The four abominations of Ezekiel chapter eight, represent the four generations of modern Israel, and the beginning of modern Israel was typified by the beginning of ancient Israel. Both of those beginning histories testify to the ending of modern Israel at the soon coming Sunday law. The two beginnings of Israel, both ancient literal, and modern spiritual, are witnessed to by the beginning history of the northern kingdom of Israel as it separated from Judah.
Bốn điều gớm ghiếc trong Ê-xê-chi-ên chương tám tượng trưng cho bốn thế hệ của Israel hiện đại, và sự khởi đầu của Israel hiện đại được tiêu biểu bởi sự khởi đầu của Israel cổ đại. Cả hai lịch sử khởi đầu đó đều làm chứng về sự kết thúc của Israel hiện đại vào thời điểm đạo luật Ngày Chủ nhật sắp tới. Hai sự khởi đầu của Israel, cả cổ đại theo nghĩa đen lẫn hiện đại theo nghĩa thuộc linh, đều được chứng thực bởi lịch sử khởi đầu của vương quốc phía bắc Israel khi nó tách khỏi Giu-đa.
When ancient Israel erected the golden calf, they had just come out of Egypt in fulfillment of a prophecy identifying that God would make them a kingdom. The story of Jeroboam, the first king of the northern kingdom of Israel, includes those very characteristics. Jeroboam had fled to Egypt from the wrath of Solomon. He had been given a prophetic promise that he would be made king over ten of the twelve tribes, by the prophet Ahijah. Before the prophecy was fulfilled, Jeroboam would flee into Egypt to put distance between himself and Solomon, until Solomon died.
Khi dân Israel xưa đúc con bê vàng, họ vừa ra khỏi Ai Cập để ứng nghiệm một lời tiên tri báo rằng Đức Chúa Trời sẽ lập họ thành một vương quốc. Câu chuyện về Giê-rô-bô-am, vị vua đầu tiên của vương quốc Israel phía bắc, cũng mang chính những đặc điểm ấy. Giê-rô-bô-am đã trốn sang Ai Cập để tránh cơn thịnh nộ của Sa-lô-môn. Ông đã nhận một lời hứa tiên tri từ nhà tiên tri A-hi-gia rằng ông sẽ được lập làm vua trên mười trong mười hai chi phái. Trước khi lời tiên tri được ứng nghiệm, Giê-rô-bô-am trốn sang Ai Cập để tạo khoảng cách giữa ông và Sa-lô-môn, cho đến khi Sa-lô-môn qua đời.
And it came to pass at that time when Jeroboam went out of Jerusalem, that the prophet Ahijah the Shilonite found him in the way; and he had clad himself with a new garment; and they two were alone in the field: And Ahijah caught the new garment that was on him, and rent it in twelve pieces: And he said to Jeroboam, Take thee ten pieces: for thus saith the Lord, the God of Israel, Behold, I will rend the kingdom out of the hand of Solomon, and will give ten tribes to thee: (But he shall have one tribe for my servant David’s sake, and for Jerusalem’s sake, the city which I have chosen out of all the tribes of Israel:) Because that they have forsaken me, and have worshipped Ashtoreth the goddess of the Zidonians, Chemosh the god of the Moabites, and Milcom the god of the children of Ammon, and have not walked in my ways, to do that which is right in mine eyes, and to keep my statutes and my judgments, as did David his father. Howbeit I will not take the whole kingdom out of his hand: but I will make him prince all the days of his life for David my servant’s sake, whom I chose, because he kept my commandments and my statutes: But I will take the kingdom out of his son’s hand, and will give it unto thee, even ten tribes. And unto his son will I give one tribe, that David my servant may have a light alway before me in Jerusalem, the city which I have chosen me to put my name there.
Bấy giờ, khi Giê-rô-bô-am ra khỏi Giê-ru-sa-lem, tiên tri A-hi-gia, người Si-lô, gặp ông trên đường; ông mặc một chiếc áo mới, và chỉ có hai người ở ngoài đồng. A-hi-gia nắm lấy chiếc áo mới đang mặc và xé nó thành mười hai mảnh. Ông nói với Giê-rô-bô-am: Hãy lấy mười mảnh, vì Đức Chúa, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Kìa, Ta sẽ xé vương quốc khỏi tay Sa-lô-môn và ban cho ngươi mười chi phái; (nhưng vì cớ Đa-vít, tôi tớ Ta, và vì cớ Giê-ru-sa-lem, thành mà Ta đã chọn trong mọi chi phái của Y-sơ-ra-ên, Sa-lô-môn sẽ còn một chi phái), bởi họ đã lìa bỏ Ta và thờ lạy Át-tô-rết, nữ thần của dân Si-đôn, Kê-mốt, thần của dân Mô-áp, và Mil-com, thần của con cái Am-môn; họ không đi trong các đường lối Ta, không làm điều ngay thẳng trước mắt Ta, và không giữ các luật lệ cùng phán quyết của Ta như Đa-vít, cha người, đã làm. Dầu vậy, Ta sẽ không cất cả vương quốc khỏi tay Sa-lô-môn; nhưng vì cớ Đa-vít, tôi tớ Ta, người mà Ta đã chọn vì người đã giữ các điều răn và luật lệ của Ta, Ta sẽ để Sa-lô-môn cai trị trọn đời người. Nhưng Ta sẽ lấy vương quốc khỏi tay con trai người và ban cho ngươi mười chi phái. Còn cho con trai người, Ta sẽ cho một chi phái, để Đa-vít, tôi tớ Ta, luôn có một ngọn đèn trước mặt Ta tại Giê-ru-sa-lem, thành mà Ta đã chọn để đặt Danh Ta ở đó.
And I will take thee, and thou shalt reign according to all that thy soul desireth, and shalt be king over Israel. And it shall be, if thou wilt hearken unto all that I command thee, and wilt walk in my ways, and do that is right in my sight, to keep my statutes and my commandments, as David my servant did; that I will be with thee, and build thee a sure house, as I built for David, and will give Israel unto thee. And I will for this afflict the seed of David, but not for ever. Solomon sought therefore to kill Jeroboam. And Jeroboam arose, and fled into Egypt, unto Shishak king of Egypt, and was in Egypt until the death of Solomon. And the rest of the acts of Solomon, and all that he did, and his wisdom, are they not written in the book of the acts of Solomon? And the time that Solomon reigned in Jerusalem over all Israel was forty years. And Solomon slept with his fathers, and was buried in the city of David his father: and Rehoboam his son reigned in his stead. 1 Kings 11:28–43.
