The northern and southern kingdoms were scattered under God’s indignation for twenty-five hundred and twenty years in fulfillment of the broken covenant of Leviticus twenty-five and twenty-six. The forty-six years between the conclusion of the first and last indignations represented the gathering of those two kingdoms into one kingdom of spiritual modern Israel in 1844. The gathering of those two nations was represented by the two sticks which Ezekiel joined together and the two sticks the widow of Zarephath gathered in the story of Elijah. On October 22, 1844 the prophetic history of the northern and southern kingdoms concluded and in so doing it repeated the history of the beginning of those two kingdoms.
Các vương quốc miền Bắc và miền Nam đã bị tản lạc dưới cơn phẫn nộ của Đức Chúa Trời trong hai nghìn năm trăm hai mươi năm, để ứng nghiệm giao ước bị phá vỡ được chép trong Lê-vi Ký 25 và 26. Bốn mươi sáu năm giữa thời điểm kết thúc của cơn phẫn nộ thứ nhất và cơn phẫn nộ cuối cùng biểu trưng cho sự hiệp nhất hai vương quốc ấy thành một vương quốc Y-sơ-ra-ên thuộc linh thời hiện đại vào năm 1844. Sự hiệp lại của hai dân tộc ấy được biểu thị bởi hai cây gậy mà Ê-xê-chi-ên nối lại với nhau và bởi hai khúc củi mà người góa phụ ở Xa-rép-ta nhặt trong câu chuyện về Ê-li. Vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, lịch sử tiên tri của các vương quốc miền Bắc và miền Nam đã kết thúc, và qua đó, lịch sử khởi đầu của hai vương quốc ấy được tái hiện.
Jeroboam instituted a counterfeit system of worship in the northern kingdom in order to prevent his subjects from travelling to Judah and worshipping God in the sanctuary in Jerusalem.
Jeroboam đã thiết lập một hệ thống thờ phượng giả mạo trong vương quốc phía bắc nhằm ngăn không cho thần dân của ông đến Judah và thờ phượng Đức Chúa Trời tại đền thờ ở Jerusalem.
And Jeroboam said in his heart, Now shall the kingdom return to the house of David: If this people go up to do sacrifice in the house of the Lord at Jerusalem, then shall the heart of this people turn again unto their lord, even unto Rehoboam king of Judah, and they shall kill me, and go again to Rehoboam king of Judah. Whereupon the king took counsel, and made two calves of gold, and said unto them, It is too much for you to go up to Jerusalem: behold thy gods, O Israel, which brought thee up out of the land of Egypt. And he set the one in Bethel, and the other put he in Dan. And this thing became a sin: for the people went to worship before the one, even unto Dan. And he made an house of high places, and made priests of the lowest of the people, which were not of the sons of Levi. And Jeroboam ordained a feast in the eighth month, on the fifteenth day of the month, like unto the feast that is in Judah, and he offered upon the altar. So did he in Bethel, sacrificing unto the calves that he had made: and he placed in Bethel the priests of the high places which he had made. So he offered upon the altar which he had made in Bethel the fifteenth day of the eighth month, even in the month which he had devised of his own heart; and ordained a feast unto the children of Israel: and he offered upon the altar, and burnt incense. 1 Kings 12:26–33.
Giê-rô-bô-am nghĩ trong lòng: Bây giờ vương quốc sẽ trở về với nhà Đa-vít. Nếu dân này lên dâng tế lễ tại đền thờ Đức Giê-hô-va ở Giê-ru-sa-lem, thì lòng của dân này sẽ lại hướng về chúa mình, tức là Rê-hô-bô-am, vua Giu-đa; họ sẽ giết ta và trở về với Rê-hô-bô-am, vua Giu-đa. Vì vậy, vua bèn bàn tính và đúc hai con bê bằng vàng, rồi nói với dân: Lên Giê-ru-sa-lem thật là quá phiền cho các ngươi; hỡi Israel, đây là các thần của các ngươi, đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập. Ông đặt một con tại Bê-tên, còn con kia thì đặt tại Đan. Điều ấy trở nên tội lỗi; vì dân sự đến thờ lạy trước con ấy, thậm chí đến tận Đan. Ông lập miếu thờ trên các nơi cao, và lập các thầy tế lễ từ những người hèn mọn nhất trong dân, là những người không thuộc dòng dõi Lê-vi. Giê-rô-bô-am lập một kỳ lễ vào tháng thứ tám, ngày mười lăm trong tháng, giống như kỳ lễ ở Giu-đa, và ông dâng tế lễ trên bàn thờ. Ông cũng làm như vậy tại Bê-tên, dâng tế lễ cho những con bê mà ông đã làm; và ông đặt tại Bê-tên các thầy tế lễ của những nơi cao mà ông đã lập. Vào ngày mười lăm tháng thứ tám—chính tháng mà ông tự nghĩ ra—ông dâng tế lễ trên bàn thờ mà ông đã làm tại Bê-tên, và lập một kỳ lễ cho con cái Israel; rồi ông dâng tế lễ trên bàn thờ và đốt hương. 1 Các Vua 12:26-33.
His system of worship was typical of Catholicism (paganism), for as with Aaron’s rebellion, it established an image to and of the beast. The two calf images were made of gold, symbolizing Babylon. The images were dedicated to the gods of Egypt, who were identified as Aaron had also identified them; as “the gods that had brought them up out of the land of Egypt.” He built two altars in two cities, which when considered together represent the combination of church (Bethel) and state (Dan). The altars were counterfeits of the true altar, which is Christ, just as Catholicism claims to be Christ’s earthly representative. He raised up a corrupted priesthood, as are the priests of Catholicism. He selected a day for his worship service that was specifically different from the days of any of God’s true feast days, thus representing the controversy over the true and false day of worship.
