Gabriel came to Daniel in chapter nine to provide him with skill and understanding of the two visions which had been represented in chapter eight.

Gabriel đến với Daniel trong chương chín để ban cho ông sự khôn ngoan và hiểu biết về hai khải tượng đã được trình bày trong chương tám.

And he informed me, and talked with me, and said, O Daniel, I am now come forth to give thee skill and understanding. At the beginning of thy supplications the commandment came forth, and I am come to show thee; for thou art greatly beloved: therefore understand the matter, and consider the vision. Daniel 9:22, 23.

Người cho ta hay, nói với ta và bảo rằng: Hỡi Đa-ni-ên, nay ta đến để ban cho ngươi sự hiểu biết và thông sáng. Ngay từ lúc ngươi bắt đầu khẩn nguyện, mệnh lệnh đã phát ra, và ta đến để tỏ cho ngươi biết; vì ngươi rất được yêu dấu. Vậy hãy hiểu điều ấy và suy xét sự khải tượng. Đa-ni-ên 9:22-23.

In order for Daniel to have the “understanding” he needed, Gabriel told him to understand both the “matter” and the “vision.” The “matter” was the vision of the trampling down of the sanctuary and host, and the “vision,” was the vision of the appearance of October 22, 1844. Sister White also emphasizes these two visions when she informs us that, Daniel was seeking to understand the relation of the seventy year captivity and the twenty-three hundred years. The seventy years are what Gabriel identified as the “matter” and the “vision” was the twenty-three hundred years. Daniel represents the “wise” of the last days, when Gabriel provides the interpretation of the twenty-three hundred years. The “wise” recognize both the “matter” and the “vision,” in Gabriel’s interpretation, the wicked do not understand. The Millerites understood the “matter” and “vision,” but only in a limited fashion.

Để Đa-ni-ên có được “sự hiểu biết” mà ông cần, Gáp-ri-ên bảo ông phải hiểu cả “sự việc” lẫn “khải tượng”. “Sự việc” là khải tượng về sự giày xéo đền thánh và đạo binh, còn “khải tượng” là khải tượng về sự hiện ra ngày 22 tháng 10 năm 1844. Bà White cũng nhấn mạnh hai khải tượng này khi bà cho biết rằng Đa-ni-ên đang tìm cách hiểu mối liên hệ giữa thời kỳ lưu đày bảy mươi năm và hai nghìn ba trăm năm. Bảy mươi năm là điều Gáp-ri-ên xác định là “sự việc”, còn “khải tượng” là hai nghìn ba trăm năm. Đa-ni-ên đại diện cho “những người khôn ngoan” của thời kỳ cuối cùng, khi Gáp-ri-ên đưa ra lời giải thích về hai nghìn ba trăm năm. “Những người khôn ngoan” nhận ra cả “sự việc” và “khải tượng” trong lời giải thích của Gáp-ri-ên; còn kẻ ác thì không hiểu. Những người theo Miller đã hiểu “sự việc” và “khải tượng”, nhưng chỉ ở mức độ hạn chế.

The four hundred and ninety years of probationary time, was a period that was based upon four hundred and ninety years of rebellion against the covenant of the “seven times” represented in Leviticus twenty-five and twenty-six. The seventy years captivity was the sum of all the years the land was not allowed to enjoy her rest.

Bốn trăm chín mươi năm thời kỳ thử thách là một giai đoạn được đặt nền trên bốn trăm chín mươi năm phản nghịch chống lại giao ước của “bảy lần” được trình bày trong Lê-vi Ký chương hai mươi lăm và hai mươi sáu. Bảy mươi năm lưu đày là tổng số mọi năm mà đất không được hưởng sự nghỉ ngơi của mình.

The week that Christ confirmed the covenant with many, was an illustration of the quarrel of his covenant, as represented by two periods of twelve hundred and sixty days. That prophetic week was divided by the cross, which typifies the seal of God.

Tuần lễ mà Đấng Christ làm vững giao ước với nhiều người là một minh họa cho mối tranh chấp của giao ước Ngài, như được biểu thị bởi hai thời kỳ một nghìn hai trăm sáu mươi ngày. Tuần lễ tiên tri ấy đã được phân chia bởi thập tự giá, là biểu tượng cho ấn của Đức Chúa Trời.

“What is the seal of the living God, which is placed in the foreheads of His people? It is a mark which angels, but not human eyes, can read; for the destroying angel must see this mark of redemption. The intelligent mind has seen the sign of the cross of Calvary in the Lord’s adopted sons and daughters. The sin of the transgression of the law of God is taken away. They have on the wedding garment, and are obedient and faithful to all God’s commands.” Manuscript Releases, volume 21, 52.

“Dấu ấn của Đức Chúa Trời hằng sống, được đặt trên trán dân Ngài, là gì? Đó là một dấu hiệu mà các thiên sứ có thể đọc, nhưng mắt loài người thì không; vì thiên sứ hủy diệt phải thấy dấu của sự cứu chuộc này. Tâm trí hiểu biết đã nhận ra dấu hiệu của thập tự giá ở Đồi Sọ trên những người con trai và con gái được Chúa nhận làm con nuôi. Tội lỗi của sự vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời đã được cất đi. Họ mặc áo cưới và vâng phục, trung tín đối với mọi điều răn của Đức Chúa Trời.” Manuscript Releases, tập 21, 52.

That week typified two periods of twelve hundred and sixty years divided at the Sunday law of 538, (the mark of the beast) in which paganism and then papalism trampled down the sanctuary and the host. For twelve hundred and sixty days, Christ gave His testimony, then for another twelve hundred and sixty days, Christ gave the same testimony through His disciples. For twelve hundred and sixty years, Satan gave his testimony, through paganism, and then for another twelve hundred and sixty years, Satan gave his testimony through the papacy.

Tuần lễ đó tượng trưng cho hai thời kỳ gồm một nghìn hai trăm sáu mươi năm, được phân chia bởi luật ngày Chủ nhật năm 538 (dấu của con thú), trong đó ngoại giáo rồi đến giáo quyền La Mã chà đạp Đền thánh và đạo binh. Trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày, Đấng Christ đã làm chứng; rồi trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày nữa, Đấng Christ đã đưa ra cùng một lời chứng qua các môn đồ của Ngài. Trong một nghìn hai trăm sáu mươi năm, Sa-tan đã đưa ra lời chứng của hắn qua ngoại giáo; rồi trong một nghìn hai trăm sáu mươi năm nữa, Sa-tan đã đưa ra lời chứng của hắn qua giáo triều La Mã.