Ta sẽ chọn ngươi, và ngươi sẽ trị vì theo mọi điều lòng ngươi ao ước, và sẽ làm vua trên Israel. Và nếu ngươi lắng nghe mọi điều Ta truyền dạy, bước đi trong các đường lối của Ta, làm điều ngay thẳng trước mắt Ta, giữ các luật lệ và các điều răn của Ta như David, tôi tớ Ta, đã làm, thì Ta sẽ ở cùng ngươi, xây cho ngươi một nhà vững chắc như Ta đã xây cho David, và sẽ ban Israel cho ngươi. Vì điều này, Ta sẽ làm khốn khổ dòng dõi của David, nhưng không mãi mãi. Vậy Solomon tìm cách giết Jeroboam. Nhưng Jeroboam đứng dậy, trốn sang Ai Cập, đến với Shishak, vua Ai Cập, và ở tại Ai Cập cho đến khi Solomon qua đời. Còn các việc khác của Solomon, mọi điều ông đã làm, và sự khôn ngoan của ông, há chẳng được chép trong sách các việc của Solomon sao? Thời gian Solomon trị vì tại Jerusalem trên cả Israel là bốn mươi năm. Rồi Solomon an giấc với tổ phụ mình và được chôn trong thành của David, cha ông; và Rehoboam, con trai ông, lên ngôi thay ông. 1 Các Vua 11:28-43.
At the death of king Solomon, the kingdom was to be divided and Jeroboam was to be king over the ten northern tribes, and Solomon’s son, Rehoboam was to be king at Jerusalem. Before the division of the tribes occurred, Jeroboam needed to come out of Egypt.
Khi vua Sa-lô-môn qua đời, vương quốc sẽ bị chia ra và Giê-rô-bô-am sẽ làm vua trên mười chi phái phía bắc, còn Rê-hô-bô-am, con của Sa-lô-môn, sẽ làm vua tại Giê-ru-sa-lem. Trước khi việc chia các chi phái xảy ra, Giê-rô-bô-am cần phải rời khỏi Ai Cập.
And Rehoboam went to Shechem: for all Israel were come to Shechem to make him king. And it came to pass, when Jeroboam the son of Nebat, who was yet in Egypt, heard of it, (for he was fled from the presence of king Solomon, and Jeroboam dwelt in Egypt;) That they sent and called him. And Jeroboam and all the congregation of Israel came, and spake unto Rehoboam, saying, Thy father made our yoke grievous: now therefore make thou the grievous service of thy father, and his heavy yoke which he put upon us, lighter, and we will serve thee. And he said unto them, Depart yet for three days, then come again to me. And the people departed. 1 Kings 12:1–5.
Rô-bô-am đi đến Si-chem; vì cả dân Y-sơ-ra-ên đã đến Si-chem để tôn ông làm vua. Xảy ra rằng, khi Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, đang ở Ai Cập, nghe điều đó (vì ông đã trốn khỏi trước mặt vua Sa-lô-môn, và Giê-rô-bô-am ở tại Ai Cập), thì họ sai người đến gọi ông. Giê-rô-bô-am và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đến, và nói với Rô-bô-am rằng: Cha ngươi đã làm cho ách của chúng tôi trở nên nặng nề; bây giờ xin hãy làm cho việc phục dịch nặng nề của cha ngươi và cái ách nặng mà người đặt trên chúng tôi nhẹ đi, thì chúng tôi sẽ phục vụ ngươi. Ông nói với họ: Hãy đi về trong ba ngày nữa, rồi trở lại gặp ta. Dân chúng bèn ra về. 1 Các Vua 12:1-5.
The story of how foolish Rehoboam acted during the three days, lays the blame upon his foolish rejection of the old men’s counsel, but the separation of the tribes had been prophesied, so it would have happened one way or another. It is worth noting here for a future article that the separation process was specifically identified as three days. The two kingdoms become one kingdom again during the history of the Millerites, and when the northern and southern tribes become one kingdom during the Millerite history, which is the period of time of the arrival of the three angels of Revelation chapter fourteen. Those three angels in the Millerite history were typified by the three days of Rehoboam’s decision. Those forty-six years when the three angels arrived from 1798 unto 1844, were also the three symbolic days, that Christ had stated in John chapter two, would be required for Him to raise a destroyed temple, but that portion of the study is for a future article.
Câu chuyện về việc Rehoboam hành động dại dột trong ba ngày quy lỗi cho sự khước từ dại dột của ông đối với lời khuyên của các trưởng lão, nhưng sự chia rẽ của các chi phái đã được tiên tri báo trước, nên nó sẽ xảy ra theo cách này hay cách khác. Cũng đáng lưu ý ở đây, để dành cho một bài viết sau, rằng tiến trình chia rẽ ấy được xác định cụ thể là ba ngày. Trong lịch sử của phái Millerite, hai vương quốc lại trở nên một; và khi các chi phái phương bắc và phương nam trở thành một vương quốc trong thời kỳ Millerite, thì đó cũng là giai đoạn ba thiên sứ trong Khải Huyền chương mười bốn xuất hiện. Ba thiên sứ ấy trong lịch sử Millerite được tượng trưng bởi ba ngày trong quyết định của Rehoboam. Bốn mươi sáu năm khi ba thiên sứ đến, từ 1798 đến 1844, cũng chính là ba ngày mang tính biểu tượng mà Đấng Christ đã phán trong Giăng chương hai sẽ cần để Ngài dựng lại một đền thờ bị phá hủy; nhưng phần học ấy sẽ dành cho một bài viết sau.
When Rehoboam gave his foolish pronouncement at the end of three days the kingdoms were divided.
Khi hết ba ngày, Rehoboam đưa ra lời tuyên bố dại dột của mình, thì các vương quốc đã bị phân chia.
So when all Israel saw that the king hearkened not unto them, the people answered the king, saying, What portion have we in David? neither have we inheritance in the son of Jesse: to your tents, O Israel: now see to thine own house, David. So Israel departed unto their tents. But as for the children of Israel which dwelt in the cities of Judah, Rehoboam reigned over them. Then king Rehoboam sent Adoram, who was over the tribute; and all Israel stoned him with stones, that he died. Therefore king Rehoboam made speed to get him up to his chariot, to flee to Jerusalem. So Israel rebelled against the house of David unto this day. And it came to pass, when all Israel heard that Jeroboam was come again, that they sent and called him unto the congregation, and made him king over all Israel: there was none that followed the house of David, but the tribe of Judah only. 1 Kings 12:16–20.
