về phía đông, và về miền đất tốt đẹp. Đa-ni-ên 8:9.
The argument of whether Rome establishes the vision, or a weak and fairly insignificant Syrian king establishes the vision, includes the argument of whether the little horn power came out of one of the four horns, or out of one of the four winds. It is not much of an argument, for history and prophecy is clear that Rome was not a descendant of the Greek empire, but that Rome was a new power. If Rome was the fourth kingdom, then the “one of them” of verse nine, must be one of the four winds or wings. If it was Antiochus Epiphanes, it came out of the horn of Syria.
Lập luận về việc liệu La Mã làm ứng nghiệm khải tượng, hay một vị vua Syria yếu ớt và khá không đáng kể làm ứng nghiệm khải tượng, bao gồm cả tranh luận về việc liệu quyền lực sừng nhỏ mọc ra từ một trong bốn sừng, hay từ một trong bốn gió. Đó không phải là một lập luận đáng kể, vì lịch sử và lời tiên tri đều rõ ràng rằng La Mã không phải là hậu duệ của đế quốc Hy Lạp, mà La Mã là một quyền lực mới. Nếu La Mã là vương quốc thứ tư, thì “một trong số chúng” ở câu chín phải là một trong bốn gió hoặc cánh. Nếu đó là Antiochus Epiphanes, thì nó mọc ra từ cái sừng của Syria.
The Millerites identified that the power represented as “the robbers of thy people” would stand up against Christ.
Những người theo Miller xác định rằng quyền lực được mô tả là "những kẻ cướp của dân ngươi" sẽ đứng lên chống lại Đấng Christ.
And through his policy also he shall cause craft to prosper in his hand; and he shall magnify himself in his heart, and by peace shall destroy many: he shall also stand up against the Prince of princes; but he shall be broken without hand. Daniel 8:25.
Nhờ mưu kế của mình, nó cũng khiến sự xảo quyệt thịnh vượng trong tay nó; nó sẽ tự cao trong lòng, và bằng sự an bình nó sẽ diệt hại nhiều người; nó cũng sẽ dấy lên chống lại Quân-trưởng của các quân-trưởng; nhưng nó sẽ bị bẻ gãy, không bởi tay người. Đa-ni-ên 8:25.
The “Prince of princes” is Christ, and Antiochus Epiphanes lived well before Christ was born, so the Millerites pointed this fact out on the 1843 chart. On the chart they included the date 164, which in reality has no biblical reference, and was simply a notation which identifies the significance of the argument over the fourth kingdom between Miller and the Protestant theologians. Next to the year “164” on the chart they wrote, “Death of Antiochus Epiphanes who of course stood not up against the Prince of princes as he had been dead 164 years before the prince of princes was born.”
“Chúa của các chúa” là Đấng Christ, và Antiochus Epiphanes đã sống từ lâu trước khi Đấng Christ ra đời, nên những người theo Miller đã chỉ ra thực tế này trên biểu đồ năm 1843. Trên biểu đồ, họ ghi năm 164, vốn thực ra không có tham chiếu Kinh Thánh nào, và chỉ là một ghi chú nhằm nêu bật tầm quan trọng của cuộc tranh luận về vương quốc thứ tư giữa Miller và các nhà thần học Tin Lành. Bên cạnh năm “164” trên biểu đồ, họ viết: “Cái chết của Antiochus Epiphanes, người dĩ nhiên đã không đứng lên chống lại Chúa của các chúa, vì ông đã chết 164 năm trước khi Chúa của các chúa ra đời.”
Today Adventism teaches that “the robbers of thy people” is Antiochus Epiphanes, as does apostate Protestantism, in spite of the fact that inspiration recorded that “the 1843 chart was directed by the hand of the Lord and should not be altered.” The Millerites knew that the king of fierce countenance was Rome, so they were not shaken by the satanic teaching that undermines the ability to establish the “chazon” vision. The Bible is clear that if there is no vision, the people perish.
Ngày nay phái Phục Lâm dạy rằng "những kẻ cướp bóc dân ngươi" là Antiochus Epiphanes, cũng như giới Tin Lành bội đạo, mặc dù sự soi dẫn đã ghi lại rằng "biểu đồ năm 1843 đã được hướng dẫn bởi tay của Chúa và không nên bị thay đổi." Những người theo Miller biết rằng vị vua có nét mặt hung tợn là Rô-ma, nên họ không bị lay chuyển bởi giáo lý Sa-tan phá hoại khả năng xác lập khải tượng "chazon". Kinh Thánh nêu rõ rằng nếu không có khải tượng, dân sự sẽ bị diệt vong.
Where there is no vision, the people perish: but he that keepeth the law, happy is he. Proverbs 29:18.
Ở đâu không có khải tượng, dân sự bị diệt vong; nhưng ai giữ luật pháp thì được phước. Châm Ngôn 29:18.
The vision that Solomon identifies in the verse is the “chazon” vision, which in verse thirteen of Daniel eight, is the vision that identifies paganism and papalism trampling down the sanctuary and host. For the Millerites those two desolating powers represented the fourth kingdom of Bible prophecy, and without recognizing the fourth kingdom of Rome (the robbers of thy people), they would not have been able to establish the vision. The “robbers of thy people” in verse fourteen of Daniel eleven, were to stand up against the king of the south, exalt themselves, establish the vision and fall. Rome fulfilled each of those characteristics.
