The history of the Amorites is employed to illustrate the time when God’s wrath is executed against Laodicean Adventism. Sister White identifies that God’s timing for executing His punishment is the same in the last days when the one hundred and forty-four thousand are sealed, as it was when God brought his wrath upon the Amorites. She states, “Although” the nation of the Amorites “was conspicuous because of its idolatry and corruption, it had not yet filled up the cup of its iniquity . . . The compassionate Creator was willing to bear with their iniquity until the fourth generation. Then, if no change was seen for the better, His judgments were to fall upon them. With unerring accuracy the Infinite One still keeps an account with all nations. While His mercy is tendered with calls to repentance, this account will remain open; but when the figures reach a certain amount which God has fixed, the ministry of His wrath commences. The account is closed. Divine patience ceases.”
Lịch sử của dân Amôrít được dùng để minh họa thời điểm khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên Cơ Đốc Phục Lâm theo kiểu Lao-đi-xê. Bà White xác định rằng thời điểm Đức Chúa Trời thi hành hình phạt của Ngài là như nhau trong những ngày sau rốt, khi một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đóng ấn, cũng như khi Ngài giáng cơn thịnh nộ trên dân Amôrít. Bà nói: "Mặc dù dân tộc Amôrít nổi bật vì sự thờ thần tượng và bại hoại của họ, họ vẫn chưa làm đầy chén gian ác của mình... Đấng Tạo Hóa đầy lòng thương xót đã bằng lòng chịu đựng tội ác của họ cho đến đời thứ tư. Rồi, nếu không thấy có sự thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp, các sự phán xét của Ngài sẽ giáng trên họ. Với sự chính xác không sai trật, Đấng Vô Cùng vẫn ghi sổ với mọi dân tộc. Khi lòng thương xót của Ngài còn được ban ra kèm theo những lời kêu gọi ăn năn, sổ ấy vẫn còn mở; nhưng khi các con số đạt đến một mức nhất định mà Đức Chúa Trời đã ấn định, việc thi hành cơn thịnh nộ của Ngài bắt đầu. Sổ được khép lại. Sự nhẫn nại của Đức Chúa Trời chấm dứt."
Sister White clearly associates the ministry of God’s wrath against Laodicean Adventism during Ezekiel’s illustration of the sealing of the one hundred and forty-four thousand, as commencing when their cup of iniquity is filled, and the cup reaches its fulness in the fourth generation. All of this information is set forth in the context of the vision that began in chapter eight, which illustrates four escalating abominations.
Bà White rõ ràng cho rằng tác vụ thi hành cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối với Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, như Ê-xê-chi-ên minh họa qua việc đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn, bắt đầu khi chén tội ác của họ đầy; và chén ấy đạt đến mức đầy trọn ở thế hệ thứ tư. Tất cả những điều này được trình bày trong bối cảnh của khải tượng bắt đầu ở chương tám, khải tượng minh họa bốn sự gớm ghiếc tăng dần.
Then said he unto me, Son of man, lift up thine eyes now the way toward the north. So I lifted up mine eyes the way toward the north, and behold northward at the gate of the altar this image of jealousy in the entry. He said furthermore unto me, Son of man, seest thou what they do? even the great abominations that the house of Israel committeth here, that I should go far off from my sanctuary? but turn thee yet again, and thou shalt see greater abominations. And he brought me to the door of the court; and when I looked, behold a hole in the wall. Then said he unto me, Son of man, dig now in the wall: and when I had digged in the wall, behold a door. And he said unto me, Go in, and behold the wicked abominations that they do here. So I went in and saw; and behold every form of creeping things, and abominable beasts, and all the idols of the house of Israel, pourtrayed upon the wall round about. And there stood before them seventy men of the ancients of the house of Israel, and in the midst of them stood Jaazaniah the son of Shaphan, with every man his censer in his hand; and a thick cloud of incense went up. Then said he unto me, Son of man, hast thou seen what the ancients of the house of Israel do in the dark, every man in the chambers of his imagery? for they say, The Lord seeth us not; the Lord hath forsaken the earth. He said also unto me, Turn thee yet again, and thou shalt see greater abominations that they do. Then he brought me to the door of the gate of the Lord’s house which was toward the north; and, behold, there sat women weeping for Tammuz.