The covenant, which through ancient Israel’s disobedience, became God’s “quarrel,” was the covenant of Leviticus chapter twenty-five, that outlined the land resting, and the jubilee that was to be celebrated every forty-ninth year.

Giao ước ấy, vốn vì sự bất tuân của Ít-ra-ên xưa mà trở thành “sự tranh chấp” của Đức Chúa Trời, là giao ước trong Lê-vi Ký chương hai mươi lăm, quy định việc để đất nghỉ ngơi và năm hân hỉ phải được cử hành vào mỗi năm thứ bốn mươi chín.

And the Lord spake unto Moses in mount Sinai, saying, Speak unto the children of Israel, and say unto them, When ye come into the land which I give you, then shall the land keep a sabbath unto the Lord. Six years thou shalt sow thy field, and six years thou shalt prune thy vineyard, and gather in the fruit thereof; But in the seventh year shall be a sabbath of rest unto the land, a sabbath for the Lord: thou shalt neither sow thy field, nor prune thy vineyard. That which groweth of its own accord of thy harvest thou shalt not reap, neither gather the grapes of thy vine undressed: for it is a year of rest unto the land. And the sabbath of the land shall be meat for you; for thee, and for thy servant, and for thy maid, and for thy hired servant, and for thy stranger that sojourneth with thee, And for thy cattle, and for the beast that are in thy land, shall all the increase thereof be meat. And thou shalt number seven sabbaths of years unto thee, seven times seven years; and the space of the seven sabbaths of years shall be unto thee forty and nine years. Then shalt thou cause the trumpet of the jubile to sound on the tenth day of the seventh month, in the day of atonement shall ye make the trumpet sound throughout all your land. And ye shall hallow the fiftieth year, and proclaim liberty throughout all the land unto all the inhabitants thereof: it shall be a jubile unto you; and ye shall return every man unto his possession, and ye shall return every man unto his family. A jubile shall that fiftieth year be unto you: ye shall not sow, neither reap that which groweth of itself in it, nor gather the grapes in it of thy vine undressed. For it is the jubile; it shall be holy unto you: ye shall eat the increase thereof out of the field. In the year of this jubile ye shall return every man unto his possession. Leviticus 25:1–13.

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se trên núi Si-na-i rằng: Hãy nói cùng con cái Y-sơ-ra-ên rằng: Khi các ngươi vào xứ mà Ta ban cho các ngươi, thì đất sẽ giữ một kỳ sa-bát cho Đức Giê-hô-va. Trong sáu năm, ngươi sẽ gieo ruộng mình, và trong sáu năm, ngươi sẽ tỉa vườn nho mình và thu hái hoa lợi của nó; nhưng năm thứ bảy sẽ là một năm sa-bát nghỉ ngơi cho đất, một sa-bát cho Đức Giê-hô-va; ngươi không được gieo ruộng mình, cũng không được tỉa vườn nho mình. Cái gì tự nhiên mọc lên từ mùa gặt của ngươi, ngươi chớ gặt; cũng chớ hái những trái nho của cây nho không tỉa của ngươi; vì ấy là một năm nghỉ ngơi cho đất. Kỳ sa-bát của đất sẽ làm lương thực cho các ngươi: cho ngươi, cho tôi tớ trai của ngươi, cho tớ gái của ngươi, cho người làm thuê của ngươi, và cho khách lạ trú ngụ với ngươi; và cho súc vật của ngươi, cùng các thú đồng ở trong xứ của ngươi; hết thảy sản vật của đất đều dùng làm thức ăn. Ngươi hãy đếm cho mình bảy kỳ sa-bát của những năm, bảy lần bảy năm; và thời gian của bảy kỳ sa-bát của những năm ấy sẽ là bốn mươi chín năm. Bấy giờ ngươi sẽ cho thổi kèn của Năm Hân Hỉ vào ngày mồng mười tháng bảy; trong ngày chuộc tội, các ngươi sẽ thổi kèn khắp cả xứ các ngươi. Các ngươi sẽ làm cho năm thứ năm mươi nên thánh, và rao truyền sự tự do khắp trong xứ cho mọi dân cư của nó; ấy sẽ là một Năm Hân Hỉ cho các ngươi; mỗi người trong các ngươi sẽ trở về sản nghiệp của mình, và mỗi người sẽ trở về với gia tộc mình. Năm thứ năm mươi ấy sẽ là Năm Hân Hỉ cho các ngươi: các ngươi không được gieo, cũng không gặt những gì tự mọc trong năm ấy, cũng không hái những trái nho của cây nho không tỉa. Vì ấy là Năm Hân Hỉ; nó sẽ là thánh cho các ngươi; các ngươi sẽ ăn sản vật do đồng ruộng sinh ra. Trong Năm Hân Hỉ nầy, mỗi người trong các ngươi sẽ trở về sản nghiệp của mình. Lê-vi Ký 25:1-13.

The first period of the twenty-three hundred year prophecy, as with the week Christ confirmed the covenant, and the four-hundred and ninety years is directly associated with the “seven times” of Leviticus chapters twenty-five and twenty-six.

Giai đoạn thứ nhất của lời tiên tri hai nghìn ba trăm năm, cũng như tuần lễ khi Đấng Christ xác nhận giao ước và thời kỳ bốn trăm chín mươi năm, có liên hệ trực tiếp với "bảy lần" trong sách Lê-vi Ký, chương hai mươi lăm và hai mươi sáu.

Know therefore and understand, that from the going forth of the commandment to restore and to build Jerusalem unto the Messiah the Prince shall be seven weeks, and threescore and two weeks: the street shall be built again, and the wall, even in troublous times. Daniel 9:2.

Vậy nên, hãy biết và hiểu rằng: từ khi chiếu chỉ được ban ra để phục hồi và xây dựng Giê-ru-sa-lem cho đến Đấng Mê-si, Thủ lãnh, sẽ có bảy tuần lễ và sáu mươi hai tuần lễ; đường phố sẽ được xây lại, và tường thành nữa, dù trong thời buổi gian truân. Daniel 9:2.

Sixty-nine weeks beginning in 457 BC, brings you to Christ’s baptism, and the beginning of the week in which he confirmed the covenant, which was the covenant of God’s “quarrel.” But there was a week of weeks (forty-nine years), that was isolated from the sixty-nine weeks by the phrase “seven weeks, and threescore and two weeks.” Beginning in 457 BC, there was to be forty-nine years, a clear reference to the covenant of Leviticus chapter twenty-five, and to the jubilee celebration. Those forty-nine years were not only a symbol of the jubilee cycles, but also of Pentecost, which is the fiftieth day that follows the forty-nine days of the feast of weeks.