Khải tượng mà Sa-lô-môn nêu trong câu ấy là khải tượng “chazon”, và ở Đa-ni-ên đoạn tám, câu mười ba, đó là khải tượng cho thấy ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng chà đạp đền thánh và đạo binh. Đối với những người theo Miller, hai quyền lực tàn phá ấy đại diện cho vương quốc thứ tư trong lời tiên tri Kinh Thánh, và nếu không nhận ra vương quốc thứ tư là Rô-ma (những kẻ cướp của dân ngươi), họ đã không thể thiết lập khải tượng. “Những kẻ cướp của dân ngươi” trong Đa-ni-ên đoạn mười một, câu mười bốn, sẽ đứng lên chống lại vua phương nam, tự tôn mình, thiết lập khải tượng rồi sụp đổ. Rô-ma đã ứng nghiệm từng đặc điểm ấy.
In chapter seven, the fourth kingdom is specifically identified as being “diverse” from the kingdoms before it.
Trong chương bảy, vương quốc thứ tư được xác định cụ thể là "khác biệt" so với các vương quốc trước nó.
After this I saw in the night visions, and behold a fourth beast, dreadful and terrible, and strong exceedingly; and it had great iron teeth: it devoured and brake in pieces, and stamped the residue with the feet of it: and it was diverse from all the beasts that were before it; and it had ten horns…. Then I would know the truth of the fourth beast, which was diverse from all the others, exceeding dreadful, whose teeth were of iron, and his nails of brass; which devoured, brake in pieces, and stamped the residue with his feet; And of the ten horns that were in his head, and of the other which came up, and before whom three fell; even of that horn that had eyes, and a mouth that spake very great things, whose look was more stout than his fellows. Daniel 7:7, 19, 20.
Sau đó tôi thấy trong các khải tượng ban đêm, và kìa, một con thú thứ tư, đáng sợ và kinh khiếp, vô cùng mạnh mẽ; nó có những chiếc răng sắt lớn; nó nuốt chửng và nghiền nát, và lấy chân giẫm đạp phần còn sót lại; nó khác hẳn với mọi con thú đã có trước nó; và nó có mười sừng.... Bấy giờ tôi muốn biết sự thật về con thú thứ tư, là con thú khác với tất cả những con khác, cực kỳ đáng kinh khiếp, răng bằng sắt, và móng bằng đồng; nó nuốt chửng, nghiền nát, và lấy chân giẫm đạp phần còn sót lại; và về mười sừng ở trên đầu nó, và về cái sừng khác mọc lên, trước mặt nó ba sừng ngã đổ; tức là cái sừng có mắt, và một miệng nói những lời rất lớn lao, có dáng vẻ oai hơn các sừng khác. Đa-ni-ên 7:7, 19, 20.
The fourth kingdom of Daniel seven was twice identified as being “diverse” from the kingdoms that preceded it. If the “little horn” of verse nine was simply an extension of the Syrian horn (Antiochus Epiphanes), it would not have been different. The beasts that preceded Rome in chapter seven were the lion, the bear and the leopard, all animals that actually exist in nature, but when it came to the fourth beast with iron teeth and nails of brass, Daniel knew of no beast of nature that represented the dreadful beast that devoured. It was different (diverse). The “little horn” of verse nine, came forth out of one of the areas represented by the four winds and wings, and not out of one of the horns or notable ones.
Vương quốc thứ tư trong Đa-ni-ên đoạn bảy được hai lần xác định là “khác” với các vương quốc đi trước nó. Nếu “cái sừng nhỏ” ở câu chín chỉ đơn thuần là sự nối dài của cái sừng Syria (Antiochus Epiphanes), thì nó đã không khác. Những con thú đi trước Rô-ma trong đoạn bảy là sư tử, gấu và báo, đều là những loài vật thực sự tồn tại trong tự nhiên; nhưng khi nói đến con thú thứ tư có răng bằng sắt và móng bằng đồng, Đa-ni-ên không biết loài thú nào trong tự nhiên có thể đại diện cho con thú khủng khiếp ăn nuốt ấy. Nó khác (dị biệt). “Cái sừng nhỏ” ở câu chín xuất phát từ một trong những vùng được biểu trưng bởi bốn gió và các cánh, chứ không phải từ một trong các sừng hay những cái đáng chú ý.
Daniel chapter eight, states that “in the latter time of their kingdom, when the transgressors are come to the full, a king of fierce countenance, and understanding dark sentences, shall stand up.” In the “latter time of their kingdom (Greece, which had disintegrated into four kingdoms), during the time “when the transgressors are come to the full,” a new king would stand up.
Sách Đa-ni-ên chương tám nói rằng: "Vào thời kỳ cuối của vương quốc họ, khi sự gian ác đã đến cực điểm, sẽ có một vị vua có nét mặt hung tợn và thông hiểu những lời tối nghĩa trỗi dậy." Vào "thời kỳ cuối của vương quốc họ" (Hy Lạp, vốn đã tan rã thành bốn vương quốc), trong thời "khi sự gian ác đã đến cực điểm," một vị vua mới sẽ trỗi dậy.