Hệ thống thờ phượng của ông mang tính điển hình của Công giáo (ngoại giáo), vì cũng như cuộc phản loạn của A-rôn, nó đã lập nên một hình tượng cho và của con thú. Hai tượng bò con được làm bằng vàng, tượng trưng cho Ba-by-lôn. Các tượng ấy được hiến dâng cho các thần của Ai Cập, được gọi đúng như A-rôn đã gọi họ: “các thần đã đem họ lên khỏi xứ Ai Cập.” Ông xây hai bàn thờ tại hai thành, mà khi xét chung lại, tượng trưng cho sự kết hợp giữa giáo hội (Bê-tên) và nhà nước (Đan). Các bàn thờ ấy là đồ giả mạo của bàn thờ thật, tức là Đấng Christ, giống như Công giáo tự nhận là đại diện của Đấng Christ trên đất. Ông lập nên một chức tư tế bại hoại, giống như các linh mục của Công giáo. Ông chọn một ngày cho lễ thờ phượng của mình khác hẳn với bất kỳ ngày nào trong các kỳ lễ thật của Đức Chúa Trời, qua đó tượng trưng cho cuộc tranh luận về ngày thờ phượng thật và giả.
In the inauguration of his false system of worship, God sent a prophet from Judah to rebuke his counterfeit system of worship.
Trong lễ khai mạc hệ thống thờ phượng giả dối của ông, Đức Chúa Trời đã sai một nhà tiên tri từ Giu-đa đến quở trách hệ thống thờ phượng giả mạo ấy.
And, behold, there came a man of God out of Judah by the word of the Lord unto Bethel: and Jeroboam stood by the altar to burn incense. And he cried against the altar in the word of the Lord, and said, O altar, altar, thus saith the Lord; Behold, a child shall be born unto the house of David, Josiah by name; and upon thee shall he offer the priests of the high places that burn incense upon thee, and men’s bones shall be burnt upon thee. And he gave a sign the same day, saying, This is the sign which the Lord hath spoken; Behold, the altar shall be rent, and the ashes that are upon it shall be poured out. 1 Kings 13:1–3.
Và, kìa, có một người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa, theo lời Đức Giê-hô-va, đến Bê-tên; còn Giê-rô-bô-am thì đứng bên bàn thờ để đốt hương. Người kêu nghịch lại bàn thờ theo lời Đức Giê-hô-va và nói: Hỡi bàn thờ, bàn thờ! Đức Giê-hô-va phán như vầy: Kìa, sẽ có một đứa trẻ sinh ra trong nhà Đa-vít, tên là Giô-si-a; và trên ngươi nó sẽ hiến tế các thầy tế lễ của các nơi cao, là những kẻ đốt hương trên ngươi, và xương cốt người ta sẽ bị đốt trên ngươi. Trong ngày đó người cho một dấu, mà nói: Đây là dấu mà Đức Giê-hô-va đã phán: Kìa, bàn thờ sẽ bị nứt ra, và tro trên đó sẽ bị đổ ra. 1 Các Vua 13:1-3.
The prophet from Judah proclaimed a threefold prophecy identifying the future birth of king Josiah. He predicted that Josiah would slay the wicked priests who were employed at the counterfeit altar and that Josiah would also burn men’s bones upon that very altar. He also gave Jeroboam a sign, identifying that Jeroboam’s altar would be broken open and the ashes would pour out. All of these things were fulfilled according to the Word of the Lord, but when Jeroboam heard the proclamation of the prophet he was angered and sought to deal with the prophet, but God was in control.
Nhà tiên tri từ Giu-đa đã công bố một lời tiên tri gồm ba phần, nói trước rằng sau này sẽ sinh ra vua Giô-si-a. Ông dự báo rằng Giô-si-a sẽ giết các thầy tế lễ gian ác phục vụ tại bàn thờ giả và rằng Giô-si-a cũng sẽ đốt xương người trên chính bàn thờ ấy. Ông cũng ban cho Giê-rô-bô-am một dấu hiệu, cho biết bàn thờ của Giê-rô-bô-am sẽ nứt ra và tro sẽ đổ ra. Tất cả những điều này đã được ứng nghiệm theo Lời của Đức Giê-hô-va; nhưng khi Giê-rô-bô-am nghe lời công bố của nhà tiên tri, ông nổi giận và tìm cách đối phó với nhà tiên tri, song Đức Chúa Trời vẫn tể trị.
And it came to pass, when king Jeroboam heard the saying of the man of God, which had cried against the altar in Bethel, that he put forth his hand from the altar, saying, Lay hold on him. And his hand, which he put forth against him, dried up, so that he could not pull it in again to him. The altar also was rent, and the ashes poured out from the altar, according to the sign which the man of God had given by the word of the Lord. 1 Kings 13:4, 5.
Và xảy ra rằng, khi vua Giê-rô-bô-am nghe lời của người của Đức Chúa Trời, người đã kêu lên chống lại bàn thờ tại Bê-tên, thì vua giơ tay ra từ nơi bàn thờ mà nói: “Bắt lấy hắn.” Nhưng tay vua, tay đã giơ ra nghịch cùng người ấy, liền khô lại, đến nỗi vua không rút nó về mình được nữa. Bàn thờ cũng bị nứt ra, và tro đổ ra từ bàn thờ, y theo dấu hiệu mà người của Đức Chúa Trời đã báo trước theo lời Đức Giê-hô-va. 1 Các Vua 13:4, 5.
The sign was immediately fulfilled, and Jeroboam’s hand was paralyzed.
Dấu hiệu lập tức được ứng nghiệm, và tay của Jeroboam bị liệt.