Sáu mươi chín tuần lễ bắt đầu từ năm 457 trước Công nguyên đưa đến phép báp-têm của Đấng Christ, và khởi đầu của tuần lễ trong đó Ngài xác nhận giao ước, tức là giao ước về “sự tranh chấp” của Đức Chúa Trời. Nhưng có một “tuần lễ của các tuần lễ” (bốn mươi chín năm), được tách biệt khỏi sáu mươi chín tuần lễ bởi cụm từ “bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ.” Bắt đầu từ năm 457 trước Công nguyên, sẽ có bốn mươi chín năm, một sự ám chỉ rõ ràng đến giao ước trong Leviticus chương hai mươi lăm, và đến lễ jubilee. Bốn mươi chín năm ấy không chỉ là biểu tượng của các chu kỳ jubilee, mà còn của Lễ Ngũ Tuần, tức ngày thứ năm mươi theo sau bốn mươi chín ngày của lễ các tuần lễ.

The first forty-nine years of the twenty-three hundred years, the four hundred and ninety years, and the week the covenant was confirmed are all directly connected with the twenty-five hundred and twenty years, represented as “seven times,” in Leviticus twenty-six. Every element of the twenty-three hundred year prophecy is directly connected to the “seven times” which Adventism set aside and rejected in 1863. The “seven times” is a symbol of the jubilee covenant, and for this reason it is also to be noted that when the twenty-three hundred years ended on October 22, 1844, so too, did the twenty-five hundred and twenty years end on that very day, for Moses recorded in Leviticus chapter twenty-five:

Bốn mươi chín năm đầu tiên của hai nghìn ba trăm năm, bốn trăm chín mươi năm, và tuần lễ mà giao ước được xác nhận đều liên hệ trực tiếp với hai nghìn năm trăm hai mươi năm, được biểu thị là "bảy lần", trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu. Mọi yếu tố của lời tiên tri hai nghìn ba trăm năm đều liên hệ trực tiếp với "bảy lần" mà Phái Cơ Đốc Phục Lâm đã gạt sang một bên và khước từ vào năm 1863. "Bảy lần" là một biểu tượng của giao ước Năm Hân Hỷ, và vì lý do này cũng cần lưu ý rằng khi kỳ hai nghìn ba trăm năm kết thúc vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, thì kỳ hai nghìn năm trăm hai mươi năm cũng kết thúc ngay trong ngày đó, vì Môi-se đã chép trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi lăm:

And thou shalt number seven sabbaths of years unto thee, seven times seven years; and the space of the seven sabbaths of years shall be unto thee forty and nine years. Then shalt thou cause the trumpet of the jubile to sound on the tenth day of the seventh month, in the day of atonement shall ye make the trumpet sound throughout all your land. Leviticus 25:8, 9.

Ngươi hãy đếm cho mình bảy kỳ sa-bát của các năm, tức là bảy lần bảy năm; và thời gian của bảy kỳ sa-bát của các năm sẽ là bốn mươi chín năm. Bấy giờ, vào ngày mồng mười tháng thứ bảy, ngươi hãy thổi vang kèn của Năm Hân Hỷ; trong Ngày Lễ Chuộc Tội, các ngươi hãy cho kèn vang lên khắp cả đất các ngươi. Lê-vi Ký 25:8, 9.

Every prophetic period within the twenty-three hundred years, is directly associated with the “seven times” of Leviticus twenty-six, including the day both prophetic periods ended. The first forty-nine years identified the work of rebuilding and restoring Jerusalem that would be finalized as God’s people came out of Babylon. The temple was finished before the third decree, as was the Millerite temple finished before the third angel arrived. Yet after 457 BC, “the street” still needed to “be built again, and the wall, even in troublous times.” As Alpha and Omega, Jesus always illustrates the end of a thing, with the beginning of a thing, and after October 22, 1844, the Millerites were to finish “the street” “and the wall,” “in troublous times.”

Mỗi kỳ hạn tiên tri trong khoảng hai nghìn ba trăm năm đều liên hệ trực tiếp với "bảy lần" của Lê-vi Ký 26, kể cả ngày mà cả hai kỳ hạn tiên tri ấy kết thúc. Bốn mươi chín năm đầu tiên xác định công cuộc tái thiết và phục hồi Giê-ru-sa-lem, sẽ được hoàn tất khi dân Đức Chúa Trời ra khỏi Ba-by-lôn. Đền thờ đã được hoàn thành trước sắc lệnh thứ ba, cũng như đền thờ của phái Miller đã được hoàn tất trước khi thiên sứ thứ ba đến. Tuy nhiên, sau năm 457 TCN, "đường phố" vẫn cần "được xây lại, và tường thành, ngay cả trong thời kỳ gian truân." Là Anpha và Ômêga, Đức Chúa Giê-su luôn minh họa phần cuối của một điều bằng phần khởi đầu của điều ấy, và sau ngày 22 tháng 10 năm 1844, những người theo phái Miller sẽ hoàn tất "đường phố" "và tường thành," "trong thời kỳ gian truân."

Sister White identifies the literal wall of protection around Jerusalem as a symbol of God’s law, and immediately after October 22, 1844, the faithful were led into the heavenly sanctuary and recognized God’s law (the wall). In order to recognize God’s law, including the Sabbath, the Millerites were led back to the covenant of ancient Israel. The restoration of the literal “street,” is the restoration that was spiritually accomplished when the Millerites returned to Jeremiah’s “old paths”. The “troublous times” that were to be in the period the wall and street were established was to be accomplished after 1844, and the Civil War that was then approaching, and soon beginning in that very history, represented those troublous times.

Bà White xác định bức tường bảo vệ theo nghĩa đen quanh Giê-ru-sa-lem là biểu tượng của luật pháp Đức Chúa Trời, và ngay sau ngày 22 tháng 10 năm 1844, những người trung tín đã được dẫn vào đền thánh trên trời và nhận ra luật pháp của Đức Chúa Trời (tức bức tường). Để nhận biết luật pháp của Đức Chúa Trời, bao gồm cả ngày Sa-bát, những người theo Miller đã được dẫn trở lại giao ước của Y-sơ-ra-ên xưa. Sự khôi phục của “đường phố” theo nghĩa đen là sự khôi phục đã được hoàn tất về phương diện thuộc linh khi những người theo Miller trở lại “những lối xưa” của Giê-rê-mi. “Những thời kỳ rối ren” vốn sẽ xảy ra trong giai đoạn bức tường và đường phố được thiết lập, được định cho ứng nghiệm sau năm 1844; và cuộc Nội chiến khi ấy đang đến gần, rồi chẳng bao lâu bùng nổ ngay trong chính bối cảnh lịch sử ấy, đã đại diện cho những thời kỳ rối ren đó.