Bấy giờ Ngài phán với tôi: Hỡi con người, bây giờ hãy ngước mắt nhìn về hướng bắc. Tôi bèn ngước mắt nhìn về hướng bắc; kìa, ở phía bắc, tại cổng của bàn thờ, ngay lối vào, có hình tượng ghen tuông. Ngài lại phán với tôi: Hỡi con người, ngươi có thấy họ làm gì không? chính là những sự ghê tởm lớn lao mà nhà Y-sơ-ra-ên phạm tại đây, khiến ta phải rời xa nơi thánh của ta? Nhưng hãy quay lại nữa, ngươi sẽ còn thấy những sự ghê tởm lớn hơn. Rồi Ngài đưa tôi đến cửa của sân; tôi nhìn thì kìa có một lỗ hổng trong tường. Ngài phán với tôi: Hỡi con người, bây giờ hãy đào vào tường đi. Khi tôi đào vào tường, kìa có một cửa. Ngài bảo tôi: Hãy vào, và xem những sự ghê tởm gian ác mà họ làm ở đây. Vậy tôi vào và nhìn thấy; kìa mọi thứ loài bò sát, những thú vật gớm ghiếc, và hết thảy các thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên đều được vẽ trên tường chung quanh. Trước mặt chúng có bảy mươi người trong các trưởng lão của nhà Y-sơ-ra-ên đứng đó, và ở giữa họ có Jaazaniah con của Shaphan đứng, mỗi người cầm lư hương trong tay; và một đám mây hương dày đặc bốc lên. Ngài lại phán với tôi: Hỡi con người, ngươi có thấy các trưởng lão của nhà Y-sơ-ra-ên làm gì trong bóng tối, mỗi người trong các phòng tượng ảnh của mình không? Vì họ nói: Chúa chẳng thấy chúng ta; Chúa đã bỏ đất này. Ngài cũng phán với tôi: Hãy quay lại nữa, ngươi sẽ còn thấy những sự ghê tởm lớn hơn nữa mà họ làm. Rồi Ngài đưa tôi đến cửa của cổng nhà Chúa, là cổng quay về hướng bắc; và kìa, có những phụ nữ ngồi khóc Tammuz.
Then said he unto me, Hast thou seen this, O son of man? turn thee yet again, and thou shalt see greater abominations than these. And he brought me into the inner court of the Lord’s house, and, behold, at the door of the temple of the Lord, between the porch and the altar, were about five and twenty men, with their backs toward the temple of the Lord, and their faces toward the east; and they worshipped the sun toward the east. Then he said unto me, Hast thou seen this, O son of man? Is it a light thing to the house of Judah that they commit the abominations which they commit here? for they have filled the land with violence, and have returned to provoke me to anger: and, lo, they put the branch to their nose. Therefore will I also deal in fury: mine eye shall not spare, neither will I have pity: and though they cry in mine ears with a loud voice, yet will I not hear them. Ezekiel 8:5–18.
Đoạn, Người nói với tôi: Hỡi con người, ngươi đã thấy điều này chưa? Hãy quay lại nữa, rồi ngươi sẽ thấy những sự ghê tởm còn lớn hơn những điều này. Và Người đưa tôi vào sân trong của nhà Chúa; kìa, nơi cửa đền thờ của Chúa, giữa hiên và bàn thờ, có khoảng hai mươi lăm người, lưng quay về phía đền thờ của Chúa, mặt hướng về phía đông; và họ thờ lạy mặt trời hướng về phía đông. Rồi Người nói với tôi: Hỡi con người, ngươi đã thấy điều ấy chưa? Há đối với nhà Giu-đa, việc họ phạm những sự ghê tởm mà họ làm ở đây là chuyện nhẹ ư? Vì họ đã làm cho đất đầy dẫy bạo lực, và lại trở về chọc giận ta; kìa, họ đưa cành cây lên mũi mình. Bởi đó ta cũng sẽ xử trong cơn thịnh nộ: mắt ta sẽ không dung tha, cũng chẳng thương xót; dẫu họ kêu lớn tiếng trong tai ta, ta cũng sẽ không nghe họ. Ê-xê-chi-ên 8:5-18.
After Ezekiel was shown the first abomination of the setting up of the image of jealousy at the entry of the gate of the altar, he is informed that he will be shown even greater abominations than the image of jealousy. The second abomination is represented by the secret chambers, where the leadership, represented as the ancient men, are offering prayer, represented by incense, and proclaiming that the Lord has forsaken the earth and does not see them. But Ezekiel is informed that he will see even greater abominations than these.
Sau khi Ê-xê-chi-ên được cho thấy sự ghê tởm thứ nhất là việc dựng lên hình tượng ghen tuông tại lối vào cổng của bàn thờ, ông được cho biết rằng ông sẽ còn được cho thấy những sự ghê tởm còn lớn hơn cả hình tượng ghen tuông. Sự ghê tởm thứ hai được thể hiện qua những phòng kín, nơi giới lãnh đạo, được mô tả là các trưởng lão, đang dâng lời cầu nguyện, tượng trưng bằng hương, và tuyên bố rằng Chúa đã bỏ xứ này và không thấy họ. Nhưng Ê-xê-chi-ên được cho biết rằng ông sẽ còn thấy những điều ghê tởm còn lớn hơn cả những điều này.
The third abomination is represented by “women weeping for Tammuz,” but there is still a greater abomination than that, for the fourth abomination identifies a leadership of twenty-five men worshipping the sun, with the backs toward the temple.
Sự gớm ghiếc thứ ba được thể hiện qua “những phụ nữ khóc than cho Tammuz”, nhưng vẫn còn một sự gớm ghiếc lớn hơn thế, vì sự gớm ghiếc thứ tư cho thấy một nhóm lãnh đạo gồm hai mươi lăm người đàn ông thờ lạy mặt trời, quay lưng về phía đền thờ.