Vậy, khi cả Y-sơ-ra-ên thấy vua không lắng nghe họ, dân bèn đáp lại vua: Chúng ta có phần gì nơi Đa-vít? Chúng ta chẳng có cơ nghiệp nơi con trai của Gie-sê. Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy về lều trại mình! Còn ngươi, hỡi Đa-vít, bây giờ hãy lo lấy nhà ngươi! Thế là Y-sơ-ra-ên trở về lều trại mình. Nhưng đối với con cái Y-sơ-ra-ên cư ngụ trong các thành của Giu-đa, Rê-hô-bô-am vẫn cai trị họ. Bấy giờ vua Rê-hô-bô-am sai A-đô-ram, người phụ trách việc sưu dịch; nhưng cả Y-sơ-ra-ên ném đá ông đến chết. Vua Rê-hô-bô-am bèn vội vã lên xe để chạy trốn về Giê-ru-sa-lem. Vậy Y-sơ-ra-ên dấy loạn chống lại nhà Đa-vít cho đến ngày nay. Khi cả Y-sơ-ra-ên nghe Giê-rô-bô-am đã trở về, họ sai người gọi ông đến hội chúng và lập ông làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên; chẳng ai theo nhà Đa-vít, chỉ có chi phái Giu-đa mà thôi. 1 Các Vua 12:16-20.
The prophecy that Jeroboam would be given a kingdom had been fulfilled, and it was fulfilled at the time he had come out of Egypt. Jealous that God’s sanctuary was in the city of Jerusalem, the city which God had chosen to place his name, Jeroboam set about to counterfeit the sanctuary, the priesthood and worship service that was ordained to only be accomplished in Jerusalem. The work of Jeroboam in setting up a counterfeit system of worship in the northern ten tribes, is a direct parallel to the rebellion of Aaron and the golden calf, and thus provides another witness, not only to the soon-coming Sunday law, but also to the rebellion of 1863.
Lời tiên tri rằng Giê-rô-bô-am sẽ được ban cho một vương quốc đã được ứng nghiệm, và nó đã được ứng nghiệm khi ông từ Ai Cập trở về. Vì ghen tị rằng đền thánh của Đức Chúa Trời ở tại thành Giê-ru-sa-lem, là thành mà Đức Chúa Trời đã chọn để đặt danh Ngài, Giê-rô-bô-am liền bắt tay làm giả đền thánh, chức tư tế và các lễ nghi thờ phượng vốn được quy định chỉ được cử hành tại Giê-ru-sa-lem. Công việc của Giê-rô-bô-am trong việc thiết lập một hệ thống thờ phượng giả mạo trong mười chi phái phía bắc là một sự tương đồng trực tiếp với cuộc phản loạn của A-rôn và con bê vàng, và vì thế cung cấp thêm một lời chứng, không chỉ về luật Chủ nhật sắp đến, mà còn về cuộc phản loạn năm 1863.
And Jeroboam said in his heart, Now shall the kingdom return to the house of David: If this people go up to do sacrifice in the house of the Lord at Jerusalem, then shall the heart of this people turn again unto their lord, even unto Rehoboam king of Judah, and they shall kill me, and go again to Rehoboam king of Judah. Whereupon the king took counsel, and made two calves of gold, and said unto them, It is too much for you to go up to Jerusalem: behold thy gods, O Israel, which brought thee up out of the land of Egypt. And he set the one in Bethel, and the other put he in Dan. And this thing became a sin: for the people went to worship before the one, even unto Dan. And he made an house of high places, and made priests of the lowest of the people, which were not of the sons of Levi. And Jeroboam ordained a feast in the eighth month, on the fifteenth day of the month, like unto the feast that is in Judah, and he offered upon the altar. So did he in Bethel, sacrificing unto the calves that he had made: and he placed in Bethel the priests of the high places which he had made. So he offered upon the altar which he had made in Bethel the fifteenth day of the eighth month, even in the month which he had devised of his own heart; and ordained a feast unto the children of Israel: and he offered upon the altar, and burnt incense. 1 Kings 12:26–33.
Giê-rô-bô-am nghĩ trong lòng: Bây giờ vương quốc sẽ trở về với nhà Đa-vít. Nếu dân này lên dâng tế lễ tại đền thờ Đức Giê-hô-va ở Giê-ru-sa-lem, thì lòng của dân này sẽ lại hướng về chúa mình, tức là Rê-hô-bô-am, vua Giu-đa; họ sẽ giết ta và trở về với Rê-hô-bô-am, vua Giu-đa. Vì vậy, vua bèn bàn tính và đúc hai con bê bằng vàng, rồi nói với dân: Lên Giê-ru-sa-lem thật là quá phiền cho các ngươi; hỡi Israel, đây là các thần của các ngươi, đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập. Ông đặt một con tại Bê-tên, còn con kia thì đặt tại Đan. Điều ấy trở nên tội lỗi; vì dân sự đến thờ lạy trước con ấy, thậm chí đến tận Đan. Ông lập miếu thờ trên các nơi cao, và lập các thầy tế lễ từ những người hèn mọn nhất trong dân, là những người không thuộc dòng dõi Lê-vi. Giê-rô-bô-am lập một kỳ lễ vào tháng thứ tám, ngày mười lăm trong tháng, giống như kỳ lễ ở Giu-đa, và ông dâng tế lễ trên bàn thờ. Ông cũng làm như vậy tại Bê-tên, dâng tế lễ cho những con bê mà ông đã làm; và ông đặt tại Bê-tên các thầy tế lễ của những nơi cao mà ông đã lập. Vào ngày mười lăm tháng thứ tám—chính tháng mà ông tự nghĩ ra—ông dâng tế lễ trên bàn thờ mà ông đã làm tại Bê-tên, và lập một kỳ lễ cho con cái Israel; rồi ông dâng tế lễ trên bàn thờ và đốt hương. 1 Các Vua 12:26-33.
Jeroboam’s rebellion provides another line of truth to lay over the rebellion of Aaron, the rebellion of the Protestant horn in 1863, and the rebellion of the Republican horn at the soon-coming Sunday law, and in so doing it broadens the prophetic testimony. In the rebellion of Aaron’s golden calf, the Lord changed the ordained method of selecting the priesthood.
