Ezekiel chapter eight, sets forth four increasing abominations which represent the four generations of Laodicean Adventism. The rebellion of 1863, produced a counterfeit to the two tables of Habakkuk, just as Aaron had produced an counterfeit image of jealousy, with his golden calf at the very time God was delivering the two tables of the Ten Commandments to Moses. Once Laodicean Adventism had begun the work of removing the foundational truths, as represented in William Miller’s dream, the leadership of the first generation began to reject the authority of the Bible, and then the Spirit of Prophecy. The rebellion had grown to a point where Kellogg’s spiritualism (pantheism), arrived into their history just prior to 1888.
Ê-xê-chi-ên chương 8 trình bày bốn điều ghê tởm tăng dần, đại diện cho bốn thế hệ của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê. Cuộc phản loạn năm 1863 đã tạo ra một sự giả mạo đối với hai bảng của Ha-ba-cúc, cũng như A-rôn đã làm ra một “tượng ghen tuông” giả mạo qua con bê vàng của ông, đúng vào lúc Đức Chúa Trời đang trao hai tấm bia Mười Điều Răn cho Môi-se. Khi Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê bắt đầu công việc loại bỏ các lẽ thật nền tảng, như được tượng trưng trong giấc mơ của William Miller, ban lãnh đạo của thế hệ thứ nhất bắt đầu khước từ thẩm quyền của Kinh Thánh, rồi đến Thần Linh của Lời Tiên Tri. Cuộc phản loạn đã phát triển đến mức chủ trương duy linh của Kellogg (thuyết phiếm thần) du nhập vào lịch sử của họ ngay trước năm 1888.
At the rebellion of 1888, the spiritualism represented by Ezekiel’s chambers of imagery reached a point where the messengers of Minneapolis, and the prophetess and even the Holy Spirit were rejected.
Trong cuộc nổi loạn năm 1888, thuyết duy linh, được biểu hiện qua những phòng hình tượng của Ê-xê-chi-ên, đã đạt đến mức mà các sứ giả của Minneapolis, nữ tiên tri, và thậm chí cả Đức Thánh Linh đều bị bác bỏ.
“We have seen in our experience that when the Lord sends rays of light from the open door of the sanctuary to His people, Satan stirs up the minds of many. But the end is not yet. There will be those who will resist the light and crowd down those whom God has made His channels to communicate light. Spiritual things are not spiritually discerned. The watchmen have not kept pace with the opening providence of God, and the real heaven-sent message and messengers are scorned.
Chúng tôi đã thấy trong kinh nghiệm của mình rằng khi Chúa gửi những tia sáng từ cánh cửa đang mở của đền thánh đến cho dân sự Ngài, Sa-tan khuấy động tâm trí của nhiều người. Nhưng sự cuối cùng vẫn chưa đến. Sẽ có những kẻ chống lại ánh sáng và chèn ép những người mà Đức Chúa Trời đã lập làm kênh của Ngài để truyền đạt ánh sáng. Những điều thuộc linh không được phân định một cách thuộc linh. Những người canh gác đã không theo kịp sự quan phòng đang mở ra của Đức Chúa Trời, và sứ điệp chân thật do trời sai đến cùng các sứ giả thì bị khinh thường.
“There will go from this meeting men who claim to know the truth who are gathering about their souls the garments not woven in the loom of heaven. The spirit that they have received here will be carried with them. I tremble for the future of our cause. Those who do not in this place yield to the evidence God has given will war against their brethren whom God is using. They will make it very hard, when opportunities shall come where they can carry forward and onward the same kind of warfare they have hitherto engaged in. These men will have opportunities to be convinced that they have been warring against the Holy Spirit of God. Some will be convinced; others will hold firmly their own spirit. They will not die to self and let the Lord Jesus come into their hearts. They will be more and still more deceived until they cannot discern truth and righteousness. They will, under another spirit, seek to place upon the work a mold that God shall not approve; and they will endeavor to act out the attributes of Satan in assuming control of human minds and thus control the work and cause of God.