In the fourth abomination the pronouncement is made that “the ancient men,” “have filled the land with violence, and have returned to provoke me to anger: and, lo, they put the branch to their nose.” The “day of provocation” is the day when God’s ministry of wrath begins, as it did with ancient Israel when they rejected the message of Joshua and Caleb concerning the Promised Land. The rejection of the sealing message marks when the cup of iniquity is full for Jerusalem. Joshua and Caleb represent the little company, who are the faithful few that are sighing and crying for the abominations in the church and in the land.
Trong sự gớm ghiếc thứ tư, có lời tuyên bố rằng “các bô lão,” “đã làm cho xứ đầy bạo lực, và đã trở lại để chọc ta nổi giận; và, kìa, họ đặt cành lên mũi.” “Ngày khiêu khích” là ngày khi sự thi hành cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời bắt đầu, như đã xảy ra với Israel xưa khi họ khước từ sứ điệp của Joshua và Caleb liên quan đến Đất Hứa. Việc khước từ sứ điệp ấn chứng đánh dấu thời điểm chén tội ác của Jerusalem đầy tràn. Joshua và Caleb đại diện cho nhóm nhỏ, là những người trung tín ít ỏi đang thở than và khóc lóc vì những sự gớm ghiếc trong hội thánh và trong xứ.
Then Moses and Aaron fell on their faces before all the assembly of the congregation of the children of Israel. And Joshua the son of Nun, and Caleb the son of Jephunneh, which were of them that searched the land, rent their clothes: And they spake unto all the company of the children of Israel, saying, The land, which we passed through to search it, is an exceeding good land. If the Lord delight in us, then he will bring us into this land, and give it us; a land which floweth with milk and honey. Only rebel not ye against the Lord, neither fear ye the people of the land; for they are bread for us: their defence is departed from them, and the Lord is with us: fear them not. But all the congregation bade stone them with stones. And the glory of the Lord appeared in the tabernacle of the congregation before all the children of Israel. And the Lord said unto Moses, How long will this people provoke me? and how long will it be ere they believe me, for all the signs which I have showed among them? I will smite them with the pestilence, and disinherit them, and will make of thee a greater nation and mightier than they. Numbers 14:5–12.
Bấy giờ Môi-se và A-rôn sấp mặt xuống trước mặt cả hội chúng của con cái Y-sơ-ra-ên. Còn Giô-suê, con trai Nun, và Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, là hai người trong số những kẻ đã đi do thám xứ, thì xé áo mình; và họ nói với cả hội chúng của con cái Y-sơ-ra-ên rằng: Xứ mà chúng ta đã đi qua để do thám ấy thật là một xứ rất tốt. Nếu Đức Giê-hô-va vui lòng về chúng ta, thì Ngài sẽ đưa chúng ta vào xứ ấy và ban xứ ấy cho chúng ta, một xứ đượm sữa và mật. Chỉ xin chớ phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va, cũng đừng sợ dân của xứ; vì họ là bánh của chúng ta; sự che chở của họ đã lìa khỏi họ, còn Đức Giê-hô-va ở cùng chúng ta; chớ sợ họ. Nhưng cả hội chúng bèn nói phải ném đá họ. Bấy giờ vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra trong Đền tạm của hội chúng trước mặt hết thảy con cái Y-sơ-ra-ên. Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: Dân nầy sẽ khinh dể Ta cho đến chừng nào? Bao lâu nữa chúng mới tin Ta, mặc dầu mọi dấu lạ Ta đã làm giữa họ? Ta sẽ đánh chúng bằng ôn dịch, tước bỏ cơ nghiệp của chúng, và từ ngươi Ta sẽ lập một dân lớn hơn và mạnh hơn họ. Dân Số Ký 14:5-12.
The “provocation” that was brought about by the rebels in Numbers, and also in Ezekiel is based upon the rebel’s refusal to acknowledge the “signs” that have been manifested. The “signs” that were rejected in the time of Moses, were the “signs” that typified the manifestation of the power of God in the history of the Millerites. Ancient Israel provoked God by rejecting the “signs” of the manifestation of his power in their foundational history. In the sealing time of the one hundred and forty-four thousand, modern Israel also rejects (turns its back against) the very foundational history that was to be the “sign,” that would allow them to “recognize” the repetition of the history of the Midnight Cry which is repeated in the last days.
Sự "chọc giận" do những kẻ phản loạn gây ra trong sách Dân Số Ký, và cả trong Ê-xê-chi-ên, bắt nguồn từ sự từ chối của họ trong việc thừa nhận các "dấu hiệu" đã được bày tỏ. Những "dấu hiệu" bị khước từ vào thời Môi-se chính là những "dấu hiệu" tiêu biểu cho sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời trong lịch sử của những người Millerite. Y-sơ-ra-ên cổ đại đã chọc giận Đức Chúa Trời bằng cách khước từ các "dấu hiệu" về sự bày tỏ quyền năng của Ngài trong lịch sử nền tảng của họ. Trong thời kỳ ấn tín của một trăm bốn mươi bốn ngàn, Y-sơ-ra-ên hiện đại cũng khước từ (quay lưng lại với) chính lịch sử nền tảng vốn được định làm "dấu hiệu", cho phép họ "nhận ra" sự lặp lại của lịch sử Tiếng Kêu Nửa Đêm được lặp lại trong những ngày sau rốt.