Sự phản loạn của Giê-rô-bô-am cung cấp thêm một dòng lẽ thật để đặt chồng lên sự phản loạn của A-rôn, sự phản loạn của sừng Tin Lành năm 1863, và sự phản loạn của sừng Cộng Hòa khi luật ngày Chủ nhật sắp được ban hành; qua đó mở rộng lời chứng tiên tri. Trong cuộc phản loạn con bê bằng vàng của A-rôn, Chúa đã thay đổi phương thức được Ngài chỉ định để tuyển chọn chức tư tế.
Prior to the rebellion the firstborn of any tribe was to become part of the priesthood. But in Aaron’s golden calf rebellion, it was only the tribe of Levi that stood with Moses. For this reason God changed the ordained method of supplying men for the priesthood, and from that point on it was only the family of Levi that would make up the priesthood.
Trước cuộc nổi loạn ấy, con đầu lòng của mỗi chi phái sẽ trở thành một phần của hàng tư tế. Nhưng trong vụ bê vàng của A-rôn, chỉ có chi phái Lê-vi đứng về phía Môi-se. Vì lý do đó, Đức Chúa Trời đã thay đổi phương thức đã ấn định để tuyển chọn người cho hàng tư tế, và từ thời điểm ấy trở đi, chỉ có chi phái Lê-vi lập thành hàng tư tế.
And when Moses saw that the people were naked; (for Aaron had made them naked unto their shame among their enemies:) Then Moses stood in the gate of the camp, and said, Who is on the Lord’s side? let him come unto me. And all the sons of Levi gathered themselves together unto him. And he said unto them, Thus saith the Lord God of Israel, Put every man his sword by his side, and go in and out from gate to gate throughout the camp, and slay every man his brother, and every man his companion, and every man his neighbour. And the children of Levi did according to the word of Moses: and there fell of the people that day about three thousand men. Exodus 32:25–28.
Khi Môi-se thấy dân sự trần truồng (vì A-rôn đã khiến họ trần truồng, để họ mang sự hổ thẹn giữa các kẻ thù của họ), bấy giờ Môi-se đứng ở cửa trại và nói: Ai đứng về phía Đức Giê-hô-va? Hãy đến cùng ta. Tất cả các con trai của Lê-vi bèn nhóm lại cùng ông. Ông nói với họ: Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Mỗi người hãy đeo gươm bên hông mình, đi ra đi vào từ cổng này đến cổng kia khắp trại, và giết mỗi người anh em mình, mỗi người bạn mình, và mỗi người lân cận mình. Con cháu Lê-vi làm theo lời Môi-se; trong ngày ấy, có khoảng ba nghìn người trong dân ngã chết. Xuất Ê-díp-tô Ký 32:25-28.
Jeroboam counterfeited the work God had accomplished in the rebellion of Aaron when God had raised up a new priesthood from the tribe of Levi, for Jeroboam “made priests of the lowest of the people, which were not of the sons of Levi.” The rebellion at the beginning of the kingdom of the northern ten tribes, parallels the rebellion of Aaron and the dancing fools. The rebellion took place after coming out of Egypt, in fulfillment of a prophecy that promised a kingdom would be established. In both cases a new priesthood was established, that was a change from the former order of selecting priests.
Giê-rô-bô-am đã giả mạo công việc Đức Chúa Trời từng làm trong cuộc nổi loạn của A-rôn, khi Ngài lập nên một chức tế lễ mới từ chi phái Lê-vi; vì Giê-rô-bô-am “đã lập những người hèn mọn nhất trong dân làm thầy tế lễ, những người không thuộc về con cháu Lê-vi.” Cuộc phản loạn vào buổi đầu của vương quốc mười chi phái phương bắc song song với cuộc phản loạn của A-rôn và đám người nhảy múa ngu dại. Cuộc phản loạn ấy diễn ra sau khi ra khỏi Ai Cập, như sự ứng nghiệm một lời tiên tri hứa rằng một vương quốc sẽ được thiết lập. Trong cả hai trường hợp, một chức tế lễ mới đã được thiết lập, đó là sự thay đổi so với trật tự trước đây trong việc chọn các thầy tế lễ.
Aaron’s golden calf rebellion was repeated, but it was doubled by Jeroboam, for he made two golden calves and placed them in two cities. The city of Dan, represents statecraft, for Dan means “to judge”, and the city of Bethel represents churchcraft, for Bethel means “the house of God”. The golden calves possessed the same symbolism as Aaron’s calf, but with the added witness of the union of Church and State as represented by the two cities. A calf was the highest form of pagan offering, and therefore represents a counterfeit offering of Christ. Gold is a symbol of Babylon, and the calf was an image of a beast. Just as Aaron ordained a false day of worship, Jeroboam also ordained a feast, and made sure the date for the feast did not agree with the time of the true worship in Jerusalem.
Cuộc nổi loạn con bò con bằng vàng của A-rôn đã được lặp lại, nhưng Giê-rô-bô-am còn nhân đôi nó, vì ông làm hai con bò con bằng vàng và đặt chúng trong hai thành. Thành Đan tượng trưng cho quyền lực nhà nước, vì “Đan” có nghĩa là “xét đoán”; còn thành Bê-tên tượng trưng cho quyền lực giáo hội, vì “Bê-tên” có nghĩa là “nhà của Đức Chúa Trời”. Những con bò con bằng vàng ấy mang cùng biểu tượng như con bò con của A-rôn, nhưng còn thêm lời chứng về sự liên minh giữa Giáo hội và Nhà nước như được biểu thị bởi hai thành. Một con bò con là lễ vật cao nhất trong việc thờ cúng ngoại giáo, vì vậy nó tượng trưng cho một lễ vật giả mạo thay thế cho Đấng Christ. Vàng là biểu tượng của Ba-by-lôn, và con bò con là hình tượng của một con thú. Cũng như A-rôn đã đặt ra một ngày thờ phượng giả dối, Giê-rô-bô-am cũng đặt ra một kỳ lễ và cố tình ấn định ngày lễ không trùng với thời điểm thờ phượng chân thật tại Giê-ru-sa-lem.
All the elements of the soon-coming Sunday law are represented in Jeroboam’s testimony of rebellion; the false sacrifice (calf), the false Christ (the altar), the image of the beast (combination of Church and State), false day of worship (Sunday) and a counterfeit priesthood.
Tất cả các yếu tố của luật Chủ nhật sắp tới đều được thể hiện trong lời chứng về sự phản nghịch của Giê-rô-bô-am; sự tế lễ giả dối (bê con), Đấng Christ giả (bàn thờ), hình tượng của con thú (sự kết hợp giữa Hội thánh và Nhà nước), ngày thờ phượng giả (Chủ nhật) và một chức tư tế giả mạo.