Had they been faithful they would have reached the symbolic fiftieth year of the jubilee (where the slaves are released), which was also represented by the fiftieth day of Pentecost (where the message of emancipation goes to all the world). But after 1844 most opposed the Sabbath light, and in 1863, they also rejected the message of Moses (the “seven times”), which had been delivered to them by Elijah (William Miller.) In other words, they turned away from “the street” (the old paths) that they were to restore and walk in.

Nếu họ đã trung tín thì họ đã đạt đến năm thứ năm mươi mang tính biểu tượng của Năm Hân Hỉ (khi nô lệ được trả tự do), điều này cũng được biểu trưng bởi ngày thứ năm mươi của Lễ Ngũ Tuần (khi thông điệp giải phóng được truyền đến khắp thế gian). Nhưng sau năm 1844, phần lớn đã chống lại ánh sáng về ngày Sa-bát, và vào năm 1863, họ cũng khước từ sứ điệp của Môi-se (“bảy lần”), vốn đã được Ê-li (William Miller.) truyền đạt cho họ. Nói cách khác, họ đã quay lưng khỏi “con đường” (những lối xưa) mà họ phải khôi phục và bước đi trong đó.

Jesus always illustrates the end by the beginning, and when the parable of the ten virgins is repeated in the last days, the work of restoring Jerusalem is again to be accomplished. The “street and wall” will be built in “troublous times”. We are now entering into those troublous times. October 22, 1844, typifies the soon-coming Sunday law, so when the “hour of the great earthquake,” of Revelation eleven arrives, the street and wall will be built in troublous times. We will now identify those troublous times as the “angering of the nations” produced by the escalating warfare of Islam.

Chúa Giê-su luôn dùng phần khởi đầu để minh họa cho phần cuối, và khi dụ ngôn mười trinh nữ được lặp lại trong những ngày sau rốt, công cuộc khôi phục Giê-ru-sa-lem lại một lần nữa sẽ được hoàn thành. “Đường phố và tường thành” sẽ được xây dựng trong “thời kỳ khốn khó”. Chúng ta hiện đang bước vào những thời kỳ khốn khó ấy. Ngày 22 tháng 10 năm 1844 là hình bóng cho luật Chủ nhật sắp đến, nên khi “giờ của trận động đất lớn” trong Khải Huyền đoạn mười một đến, đường phố và tường thành sẽ được xây dựng trong thời kỳ khốn khó. Bây giờ chúng ta sẽ xác định những thời kỳ khốn khó ấy là “sự nổi giận của các dân tộc” do chiến tranh leo thang của Hồi giáo gây ra.

While explaining what had been previously written concerning a “time of trouble,” she gave an explanation that is recorded in the book Early Writings.

Trong khi giải thích về những điều đã được viết trước đó liên quan đến “thời kỳ hoạn nạn”, bà đã đưa ra một lời giải thích được ghi lại trong cuốn sách Early Writings.

“1. On page 33 is given the following: ‘I saw that the holy Sabbath is, and will be, the separating wall between the true Israel of God and unbelievers; and that the Sabbath is the great question to unite the hearts of God’s dear, waiting saints. I saw that God had children who do not see and keep the Sabbath. They have not rejected the light upon it. And at the commencement of the time of trouble, we were filled with the Holy Ghost as we went forth and proclaimed the Sabbath more fully.’

1. Ở trang 33 có ghi như sau: 'Tôi thấy rằng ngày Sa-bát thánh là, và sẽ là, bức tường phân cách giữa Y-sơ-ra-ên chân thật của Đức Chúa Trời và những kẻ không tin; và rằng ngày Sa-bát là vấn đề trọng đại để hiệp nhất tấm lòng của các thánh đồ yêu dấu của Đức Chúa Trời đang trông đợi. Tôi thấy rằng Đức Chúa Trời có những con cái không nhận biết và giữ ngày Sa-bát. Họ chưa khước từ ánh sáng về điều ấy. Và vào lúc khởi đầu thời kỳ hoạn nạn, chúng tôi được đầy dẫy Đức Thánh Linh khi ra đi và rao giảng về ngày Sa-bát cách đầy đủ hơn.'

“This view was given in 1847 when there were but very few of the Advent brethren observing the Sabbath, and of these but few supposed that its observance was of sufficient importance to draw a line between the people of God and unbelievers. Now the fulfillment of that view is beginning to be seen. ‘The commencement of that time of trouble,’ here mentioned does not refer to the time when the plagues shall begin to be poured out, but to a short period just before they are poured out, while Christ is in the sanctuary. At that time, while the work of salvation is closing, trouble will be coming on the earth, and the nations will be angry, yet held in check so as not to prevent the work of the third angel. At that time the ‘latter rain,’ or refreshing from the presence of the Lord, will come, to give power to the loud voice of the third angel, and prepare the saints to stand in the period when the seven last plagues shall be poured out.” Early Writings, 85.

"Khải tượng này đã được ban cho vào năm 1847, khi chỉ có rất ít anh em Advent giữ ngày Sa-bát, và trong số đó lại chỉ có ít người cho rằng việc giữ ngày ấy đủ quan trọng để vạch ranh giới giữa dân của Đức Chúa Trời và những kẻ không tin. Hiện nay sự ứng nghiệm của khải tượng ấy bắt đầu được thấy. 'Sự khởi đầu của thời kỳ hoạn nạn' được nhắc đến ở đây không phải là nói đến lúc các tai vạ bắt đầu được đổ ra, nhưng là một thời kỳ ngắn ngay trước khi chúng được đổ ra, trong khi Đấng Christ còn ở trong đền thánh. Khi ấy, trong lúc công cuộc cứu rỗi đang khép lại, hoạn nạn sẽ đến trên đất, và các dân sẽ nổi giận, nhưng vẫn bị kiềm chế để không ngăn trở công việc của thiên sứ thứ ba. Vào thời điểm ấy, 'mưa muộn', tức sự tươi mới đến từ trước mặt Chúa, sẽ đến để ban quyền năng cho tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba, và chuẩn bị các thánh đồ đứng vững trong thời kỳ khi bảy tai vạ sau cùng sẽ được đổ ra." Early Writings, 85.