God allows the rebels to see the repetition of the manifestation of the power of God, for it was the repetition of the manifestation of the power of God that was not only the latter rain, but the truth that would have saved them if they would have been among those who loved the truth.
Đức Chúa Trời cho những kẻ phản nghịch thấy sự lặp lại của việc bày tỏ quyền năng Ngài, vì chính sự lặp lại của việc bày tỏ quyền năng ấy không chỉ là mưa cuối mùa, mà còn là lẽ thật có thể đã cứu họ nếu họ đã ở trong số những người yêu chuộng lẽ thật.
The identification of the four abominations of Ezekiel eight as symbols of the four generations of Laodicean Adventism is part of the message that is unsealed by the Lion of the tribe of Judah in the last days. The first generation began at the rebellion of 1863, and twenty-five years later in 1888, the rebellion that marked the beginning of the second generation with the symbol of secret chambers arrived. Thirty-one years later, in 1919, the publication of the book by W. W. Prescott titled, The Doctrine of Christ, marked the beginning of the third generation, which Ezekiel had represented as women weeping for Tammuz. Thirty-eight years after that, in 1957, with the publication of the book, Questions on Doctrine, the fourth generation arrived that identifies the time when the rebels will turn against the sealing message that arises from the east, and worship the sun.
Việc xác định bốn điều gớm ghiếc trong Ê-xê-chi-ên đoạn tám như những biểu tượng của bốn thế hệ Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê là một phần của sứ điệp được Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ấn trong những ngày sau rốt. Thế hệ thứ nhất bắt đầu với sự bội nghịch năm 1863, và hai mươi lăm năm sau, vào năm 1888, một cuộc bội nghịch đã xảy ra, đánh dấu sự khởi đầu của thế hệ thứ hai với biểu tượng những buồng kín bí mật. Ba mươi mốt năm sau, vào năm 1919, việc xuất bản cuốn sách của W. W. Prescott, nhan đề The Doctrine of Christ, đã đánh dấu sự khởi đầu của thế hệ thứ ba, mà Ê-xê-chi-ên đã biểu trưng bằng hình ảnh những phụ nữ khóc lóc vì Tammuz. Ba mươi tám năm sau nữa, vào năm 1957, với việc xuất bản cuốn sách Questions on Doctrine, thế hệ thứ tư đã đến, xác định thời điểm khi những kẻ phản nghịch sẽ quay ra chống lại sứ điệp ấn chứng trỗi lên từ phương đông và thờ lạy mặt trời.
We will begin to consider the second generation of Laodicean Adventism’s rebellion that arrived at the Minneapolis General Conference in 1888. It is important to remember that all four of Ezekiel’s abominations occur in Jerusalem, though they represent a progressive history of rebellion, it is always addressing the rebellion that occurs within the city that represents Laodicean Adventism in the last days.
Chúng ta sẽ bắt đầu xem xét thế hệ thứ hai trong sự bội nghịch của Phục Lâm La-ô-đi-xê, vốn đã xuất hiện tại Đại Hội Đồng ở Minneapolis vào năm 1888. Điều quan trọng cần nhớ là cả bốn điều ghê tởm mà Ê-xê-chi-ên nêu ra đều xảy ra tại Giê-ru-sa-lem; dẫu chúng trình bày một lịch sử bội nghịch mang tính tiến triển, thì vẫn luôn nhắm đến sự bội nghịch xảy ra bên trong thành, vốn đại diện cho Phục Lâm La-ô-đi-xê trong những ngày sau rốt.
“As one of the signs of Jerusalem’s destruction, Christ had said, ‘Many false prophets shall rise, and shall deceive many.’ False prophets did rise, deceiving the people, and leading great numbers into the desert. Magicians and sorcerers, claiming miraculous power, drew the people after them into the mountain solitudes. But this prophecy was spoken also for the last days. This sign is given as a sign of the Second Advent. Even now false christs and false prophets are showing signs and wonders to seduce His disciples. Do we not hear the cry, ‘Behold, He is in the desert’? Have not thousands gone forth into the desert, hoping to find Christ? And from thousands of gatherings where men profess to hold communion with departed spirits is not the call now heard, ‘Behold, He is in the secret chambers’? This is the very claim that spiritism puts forth. But what says Christ? ‘Believe it not. For as the lightning cometh out of the east, and shineth even unto the west; so shall also the coming of the Son of man be.’” The Desire of Ages, 631.