The beginning of ancient Israel, the beginning of the ten northern tribes as a kingdom, and the beginning of Adventism all possess the same prophetic elements, and together they identify the prophetic elements of the soon-coming Sunday law. Ancient Israel had come out of the bondage of Egypt, Jeroboam came out of Egypt where he had fled to escape the persecution of Solomon, and Millerite Adventism had just come out of the bondage of the papacy.
Sự khởi đầu của Israel cổ đại, sự khởi đầu của mười chi phái phía bắc với tư cách là một vương quốc, và sự khởi đầu của phong trào Phục Lâm đều có cùng những yếu tố tiên tri, và cùng nhau chúng xác định các yếu tố tiên tri của luật ngày Chủ nhật sắp tới. Israel cổ đại đã ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, Giê-rô-bô-am đã từ Ai Cập trở về, nơi ông trốn sang để thoát khỏi sự bách hại của Sa-lô-môn, và phong trào Phục Lâm Miller vừa thoát khỏi ách thống trị của giáo triều La Mã.
The priesthood of Levi was established at Aaron’s rebellion, the counterfeit priesthood of the lowest of men was set up in Jeroboam’s testimony, and when the Lord entered into covenant with Millerite Adventism, according to Peter, the Millerites were “a chosen generation, a royal priesthood, an holy nation, a peculiar people; that ye should show forth the praises of him who hath called you out of darkness into his marvellous light.” The light the Millerites had been called unto was the light of Miller’s jewels represented upon Habakkuk’s two tables that had been typified in the history of Aaron’s rebellion by the two tables of the Ten Commandments. The darkness they were called out of was the Dark Ages of papal rule, that had been typified by the darkness of Egyptian bondage.
Chức tư tế của Lê-vi được thiết lập vào thời điểm cuộc phản nghịch của A-rôn; chức tư tế giả mạo của những kẻ thấp hèn nhất đã được dựng lập theo lời chứng của Giê-rô-bô-am; và khi Chúa lập giao ước với phong trào Cơ Đốc Phục Lâm Millerite, theo lời Phi-e-rơ, những người Millerite là “một dòng dõi được chọn, một chức tế lễ vương giả, một dân thánh, một dân thuộc riêng; để anh em tuyên rao những sự ngợi khen của Đấng đã gọi anh em ra khỏi bóng tối đến ánh sáng lạ lùng của Ngài.” Ánh sáng mà những người Millerite được gọi đến là ánh sáng của “những viên ngọc” của Miller, được biểu thị trên hai bảng của Ha-ba-cúc, vốn đã được làm hình bóng trong lịch sử về sự phản nghịch của A-rôn bởi hai bia đá của Mười Điều Răn. Bóng tối mà họ được gọi ra khỏi chính là Thời Kỳ Tăm Tối của sự cai trị của Giáo hoàng, vốn đã được làm hình bóng bởi bóng tối của ách nô lệ Ai Cập.
When Christ raised up the temple that had been trodden down by both paganism and papalism, He did so in forty-six years from 1798 to 1844. When he had erected the temple, then as the Messenger of the Covenant, He suddenly came to His temple on October 22, 1844, for He had erected the temple that had been trodden down and destroyed, and He also purified a priesthood that was represented by the tribe of Levi.
Khi Đấng Christ dựng lại đền thờ đã bị cả ngoại giáo lẫn chủ nghĩa giáo hoàng giày đạp, Ngài đã làm điều đó trong bốn mươi sáu năm, từ 1798 đến 1844. Khi Ngài đã dựng xong đền thờ, thì với tư cách là Sứ giả của Giao ước, Ngài bỗng đến đền thờ của Ngài vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, vì Ngài đã dựng lại đền thờ vốn đã bị giày đạp và phá hủy, và Ngài cũng thanh tẩy một chức tư tế được đại diện bởi chi phái Lê-vi.
But who may abide the day of his coming? and who shall stand when he appeareth? for he is like a refiner’s fire, and like fullers’ soap: And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years. Malachi 3:2–4.
Nhưng ai có thể chịu nổi ngày Ngài đến? Ai sẽ đứng vững khi Ngài hiện ra? Vì Ngài như lửa của thợ luyện, như thuốc tẩy của thợ giặt. Ngài sẽ ngồi như thợ luyện và người tẩy sạch bạc; Ngài sẽ tinh sạch con cái Lê-vi, luyện lọc họ như vàng và bạc, để họ dâng lên Chúa một lễ vật trong sự công chính. Bấy giờ lễ vật của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Chúa như những ngày xưa, như những năm thuở trước. Ma-la-chi 3:2–4.
On October 22, 1844 Christ suddenly came to His temple and entered into covenant with a people who were represented by the Levitical priesthood, yet by 1863, they had repeated the rebellion of Aaron, and the Millerite priesthood transitioned to the Laodicean priesthood, as represented by Jeroboam’s priesthood of the lowest of men, and Aaron’s dancing fools. Yet the testimony of Jeroboam’s rebellion has a larger testimony of the rebellion of 1863. When Jeroboam inaugurated his false system of worship a prophet from Jerusalem was sent to rebuke Jeroboam’s rebellion, as typified by Millerite Adventism being led to accept the Sabbath of the Ten Commandments as the day of rest.
Ngày 22 tháng 10 năm 1844, Đấng Christ bỗng nhiên đến đền thờ của Ngài và lập giao ước với một dân sự được đại diện bởi chức tư tế Lê-vi; nhưng đến năm 1863, họ đã lặp lại cuộc phản loạn của A-rôn, và hàng tư tế Millerite đã chuyển thành hàng tư tế La-ô-đi-xê, như được biểu trưng bởi chức tư tế của Giê-rô-bô-am gồm hạng người hèn mọn nhất, và những kẻ nhảy múa điên dại của A-rôn. Tuy nhiên, lời chứng về cuộc phản loạn của Giê-rô-bô-am mang một lời chứng lớn hơn cho cuộc phản loạn năm 1863. Khi Giê-rô-bô-am khai sinh hệ thống thờ phượng giả dối của mình, một vị tiên tri từ Giê-ru-sa-lem đã được sai đến để quở trách sự phản loạn của Giê-rô-bô-am, điều này tiêu biểu cho việc phong trào Phục Lâm theo Miller được dẫn dắt để chấp nhận ngày Sa-bát của Mười Điều Răn làm ngày nghỉ.