“Every nation that has come upon the stage of action has been permitted to occupy its place on the earth, that the fact might be determined whether it would fulfill the purposes of the Watcher and the Holy One. Prophecy has traced the rise and progress of the world’s great empires—Babylon, Medo-Persia, Greece, and Rome. With each of these, as with the nations of less power, history has repeated itself. Each has had its period of test; each has failed, its glory faded, its power departed.” Prophets and Kings, 535.
"Mọi quốc gia đã bước lên vũ đài hành động đều được phép chiếm giữ vị trí của mình trên trái đất, để có thể xác định liệu nó có thực hiện các mục đích của Đấng Canh Giữ và Đấng Thánh hay không. Lời tiên tri đã vạch ra sự trỗi dậy và tiến triển của những đế quốc vĩ đại của thế giới—Ba-by-lôn, Mê-đi Ba Tư, Hy Lạp và La Mã. Với mỗi đế quốc này, cũng như với các quốc gia kém quyền lực hơn, lịch sử đã tự lặp lại. Mỗi đế quốc đều đã có thời kỳ thử thách; mỗi đế quốc đều đã thất bại, vinh quang phai tàn, quyền lực tiêu tan." Các Tiên Tri và Các Vua, 535.
At the end (“latter time”) of the kingdom of Greece, when their cup of probationary time had been filled (“when the transgressors are come to the full”), a “king of fierce countenance” would stand up. That king would understand “dark sentences,” for he would speak a completely different language than the Hebrew of the Jews or the Greek of the previous kingdom, for he would speak Latin. That kingdom had been identified by Moses as the nation that would bring the siege of the years 66 to 70 AD, where among other things the famine was so terrible that the Jews ate their own children to survive.
Vào cuối ("thời kỳ sau cùng") của vương quốc Hy Lạp, khi thời kỳ chịu thử thách của họ đã trọn ("khi những kẻ phạm tội đã đến mức trọn đầy"), một "vị vua có vẻ mặt dữ tợn" sẽ đứng lên. Vị vua ấy sẽ hiểu những "lời tối nghĩa", vì ông sẽ nói một ngôn ngữ hoàn toàn khác với tiếng Hê-bơ-rơ của người Do Thái hoặc tiếng Hy Lạp của vương quốc trước đó; đó là tiếng Latinh. Vương quốc đó đã được Môi-se xác định là quốc gia sẽ đem đến cuộc vây hãm vào các năm 66 đến 70 sau Công Nguyên, trong đó, ngoài nhiều điều khác, nạn đói khủng khiếp đến nỗi người Do Thái ăn chính con mình để sống sót.
Because thou servedst not the Lord thy God with joyfulness, and with gladness of heart, for the abundance of all things; Therefore shalt thou serve thine enemies which the Lord shall send against thee, in hunger, and in thirst, and in nakedness, and in want of all things: and he shall put a yoke of iron upon thy neck, until he have destroyed thee. The Lord shall bring a nation against thee from far, from the end of the earth, as swift as the eagle flieth; a nation whose tongue thou shalt not understand; A nation of fierce countenance, which shall not regard the person of the old, nor show favour to the young: And he shall eat the fruit of thy cattle, and the fruit of thy land, until thou be destroyed: which also shall not leave thee either corn, wine, or oil, or the increase of thy kine, or flocks of thy sheep, until he have destroyed thee. And he shall besiege thee in all thy gates, until thy high and fenced walls come down, wherein thou trustedst, throughout all thy land: and he shall besiege thee in all thy gates throughout all thy land, which the Lord thy God hath given thee. And thou shalt eat the fruit of thine own body, the flesh of thy sons and of thy daughters, which the Lord thy God hath given thee, in the siege, and in the straitness, wherewith thine enemies shall distress thee. Deuteronomy 28:47–53.
Bởi vì ngươi đã không phụng sự Đức Chúa Trời của ngươi cách vui mừng và hoan hỉ trong lòng, vì sự phong phú của mọi sự; nên ngươi sẽ phải phục vụ những kẻ thù nghịch của ngươi, là những kẻ Đức Chúa Trời sẽ sai đến nghịch cùng ngươi, trong cảnh đói khát, trần truồng và thiếu thốn mọi điều; và Ngài sẽ đặt một ách sắt trên cổ ngươi, cho đến khi Ngài diệt ngươi. Đức Chúa Trời sẽ đem một dân từ xa, từ tận cùng đất, đến nghịch cùng ngươi, nhanh như đại bàng bay; một dân tộc nói thứ tiếng mà ngươi không hiểu; một dân có vẻ mặt hung dữ, chẳng kính nể người già, cũng chẳng thương xót kẻ trẻ. Chúng sẽ ăn hết con non của bầy gia súc ngươi và hoa màu đất đai ngươi, cho đến khi ngươi bị diệt vong; chúng cũng sẽ không để lại cho ngươi lúa, rượu hay dầu, hay bầy con của bò cái, hay bầy chiên của ngươi, cho đến khi chúng đã diệt ngươi. Chúng sẽ vây hãm ngươi tại mọi cửa thành, cho đến khi những bức tường cao và kiên cố mà ngươi tin cậy sụp đổ khắp trong cả xứ của ngươi; và chúng sẽ vây hãm ngươi tại mọi cửa thành khắp cả đất mà Đức Chúa Trời của ngươi đã ban cho ngươi. Và ngươi sẽ ăn hoa trái của lòng dạ mình, tức là thịt con trai và con gái ngươi, là những người Đức Chúa Trời của ngươi đã ban cho ngươi, trong cơn vây hãm và cảnh ngặt nghèo mà kẻ thù nghịch sẽ làm khốn khổ ngươi. Phục truyền Luật lệ Ký 28:47-53.