Như một trong những dấu hiệu báo trước sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem, Chúa Kitô đã phán: "Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên, và sẽ lừa dối nhiều người." Các tiên tri giả đã nổi lên, lừa dối dân chúng và dẫn đông đảo người vào đồng vắng. Các thuật sĩ và phù thủy, tự nhận có quyền năng phép lạ, đã lôi kéo dân chúng theo họ vào những chốn núi rừng hoang vắng. Nhưng lời tiên tri này cũng được phán cho thời kỳ sau rốt. Dấu hiệu này được ban như một dấu hiệu của Sự Tái Lâm. Ngay bây giờ những chúa Kitô giả và những tiên tri giả đang làm các dấu lạ và phép lạ để quyến dụ các môn đệ của Ngài. Há chẳng nghe tiếng kêu: "Kìa, Ngài ở trong đồng vắng" sao? Há chẳng có hàng ngàn người đã đi vào đồng vắng, hy vọng tìm được Chúa Kitô sao? Và từ hàng ngàn cuộc nhóm họp nơi người ta tự xưng là thông công với các linh hồn người chết, há chẳng vang lên lời kêu: "Kìa, Ngài ở trong những phòng kín" sao? Đó chính là điều mà thuyết chiêu hồn rêu rao. Nhưng Chúa Kitô phán thế nào? "Đừng tin. Vì như chớp từ phương đông phát ra, và chiếu sáng cho đến phương tây; thì sự đến của Con Người cũng sẽ như vậy." The Desire of Ages, 631.
The secret chambers are a symbol of spiritualism, and the second abomination of Ezekiel chapter eight, takes place within the temple, where earthly images had been secretly hung upon the walls.
Những phòng bí mật là biểu tượng của thuyết duy linh, và điều gớm ghiếc thứ hai trong chương tám sách Ezekiel diễn ra bên trong đền thờ, nơi các hình tượng trần thế đã được treo một cách bí mật trên các bức tường.
So I went in and saw; and behold every form of creeping things, and abominable beasts, and all the idols of the house of Israel, portrayed upon the wall round about. And there stood before them seventy men of the ancients of the house of Israel, and in the midst of them stood Jaazaniah the son of Shaphan, with every man his censer in his hand; and a thick cloud of incense went up. Then said he unto me, Son of man, hast thou seen what the ancients of the house of Israel do in the dark, every man in the chambers of his imagery? for they say, The Lord seeth us not; the Lord hath forsaken the earth. Ezekiel 8:10–12.
Vậy tôi đi vào và thấy; kìa, đủ mọi thứ sinh vật bò lết, những thú vật ghê tởm, và hết thảy các thần tượng của nhà Israel đều được vẽ trên tường chung quanh. Trước mặt chúng có bảy mươi người trong hàng trưởng lão của nhà Israel đứng đó; ở giữa họ có Jaazaniah, con trai của Shaphan, mỗi người cầm lò hương trong tay; và một đám mây hương dày đặc bốc lên. Bấy giờ Ngài phán với tôi: Hỡi con người, ngươi có thấy các trưởng lão của nhà Israel làm gì trong bóng tối, mỗi người ở trong các buồng hình tượng của mình không? Vì họ nói: Chúa không thấy chúng ta; Chúa đã bỏ đất này. Ê-xê-chi-ên 8:10-12.
Ezekiel sees “the idols of the house of Israel, portrayed upon the walls” of the sanctuary, but he is plainly told that this rebellion is also occurring within each of the ancient men’s “chambers of imagery.” The rebellion within the literal temple identifies the rebellion within the human temple.
Ê-xê-chi-ên thấy “các hình tượng của nhà Israel, được khắc họa trên các bức tường” của đền thánh; nhưng ông được nói rõ rằng cuộc phản loạn này cũng đang diễn ra bên trong từng “buồng hình tượng” của mỗi vị trưởng lão. Sự phản loạn trong đền thờ hữu hình chỉ ra sự phản loạn trong đền thờ của con người.
“In cleansing the temple from the world’s buyers and sellers, Jesus announced His mission to cleanse the heart from the defilement of sin,—from the earthly desires, the selfish lusts, the evil habits, that corrupt the soul. Malachi 3:1–3 quoted.” The Desire of Ages, 161.
Khi thanh tẩy đền thờ khỏi những kẻ mua bán của thế gian, Đức Chúa Giê-xu tuyên bố sứ mạng của Ngài là thanh tẩy tấm lòng khỏi sự ô uế của tội lỗi—khỏi những ham muốn trần tục, những dục vọng ích kỷ, những thói quen xấu xa làm bại hoại linh hồn. Ma-la-chi 3:1-3 được trích dẫn. Khát vọng của các thời đại, 161.
The second abomination represented a manifestation of wickedness both within the church, and the minds of the elders that were to be the church’s guardians. The wickedness there manifested is the wickedness of spiritualism. In the days of Noah, when every imagination of men’s hearts were wicked, the antediluvians had filled up their cup of iniquity.
Sự gớm ghiếc thứ hai biểu thị một sự bộc lộ của sự gian ác không chỉ ở trong Hội thánh mà còn trong tâm trí của các trưởng lão, những người được đặt làm người canh giữ Hội thánh. Sự gian ác được bộc lộ ở đó chính là sự gian ác của thuyết tâm linh. Vào thời Nô-ê, khi mọi ý định trong lòng người đều gian ác, những người tiền Hồng thủy đã làm đầy chén tội ác của họ.