There is a “short period of time,” that precedes the close of probation, when “the nations will be angry, yet held in check.” At the same time “the latter rain” arrives. The “angering of the nations,” is a symbol that is identified in Revelation chapter eleven.

Có một “khoảng thời gian ngắn” trước khi kết thúc thời kỳ thử thách, khi “các dân tộc sẽ nổi giận nhưng vẫn bị kiềm chế.” Đồng thời, “mưa cuối mùa” đến. “Sự phẫn nộ của các dân tộc” là một biểu tượng được nêu ra trong sách Khải Huyền chương mười một.

And the nations were angry, and thy wrath is come, and the time of the dead, that they should be judged, and that thou shouldest give reward unto thy servants the prophets, and to the saints, and them that fear thy name, small and great; and shouldest destroy them which destroy the earth. Revelation 11:18.

Và các dân tộc đã nổi giận, và cơn thịnh nộ của Ngài đã đến, và đã đến thời điểm những người chết phải chịu xét xử, và để Ngài ban phần thưởng cho các đầy tớ Ngài là các tiên tri, cho các thánh đồ, và cho những ai kính sợ danh Ngài, cả nhỏ lẫn lớn; và để hủy diệt những kẻ hủy hoại trái đất. Khải Huyền 11:18.

Sister White comments on this verse.

Bà White bình luận về câu này.

“I saw that the anger of the nations, the wrath of God, and the time to judge the dead were separate and distinct, one following the other, also that Michael had not stood up, and that the time of trouble, such as never was, had not yet commenced. The nations are now getting angry, but when our High Priest has finished His work in the sanctuary, He will stand up, put on the garments of vengeance, and then the seven last plagues will be poured out.

Tôi thấy rằng cơn giận của các dân tộc, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, và thời điểm phán xét những kẻ chết là những điều tách biệt và khác nhau, xảy ra nối tiếp nhau; cũng rằng Michael vẫn chưa đứng lên, và thì giờ hoạn nạn, điều chưa từng có, vẫn chưa bắt đầu. Hiện nay các dân tộc đang nổi giận, nhưng khi Thầy Tế lễ Thượng phẩm của chúng ta hoàn tất công việc của Ngài trong nơi thánh, Ngài sẽ đứng lên, mặc lấy áo báo thù, và rồi bảy tai vạ sau cùng sẽ được đổ ra.

“I saw that the four angels would hold the four winds until Jesus’ work was done in the sanctuary, and then will come the seven last plagues.” Early Writings, 36.

“Tôi thấy rằng bốn thiên sứ sẽ cầm giữ bốn luồng gió cho đến khi công việc của Chúa Giê-su trong đền thánh được hoàn tất, rồi bảy tai vạ sau cùng sẽ đến.” Những Bài Viết Ban Đầu, 36.

The “angering of the nations” occurs just before probation closes, for it is followed by the “wrath of God.” The “wrath of God” occurs when probation closes, and the “time to judge the dead,” refers to a judgment that occurs during the millennium, and does not refer to the judgment of the dead that began in 1844.

“Sự nổi giận của các dân tộc” xảy ra ngay trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt, vì sau đó là “cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời”. “Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời” xảy ra khi thời kỳ ân điển chấm dứt, và “thời điểm để phán xét những người chết” chỉ một cuộc phán xét diễn ra trong thời kỳ thiên niên kỷ, chứ không phải cuộc phán xét những người chết đã bắt đầu vào năm 1844.

And I saw an angel come down from heaven, having the key of the bottomless pit and a great chain in his hand. And he laid hold on the dragon, that old serpent, which is the Devil, and Satan, and bound him a thousand years, And cast him into the bottomless pit, and shut him up, and set a seal upon him, that he should deceive the nations no more, till the thousand years should be fulfilled: and after that he must be loosed a little season. And I saw thrones, and they sat upon them, and judgment was given unto them: and I saw the souls of them that were beheaded for the witness of Jesus, and for the word of God, and which had not worshipped the beast, neither his image, neither had received his mark upon their foreheads, or in their hands; and they lived and reigned with Christ a thousand years. Revelation 20:1–4.

Và tôi thấy một thiên sứ từ trời xuống, tay cầm chìa khóa của vực không đáy và một sợi xích lớn. Người bắt lấy con rồng, tức con rắn xưa là Ma quỷ và Sa-tan, và trói nó lại một nghìn năm; rồi quăng nó vào vực không đáy, khóa kín và đóng ấn trên nó, để nó không còn lừa dối các dân nữa cho đến khi mãn một nghìn năm; sau đó nó phải được thả ra trong ít lâu. Tôi lại thấy những ngai, và họ ngồi trên đó; quyền xét đoán được ban cho họ. Tôi cũng thấy linh hồn những người đã bị chém đầu vì làm chứng cho Chúa Giê-su và vì lời Đức Chúa Trời, là những người không thờ lạy con thú hay hình tượng của nó, cũng không nhận dấu của nó trên trán hoặc trên tay họ; họ sống và cùng trị vì với Đấng Christ một nghìn năm. Khải Huyền 20:1-4.

The judgment that is “given unto” the saints, identifies that they will pass judgment upon the wicked during the millennium, not that they are judged.

Quyền phán xét được "ban cho" các thánh cho thấy rằng họ sẽ phán xét kẻ ác trong thời kỳ thiên niên kỷ, chứ không phải họ bị phán xét.

“During the thousand years between the first and the second resurrection the judgment of the wicked takes place. The apostle Paul points to this judgment as an event that follows the second advent. ‘Judge nothing before the time, until the Lord come, who both will bring to light the hidden things of darkness, and will make manifest the counsels of the hearts.’ 1 Corinthians 4:5. Daniel declares that when the Ancient of Days came, ‘judgment was given to the saints of the Most High.’ Daniel 7:22. At this time the righteous reign as kings and priests unto God. John in the Revelation says: ‘I saw thrones, and they sat upon them, and judgment was given unto them.’ ‘They shall be priests of God and of Christ, and shall reign with Him a thousand years.’ Revelation 20:4, 6. It is at this time that, as foretold by Paul, ‘the saints shall judge the world.’ 1 Corinthians 6:2. In union with Christ they judge the wicked, comparing their acts with the statute book, the Bible, and deciding every case according to the deeds done in the body. Then the portion which the wicked must suffer is meted out, according to their works; and it is recorded against their names in the book of death.