In Daniel chapter two the fourth kingdom was represented by “iron,” and Moses identified “a nation,” which would put a “yoke of iron,” upon the Jews. The “nation” would “destroy” the Jews, and it would be as swift as an eagle, of which the eagle is the symbol of Rome. It would be a “nation” “whose tongue thou shalt not understand,” for its language would be “dark sentences” to the Jews. It would be a “nation of fierce countenance” as described in Daniel chapter eight as a “king of fierce countenance.” And in the “siege” of Jerusalem the Jews ate their “sons and daughters.”
Trong sách Đa-ni-ên chương hai, vương quốc thứ tư được tượng trưng bởi "sắt", và Môi-se chỉ ra "một dân tộc" sẽ đặt một "ách sắt" lên cổ người Do Thái. "Dân tộc" ấy sẽ "hủy diệt" người Do Thái, và sẽ nhanh như đại bàng, mà đại bàng là biểu tượng của La Mã. Đó sẽ là một "dân tộc" "có tiếng nói mà ngươi không hiểu", vì ngôn ngữ của họ sẽ là "những lời tối nghĩa" đối với người Do Thái. Đó sẽ là một "dân tộc có vẻ mặt hung dữ", như được mô tả trong sách Đa-ni-ên chương tám là một "vua có vẻ mặt hung dữ". Và trong cuộc "bao vây" Giê-ru-sa-lem, người Do Thái đã ăn "con trai và con gái" của mình.
Miller recognized pagan Rome as the power predicted by Moses, and as the fourth “iron” kingdom of Daniel two, and the “nation” who spoke Latin, not Hebrew or Greek. Miller made no distinction between the fourth and fifth kingdom of Bible prophecy, for to him they both were simply Rome. So after pagan Rome stood up in verse twenty-three, he would not see the distinction represented in verse twenty-four. In the vision the little horn had oscillated from masculine to feminine to masculine to feminine in verses nine through twelve, and verse twenty-three identifies the prophetic characteristics of pagan Rome, Gabriel’s interpretation in verse twenty-four changes to feminine Rome. The power in verse twenty-four was to possess “mighty power,” “but not by his own power: and he shall destroy wonderfully, and shall prosper, and practice, and shall destroy the mighty and the holy people.”
Miller nhận ra La Mã ngoại giáo là thế lực được Môi-se báo trước, và là vương quốc "sắt" thứ tư trong Đa-ni-ên chương hai, và là "dân tộc" nói tiếng La-tinh, chứ không phải tiếng Hê-bơ-rơ hay Hy Lạp. Miller không phân biệt giữa vương quốc thứ tư và thứ năm trong lời tiên tri Kinh Thánh, vì đối với ông, cả hai đơn giản chỉ là La Mã. Vì vậy, sau khi La Mã ngoại giáo đứng lên ở câu hai mươi ba, ông đã không thấy sự phân biệt được thể hiện ở câu hai mươi bốn. Trong khải tượng, sừng nhỏ đã luân phiên từ giống đực sang giống cái rồi lại giống đực rồi giống cái trong các câu chín đến mười hai, và câu hai mươi ba xác định những đặc điểm tiên tri của La Mã ngoại giáo; lời giải nghĩa của Gáp-ri-ên ở câu hai mươi bốn chuyển sang La Mã giống cái. Quyền lực ở câu hai mươi bốn sẽ có "quyền thế lớn lao," "nhưng không phải bởi quyền riêng mình: và nó sẽ hủy diệt một cách lạ lùng, và sẽ thịnh vượng, và hành động, và sẽ hủy diệt những người mạnh mẽ và dân thánh."
Papal Rome was to be given the military power of pagan Rome, and it would destroy God’s people for one thousand two hundred and sixty years, from the year 538 to 1798. It would destroy “wonderfully” for it is the beast the whole world “wonders after,” and it was the power that would “practice and prosper” until the first indignation that had been “determined” to be finished in 1798 was fulfilled.
La Mã Giáo hoàng sẽ được trao sức mạnh quân sự của La Mã ngoại giáo, và nó sẽ tiêu diệt dân của Đức Chúa Trời trong một nghìn hai trăm sáu mươi năm, từ năm 538 đến 1798. Nó sẽ hủy diệt "cách lạ lùng", vì nó là con thú mà cả thế gian "lấy làm lạ mà theo", và đó là quyền lực sẽ "làm và thạnh vượng" cho đến khi cơn thạnh nộ thứ nhất, vốn đã được "định" là sẽ kết thúc vào năm 1798, được ứng nghiệm.
Then in verse twenty-five Gabriel follows the oscillation established in the verses he was interpreting for Daniel, and again addresses pagan Rome, who through a different type of “policy,” brought together its empire, as attested to by all the historians. The “craft” of pagan Rome was to induce nations to join their growing empire, and it used the promise of peace and prosperity to build the empire, unlike the previous empires that were forged simply by military might. Pagan Rome was also to “stand up against the Prince of princes,” as it did when it placed Christ upon the cross of Calvary.