When Adventism accepted the light of the third angel and the sanctuary they represented a rebuke to those Protestants that had rejected the increasing light of the unsealing that began at the time of the end in 1798. Just as ancient Israel had forgotten the Sabbath while in their Egyptian bondage, the church in the wilderness had forgotten the Sabbath by the time 1798 arrived. The increasing light of the judgment-hour message brought by the Millerites ultimately led to the sanctuary and the law of God.
Khi Cơ Đốc Phục Lâm chấp nhận ánh sáng của thiên sứ thứ ba và đền thánh, điều đó trở thành lời quở trách đối với những người Tin Lành đã khước từ ánh sáng ngày càng tăng của sự mở ấn bắt đầu vào thời kỳ tận cùng năm 1798. Cũng như Israel thời xưa đã quên ngày Sa-bát trong cảnh nô lệ ở Ai Cập, hội thánh trong đồng vắng đã quên ngày Sa-bát đến năm 1798. Ánh sáng ngày càng tỏ của sứ điệp giờ phán xét do những người theo Miller mang đến rốt cuộc đã dẫn đến đền thánh và luật pháp của Đức Chúa Trời.
That light arrived on October 22, 1844, and represented a rebuke of false worship to those who had been called to come all the way out of the false doctrines of Catholicism. The worship of the sun is the mark of Catholicism’s authority over the churches who returned to her fold. That rebuke is represented at Jeroboam’s inauguration of his false system of worship.
Ánh sáng ấy đã đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, và là một lời quở trách về sự thờ phượng giả dối gửi đến những người đã được kêu gọi rời bỏ hoàn toàn những giáo lý sai lầm của Công giáo. Việc thờ phượng mặt trời là dấu ấn thẩm quyền của Công giáo đối với các hội thánh đã trở về với đoàn chiên của bà. Lời quở trách ấy được thể hiện trong việc Giê-rô-bô-am khởi xướng hệ thống thờ phượng giả dối của mình.
And Jeroboam ordained a feast in the eighth month, on the fifteenth day of the month, like unto the feast that is in Judah, and he offered upon the altar. So did he in Bethel, sacrificing unto the calves that he had made: and he placed in Bethel the priests of the high places which he had made. So he offered upon the altar which he had made in Bethel the fifteenth day of the eighth month, even in the month which he had devised of his own heart; and ordained a feast unto the children of Israel: and he offered upon the altar, and burnt incense. And, behold, there came a man of God out of Judah by the word of the Lord unto Bethel: and Jeroboam stood by the altar to burn incense. And he cried against the altar in the word of the Lord, and said, O altar, altar, thus saith the Lord; Behold, a child shall be born unto the house of David, Josiah by name; and upon thee shall he offer the priests of the high places that burn incense upon thee, and men’s bones shall be burnt upon thee. And he gave a sign the same day, saying, This is the sign which the Lord hath spoken; Behold, the altar shall be rent, and the ashes that are upon it shall be poured out. And it came to pass, when king Jeroboam heard the saying of the man of God, which had cried against the altar in Bethel, that he put forth his hand from the altar, saying, Lay hold on him.
Jeroboam lập một ngày lễ trong tháng thứ tám, vào ngày mười lăm của tháng, giống như lễ ở Judah, và ông dâng tế lễ trên bàn thờ. Ông cũng làm như vậy tại Bethel, dâng tế cho những con bò con mà ông đã làm ra; và ông đặt tại Bethel các thầy tế cho các nơi cao mà ông đã lập. Vậy, ông dâng tế trên bàn thờ mà ông đã làm tại Bethel vào ngày mười lăm tháng thứ tám, tức là tháng mà ông tự lòng mình bày ra; ông lập một ngày lễ cho con cái Israel, và ông dâng tế trên bàn thờ và đốt hương. Và kìa, có một người của Đức Chúa từ Judah, theo lời của Đức Chúa, đến Bethel; và Jeroboam đứng bên bàn thờ để đốt hương. Người ấy kêu chống lại bàn thờ theo lời của Đức Chúa, và nói: Hỡi bàn thờ, bàn thờ! Đức Chúa phán như vầy: Kìa, sẽ có một đứa trẻ sinh ra cho nhà David, tên là Josiah; trên ngươi nó sẽ dâng các thầy tế của các nơi cao là những kẻ đốt hương trên ngươi, và xương người sẽ bị đốt trên ngươi. Trong ngày đó, người ấy ban một dấu lạ mà nói: Đây là dấu mà Đức Chúa đã phán: Kìa, bàn thờ sẽ bị nứt ra, và tro ở trên đó sẽ đổ ra. Và xảy ra rằng, khi vua Jeroboam nghe lời người của Đức Chúa, là người đã kêu chống lại bàn thờ tại Bethel, thì vua giơ tay ra từ bên bàn thờ mà nói: Bắt lấy người ấy.
And his hand, which he put forth against him, dried up, so that he could not pull it in again to him. The altar also was rent, and the ashes poured out from the altar, according to the sign which the man of God had given by the word of the Lord. And the king answered and said unto the man of God, Intreat now the face of the Lord thy God, and pray for me, that my hand may be restored me again. And the man of God besought the Lord, and the king’s hand was restored him again, and became as it was before. And the king said unto the man of God, Come home with me, and refresh thyself, and I will give thee a reward. And the man of God said unto the king, If thou wilt give me half thine house, I will not go in with thee, neither will I eat bread nor drink water in this place: For so was it charged me by the word of the Lord, saying, Eat no bread, nor drink water, nor turn again by the same way that thou camest. So he went another way, and returned not by the way that he came to Bethel. 1 Kings 12:32–13:10.
Và tay vua, tay đã đưa ra nghịch cùng người của Đức Chúa Trời, bỗng khô cứng, đến nỗi vua không thể rút nó về lại với mình. Bàn thờ cũng bị nứt ra, và tro đổ ra khỏi bàn thờ, đúng theo dấu mà người của Đức Chúa Trời đã báo trước bởi lời của Chúa. Vua bèn nói với người của Đức Chúa Trời: "Xin bây giờ nài xin ơn trước mặt Chúa là Đức Chúa Trời của ông và cầu nguyện cho tôi, để tay tôi được phục hồi trở lại." Người của Đức Chúa Trời khẩn cầu Chúa, và tay vua được phục hồi trở lại, và trở nên như trước kia. Vua nói với người của Đức Chúa Trời: "Hãy về nhà với ta và nghỉ ngơi cho khỏe, ta sẽ ban thưởng cho ngươi." Nhưng người của Đức Chúa Trời nói với vua: "Dù bệ hạ cho tôi nửa nhà của bệ hạ, tôi cũng sẽ không vào với bệ hạ; tôi cũng sẽ không ăn bánh, không uống nước tại nơi này; vì tôi đã được truyền bởi lời của Chúa rằng: Đừng ăn bánh, đừng uống nước, và đừng trở về theo con đường mà ngươi đã đến." Vậy ông đi đường khác, không trở về theo con đường mà ông đã đến Bê-tên. 1 Các Vua 12:32-13:10.