And God saw that the wickedness of man was great in the earth, and that every imagination of the thoughts of his heart was only evil continually. Genesis 6:5.
Và Đức Chúa Trời thấy rằng sự gian ác của loài người trên đất rất lớn, và mọi ý tưởng trong lòng họ chỉ là xấu luôn luôn. Sáng-thế Ký 6:5.
The second generation identifies when spiritualism entered into both the leaders of Jerusalem, and also into the corporate structure of Laodicean Adventism. What “the ancients of the house of Israel” did “in the dark,” “in” their “chambers of” “imagery,” identifies “that every imagination of the thoughts of” their hearts “was only evil.” Sister White is clear that the destruction of Jerusalem represents the end of the world, and the testimony of the flood in Noah’s age also represents the end of the world. In the last days those who refuse to be sanctified by the truth are overtaken by spiritualism, as represented by the second abomination of Ezekiel chapter eight.
Thế hệ thứ hai xác định thời điểm thuyết duy linh xâm nhập cả vào các nhà lãnh đạo của Giê-ru-sa-lem lẫn vào cơ cấu tổ chức của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê. Những gì “các trưởng lão của nhà Y-sơ-ra-ên” đã làm “trong bóng tối,” “trong” “những buồng” “tưởng tượng” của họ, cho thấy “rằng mọi ý định trong các tư tưởng của” lòng họ “chỉ là ác.” Bà White nói rõ rằng sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho sự tận thế, và lời chứng về trận lụt trong thời Nô-ê cũng tượng trưng cho sự tận thế. Trong những ngày sau rốt, những ai từ chối được thánh hóa bởi lẽ thật sẽ bị thuyết duy linh chế ngự, như được biểu thị bởi điều gớm ghiếc thứ hai trong Ê-xê-chi-ên đoạn tám.
The second abomination of Ezekiel represents the rebellion that arrived in 1888, and becomes the symbol of the second generation, but more than this, 1888, and all that it represents or is represented by, was repeated on September 11, 2001. Sister White specifically identifies that in 1888, the mighty angel of Revelation eighteen descended, and therefore the history represents the time when the great buildings of New York City were to be thrown down by a touch from God, and Revelation eighteen, verses one through three were to be fulfilled.
Điều gớm ghiếc thứ hai trong sách Ê-xê-chi-ên đại diện cho cuộc phản loạn đã đến vào năm 1888 và trở thành biểu tượng của thế hệ thứ hai; nhưng hơn thế nữa, năm 1888, và tất cả những gì nó biểu thị hoặc những gì biểu thị cho nó, đã được lặp lại vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Chị White xác định cụ thể rằng vào năm 1888, thiên sứ quyền năng của Khải Huyền đoạn mười tám đã giáng xuống; vì vậy lịch sử ấy tượng trưng cho thời kỳ khi những tòa nhà lớn của Thành phố New York sẽ bị đánh đổ chỉ bởi một cái chạm của Đức Chúa Trời, và Khải Huyền đoạn mười tám, các câu một đến ba sẽ được ứng nghiệm.
“An unwillingness to yield up preconceived opinions, and to accept this truth, lay at the foundation of a large share of the opposition manifested at Minneapolis against the Lord’s message through Brethren Waggoner and Jones. By exciting that opposition Satan succeeded in shutting away from our people, in a great measure, the special power of the Holy Spirit that God longed to impart to them. The enemy prevented them from obtaining that efficiency which might have been theirs in carrying the truth to the world, as the apostles proclaimed it after the day of Pentecost. The light that is to lighten the whole earth with its glory was resisted, and by the action of our own brethren has been in a great degree kept away from the world.” Selected Messages, book 1, 235.
“Sự không sẵn lòng từ bỏ những ý kiến định sẵn và chấp nhận lẽ thật này nằm ở nền tảng của phần lớn sự chống đối được bày tỏ tại Minneapolis đối với sứ điệp của Chúa qua các anh em Waggoner và Jones. Bằng cách khơi dậy sự chống đối ấy, Satan đã thành công trong việc, ở mức độ lớn, ngăn chặn khỏi dân sự của chúng ta quyền năng đặc biệt của Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời hằng ao ước ban cho họ. Kẻ thù đã ngăn họ đạt được hiệu quả mà lẽ ra họ có trong việc mang lẽ thật đến cho thế giới, như các sứ đồ đã rao giảng sau ngày Lễ Ngũ Tuần. Ánh sáng vốn sẽ chiếu rạng cả trái đất bằng vinh quang của mình đã bị chống đối, và bởi hành động của chính các anh em của chúng ta đã bị, ở mức độ lớn, ngăn không cho đến với thế gian.” Selected Messages, quyển 1, 235.