And the king answered and said unto the man of God, Intreat now the face of the Lord thy God, and pray for me, that my hand may be restored me again. And the man of God besought the Lord, and the king’s hand was restored him again, and became as it was before. And the king said unto the man of God, Come home with me, and refresh thyself, and I will give thee a reward. And the man of God said unto the king, If thou wilt give me half thine house, I will not go in with thee, neither will I eat bread nor drink water in this place: For so was it charged me by the word of the Lord, saying, Eat no bread, nor drink water, nor turn again by the same way that thou camest. So he went another way, and returned not by the way that he came to Bethel. 1 Kings 13:6–10.
Vua đáp và nói với người của Đức Chúa Trời: Bây giờ hãy khẩn cầu Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của ngươi, và cầu nguyện cho ta, để tay ta được phục hồi lại. Người của Đức Chúa Trời cầu xin Đức Giê-hô-va, và tay của vua được phục hồi, trở lại như trước. Rồi vua nói với người của Đức Chúa Trời: Hãy về nhà với ta, nghỉ ngơi cho lại sức, ta sẽ ban cho ngươi phần thưởng. Nhưng người của Đức Chúa Trời nói với vua: Dù vua có cho tôi nửa nhà của vua, tôi cũng không vào với vua; tôi sẽ không ăn bánh hay uống nước tại nơi này. Vì lời của Đức Giê-hô-va đã truyền cho tôi rằng: Đừng ăn bánh, cũng đừng uống nước, và đừng trở lại theo con đường mà ngươi đã đến. Thế là người đi đường khác, không trở về theo con đường mình đã đến Bethel. 1 Các Vua 13:6-10.
Jesus always illustrates the end of a thing with the beginning of a thing, and the beginning of the northern and southern kingdoms of literal ancient Israel end in the history where the two sticks are joined into one stick, representing the nation of spiritual modern Israel.
Chúa Giê-su luôn dùng phần khởi đầu của một sự việc để minh họa phần kết thúc của nó, và sự khởi đầu của các vương quốc miền bắc và miền nam của Israel cổ đại theo nghĩa đen kết thúc trong giai đoạn lịch sử khi hai cây gậy được hiệp lại thành một cây, tượng trưng cho quốc gia Israel thuộc linh hiện đại.
In the history where the two sticks were joined a three-step testing process was initiated at the time of the end in 1798. Both sticks (kingdoms) were being gathered in advance of the outpouring of the Holy Spirit in the Midnight Cry. At the first disappointment in the spring of 1844, the Protestants failed the testing process and became the daughters of Catholicism, thus repeating the inauguration of a counterfeit system of worship, as had been typified by Jeroboam.
Trong lịch sử khi hai cây gậy được hiệp lại làm một, một quá trình thử nghiệm ba bước đã được khởi xướng vào thời kỳ cuối cùng, năm 1798. Cả hai cây gậy (các vương quốc) đang được nhóm lại để chuẩn bị cho sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh trong Tiếng Kêu Nửa Đêm. Trong lần thất vọng đầu tiên vào mùa xuân năm 1844, những người Tin Lành đã thất bại trong quá trình thử nghiệm ấy và trở thành những “con gái” của Công giáo, qua đó lặp lại việc khởi xướng một hệ thống thờ phượng giả mạo, như đã được tiêu biểu bởi Giê-rô-bô-am.
The Protestant Reformation was a work which God accomplished in order to bring the church in the wilderness out of the superstitions, traditions and customs of the Roman church. From the time of Martin Luther more and more truths were revealed identifying the whore of Tyre as nothing more than a pagan system of worship covered with a false profession of Christianity. It was the Lord’s purpose to bring his captive people out of darkness, as He had done when His people were slaves in Egypt. He delivered them from the bondage of Egypt to give them His law. The Protestant’s refusal to follow after the increasing light of the knowledge that was unsealed in 1798, prevented them from recognizing the law and the true sanctuary work of Christ in 1844.
Cuộc Cải chánh Tin Lành là một công việc mà Đức Chúa Trời đã thực hiện để đưa Hội thánh trong đồng vắng ra khỏi những mê tín dị đoan, truyền thống và tập tục của Giáo hội La Mã. Từ thời Martin Luther, ngày càng nhiều lẽ thật được bày tỏ, xác định rằng dâm phụ Ty-rơ chẳng qua chỉ là một hệ thống thờ phượng ngoại giáo được che phủ bằng một sự xưng nhận Cơ Đốc giáo giả dối. Mục đích của Chúa là đưa dân Ngài đang bị giam cầm ra khỏi bóng tối, như Ngài đã làm khi dân Ngài làm nô lệ tại Ai Cập. Ngài giải cứu họ khỏi ách nô lệ Ai Cập để ban cho họ luật pháp của Ngài. Sự từ chối của người Tin Lành không chịu đi theo ánh sáng ngày càng gia tăng của sự hiểu biết đã được mở ấn vào năm 1798 đã khiến họ không nhận ra luật pháp và công tác đền thánh thật của Đấng Christ vào năm 1844.
Their rejection of the judgment-hour message represented their becoming daughters of the Roman church, and they then raised up a false system of worship identified in the Scriptures as the false prophet (apostate Protestantism). The faithful Millerites that entered into the sanctuary by faith on October 22, 1844, received the light of the third angel and presented a rebuke to the false system of worship that professes to be Protestant, while holding to the primary tradition of paganism, that being the worship of the sun. The prophet from Judah typified Millerite Adventism recognizing and presenting the message of the third angel that arrived on October 22, 1844.
Sự khước từ sứ điệp giờ phán xét của họ biểu thị việc họ trở thành những “con gái” của Giáo hội La Mã, và rồi họ đã dựng lên một hệ thống thờ phượng giả dối, được Kinh Thánh nhận diện là “tiên tri giả” (Tin Lành bội đạo). Những người Millerite trung tín, đã bởi đức tin bước vào đền thánh vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, đã tiếp nhận ánh sáng của thiên sứ thứ ba và đưa ra lời quở trách đối với hệ thống thờ phượng giả dối vốn tự xưng là Tin Lành nhưng vẫn bám giữ truyền thống cốt lõi của ngoại giáo, tức là thờ phượng mặt trời. Vị tiên tri từ Giu-đa là hình bóng cho Phong trào Phục Lâm Millerite, vốn nhận biết và rao truyền sứ điệp của thiên sứ thứ ba đã đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.