Rồi ở câu 25, Gabriel tiếp tục theo nhịp chuyển qua lại đã được thiết lập trong các câu ông đang giải nghĩa cho Daniel, và lại nói đến La Mã ngoại giáo, là bên đã, thông qua một kiểu “chính sách” khác, quy tụ đế quốc của mình, như mọi sử gia đều ghi nhận. “Mưu kế” của La Mã ngoại giáo là thuyết phục các dân tộc gia nhập đế quốc đang bành trướng của nó, và nó dùng lời hứa về hòa bình và thịnh vượng để xây dựng đế quốc, khác với các đế quốc trước đó vốn được hình thành đơn thuần bằng sức mạnh quân sự. La Mã ngoại giáo cũng sẽ “đứng lên chống lại Chúa các chúa,” như khi nó đóng đinh Đấng Christ trên thập tự giá trên đồi Can-vê.
Then Gabriel addresses the two visions he was interpreting for Daniel, by identifying that the “mareh” vision of the appearance (the twenty-three hundred days) was true, and that the “chazon” vision of the trampling down of the sanctuary and host by pagan Rome and papal Rome was to be “shut up (sealed), “for many days” (until the time of the end in 1798).
Sau đó Gabriel đề cập đến hai khải tượng mà ông đang giải thích cho Daniel, khi chỉ ra rằng khải tượng "mareh" về sự hiện ra (hai nghìn ba trăm ngày) là đúng, và rằng khải tượng "chazon" về việc La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng chà đạp đền thánh và đạo binh phải được "đóng lại (niêm phong)", "trong nhiều ngày" (cho đến thời kỳ cuối cùng vào năm 1798).
Then Daniel was sick for some time, and then returned to work, but he still did not understand the “mareh” vision, which is the vision which Gabriel was commanded to make him understand. For that reason Gabriel would return in chapter nine, to finish his work of making Daniel understand the “mareh” vision.
Sau đó, Daniel bị bệnh một thời gian, rồi trở lại công việc, nhưng ông vẫn chưa hiểu khải tượng "mareh", là khải tượng mà Gabriel được truyền lệnh phải khiến ông hiểu. Vì lý do đó, Gabriel sẽ trở lại trong chương chín để hoàn tất công việc khiến Daniel hiểu khải tượng "mareh".
In Daniel chapter nine, Daniel had been studying the prophetic Word and came to understand through the writings of Moses and Jeremiah. Jeremiah had identified the captivity he was in would last seventy years.
Trong chương chín sách Đa-ni-ên, Đa-ni-ên đã nghiên cứu Lời tiên tri và hiểu ra điều đó qua các trước tác của Môi-se và Giê-rê-mi. Giê-rê-mi đã chỉ ra rằng thời kỳ lưu đày mà ông đang ở trong sẽ kéo dài bảy mươi năm.
And this whole land shall be a desolation, and an astonishment; and these nations shall serve the king of Babylon seventy years. And it shall come to pass, when seventy years are accomplished, that I will punish the king of Babylon, and that nation, saith the Lord, for their iniquity, and the land of the Chaldeans, and will make it perpetual desolations. Jeremiah 25:11, 12.
Và cả xứ này sẽ trở nên hoang tàn và kinh hãi; các dân tộc này sẽ phục vụ vua Ba-by-lôn bảy mươi năm. Khi bảy mươi năm đã trọn, sẽ xảy ra rằng ta sẽ trừng phạt vua Ba-by-lôn và dân tộc ấy, Đức Giê-hô-va phán, vì tội ác của họ, cùng đất của người Canh-đê; ta sẽ làm cho nó nên hoang tàn đời đời. Giê-rê-mi 25:11, 12.
According to Moses the captivity in the enemy’s land would correspond to a time that the land would enjoy its sabbaths.
Theo Môi-se, cảnh lưu đày trong đất của kẻ thù sẽ tương ứng với một thời kỳ mà đất sẽ được hưởng các kỳ sa-bát của mình.
And I will bring the land into desolation: and your enemies which dwell therein shall be astonished at it. And I will scatter you among the heathen, and will draw out a sword after you: and your land shall be desolate, and your cities waste. Then shall the land enjoy her sabbaths, as long as it lieth desolate, and ye be in your enemies’ land; even then shall the land rest, and enjoy her sabbaths. As long as it lieth desolate it shall rest; because it did not rest in your sabbaths, when ye dwelt upon it. Leviticus 26:32–35.
Ta sẽ làm cho đất trở nên hoang tàn; và những kẻ thù của các ngươi cư trú trong đó sẽ kinh ngạc về điều ấy. Ta sẽ tản lạc các ngươi giữa các dân ngoại, và sẽ tuốt gươm đuổi theo các ngươi; đất đai của các ngươi sẽ hoang tàn, và các thành của các ngươi sẽ hoang phế. Bấy giờ đất sẽ được hưởng những ngày Sa-bát của nó, bao lâu nó còn bị bỏ hoang và các ngươi ở trong xứ của kẻ thù mình; chính bấy giờ đất sẽ nghỉ ngơi và hưởng những ngày Sa-bát của nó. Bao lâu nó còn bị bỏ hoang, nó sẽ nghỉ ngơi; vì khi các ngươi ở trên đó, nó đã không được nghỉ trong những ngày Sa-bát của các ngươi. Lê-vi Ký 26:32-35.