Trong khoảng một ngàn năm giữa sự sống lại thứ nhất và sự sống lại thứ hai, việc phán xét những kẻ ác diễn ra. Sứ đồ Phao-lô cho biết việc phán xét này là một biến cố xảy ra sau kỳ tái lâm. "Chớ xét đoán điều gì trước kỳ, cho đến chừng Chúa đến, Ngài sẽ đem những điều kín giấu trong tối tăm ra ánh sáng, và bày tỏ các ý định trong lòng người." 1 Cô-rinh-tô 4:5. Đa-ni-ên tuyên bố rằng khi Đấng Thượng Cổ đến, "quyền phán xét được giao cho các thánh của Đấng Chí Cao." Đa-ni-ên 7:22. Vào lúc này những người công chính cai trị như các vua và các thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời. Giăng trong sách Khải Huyền nói: "Tôi thấy các ngai, và có những người ngồi trên đó; quyền xét đoán được giao cho họ." "Họ sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ, và sẽ cùng Ngài trị vì một ngàn năm." Khải Huyền 20:4, 6. Chính vào thời điểm này, như Phao-lô đã báo trước, "các thánh sẽ xét đoán thế gian." 1 Cô-rinh-tô 6:2. Hiệp một với Đấng Christ, họ xét đoán kẻ ác, so sánh các việc làm của họ với bộ luật là Kinh Thánh, và quyết định từng trường hợp theo những việc đã làm trong thân thể. Bấy giờ phần hình phạt mà kẻ ác phải chịu được ấn định theo việc làm của họ; và điều đó được ghi lại bên cạnh tên họ trong sách sự chết.

“Satan also and evil angels are judged by Christ and His people. Says Paul: ‘Know ye not that we shall judge angels?’ Verse 3. And Jude declares that ‘the angels which kept not their first estate, but left their own habitation, He hath reserved in everlasting chains under darkness unto the judgment of the great day.’ Jude 6.

Sa-tan và các thiên sứ ác cũng bị Đấng Christ và dân sự Ngài xét đoán. Phao-lô nói: 'Anh em há chẳng biết rằng chúng ta sẽ xét đoán các thiên sứ sao?' Câu 3. Và Giu-đe tuyên bố rằng 'những thiên sứ không giữ địa vị ban đầu của mình, nhưng bỏ chỗ ở riêng, thì Ngài đã giữ họ trong xiềng xích đời đời dưới chốn tối tăm cho đến ngày phán xét lớn.' Giu-đe 6.

“At the close of the thousand years the second resurrection will take place. Then the wicked will be raised from the dead and appear before God for the execution of ‘the judgment written.’ Thus the revelator, after describing the resurrection of the righteous, says: ‘The rest of the dead lived not again until the thousand years were finished.’ Revelation 20:5. And Isaiah declares, concerning the wicked: ‘They shall be gathered together, as prisoners are gathered in the pit, and shall be shut up in the prison, and after many days shall they be visited.’ Isaiah 24:22.” The Great Controversy, 660, 661.

Vào lúc kết thúc một ngàn năm, sự sống lại lần thứ hai sẽ diễn ra. Bấy giờ những kẻ ác sẽ được sống lại từ cõi chết và ra trước mặt Đức Chúa Trời để “bản án đã chép” được thi hành. Do đó, nhà khải thị, sau khi mô tả sự sống lại của người công bình, nói: “Phần còn lại của những kẻ chết thì không sống lại cho đến khi một ngàn năm đã kết thúc.” Khải Huyền 20:5. Và Ê-sai tuyên bố về những kẻ ác: “Chúng sẽ bị nhóm lại như tù nhân bị nhóm trong hố, sẽ bị nhốt trong ngục; và sau nhiều ngày chúng sẽ bị đem ra xét xử.” Ê-sai 24:22. Đại Tranh Chiến, 660, 661.

It is therefore clear that “the angering of the nations” refers to the “troublous times” that comes upon the world before probation closes, and that when “the nations are angered,” they are simultaneously “held in check.”

Vì vậy rõ ràng rằng “sự nổi giận của các dân tộc” ám chỉ “thời kỳ khốn khó” ập đến thế giới trước khi thời kỳ thử thách chấm dứt, và rằng khi “các dân tộc nổi giận,” họ đồng thời bị “kiềm chế.”

“I saw that the anger of the nations, the wrath of God, and the time to judge the dead were separate and distinct, one following the other.” Early Writings, 36.

“Tôi thấy rằng cơn giận của các dân, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, và thời kỳ để phán xét những người chết là riêng biệt và khác nhau, điều này theo sau điều kia.” Early Writings, 36.

At the time when the “nations are angered,” the latter rain begins to fall.

Vào thời điểm "các dân tộc nổi giận", mưa cuối mùa bắt đầu đổ xuống.

“At that time, while the work of salvation is closing, trouble will be coming on the earth, and the nations will be angry, yet held in check so as not to prevent the work of the third angel. At that time the ‘latter rain,’ or refreshing from the presence of the Lord, will come, to give power to the loud voice of the third angel, and prepare the saints to stand in the period when the seven last plagues shall be poured out.” Early Writings, 85.

Lúc bấy giờ, trong khi công cuộc cứu rỗi đang khép lại, hoạn nạn sẽ đến trên đất, và các dân sẽ nổi giận, nhưng bị kiềm chế để không cản trở công việc của thiên sứ thứ ba. Lúc bấy giờ, 'mưa muộn', tức sự làm tươi mới từ sự hiện diện của Chúa, sẽ đến, để ban quyền năng cho tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba, và chuẩn bị các thánh đồ để đứng vững trong thời kỳ khi bảy tai vạ sau cùng sẽ được đổ ra." Early Writings, trang 85.

There is a point when the “nations are angered,” but they are simultaneously “held in check.” Then it is that Christ sets up His kingdom of glory, for He sets up His kingdom during the time of the latter rain.

Có một thời điểm khi "các dân tộc nổi giận", nhưng đồng thời họ lại "bị kiềm chế". Bấy giờ Chúa Kitô thiết lập nước vinh hiển của Ngài, vì Ngài thiết lập nước của mình trong thời kỳ mưa cuối mùa.

“The latter rain is coming on those that are pure—all then will receive it as formerly.

Mưa cuối mùa đang giáng xuống trên những người trong sạch—bấy giờ hết thảy đều sẽ nhận lãnh nó như thuở trước.

“When the four angels let go, Christ will set up His kingdom. None receive the latter rain but those who are doing all they can.” Spalding and Magan, 3.