When confronted by Jeroboam’s request for the prophet to come to his home and refresh himself, the prophet expressed his specific directions that had been given to him by the Lord. That command was also given to Millerite Adventism. The command was to not return the way they had come, and Millerite Adventism had come out of the Protestant denominations. They had been separated from the Protestants at the first disappointment in the spring of 1844, and Jeremiah provides an example of the identical directions that had been given to the Judean prophet.
Khi đối mặt với lời đề nghị của Giê-rô-bô-am mời vị tiên tri về nhà ông để nghỉ ngơi cho lại sức, vị tiên tri đã nói rõ những chỉ thị cụ thể mà Chúa đã truyền cho mình. Mệnh lệnh ấy cũng đã được ban cho phong trào Cơ Đốc Phục Lâm Millerite. Đó là không được trở về theo con đường mà họ đã đi, và phong trào Cơ Đốc Phục Lâm Millerite đã tách ra khỏi các hệ phái Tin Lành. Họ đã tách khỏi người Tin Lành trong lần thất vọng thứ nhất vào mùa xuân năm 1844, và Giê-rê-mi nêu một ví dụ về những chỉ thị giống hệt đã được ban cho vị tiên tri người Giu-đa.
Thy words were found, and I did eat them; and thy word was unto me the joy and rejoicing of mine heart: for I am called by thy name, O Lord God of hosts. I sat not in the assembly of the mockers, nor rejoiced; I sat alone because of thy hand: for thou hast filled me with indignation. Why is my pain perpetual, and my wound incurable, which refuseth to be healed? wilt thou be altogether unto me as a liar, and as waters that fail? Therefore thus saith the Lord, If thou return, then will I bring thee again, and thou shalt stand before me: and if thou take forth the precious from the vile, thou shalt be as my mouth: let them return unto thee; but return not thou unto them. And I will make thee unto this people a fenced brasen wall: and they shall fight against thee, but they shall not prevail against thee: for I am with thee to save thee and to deliver thee, saith the Lord. And I will deliver thee out of the hand of the wicked, and I will redeem thee out of the hand of the terrible. Jeremiah 15:16–21.
Con đã tìm được lời của Ngài, và con đã ăn chúng; và lời của Ngài đã trở nên niềm vui và sự hớn hở của lòng con, vì con được gọi theo danh Ngài, lạy Chúa, Đức Chúa Trời các đạo binh. Con không ngồi trong hội của những kẻ nhạo báng, cũng chẳng vui mừng; con ngồi một mình vì tay Ngài ở trên con, vì Ngài đã làm lòng con đầy sự phẫn nộ. Sao nỗi đau của con cứ mãi, và vết thương của con bất trị, không chịu lành? Há Ngài sẽ trở nên đối với con như kẻ nói dối và như một dòng nước cạn? Vì vậy Chúa phán: Nếu ngươi trở lại, thì ta sẽ đem ngươi trở về, và ngươi sẽ đứng trước mặt ta; nếu ngươi tách điều quý khỏi điều đáng khinh, ngươi sẽ như miệng của ta; hãy để họ trở lại với ngươi, nhưng ngươi chớ trở lại với họ. Ta sẽ làm cho ngươi trước dân này như một bức tường đồng kiên cố; họ sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không thắng nổi ngươi, vì ta ở với ngươi để cứu và giải cứu ngươi, Chúa phán. Ta sẽ giải cứu ngươi khỏi tay kẻ ác, và chuộc ngươi khỏi tay kẻ hung bạo. Giê-rê-mi 15:16-21.
At the fulfillment of the time prophecy of the second Woe, on August 11, 1840, the mighty angel of Revelation ten descended with a little book open in his hand, and John was told to go and take the book and eat it. Jeremiah represents those that ate the little book at that point in history, and the words were sweet as honey, for they were “the joy and rejoicing of” his “heart.” But because of God’s “hand,” Jeremiah was “filled” “with indignation,” he was “wounded” and in “perpetual pain.” Because of God’s “hand” Jeremiah suggested that God had been “unto” Jeremiah “as a liar,” and as “failed waters.” The Lord had held his “hand” over a mistake in some of the figures of the 1843 chart.
Khi lời tiên tri về thời kỳ của khốn nạn thứ hai được ứng nghiệm, vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, thiên sứ quyền năng trong Khải Huyền đoạn mười giáng xuống, tay cầm một quyển sách nhỏ mở ra; và có lời truyền cho Giăng đến lấy quyển sách ấy mà ăn. Giê-rê-mi đại diện cho những người đã ăn quyển sách nhỏ vào thời điểm đó trong lịch sử, và những lời ấy ngọt như mật, vì chúng là “sự vui mừng và hoan lạc” của “lòng” ông. Nhưng vì “tay” của Đức Chúa Trời, Giê-rê-mi đã “đầy” “phẫn nộ,” ông bị “thương tích” và ở trong “cơn đau triền miên.” Vì “tay” của Đức Chúa Trời, Giê-rê-mi đã cho rằng Đức Chúa Trời đã “đối với” ông “như một kẻ nói dối,” và như “dòng nước thất thường.” Chúa đã đặt “tay” Ngài che phủ một sai sót trong một vài con số của biểu đồ năm 1843.