Daniel had understood from God’s prophetic Word, upon two witnesses that His people had been scattered into the enemy’s land, during which time the land would enjoy its sabbaths. He understood what the author of Chronicles understood concerning Jeremiah’s seventy years.
Đa-ni-ên đã hiểu từ Lời tiên tri của Đức Chúa Trời, dựa trên lời chứng của hai nhân chứng, rằng dân Ngài đã bị lưu đày sang đất của kẻ thù; trong thời gian ấy đất sẽ được hưởng các kỳ Sa-bát của mình. Ông hiểu điều mà tác giả sách Sử Ký hiểu liên quan đến bảy mươi năm của Giê-rê-mi.
And them that had escaped from the sword carried he away to Babylon; where they were servants to him and his sons until the reign of the kingdom of Persia: To fulfil the word of the Lord by the mouth of Jeremiah, until the land had enjoyed her sabbaths: for as long as she lay desolate she kept sabbath, to fulfil threescore and ten years. Now in the first year of Cyrus king of Persia, that the word of the Lord spoken by the mouth of Jeremiah might be accomplished, the Lord stirred up the spirit of Cyrus king of Persia, that he made a proclamation throughout all his kingdom, and put it also in writing, saying, Thus saith Cyrus king of Persia, All the kingdoms of the earth hath the Lord God of heaven given me; and he hath charged me to build him an house in Jerusalem, which is in Judah. Who is there among you of all his people? The Lord his God be with him, and let him go up. 2 Chronicles 36:20–23.
Những kẻ thoát khỏi gươm thì ông đem họ đi lưu đày đến Ba-by-lôn; tại đó họ làm tôi tớ cho ông và các con trai ông cho đến thời trị vì của vương quốc Ba Tư; để ứng nghiệm lời của Chúa đã phán qua miệng Giê-rê-mi, cho đến khi đất được hưởng các kỳ sa-bát; vì bao lâu còn bị hoang phế thì đất đều giữ nghỉ sa-bát, cho đủ bảy mươi năm. Bấy giờ, năm thứ nhất đời Si-ru, vua Ba Tư, để lời của Chúa phán qua miệng Giê-rê-mi được ứng nghiệm, Chúa cảm động lòng Si-ru, vua Ba Tư, khiến vua rao chiếu khắp vương quốc và cũng ghi thành văn rằng: Vua Si-ru, vua Ba Tư, phán rằng: Mọi vương quốc trên đất đều do Đức Chúa Trời ở trên trời ban cho ta; và Ngài đã giao cho ta xây cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, thuộc Giu-đa. Ai trong các ngươi thuộc về dân của Ngài? Nguyện Chúa là Đức Chúa Trời của người ấy ở cùng người, và hãy lên. 2 Sử Ký 36:20-23.
Daniel understood that Jeremiah’s seventy years of scattering in the enemy’s land, while the land enjoyed her sabbaths, was based upon the curse of “seven times” in Leviticus twenty-six, and in obedience to that understanding, he fulfilled the commanded remedy given there for those who finally awaken to their scattered condition.
Đa-ni-ên hiểu rằng bảy mươi năm bị tản lạc theo lời Giê-rê-mi, trong xứ của kẻ thù, trong khi đất được hưởng các kỳ sa-bát của mình, là dựa trên lời nguyền “bảy lần” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu; và vâng theo sự hiểu biết ấy, ông đã thực hiện biện pháp khắc phục được truyền dạy ở đó cho những ai cuối cùng tỉnh ngộ về tình trạng bị tản lạc của mình.
And upon them that are left alive of you I will send a faintness into their hearts in the lands of their enemies; and the sound of a shaken leaf shall chase them; and they shall flee, as fleeing from a sword; and they shall fall when none pursueth. And they shall fall one upon another, as it were before a sword, when none pursueth: and ye shall have no power to stand before your enemies. And ye shall perish among the heathen, and the land of your enemies shall eat you up. And they that are left of you shall pine away in their iniquity in your enemies’ lands; and also in the iniquities of their fathers shall they pine away with them. If they shall confess their iniquity, and the iniquity of their fathers, with their trespass which they trespassed against me, and that also they have walked contrary unto me; And that I also have walked contrary unto them, and have brought them into the land of their enemies; if then their uncircumcised hearts be humbled, and they then accept of the punishment of their iniquity: Then will I remember my covenant with Jacob, and also my covenant with Isaac, and also my covenant with Abraham will I remember; and I will remember the land. The land also shall be left of them, and shall enjoy her sabbaths, while she lieth desolate without them: and they shall accept of the punishment of their iniquity: because, even because they despised my judgments, and because their soul abhorred my statutes. And yet for all that, when they be in the land of their enemies, I will not cast them away, neither will I abhor them, to destroy them utterly, and to break my covenant with them: for I am the Lord their God. But I will for their sakes remember the covenant of their ancestors, whom I brought forth out of the land of Egypt in the sight of the heathen, that I might be their God: I am the Lord. These are the statutes and judgments and laws, which the Lord made between him and the children of Israel in mount Sinai by the hand of Moses. Leviticus 26:36–46.