Along with the rebellion of the golden calves in the testimony of Aaron and Jeroboam, the actual inauguration of the false system of worship that Jeroboam ordained is included in his testimony. That inauguration represents the distinction between the worship that was to be carried out in Jerusalem, and Jeroboam’s counterfeit system. From 1798 through to 1844, the Lord brought his people out of the darkness of papal rule into the marvelous prophetic light represented by the three angels of Revelation fourteen. The Protestant churches rejected that light and in so doing became the daughters of Catholicism in 1844.
Cùng với cuộc phản loạn bê vàng trong lời chứng của A-rôn và Giê-rô-bô-am, lời chứng của Giê-rô-bô-am còn bao gồm cả lễ khai mạc thực sự của hệ thống thờ phượng giả dối mà ông đã định ra. Lễ khai mạc ấy biểu thị sự phân biệt giữa việc thờ phượng vốn phải được cử hành tại Giê-ru-sa-lem và hệ thống giả mạo của Giê-rô-bô-am. Từ năm 1798 đến 1844, Chúa đã đưa dân Ngài ra khỏi bóng tối của quyền thống trị giáo hoàng vào ánh sáng tiên tri kỳ diệu, ánh sáng được biểu trưng bởi ba thiên sứ trong Khải Huyền mười bốn. Các giáo hội Tin Lành đã từ chối ánh sáng ấy và qua đó trở thành các con gái của Công giáo vào năm 1844.
Jeroboam’s worship typified the Catholic system of worship, and in his story the northern kingdom of Israel represents the false system of Catholicism that the Protestants of Millerite history chose to remain in. The symbol of that system is the worship of the sun.
Việc thờ phượng của Jeroboam tiêu biểu cho hệ thống thờ phượng Công giáo, và trong câu chuyện của ông, vương quốc Israel miền bắc đại diện cho hệ thống Công giáo giả dối mà những người Tin Lành trong lịch sử Millerite đã chọn tiếp tục ở lại. Biểu tượng của hệ thống đó là việc thờ lạy mặt trời.
The faithful and wise virgins that entered into the Most Holy Place on October 22, 1844, represented a rebuke to the Protestants who had just returned to the influence of Catholicism, and became the daughters of Rome. In the inauguration of Jeroboam’s counterfeit system of worship a prophet came from Judah and rebuked Jeroboam, thus typifying the faithful virgins who entered into the Most Holy Place and were led to recognize the law of God. The story of that prophet and his rebuke to Jeroboam is highly informative when considering the rebellion of 1863, yet the story needs to wait until an ending is placed along with a beginning.
Các trinh nữ trung tín và khôn ngoan đã bước vào Nơi Chí Thánh vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 là một lời quở trách đối với những người Kháng Cách vừa quay lại chịu ảnh hưởng của Công giáo và trở thành các con gái của La Mã. Khi Giê-rô-bô-am khởi xướng hệ thống thờ phượng giả mạo của mình, một tiên tri từ Giu-đa đến và quở trách ông, qua đó tiêu biểu cho các trinh nữ trung tín đã bước vào Nơi Chí Thánh và được dẫn dắt để nhận biết luật pháp của Đức Chúa Trời. Câu chuyện về vị tiên tri ấy và lời quở trách ông dành cho Giê-rô-bô-am cung cấp nhiều điều sáng tỏ khi xem xét cuộc phản nghịch năm 1863, nhưng câu chuyện ấy cần tạm gác lại cho đến khi phần kết được đặt bên cạnh phần mở đầu.
The beginnings of ancient Israel, Jeroboam’s kingdom, and modern Israel all align and together they provide three witnesses of the end of the earth beast of Revelation thirteen, at the soon-coming Sunday law. The faithful of Millerite Adventism on October 22, 1844, became the true Protestant horn of the earth beast, and they did so in the history which began at the time of the end in 1798. 1798 was the beginning of the sixth kingdom of Bible prophecy, the United States, and the establishment of the true Protestant horn of Adventism in the United States. In that beginning history represents the ending history of the United States, for Jesus always illustrates the end of a thing with the beginning of a thing.
Khởi đầu của Y-sơ-ra-ên cổ đại, vương quốc của Giê-rô-bô-am, và Y-sơ-ra-ên hiện đại đều trùng khớp, và khi kết hợp lại, chúng đưa ra ba nhân chứng về sự chấm dứt của con thú từ đất trong Khải Huyền mười ba, vào thời điểm luật Chủ nhật sắp tới. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, những người trung tín của Phong trào Phục Lâm Millerite đã trở nên sừng Tin Lành chân thật của con thú từ đất, và họ đã làm như vậy trong giai đoạn lịch sử bắt đầu vào thời kỳ cuối cùng năm 1798. Năm 1798 là sự khởi đầu của vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh, tức Hoa Kỳ, và là sự thiết lập sừng Tin Lành chân thật của Phục Lâm tại Hoa Kỳ. Lịch sử khởi đầu ấy tiêu biểu cho lịch sử kết thúc của Hoa Kỳ, vì Chúa Giê-su luôn minh họa phần kết thúc của một điều bằng phần khởi đầu của điều đó.
The three beginning witnesses of ancient, modern and Jeroboam’s Israel illustrate the end of the earth beast, but there is also another ending that needs to be put in place in advance of laying out the testimony of the prophet that came from Judah and rebuked Jeroboam. The ending history that needs to be included is the ending of the northern and southern kingdoms of Israel as represented by the prophet Ezekiel.
Ba nhân chứng mở đầu của Israel thời cổ, thời hiện đại và dưới thời Giê-rô-bô-am minh họa sự kết thúc của con thú từ đất, nhưng cũng có một kết thúc khác cần được sắp đặt trước khi trình bày lời chứng của vị tiên tri từ Giu-đa đã đến quở trách Giê-rô-bô-am. Phần kết trong lịch sử cần được đưa vào là sự chấm dứt của các vương quốc Israel miền bắc và miền nam, như được vị tiên tri Ê-xê-chi-ên mô tả.