Jeremiah represents the first disappointment of the Millerites, when the vision of Habakkuk tarried. It appeared to those represented by Jeremiah that the message, which is represented as “rain,” had failed. But Habakkuk had stated “the vision is yet for an appointed time, but at the end it shall speak, and not lie: though it tarry, wait for it; because it will surely come, it will not tarry.” Jeremiah had thought God lied, and that the message (rain) had failed, but it had only tarried.
Jeremiah đại diện cho sự thất vọng đầu tiên của những người Millerite, khi khải tượng của Habakkuk chậm trễ. Với những người được Jeremiah đại diện, dường như sứ điệp, được ví như "mưa", đã thất bại. Nhưng Habakkuk đã nói: "khải tượng còn dành cho một kỳ đã định, nhưng đến cuối cùng nó sẽ nói và không nói dối: dẫu nó chậm trễ, hãy chờ đợi nó; vì chắc chắn nó sẽ đến, nó sẽ không chậm trễ." Jeremiah đã nghĩ Đức Chúa Trời nói dối và rằng sứ điệp (mưa) đã thất bại, nhưng thực ra nó chỉ chậm trễ.
Then God instructed Jeremiah that “if thou return, then will I bring thee again, and thou shalt stand before me: and if thou take forth the precious from the vile, thou shalt be as my mouth: let them return unto thee; but return not thou unto them.” After the disappointment Jeremiah, representing God’s people who must return to the service of the Lord and shake off the discouragement that had been produced when it appeared the message had failed. If Jeremiah would meet the designated requirements, God would allow him to be His spokesman.
Bấy giờ Đức Chúa Trời phán dặn Giê-rê-mi rằng: “Nếu ngươi trở lại, thì Ta sẽ lại đem ngươi về, và ngươi sẽ đứng trước mặt Ta; và nếu ngươi rút điều quý ra khỏi điều hèn mọn, ngươi sẽ như miệng của Ta; hãy để họ trở lại với ngươi; nhưng ngươi chớ trở lại với họ.” Sau nỗi thất vọng, Giê-rê-mi, đại diện cho dân của Đức Chúa Trời, những người phải trở lại hầu việc Chúa và gạt bỏ nỗi nản lòng đã nảy sinh khi dường như sứ điệp đã thất bại. Nếu Giê-rê-mi đáp ứng các điều kiện đã định, Đức Chúa Trời sẽ cho phép ông làm người phát ngôn của Ngài.
More importantly for our study at this time is what God told Jeremiah concerning the “assembly of mockers” who were “rejoicing” over his disappointment. He told Jeremiah that the mockers could return to Jeremiah, but he was never to return to them. Jeremiah represented those who stood against the Protestants who had just chosen to return to the fold of Catholicism and became the daughters of Babylon, the false prophets of Baal and Ashtaroth. Jeremiah represented the Judean prophet who at the same point in the prophetic line had rebuked Jeroboam’s false system of worship at the beginning of the northern kingdom, thus typifying the introduction of a false system of worship that was an image of Catholicism at the end of the history of the northern kingdom. The prophet told Jeroboam, when Jeroboam offered to form an alliance, that he was not to eat, drink or return the way he came.
Điều quan trọng hơn cho nghiên cứu của chúng ta lúc này là điều Đức Chúa Trời đã nói với Jeremiah liên quan đến “hội chúng của những kẻ chế nhạo” đang “vui mừng” trước sự thất vọng của ông. Ngài nói với Jeremiah rằng những kẻ chế nhạo có thể trở lại với Jeremiah, nhưng ông thì không bao giờ được trở lại với họ. Jeremiah đại diện cho những người đứng chống lại những người Kháng Cách vừa chọn quay về đàn chiên của Công giáo và trở thành các con gái của Babylon, các tiên tri giả của Baal và Ashtaroth. Jeremiah đại diện cho vị tiên tri người Giu-đa, người ở cùng điểm trong dòng lịch sử tiên tri đã quở trách hệ thống thờ phượng giả dối của Jeroboam vào buổi khởi đầu của vương quốc phương bắc; qua đó tiêu biểu cho việc đưa vào một hệ thống thờ phượng giả, là hình ảnh của Công giáo vào cuối lịch sử của vương quốc phương bắc. Vị tiên tri nói với Jeroboam, khi Jeroboam đề nghị lập liên minh, rằng ông không được ăn, uống hoặc quay lại theo con đường mình đã đi.
And the king said unto the man of God, Come home with me, and refresh thyself, and I will give thee a reward. And the man of God said unto the king, If thou wilt give me half thine house, I will not go in with thee, neither will I eat bread nor drink water in this place: For so was it charged me by the word of the Lord, saying, Eat no bread, nor drink water, nor turn again by the same way that thou camest. 1 Kings 13:7–9.
Vua nói với người của Đức Chúa Trời: Hãy về nhà với ta và dùng bữa cho lại sức; ta sẽ ban cho ngươi một phần thưởng. Nhưng người của Đức Chúa Trời thưa với vua: Dầu vua có cho tôi nửa nhà của vua, tôi cũng không vào nhà với vua; tôi sẽ không ăn bánh, cũng không uống nước tại chốn này. Vì lời của Chúa đã truyền dặn tôi rằng: Chớ ăn bánh, chớ uống nước, và chớ trở lại theo con đường ngươi đã đến. 1 Các Vua 13:7-9.
The expression of the Judean prophet aligns with the work of the false prophets of Baal and Ashtaroth in the story of Elijah. Of course, the history of the Millerites is also the history of Elijah, for Miller was Elijah. In the story of Elijah, the prophets of Baal and Ashtaroth performed a dance of deception, which was exposed as foolishness when fire came down from God and consumed Elijah’s offering, thus typifying the outpouring of the Holy Spirit in the Midnight Cry of Millerite history. The confrontation of that history represented the confrontation of the second Elijah, which was John the Baptist during the dance of deception performed by the daughter of Herodias (Salome). Herodias was typified by Jezebel, and Jezebel is a symbol of the Catholic church.