Còn những kẻ còn sống sót trong các ngươi, Ta sẽ khiến lòng họ ra hèn yếu trong các xứ của kẻ thù; tiếng một chiếc lá bị rung cũng sẽ đuổi theo họ; họ sẽ chạy trốn như chạy trốn trước gươm; và sẽ ngã xuống khi chẳng ai đuổi. Chúng sẽ ngã chồng lên nhau, như trước lưỡi gươm, dẫu không có ai đuổi; và các ngươi sẽ không có sức đứng vững trước kẻ thù mình. Các ngươi sẽ tiêu vong giữa các dân ngoại, và đất của kẻ thù các ngươi sẽ nuốt lấy các ngươi. Những kẻ còn sót lại trong các ngươi sẽ tàn lụi vì tội ác mình trong các xứ của kẻ thù các ngươi; và cũng vì các tội ác của tổ phụ họ, họ sẽ tàn lụi theo. Nếu họ xưng nhận tội ác mình và tội ác của tổ phụ mình, cùng sự vi phạm mà họ đã vi phạm nghịch lại Ta, và rằng họ đã bước đi trái nghịch cùng Ta; và rằng chính Ta cũng đã bước đi trái nghịch cùng họ, và đã đem họ vào đất của kẻ thù họ; nếu bấy giờ lòng chưa cắt bì của họ được khiêm hạ, và họ chấp nhận hình phạt vì tội ác mình; thì Ta sẽ nhớ giao ước của Ta với Gia-cốp, cũng sẽ nhớ giao ước của Ta với Y-sác, và cũng sẽ nhớ giao ước của Ta với Áp-ra-ham; Ta sẽ nhớ đến xứ. Xứ cũng sẽ bị họ bỏ mặc và sẽ hưởng những kỳ Sa-bát của mình, trong khi nằm hoang vu không có họ; và họ sẽ chấp nhận hình phạt vì tội ác mình: bởi vì, thật vậy, vì họ đã khinh dể các phán quyết của Ta, và linh hồn họ đã ghê tởm các luật lệ của Ta. Dẫu vậy, khi họ ở trong đất của kẻ thù mình, Ta sẽ không bỏ họ, cũng không ghê tởm họ đến nỗi tiêu diệt họ hoàn toàn và bẻ gãy giao ước của Ta với họ; vì Ta là CHÚA, Đức Chúa Trời của họ. Nhưng vì cớ họ, Ta sẽ nhớ đến giao ước của tổ tiên họ, là những người Ta đã đưa ra khỏi đất Ai Cập trước mắt các dân ngoại, để Ta làm Đức Chúa Trời của họ: Ta là CHÚA. Đây là các điều lệ, phán quyết, và luật pháp mà CHÚA đã lập giữa Ngài và con cái Y-sơ-ra-ên trên núi Si-na-i, bởi tay Môi-se. Lê-vi Ký 26:36-46.
Daniel’s prayer in chapter nine, is addressing every element of the counsel for those who find themselves scattered in the enemy’s land. That prayer is to be aligned with his prayer in chapter two, for together they represent the prayer of those in Revelation chapter eleven, that were dead in the streets of that great city of Sodom and Egypt, who find that they also had been scattered. As Daniel concludes his prayer, Gabriel returns to finish the work of explaining the “mareh” vision, just as the Holy Spirit intends to accomplish for the two witnesses of Revelation chapter eleven.
Lời cầu nguyện của Đa-ni-ên trong chương chín đề cập đến mọi khía cạnh của sự chỉ dẫn dành cho những người thấy mình bị tản lạc trên đất của kẻ thù. Lời cầu nguyện ấy cần được đặt song song với lời cầu nguyện của ông ở chương hai, vì cùng nhau chúng đại diện cho lời cầu nguyện của những người trong Khải Huyền chương mười một, những người đã chết trên các đường phố của đại thành gọi là Sô-đôm và Ai Cập, và nhận ra rằng họ cũng đã bị tản lạc. Khi Đa-ni-ên kết thúc lời cầu nguyện, Gáp-ri-ên trở lại để hoàn tất công việc giải thích khải tượng "mareh", cũng như Đức Thánh Linh dự định thực hiện cho hai nhân chứng của Khải Huyền chương mười một.
And whiles I was speaking, and praying, and confessing my sin and the sin of my people Israel, and presenting my supplication before the Lord my God for the holy mountain of my God; Yea, whiles I was speaking in prayer, even the man Gabriel, whom I had seen in the vision at the beginning, being caused to fly swiftly, touched me about the time of the evening oblation. And he informed me, and talked with me, and said, O Daniel, I am now come forth to give thee skill and understanding. Daniel 9:20–22.
Và trong khi tôi đang nói, cầu nguyện, và xưng tội mình cùng tội của dân tôi, là Israel, và dâng lời nài xin trước mặt Chúa, Đức Chúa Trời tôi, vì núi thánh của Đức Chúa Trời tôi; đúng vậy, khi tôi đang nói trong lời cầu nguyện, thì người là Ga-bri-ên, người mà tôi đã thấy trong khải tượng lúc ban đầu, được khiến bay mau lẹ, đã chạm đến tôi vào khoảng giờ dâng lễ chiều. Và người cho tôi biết, nói chuyện với tôi, và nói: Hỡi Đa-ni-ên, bây giờ ta đã đến để ban cho ngươi sự khôn ngoan và sự thông hiểu. Đa-ni-ên 9:20-22.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“Shortly before the fall of Babylon, when Daniel was meditating on these prophecies and seeking God for an understanding of the times, a series of visions was given him concerning the rise and fall of kingdoms. With the first vision, as recorded in the seventh chapter of the book of Daniel, an interpretation was given; yet not all was made clear to the prophet. ‘My cogitations much troubled me,’ he wrote of his experience at the time, ‘and my countenance changed in me: but I kept the matter in my heart.’ Daniel 7:28.