The history of 1888, provided the example of the rejection of the message of the latter rain that arrived on September 11, 2001. 1888 is a symbol of the second generation of Laodicean Adventism, that is represented by Ezekiel’s second abomination, and the history therein identifies a rebellion that was typified by the seventy elders in Ezekiel. Their rebellion represented spiritualism, and paralleled the cup of probationary time being fulfilled in the time of Noah. The rejection of the message illustrated the rejection by the leadership of the message of the latter rain, which was to identify the arrival of the third Woe of Islam.
Lịch sử năm 1888 đã lập tiền lệ cho việc khước từ thông điệp về mưa cuối mùa, vốn đã đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Năm 1888 là một biểu tượng cho thế hệ Laodicê thứ hai của Cơ Đốc Phục Lâm, được biểu trưng bởi sự gớm ghiếc thứ hai trong sách Ê-xê-chi-ên, và lịch sử ấy chỉ ra một cuộc phản loạn được tiêu biểu bởi bảy mươi trưởng lão trong Ê-xê-chi-ên. Cuộc phản loạn của họ tượng trưng cho chủ nghĩa duy linh, và tương ứng với việc chén của thời kỳ ân điển được đầy trọn vào thời Nô-ê. Sự khước từ thông điệp ấy cho thấy giới lãnh đạo đã khước từ thông điệp về mưa cuối mùa, vốn nhằm nhận diện sự xuất hiện của tai họa thứ ba của Hồi giáo.
“The latter rain is to fall upon the people of God. A mighty angel is to come down from heaven, and the whole earth is to be lighted with his glory.” Review and Herald, April 21, 1891.
“Mưa cuối mùa sẽ đổ xuống trên dân sự của Đức Chúa Trời. Một thiên sứ quyền năng sẽ từ trời giáng xuống, và cả trái đất sẽ được chiếu sáng bởi vinh quang của thiên sứ ấy.” Review and Herald, ngày 21 tháng 4 năm 1891.
The leadership that in 1888 rejected the message, typified the rejection of the message of Islam on September 11, 2001, but God intends to produce a manifestation of power that those leaders will witness as part of his judgment upon them. The manifestation of the power of the latter rain occurs at the end of the period of the sealing. It began on September 11, 2001, but it reaches its climax at the end of the three-and-a-half days of Revelation eleven, when the “great earthquake” arrives.
Giới lãnh đạo đã khước từ thông điệp vào năm 1888 là điển hình cho việc khước từ thông điệp của Hồi giáo vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, nhưng Đức Chúa Trời dự định tạo ra một sự bày tỏ quyền năng mà các nhà lãnh đạo ấy sẽ chứng kiến như một phần trong sự phán xét của Ngài đối với họ. Sự bày tỏ quyền năng của mưa cuối mùa xảy ra vào cuối thời kỳ đóng ấn. Nó bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, nhưng đạt đến đỉnh điểm vào cuối ba ngày rưỡi của Khải Huyền đoạn mười một, khi “trận động đất lớn” xảy đến.
The message of 1888, was the Laodicean message, the last call for a former chosen people who were then in the process of being passed by.
Sứ điệp năm 1888 là sứ điệp Laodicea, lời kêu gọi cuối cùng dành cho một dân sự trước kia được chọn, những người khi ấy đang trong quá trình bị bỏ qua.
“The message given us by A. T. Jones, and E. J. Waggoner is the message of God to the Laodicean church, and woe be unto anyone who professes to believe the truth and yet does not reflect to others the God-given rays.” The 1888 Materials, 1053.
"Sứ điệp được A. T. Jones và E. J. Waggoner ban cho chúng ta là sứ điệp của Đức Chúa Trời gửi cho Hội thánh Lao-đi-xê, và khốn thay cho bất cứ ai tự xưng là tin lẽ thật mà lại không phản chiếu cho người khác những tia sáng do Đức Chúa Trời ban." Tài liệu 1888, 1053.
The message of 1888, represented the message that identified that when the great buildings of New York City were thrown down on September 11, 2001, the straight testimony to the Laodicean church was to be given, and the straight testimony is the message of Islam of the third Woe that, when breathed upon a backslidden people, has the power to bring them to life as a mighty army.
Sứ điệp năm 1888 là sứ điệp chỉ ra rằng khi các tòa nhà lớn của Thành phố New York bị đánh sập vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, thì lời chứng thẳng thắn cho Hội thánh Laodicê phải được công bố; và lời chứng thẳng thắn ấy là sứ điệp của Hồi giáo về tai họa thứ ba, sứ điệp mà, khi được thổi vào một dân sự bội đạo, có quyền năng khiến họ sống lại như một đạo quân hùng mạnh.
“A straight testimony must be borne to our churches and institutions, to arouse the sleeping ones.’
"Một lời chứng thẳng thắn phải được trình bày cho các hội thánh và các tổ chức của chúng ta, để đánh thức những người đang ngủ.'"
“When the word of the Lord is believed and obeyed, steady advancement will be made. Let us now see our great need. The Lord cannot use us until he breathes life into the dry bones. I heard the words spoken: ‘Without the deep moving of the Spirit of God upon the heart, without its life-giving influence, truth becomes a dead letter.’” Review and Herald, November 18, 1902.