Sự bày tỏ của nhà tiên tri người Giu-đa tương đồng với công việc của các tiên tri giả của Baal và Ashtaroth trong câu chuyện về Elijah. Dĩ nhiên, lịch sử của những người Millerite cũng là lịch sử của Elijah, vì Miller chính là Elijah. Trong câu chuyện về Elijah, các tiên tri của Baal và Ashtaroth đã diễn một điệu múa lừa dối; điều ấy bị phơi bày là ngu dại khi lửa từ Đức Chúa Trời giáng xuống và thiêu rụi lễ vật của Elijah, qua đó tiêu biểu cho sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh trong Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm của lịch sử Millerite. Cuộc đối đầu trong lịch sử ấy tượng trưng cho cuộc đối đầu của Elijah thứ hai, tức là John the Baptist, trong lúc điệu múa lừa dối do con gái của Herodias (Salome) thực hiện. Herodias được biểu trưng bởi Jezebel, và Jezebel là biểu tượng của Giáo hội Công giáo.
In 1844, the Protestant churches became Salome, the daughter of Herodias (Jezebel). In the dance of deception Herod had promised half his kingdom, and he did so on his birthday, thus typifying the last days when the ten kings, who are typified by Ahab (the king of the ten northern kingdoms), agree to give their kingdom to the papacy (Jezebel). Giving “half your kingdom” is a symbol of a confederacy, and the prophet from Judea was clearly informing Jeroboam that he would never form an alliance with the apostate king or support his counterfeit system of worship.
Năm 1844, các hội thánh Tin Lành trở thành Salome, con gái của Herodias (Jezebel). Trong điệu nhảy lừa dối, Herod đã hứa ban nửa vương quốc của mình, và ông đã nói điều đó vào ngày sinh nhật của mình, qua đó tượng trưng cho những ngày sau rốt khi mười vua, được Ahab (vị vua của mười vương quốc miền bắc) tiêu biểu, đồng ý trao vương quốc của họ cho chế độ giáo hoàng (Jezebel). Việc “ban nửa vương quốc của ngươi” là biểu tượng của một liên minh, và nhà tiên tri từ Judea đã rõ ràng cho Jeroboam biết rằng bản thân ông sẽ không bao giờ kết liên với vị vua bội đạo hay ủng hộ hệ thống thờ phượng giả mạo của ông ta.
That is what the Lord also told Jeremiah, when He said the “assembly of mockers” (apostate Protestantism) can return to Jeremiah, but Jeremiah must never return to them, or return by the way he came. But the Judean prophet did that very thing, for he was deceived by a false and lying prophet before he returned to Judea—before he finished the work he had been given.
Đó cũng là điều Chúa đã phán với Giê-rê-mi, khi Ngài nói rằng “hội của những kẻ nhạo báng” (Tin Lành bội đạo) có thể trở lại cùng Giê-rê-mi, nhưng Giê-rê-mi tuyệt đối không được trở lại với họ, cũng không được quay về theo con đường ông đã đến. Nhưng vị tiên tri xứ Giu-đa đã làm chính điều ấy, vì ông đã bị một tiên tri giả và dối trá lừa gạt trước khi ông trở về Giu-đa—trước khi ông hoàn tất công việc đã được giao.
Now there dwelt an old prophet in Bethel; and his sons came and told him all the works that the man of God had done that day in Bethel: the words which he had spoken unto the king, them they told also to their father. And their father said unto them, What way went he? For his sons had seen what way the man of God went, which came from Judah. And he said unto his sons, Saddle me the ass. So they saddled him the ass: and he rode thereon, And went after the man of God, and found him sitting under an oak: and he said unto him, Art thou the man of God that camest from Judah? And he said, I am. Then he said unto him, Come home with me, and eat bread. And he said, I may not return with thee, nor go in with thee: neither will I eat bread nor drink water with thee in this place: For it was said to me by the word of the Lord, Thou shalt eat no bread nor drink water there, nor turn again to go by the way that thou camest. He said unto him, I am a prophet also as thou art; and an angel spake unto me by the word of the Lord, saying, Bring him back with thee into thine house, that he may eat bread and drink water. But he lied unto him. So he went back with him, and did eat bread in his house, and drank water. And it came to pass, as they sat at the table, that the word of the Lord came unto the prophet that brought him back: And he cried unto the man of God that came from Judah, saying, Thus saith the Lord, Forasmuch as thou hast disobeyed the mouth of the Lord, and hast not kept the commandment which the Lord thy God commanded thee, But camest back, and hast eaten bread and drunk water in the place, of the which the Lord did say to thee, Eat no bread, and drink no water; thy carcase shall not come unto the sepulchre of thy fathers.