Ít lâu trước khi Ba-by-lôn sụp đổ, khi Đa-ni-ên đang suy ngẫm về những lời tiên tri này và cầu xin Đức Chúa Trời ban cho sự hiểu biết về thời kỳ, ông đã được ban cho một loạt khải tượng liên quan đến sự hưng vong của các vương quốc. Với khải tượng thứ nhất, như được chép trong chương bảy của sách Đa-ni-ên, đã có lời giải nghĩa đi kèm; tuy nhiên, không phải mọi điều đều được làm sáng tỏ cho vị tiên tri. Ông đã viết về kinh nghiệm của mình lúc ấy: “Những suy nghĩ của tôi khiến tôi rất bối rối, và sắc mặt tôi cũng thay đổi; nhưng tôi giữ điều ấy trong lòng.” Đa-ni-ên 7:28.
“Through another vision further light was thrown upon the events of the future; and it was at the close of this vision that Daniel heard ‘one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision?’ Daniel 8:13. The answer that was given, ‘Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed’ (verse 14), filled him with perplexity. Earnestly he sought for the meaning of the vision. He could not understand the relation sustained by the seventy years’ captivity, as foretold through Jeremiah, to the twenty-three hundred years that in vision he heard the heavenly visitant declare should elapse before the cleansing of God’s sanctuary. The angel Gabriel gave him a partial interpretation; yet when the prophet heard the words, ‘The vision … shall be for many days,’ he fainted away. ‘I Daniel fainted,’ he records of his experience, ‘and was sick certain days; afterward I rose up, and did the king’s business; and I was astonished at the vision, but none understood it.’ Verses 26, 27.
Qua một khải tượng khác, thêm ánh sáng được soi rọi trên những sự kiện của tương lai; và chính khi khải tượng này kết thúc, Đa-ni-ên nghe “một đấng thánh nói, và một đấng thánh khác nói với đấng thánh đang nói rằng: Khải tượng sẽ còn bao lâu?” Đa-ni-ên 8:13. Câu trả lời được ban: “Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; rồi nơi thánh sẽ được làm sạch” (câu 14), khiến ông vô cùng bối rối. Ông tha thiết tìm kiếm ý nghĩa của khải tượng. Ông không thể hiểu mối liên hệ giữa bảy mươi năm lưu đày, như đã được Giê-rê-mi báo trước, với hai mươi ba trăm năm mà trong khải tượng ông nghe vị sứ giả từ trời tuyên bố rằng phải trôi qua trước khi nơi thánh của Đức Chúa Trời được làm sạch. Thiên sứ Ga-bri-ên đã cho ông lời giải nghĩa phần nào; tuy nhiên khi nhà tiên tri nghe những lời: “Khải tượng … sẽ còn nhiều ngày,” ông ngất xỉu. “Ta, Đa-ni-ên, đã ngất xỉu,” ông ghi lại kinh nghiệm của mình, “và đau ốm trong mấy ngày; sau đó ta chỗi dậy và làm công việc của vua; và ta kinh ngạc về khải tượng, nhưng chẳng ai hiểu nó.” Các câu 26, 27.
“Still burdened in behalf of Israel, Daniel studied anew the prophecies of Jeremiah. They were very plain—so plain that he understood by these testimonies recorded in books ‘the number of the years, whereof the word of the Lord came to Jeremiah the prophet, that He would accomplish seventy years in the desolations of Jerusalem.’ Daniel 9:2.
Vẫn nặng lòng vì dân Y-sơ-ra-ên, Đa-ni-ên lại nghiên cứu các lời tiên tri của Giê-rê-mi. Chúng rất rõ ràng—rõ ràng đến nỗi ông hiểu, qua những lời chứng được ghi chép trong các sách, “số các năm mà lời của Chúa đã đến cùng tiên tri Giê-rê-mi, rằng Ngài sẽ hoàn tất bảy mươi năm trong cảnh hoang tàn của Giê-ru-sa-lem.” Đa-ni-ên 9:2.
“With faith founded on the sure word of prophecy, Daniel pleaded with the Lord for the speedy fulfillment of these promises. He pleaded for the honor of God to be preserved. In his petition he identified himself fully with those who had fallen short of the divine purpose, confessing their sins as his own.” Prophets and Kings, 553, 554.
"Với đức tin đặt nền trên lời tiên tri chắc chắn, Đa-ni-ên đã nài xin Chúa để những lời hứa này sớm được ứng nghiệm. Ông khẩn nài để danh dự của Đức Chúa Trời được gìn giữ. Trong lời cầu xin của mình, ông hoàn toàn đồng hóa mình với những người đã không đạt đến mục đích của Đức Chúa Trời, xưng nhận tội lỗi của họ như của chính mình." Các Tiên Tri và Các Vua, 553, 554.