It should not be forgotten that what we are now illustrating is that the rebellion of 1863 is marked by the first abomination of Ezekiel chapter eight, which was the image of jealousy. Once we address the ending of the northern and southern kingdoms as represented by Ezekiel we will have more than enough evidence to uphold that the rebellion of 1863 was illustrated by Aaron and Jeroboam’s rebellion, and that it identifies the beginning of the first of four generations of Laodicean Adventism.
Không nên quên rằng điều chúng ta đang minh họa lúc này là cuộc phản nghịch năm 1863 được đánh dấu bởi điều ghê tởm thứ nhất trong Ê-xê-chi-ên chương tám, tức là hình tượng ghen tuông. Khi chúng ta bàn đến sự kết thúc của các vương quốc miền bắc và miền nam như Ê-xê-chi-ên đã trình bày, chúng ta sẽ có dư bằng chứng để khẳng định rằng cuộc phản nghịch năm 1863 được minh họa bởi cuộc phản nghịch của A-rôn và Giê-rô-bô-am, và rằng nó xác định sự khởi đầu của thế hệ thứ nhất trong bốn thế hệ của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
The word of the Lord came again unto me, saying, Moreover, thou son of man, take thee one stick, and write upon it, For Judah, and for the children of Israel his companions: then take another stick, and write upon it, For Joseph, the stick of Ephraim, and for all the house of Israel his companions: And join them one to another into one stick; and they shall become one in thine hand. And when the children of thy people shall speak unto thee, saying, Wilt thou not shew us what thou meanest by these? Say unto them, Thus saith the Lord God; Behold, I will take the stick of Joseph, which is in the hand of Ephraim, and the tribes of Israel his fellows, and will put them with him, even with the stick of Judah, and make them one stick, and they shall be one in mine hand. And the sticks whereon thou writest shall be in thine hand before their eyes. And say unto them, Thus saith the Lord God; Behold, I will take the children of Israel from among the heathen, whither they be gone, and will gather them on every side, and bring them into their own land:
Lời của Đức Chúa Trời lại đến cùng ta, phán rằng: Hơn nữa, hỡi con người, hãy lấy cho ngươi một cây gậy và viết trên đó: Cho Giu-đa, và cho các con cái Y-sơ-ra-ên là bạn đồng hành của nó; rồi hãy lấy một cây gậy khác và viết trên đó: Cho Giô-sép, cây gậy của Ép-ra-im, và cho cả nhà Y-sơ-ra-ên là bạn đồng hành của nó. Hãy ráp chúng lại với nhau thành một cây gậy, và trong tay ngươi chúng sẽ trở nên một. Khi con cái của dân ngươi nói với ngươi rằng: Há ngươi không chỉ cho chúng tôi biết ngươi muốn nói gì bằng những điều này sao? — thì hãy nói với họ: Đức Chúa Trời phán như vầy: Kìa, Ta sẽ lấy cây gậy của Giô-sép, cây ở trong tay Ép-ra-im, và các chi phái Y-sơ-ra-ên là bạn đồng hành của nó, Ta sẽ đặt chúng với cây gậy của Giu-đa, và làm cho chúng thành một cây gậy; chúng sẽ là một trong tay Ta. Còn những cây gậy mà ngươi đã viết sẽ ở trong tay ngươi trước mắt họ. Hãy nói với họ: Đức Chúa Trời phán như vầy: Kìa, Ta sẽ đem con cái Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa các dân ngoại, nơi họ đã đi đến; Ta sẽ nhóm họ lại từ mọi phía và đưa họ vào đất riêng của họ.
And I will make them one nation in the land upon the mountains of Israel; and one king shall be king to them all: and they shall be no more two nations, neither shall they be divided into two kingdoms any more at all: Neither shall they defile themselves any more with their idols, nor with their detestable things, nor with any of their transgressions: but I will save them out of all their dwelling places, wherein they have sinned, and will cleanse them: so shall they be my people, and I will be their God. And David my servant shall be king over them; and they all shall have one shepherd: they shall also walk in my judgments, and observe my statutes, and do them. And they shall dwell in the land that I have given unto Jacob my servant, wherein your fathers have dwelt; and they shall dwell therein, even they, and their children, and their children’s children for ever: and my servant David shall be their prince forever. Moreover I will make a covenant of peace with them; it shall be an everlasting covenant with them: and I will place them, and multiply them, and will set my sanctuary in the midst of them for evermore. My tabernacle also shall be with them: yea, I will be their God, and they shall be my people. And the heathen shall know that I the Lord do sanctify Israel, when my sanctuary shall be in the midst of them for evermore. Ezekiel 37:15–28.
Ta sẽ làm cho họ thành một dân tộc trong xứ, trên các núi của Y-sơ-ra-ên; và một vua sẽ làm vua cho hết thảy họ; họ sẽ không còn làm hai dân tộc nữa, cũng không còn bị chia làm hai vương quốc nữa. Họ cũng sẽ không còn làm ô uế mình bởi các thần tượng của họ, bởi những điều ghê tởm của họ, hay bởi bất kỳ sự vi phạm nào của họ nữa; nhưng Ta sẽ cứu họ khỏi mọi nơi họ cư trú, nơi họ đã phạm tội, và sẽ rửa sạch họ; như vậy họ sẽ là dân của Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ. Đa-vít, đầy tớ của Ta, sẽ làm vua trên họ; hết thảy họ sẽ có một người chăn; họ cũng sẽ bước đi theo các phán quyết của Ta, giữ các luật lệ của Ta và làm theo. Họ sẽ ở trong xứ mà Ta đã ban cho Gia-cốp, đầy tớ Ta, nơi tổ phụ các ngươi đã ở; họ sẽ ở đó—chính họ, con cái họ, và con cháu họ—đến đời đời; và đầy tớ Ta là Đa-vít sẽ làm thủ lãnh của họ đời đời. Hơn nữa, Ta sẽ lập với họ một giao ước bình an; đó sẽ là một giao ước đời đời với họ; Ta sẽ khiến họ an cư, làm cho họ sinh sôi nảy nở, và sẽ đặt nơi thánh của Ta ở giữa họ đời đời. Lều tạm của Ta cũng sẽ ở với họ; phải, Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ là dân của Ta. Và các dân ngoại sẽ biết rằng chính Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng thánh hóa Y-sơ-ra-ên, khi nơi thánh của Ta ở giữa họ đời đời. Ê-xê-chi-ên 37:15-28.