"Khi lời của Chúa được tin và vâng theo, sẽ có sự tiến triển vững chắc. Giờ đây, chúng ta hãy nhận ra nhu cầu lớn lao của chúng ta. Chúa không thể dùng chúng ta cho đến khi Ngài thổi sự sống vào những bộ xương khô. Tôi nghe có lời phán: 'Nếu không có sự cảm động sâu xa của Thánh Linh của Đức Chúa Trời trên lòng, nếu không có ảnh hưởng ban sự sống của Ngài, lẽ thật trở thành chữ chết.'" Review and Herald, ngày 18 tháng 11 năm 1902.
1888 marks the beginning of the second generation of Adventism, but it also provides a line of prophecy that aligns with the last days. On September 11, 2001 God led the people who chose to accept that the attack of Islam upon the earth beast was a fulfillment of prophecy back to the old paths. God’s people needed to return to the jewels of William Miller and become educated upon the foundational truths that included the fulfillment of the first and second Woes, that in turn established the arrival of the third Woe at that time. Once those people returned to those old paths they were led to see the sacredness of Habakkuk’s two tables.
Năm 1888 đánh dấu sự khởi đầu của thế hệ thứ hai của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, nhưng cũng đưa ra một mạch tiên tri phù hợp với những ngày sau rốt. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Đức Chúa Trời đã dẫn dắt những người đã chọn chấp nhận rằng cuộc tấn công của Hồi giáo nhằm vào con thú từ đất là sự ứng nghiệm lời tiên tri, trở về các đường lối xưa. Dân sự của Đức Chúa Trời cần trở lại với những viên ngọc báu của William Miller và được dạy dỗ về các lẽ thật nền tảng, bao gồm sự ứng nghiệm của tai họa thứ nhất và thứ hai; qua đó xác lập sự xuất hiện của tai họa thứ ba vào thời điểm ấy. Khi những người ấy trở lại các đường lối xưa, họ được dẫn dắt để thấy tính thiêng liêng của hai bảng của Ha-ba-cúc.
The rebellion of 1863 against Habakkuk’s two tables, which are Miller’s jewels and also the foundations of Adventism, typified a rebellion that was repeated on September 11, 2001; for once again the leadership of Laodicean Adventism was given opportunity to uphold the jewels of Miller, or reject them. All four generations of Adventism that are represented in Ezekiel eight, are also representing the rebellion of Laodicean Adventism on September 11, 2001.
Cuộc phản nghịch năm 1863 chống lại hai bảng của Habacúc—vốn là những viên châu báu của Miller và cũng là nền tảng của Phục Lâm—là hình bóng cho một cuộc phản nghịch đã tái diễn vào ngày 11 tháng 9 năm 2001; vì một lần nữa giới lãnh đạo của Phục Lâm Laodixê được trao cơ hội để giữ vững những viên châu báu của Miller, hoặc khước từ chúng. Cả bốn thế hệ của Phục Lâm được trình bày trong Ê-xê-chi-ên đoạn tám cũng đại diện cho sự phản nghịch của Phục Lâm Laodixê vào ngày 11 tháng 9 năm 2001.
We will continue to identify the second generation of Laodicean Adventism in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục xác định thế hệ thứ hai của Phục Lâm La-ô-đi-xê trong bài viết tiếp theo.
“God created man with affections capable of embracing eternal realities. These affections were to be kept pure and holy, free from all earthliness. But human beings have lost eternity out of their reckoning. God, the Alpha and Omega, the beginning and the end, the One who holds in His keeping the destiny of every soul, is forgotten. Supposing themselves to be mighty in knowledge, men have let themselves down to the lowest level in God’s sight.
Đức Chúa Trời đã dựng nên con người với những tình cảm có thể ôm lấy các thực tại đời đời. Những tình cảm ấy phải được giữ cho tinh sạch và thánh khiết, không vương chút trần tục nào. Nhưng loài người đã không còn tính đến vĩnh cửu. Đức Chúa Trời, Đấng Anpha và Ômêga, khởi đầu và kết thúc, Đấng nắm giữ vận mệnh của mọi linh hồn, đã bị quên lãng. Tưởng mình rất mực thông thái, loài người đã tự hạ xuống mức thấp nhất trước mặt Đức Chúa Trời.
“The mind of man has become earthly. In the place of revealing the impress of divinity, it reveals the impress of humanity. In its chambers are seen the imagery of earth. The debasing practises which prevailed in the days of Noah, placing the inhabitants of that age beyond hope of salvation, are seen today.” Signs of the Times, December 18, 1901.
“Tâm trí con người đã trở nên trần tục. Thay vì bày tỏ dấu ấn của thần tính, nó lại bày tỏ dấu ấn của nhân tính. Trong các buồng của nó hiện ra những hình ảnh của trần gian. Những thói tục đồi bại từng thịnh hành vào thời Nô-ê, khiến cư dân thời ấy ở ngoài hy vọng về sự cứu rỗi, đang được thấy ngày nay.” Signs of the Times, ngày 18 tháng 12 năm 1901.