Bấy giờ có một vị tiên tri già sống tại Bê-tên; các con ông đến kể cho ông mọi việc người của Đức Chúa Trời đã làm trong ngày ấy tại Bê-tên; cả những lời người đã nói với vua, họ cũng thuật lại cho cha mình. Cha họ hỏi: Người đã đi lối nào? Vì các con ông đã thấy con đường mà người của Đức Chúa Trời, người đến từ Giu-đa, đã đi. Ông nói với các con: Hãy thắng yên con lừa cho ta. Vậy họ thắng yên con lừa cho ông, và ông cưỡi lên, đi theo người của Đức Chúa Trời, và gặp người đang ngồi dưới một cây sồi. Ông hỏi: Có phải ông là người của Đức Chúa Trời đến từ Giu-đa chăng? Người đáp: Phải, tôi đây. Ông nói với người: Xin mời ông về nhà tôi dùng bữa. Người đáp: Tôi không thể trở về với ông, cũng không thể vào nhà cùng ông; tôi sẽ không ăn bánh hay uống nước với ông tại nơi này, vì lời CHÚA phán với tôi rằng: Ngươi chớ ăn bánh, chớ uống nước tại đó, và cũng đừng quay về theo con đường ngươi đã đến. Ông nói với người: Ta cũng là một tiên tri như ông; và một thiên sứ, theo lời CHÚA, đã phán với ta rằng: Hãy đem ông ấy trở về nhà với ngươi để ông ấy ăn bánh và uống nước. Nhưng ông đã nói dối người. Thế là người trở lại với ông, vào nhà ông ăn bánh và uống nước. Khi họ đang ngồi tại bàn, lời CHÚA đến với vị tiên tri đã đem người trở lại, và ông kêu lên với người của Đức Chúa Trời, kẻ đến từ Giu-đa, rằng: CHÚA phán như vầy: Vì ngươi đã không vâng theo lời phán của CHÚA, và đã không giữ điều răn mà CHÚA, Đức Chúa Trời của ngươi, đã truyền cho ngươi, nhưng ngươi đã trở lại, ăn bánh và uống nước tại nơi mà CHÚA đã phán với ngươi rằng: Chớ ăn bánh, chớ uống nước; thì thi thể ngươi sẽ không được đưa về mộ phần của tổ phụ ngươi.
And it came to pass, after he had eaten bread, and after he had drunk, that he saddled for him the ass, to wit, for the prophet whom he had brought back. And when he was gone, a lion met him by the way, and slew him: and his carcase was cast in the way, and the ass stood by it, the lion also stood by the carcase. And, behold, men passed by, and saw the carcase cast in the way, and the lion standing by the carcase: and they came and told it in the city where the old prophet dwelt. And when the prophet that brought him back from the way heard thereof, he said, It is the man of God, who was disobedient unto the word of the Lord: therefore the Lord hath delivered him unto the lion, which hath torn him, and slain him, according to the word of the Lord, which he spake unto him. And he spake to his sons, saying, Saddle me the ass. And they saddled him. And he went and found his carcase cast in the way, and the ass and the lion standing by the carcase: the lion had not eaten the carcase, nor torn the ass. And the prophet took up the carcase of the man of God, and laid it upon the ass, and brought it back: and the old prophet came to the city, to mourn and to bury him. And he laid his carcase in his own grave; and they mourned over him, saying, Alas, my brother! And it came to pass, after he had buried him, that he spake to his sons, saying, When I am dead, then bury me in the sepulchre wherein the man of God is buried; lay my bones beside his bones: For the saying which he cried by the word of the Lord against the altar in Bethel, and against all the houses of the high places which are in the cities of Samaria, shall surely come to pass. 1 Kings 13:11–32.
Và xảy ra, sau khi ông đã ăn bánh và uống rồi, ông thắng yên con lừa cho ông ấy, tức là cho vị tiên tri mà ông đã đưa trở về. Khi người ấy đi rồi, có một con sư tử gặp ông trên đường và giết ông; thi thể ông bị bỏ nằm trên đường, con lừa đứng bên cạnh đó, và sư tử cũng đứng bên thi thể. Kìa, có người đi ngang qua, thấy thi thể nằm trên đường và sư tử đứng bên thi thể; họ đến và thuật lại trong thành nơi vị tiên tri già cư ngụ. Khi vị tiên tri đã đưa ông trở về nghe điều đó, ông nói: Ấy là người của Đức Chúa Trời, người đã không vâng theo lời Đức Chúa Trời; vì vậy Đức Chúa Trời đã phó ông vào tay sư tử, nó đã xé và giết ông, y như lời Đức Chúa Trời đã phán với ông. Rồi ông bảo các con rằng: Hãy thắng yên con lừa cho ta. Họ bèn thắng yên con lừa cho ông. Ông đi và tìm thấy thi thể của người ấy nằm trên đường, còn con lừa và con sư tử thì đứng bên thi thể; sư tử không ăn thi thể, cũng không xé con lừa. Vị tiên tri nhấc thi thể của người của Đức Chúa Trời, đặt lên lưng lừa và đem trở về; vị tiên tri già vào thành để than khóc và chôn cất ông. Ông đặt thi thể trong mộ của chính mình; họ than khóc ông mà nói: Than ôi, anh em ta! Sau khi chôn cất ông, ông dặn các con rằng: Khi ta chết, hãy chôn ta trong mộ nơi người của Đức Chúa Trời đã được chôn; đặt xương ta bên cạnh xương của người. Vì lời ông đã kêu bởi lời Đức Chúa Trời nghịch lại bàn thờ ở Bê-tên, và nghịch lại mọi đền miếu của các nơi cao trong các thành xứ Sa-ma-ri, chắc chắn sẽ ứng nghiệm. 1 Các Vua 13:11-32.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“When the power of God testifies as to what is truth, that truth is to stand forever as the truth. No after suppositions contrary to the light God has given are to be entertained. Men will arise with interpretations of Scripture which are to them truth, but which are not truth. The truth for this time God has given us as a foundation for our faith. He Himself has taught us what is truth. One will arise, and still another, with new light, which contradicts the light that God has given under the demonstration of His Holy Spirit. A few are still alive who passed through the experience gained in the establishment of this truth. God has graciously spared their lives to repeat, and repeat till the close of their lives, the experience through which they passed even as did John the apostle till the very close of his life. And the standard bearers who have fallen in death are to speak through the reprinting of their writings. I am instructed that thus their voices are to be heard. They are to bear their testimony as to what constitutes the truth for this time.