"Khi bốn thiên sứ buông tay, Đấng Christ sẽ lập nước Ngài. Không ai nhận được cơn mưa cuối mùa, ngoại trừ những người đang làm hết sức mình." Spalding và Magan, 3.

The two previous passages from Early Writings identify that when the nations are angered, and simultaneously “held in check,” the four angels restrain the four winds. The angering of the nations is therefore represented as the “four winds”. She also noted that at the time the four angels hold the angry nations in check, the latter rain would arrive. The period of time that begins when the latter rain arrives, which is also when the nations are angered, yet held in check, continues until Michael stands up and human probation closes. That period of time is the period when salvation is closing, and therefore represents the last work of Christ in the Most Holy Place, which is identified as the period of time when He is either blotting out men’s sins or their names from the books of judgment. That time period, when the angels are holding the four winds, is the sealing time of the one hundred and forty-four thousand.

Hai đoạn trước đây trong tác phẩm Early Writings cho biết rằng khi các dân nổi giận và đồng thời bị “kiềm chế”, bốn thiên sứ cầm giữ bốn luồng gió. Vì vậy, sự nổi giận của các dân được biểu thị như “bốn luồng gió”. Bà cũng ghi nhận rằng vào lúc bốn thiên sứ kiềm chế các dân đang giận dữ, mưa rào muộn sẽ đến. Khoảng thời gian bắt đầu khi mưa rào muộn đến—cũng là lúc các dân nổi giận nhưng vẫn bị kiềm chế—kéo dài cho đến khi Mi-ca-ên đứng lên và thời kỳ ân điển cho loài người chấm dứt. Khoảng thời gian ấy là giai đoạn khi ơn cứu rỗi đang khép lại, vì thế tượng trưng cho công việc sau cùng của Đấng Christ trong Nơi Chí Thánh, được xác định là thời kỳ khi Ngài hoặc xóa sạch tội lỗi của con người, hoặc xóa tên họ khỏi các sách phán xét. Khoảng thời gian ấy, khi các thiên sứ đang cầm giữ bốn luồng gió, là thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn.

Islam of the third Woe is the power which “angers the nations,” and the third Woe arrived on September 11, 2001, but Islam was immediately “held in check.” The “east wind” is a symbol of Islam, and Isaiah identifies the “east wind” as the “rough wind,” that God “stayeth” (restrains). The warfare of Islam is repeatedly portrayed as a woman in labor, for it is an escalating warfare that began on September 11, 2001, when the mighty angel of Revelation eighteen descended, as marked by the bringing down of the great buildings of New York City.

Hồi giáo trong Tai họa thứ ba là quyền lực khiến "các dân tộc nổi giận", và Tai họa thứ ba đã đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, nhưng Hồi giáo lập tức bị "kiềm chế". "Gió đông" là biểu tượng của Hồi giáo, và Ê-sai xác định "gió đông" là "gió dữ" mà Đức Chúa Trời "giữ lại" (kiềm chế). Cuộc chiến của Hồi giáo nhiều lần được mô tả như một người đàn bà đau đẻ, vì đó là một cuộc chiến leo thang bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi thiên sứ quyền năng của Khải Huyền chương mười tám giáng xuống, được đánh dấu bằng sự sụp đổ của các tòa nhà lớn ở Thành phố New York.

“Now comes the word that I have declared that New York is to be swept away by a tidal wave? This I have never said. I have said, as I looked at the great buildings going up there, story after story, ‘What terrible scenes will take place when the Lord shall arise to shake terribly the earth! Then the words of Revelation 18:1–3 will be fulfilled.’ The whole of the eighteenth chapter of Revelation is a warning of what is coming on the earth. But I have no light in particular in regard to what is coming on New York, only that I know that one day the great buildings there will be thrown down by the turning and overturning of God’s power. From the light given me, I know that destruction is in the world. One word from the Lord, one touch of his mighty power, and these massive structures will fall. Scenes will take place the fearfulness of which we cannot imagine.” Review and Herald, July 5, 1906.

"Giờ đây lại có tin rằng tôi đã tuyên bố New York sẽ bị quét sạch bởi một cơn sóng thần? Điều đó tôi chưa hề nói. Tôi đã nói rằng, khi nhìn những tòa nhà lớn mọc lên ở đó, tầng này chồng tầng kia, ‘Những cảnh tượng kinh hoàng nào sẽ diễn ra khi Chúa trỗi dậy để làm rung chuyển dữ dội trái đất! Bấy giờ những lời trong Khải Huyền 18:1–3 sẽ được ứng nghiệm.’ Toàn bộ chương mười tám của sách Khải Huyền là một lời cảnh báo về những điều sắp đến trên đất. Nhưng tôi không có ánh sáng cụ thể nào về điều gì sẽ xảy ra cho New York, chỉ biết rằng một ngày nào đó những tòa nhà lớn ở đó sẽ bị lật đổ bởi sự xoay chuyển và đảo lộn của quyền năng Đức Chúa Trời. Từ ánh sáng đã được ban cho tôi, tôi biết rằng sự hủy diệt hiện diện trong thế gian. Chỉ một lời từ Chúa, một chạm của quyền năng vĩ đại của Ngài, là những công trình đồ sộ này sẽ đổ sụp. Những cảnh tượng sẽ diễn ra, sự kinh khiếp của chúng vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta." Review and Herald, ngày 5 tháng 7, 1906.

On the 1843 and 1850 charts Islam is represented as “war horses”. In Revelation chapter nine, where Islam of the first and second Woe is set forth, the character of Islam is identified by the name of Islam’s king.

Trên các biểu đồ năm 1843 và 1850, Hồi giáo được biểu trưng bằng “chiến mã”. Trong chương chín của sách Khải Huyền, nơi Hồi giáo của tai ương thứ nhất và thứ hai được trình bày, bản chất của Hồi giáo được nhận diện qua tên của vua Hồi giáo.

And they had a king over them, which is the angel of the bottomless pit, whose name in the Hebrew tongue is Abaddon, but in the Greek tongue hath his name Apollyon. Revelation 9:11.

Và họ có một vua cai trị họ, tức là thiên sứ của vực thẳm không đáy; tên người ấy theo tiếng Hê-bơ-rơ là Abaddon, còn theo tiếng Hy Lạp thì tên người ấy là Apollyon. Khải Huyền 9:11.

The verse, which is chapter NINE, and verse ELEVEN, prophetically identifies that whether represented in the Old Testament (the Hebrew) or in the New Testament (the Greek), the character of Islam is Abaddon or Apollyon. Both names mean “destruction and death”.