Khi quyền năng của Đức Chúa Trời làm chứng điều nào là lẽ thật, thì lẽ thật ấy phải đứng vững đời đời như lẽ thật. Không được chấp nhận những giả định về sau trái ngược với ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban. Sẽ có người trỗi dậy với những cách giải nghĩa Kinh Thánh mà đối với họ là lẽ thật, nhưng không phải là lẽ thật. Lẽ thật cho thời này Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta như nền tảng cho đức tin của chúng ta. Chính Ngài đã dạy chúng ta điều gì là lẽ thật. Sẽ có người này rồi người khác nổi lên với “ánh sáng mới” mâu thuẫn với ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban qua sự bày tỏ của Đức Thánh Linh Ngài. Vẫn còn một số ít người còn sống đã trải qua kinh nghiệm thu được trong việc thiết lập lẽ thật này. Đức Chúa Trời đã nhân từ gìn giữ mạng sống họ để họ lặp lại, và cứ lặp lại cho đến cuối đời, những kinh nghiệm mà họ đã trải qua, như sứ đồ Giăng cho đến tận cuối đời của ông. Và những người cầm cờ đã ngã xuống trong sự chết sẽ lên tiếng qua việc tái bản các trước tác của họ. Tôi được chỉ dạy rằng như thế tiếng nói của họ sẽ được nghe. Họ sẽ làm chứng về điều gì cấu thành lẽ thật cho thời này.
“We are not to receive the words of those who come with a message that contradicts the special points of our faith. They gather together a mass of Scripture, and pile it as proof around their asserted theories. This has been done over and over again during the past fifty years. And while the Scriptures are God’s word, and are to be respected, the application of them, if such application moves one pillar from the foundation that God has sustained these fifty years, is a great mistake. He who makes such an application knows not the wonderful demonstration of the Holy Spirit that gave power and force to the past messages that have come to the people of God.
Chúng ta không được tiếp nhận lời của những người mang đến một sứ điệp trái ngược với những điểm đặc biệt của đức tin chúng ta. Họ gom góp một lượng lớn các đoạn Kinh Thánh và chồng chất chúng làm bằng chứng quanh những lý thuyết mà họ khẳng định. Điều này đã lặp đi lặp lại suốt năm mươi năm qua. Và dẫu Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời và đáng được tôn trọng, thì cách áp dụng Kinh Thánh, nếu cách áp dụng ấy làm xê dịch dù chỉ một trụ cột khỏi nền tảng mà Đức Chúa Trời đã duy trì suốt năm mươi năm nay, là một sai lầm lớn. Người làm như vậy không biết đến sự bày tỏ kỳ diệu của Đức Thánh Linh, Đấng đã ban quyền năng và sức mạnh cho những sứ điệp trước đây đã đến với dân sự của Đức Chúa Trời.
“Elder G’s proofs are not reliable. If received, they would destroy the faith of God’s people in the truth that has made us what we are.
Những bằng chứng của Trưởng lão G không đáng tin cậy. Nếu được chấp nhận, chúng sẽ phá hủy đức tin của dân sự Đức Chúa Trời vào lẽ thật đã khiến chúng ta trở nên như ngày nay.
“We must be decided on this subject; for the points that he is trying to prove by Scripture, are not sound. They do not prove that the past experience of God’s people was a fallacy. We had the truth; we were directed by the angels of God. It was under the guidance of the Holy Spirit that the presentation of the sanctuary question was given. It is eloquence for everyone to keep silent in regard to the features of our faith in which they acted no part. God never contradicts Himself. Scripture proofs are misapplied if forced to testify to that which is not true. Another and still another will arise and bring in supposedly great light, and make their assertions. But we stand by the old landmarks. [1 John 1:1–10 quoted.]
Chúng ta phải dứt khoát về vấn đề này; vì những điểm mà ông ta đang cố gắng chứng minh bằng Kinh Thánh là không vững chắc. Chúng không chứng minh rằng kinh nghiệm trong quá khứ của dân Đức Chúa Trời là sai lầm. Chúng ta đã có lẽ thật; chúng ta đã được các thiên sứ của Đức Chúa Trời hướng dẫn. Chính dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh mà việc trình bày về vấn đề đền thánh đã được thực hiện. Sự im lặng chính là lời hùng biện của mỗi người khi nói đến những đặc điểm của đức tin chúng ta mà họ không hề có phần. Đức Chúa Trời chẳng bao giờ tự mâu thuẫn. Những bằng chứng Kinh Thánh bị áp dụng sai nếu bị ép làm chứng cho điều không đúng sự thật. Hết người này đến người khác sẽ xuất hiện, đem đến cái gọi là ánh sáng lớn lao, và đưa ra những lời quả quyết của họ. Nhưng chúng ta giữ vững các cột mốc xưa. [1 Giăng 1:1-10 được trích dẫn.]
“I am instructed to say that these words we may use as appropriate for this time, for the time has come when sin must be called by its right name. We are hindered in our work by men who are not converted, who seek their own glory. They wish to be thought originators of new theories, which they present claiming that they are truth. But if these theories are received, they will lead to a denial of the truth that for the past fifty years God has been giving to His people, substantiating it by the demonstration of the Holy Spirit.” Selected Messages, book 1, 161.
"Tôi được chỉ dạy để nói rằng những lời này chúng ta có thể dùng một cách phù hợp cho thời điểm này, vì đã đến lúc tội lỗi phải được gọi đúng tên của nó. Công việc của chúng ta bị cản trở bởi những người chưa hoán cải, những người tìm kiếm vinh quang cho riêng mình. Họ mong được xem là những người khởi xướng các lý thuyết mới, những lý thuyết họ trình bày và khẳng định là chân lý. Nhưng nếu những lý thuyết này được chấp nhận, chúng sẽ dẫn đến việc chối bỏ lẽ thật mà suốt năm mươi năm qua Đức Chúa Trời đã ban cho dân Ngài, và Ngài đã xác chứng lẽ thật ấy bằng sự minh chứng của Đức Thánh Linh." Các Sứ Điệp Chọn Lọc, quyển 1, 161.