Câu ấy, tức là chương CHÍN, câu MƯỜI MỘT, một cách tiên tri xác định rằng, dù được nêu trong Cựu Ước (tiếng Hê-bơ-rơ) hay trong Tân Ước (tiếng Hy Lạp), nhân vật đại diện cho Hồi giáo là Abaddon hoặc Apollyon. Cả hai tên đều có nghĩa là "hủy diệt và chết chóc".

“Angels are holding the four winds, represented as an angry horse seeking to break loose and rush over the face of the whole earth, bearing destruction and death in its path.” Manuscript Releases, volume 20, 217.

"Các thiên sứ đang cầm giữ bốn luồng gió, những luồng gió ấy được ví như một con ngựa giận dữ đang tìm cách bứt thoát để lao qua khắp mặt đất, mang theo sự tàn phá và sự chết trên đường nó đi." Manuscript Releases, tập 20, 217.

The four winds are the angry horse of Bible prophecy, that is seeking to break loose. One of the prophetic characteristics of the angry horse is that it is restrained, but it is seeking to break loose and bring “destruction and death”, upon the whole earth.

Bốn luồng gió là con ngựa phẫn nộ trong lời tiên tri của Kinh Thánh, đang tìm cách vùng thoát. Một trong những đặc điểm mang tính tiên tri của con ngựa phẫn nộ là nó bị cầm giữ, nhưng nó đang tìm cách vùng thoát và mang "sự hủy diệt và sự chết" đến trên khắp địa cầu.

We will continue to address these subjects in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập đến những chủ đề này trong bài viết tiếp theo.

“O that God’s people had a sense of the impending destruction of thousands of cities, now almost given to idolatry! But many of those who should be proclaiming the truth are accusing and condemning their brethren. When the converting power of God comes upon minds, there will be a decided change. Men will have no inclination to criticize and tear down. They will not stand in a position that hinders the light from shining to the world. Their criticism, their accusing, will cease. The powers of the enemy are mustering for battle. Stern conflicts are before us. Press together, my brethren and sisters, press together. Bind up with Christ. ‘Say ye not, A confederacy, . . . neither fear ye their fear, nor be afraid. Sanctify the Lord of hosts himself; and let him be your fear, and let him be your dread. And he shall be for a sanctuary; but for a stone of stumbling and for a rock of offense to both the houses of Israel, for a gin and for a snare to the inhabitants of Jerusalem. And many among them shall stumble, and fall, and be broken, and be snared, and be taken.’

Ước chi dân của Đức Chúa Trời có ý thức về sự hủy diệt sắp ập đến trên hàng nghìn thành phố, nay gần như đã rơi vào sự thờ hình tượng! Nhưng nhiều người lẽ ra phải rao truyền lẽ thật lại đang cáo buộc và kết án anh em mình. Khi quyền năng biến đổi của Đức Chúa Trời đến trên tâm trí, sẽ có một sự thay đổi dứt khoát. Người ta sẽ không còn khuynh hướng chỉ trích và phá đổ. Họ sẽ không đứng ở vị trí cản trở ánh sáng chiếu soi cho thế gian. Sự chỉ trích, sự cáo buộc của họ sẽ chấm dứt. Các thế lực của kẻ thù đang tập hợp cho trận chiến. Những cuộc xung đột khắc nghiệt đang ở trước mặt chúng ta. Hãy hiệp lại, hỡi anh chị em tôi, hãy hiệp lại. Hãy hiệp một với Đấng Christ. 'Chớ nói: Một sự liên minh...; đừng sợ điều họ sợ, cũng đừng kinh hãi. Hãy tôn Đức Chúa Trời vạn quân làm thánh; hãy để Ngài là điều các ngươi kính sợ, là nỗi kinh khiếp của các ngươi. Ngài sẽ là nơi thánh; nhưng Ngài cũng sẽ là hòn đá vấp chân và vầng đá gây nên vấp phạm cho cả hai nhà của Israel, là cái bẫy và cái lưới cho dân cư Giê-ru-sa-lem. Nhiều người trong họ sẽ vấp ngã, té nhào, bị bẻ gãy, mắc bẫy và bị bắt.'

“The world is a theater. The actors, its inhabitants, are preparing to act their part in the last great drama. God is lost sight of. With the great masses of mankind there is no unity, except as men confederate to accomplish their selfish purposes. God is looking on. His purposes in regard to his rebellious subjects will be fulfilled. The world has not been given into the hands of men, though God is permitting the elements of confusion and disorder to bear sway for a season. A power from beneath is working to bring about the last great scenes in the drama,—Satan coming as Christ, and working with all deceivableness of unrighteousness in those who are binding themselves together in secret societies. Those who are yielding to the passion for confederation are working out the plans of the enemy. The cause will be followed by the effect.

Thế giới là một sân khấu. Các diễn viên, tức những cư dân của nó, đang chuẩn bị diễn vai của mình trong vở kịch lớn cuối cùng. Đức Chúa Trời bị người ta quên lãng. Trong khối quần chúng nhân loại không có sự hiệp nhất, ngoại trừ khi người ta liên kết nhau để hoàn thành những mục đích ích kỷ của mình. Đức Chúa Trời đang nhìn xem. Những mục đích của Ngài đối với những kẻ phản nghịch sẽ được thành tựu. Thế giới không hề được trao vào tay loài người, dẫu Đức Chúa Trời đang cho phép những yếu tố hỗn loạn và rối ren nắm quyền trong một thời gian. Một quyền lực từ bên dưới đang hoạt động để đưa đến những cảnh lớn cuối cùng của vở kịch—Sa-tan đến như Đấng Christ, và hành động với mọi sự lừa dối của sự gian ác nơi những kẻ đang ràng buộc nhau trong các hội kín. Những ai chiều theo ham muốn liên minh đang thực hiện các kế hoạch của kẻ thù. Nguyên nhân sẽ kéo theo hệ quả.

“Transgression has almost reached its limit. Confusion fills the world, and a great terror is soon to come upon human beings. The end is very near. We who know the truth should be preparing for what is soon to break upon the world as an overwhelming surprise.” Review and Herald, September 10, 1903.

“Sự gian ác đã gần đạt đến mức tột cùng. Sự hỗn loạn bao trùm thế giới, và một nỗi kinh hoàng lớn sắp giáng xuống loài người. Hồi kết đã rất gần. Chúng ta, những người biết lẽ thật, nên chuẩn bị cho điều sắp ập xuống thế giới như một sự bất ngờ choáng ngợp.” Review and Herald, ngày 10 tháng 9 năm 1903.