Sẽ có những người rời khỏi cuộc họp này, những người tự xưng là biết lẽ thật, đang quấn quanh linh hồn mình những tấm áo không được dệt trên khung cửi của thiên đàng. Tinh thần mà họ đã tiếp nhận tại đây sẽ theo họ. Tôi run sợ cho tương lai của công cuộc chúng ta. Những ai tại nơi này không chịu thuận phục trước những bằng chứng Đức Chúa Trời đã ban sẽ chống nghịch lại các anh em mà Đức Chúa Trời đang dùng. Họ sẽ làm cho mọi sự trở nên vô cùng khó khăn; và khi cơ hội đến, họ sẽ tiếp tục tiến hành cùng một kiểu chiến đấu mà họ đã theo đuổi cho đến nay. Những người này sẽ có cơ hội để được thuyết phục rằng bấy lâu nay họ đã chống nghịch Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Một số sẽ được thuyết phục; số khác sẽ bám chặt lấy tinh thần của riêng mình. Họ sẽ không chết đối với bản ngã và để Chúa Giê-su bước vào lòng họ. Họ sẽ bị lừa dối càng lúc càng nhiều cho đến khi không còn phân biệt được lẽ thật và sự công chính. Dưới một linh khác, họ sẽ tìm cách áp đặt lên công việc một khuôn mẫu mà Đức Chúa Trời sẽ không chấp thuận; và họ sẽ cố gắng thể hiện các thuộc tính của Sa-tan bằng cách nắm quyền kiểm soát tâm trí con người, và như thế kiểm soát công việc và sự nghiệp của Đức Chúa Trời.
“Had our brethren fasted and prayed and humbled their hearts before God at this meeting, and sat down calmly to investigate the Scriptures together, then God would have been glorified. But the spirit of prejudice that was brought to that meeting closed the door to the richest blessing of God, and those who had this spirit will not be in a favorable position to see light until they repent before God and have some sense of how near they have come to doing despite to the Holy Spirit and having another spirit.” The 1888 Materials, 832.
"Giá như các anh em của chúng ta đã kiêng ăn, cầu nguyện và khiêm nhường lòng mình trước mặt Đức Chúa Trời tại cuộc nhóm họp này, và bình thản ngồi lại cùng nhau khảo sát Kinh Thánh, thì Đức Chúa Trời đã được tôn vinh. Nhưng tinh thần định kiến đã được mang đến cuộc nhóm họp ấy đã khép lại cánh cửa trước những phước lành dồi dào nhất của Đức Chúa Trời, và những người có tinh thần ấy sẽ không ở trong vị thế thuận lợi để thấy ánh sáng cho đến khi họ ăn năn trước mặt Đức Chúa Trời và phần nào nhận biết họ đã gần đến mức nào với việc xúc phạm Đức Thánh Linh và có một linh khác." Các Tài liệu 1888, 832.
After 1888, Sister White “trembled for the future of” God’s church and work. She saw that the meeting would produce a continued spiritual warfare among the men that were leaders of Laodicean Adventism, and the controversy of “the daily,” is evidence that her predictions were fulfilled upon that very generation. A warfare was then carried on by men who did not “yield to the evidence God had given” to confirm the “heaven sent message and messengers,” and those men made war against “the Holy Spirit of God.” The second generation watched as the publishing house and sanitarium were burnt to the ground by the fires of God’s judgment.
Sau năm 1888, Bà White "run sợ cho tương lai của" Hội thánh và công việc của Đức Chúa Trời. Bà thấy rằng cuộc họp ấy sẽ dẫn đến một cuộc chiến thuộc linh kéo dài giữa những người lãnh đạo của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, và cuộc tranh luận về "the daily" là bằng chứng rằng những lời dự đoán của bà đã được ứng nghiệm ngay trên chính thế hệ đó. Rồi một cuộc chiến đã được tiến hành bởi những người không "chịu thuận theo những bằng chứng Đức Chúa Trời đã ban" để xác nhận "sứ điệp và các sứ giả do trời sai đến", và những người ấy đã gây chiến chống lại "Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời." Thế hệ thứ hai đã chứng kiến nhà xuất bản và dưỡng đường bị thiêu rụi hoàn toàn bởi ngọn lửa phán xét của Đức Chúa Trời.
“Today I received a letter from Elder Daniells regarding the destruction of the Review office by fire. I feel very sad as I consider the great loss to the cause. I know that this must be a very trying time for the brethren in charge of the work and for the employees of the office. I am afflicted with all who are afflicted. But I was not surprised by the sad news, for in the visions of the night I have seen an angel standing with a sword as of fire stretched over Battle Creek. Once, in the daytime, while my pen was in my hand, I lost consciousness, and it seemed as if this sword of flame were turning first in one direction and then in another. Disaster seemed to follow disaster because God was dishonored by the devising of men to exalt and glorify themselves.
Hôm nay tôi nhận được thư từ Trưởng lão Daniells về việc tòa soạn Review bị hỏa hoạn thiêu hủy. Tôi cảm thấy rất buồn khi nghĩ đến tổn thất lớn cho công cuộc. Tôi biết đây hẳn là thời điểm vô cùng thử thách đối với các anh em phụ trách công việc và đối với các nhân viên của tòa soạn. Tôi cùng chịu khổ với mọi người đang chịu khổ. Nhưng tôi không ngạc nhiên trước tin buồn này, vì trong những khải tượng ban đêm tôi đã thấy một thiên sứ đứng với một thanh gươm tựa như lửa giang ra trên Battle Creek. Có lần, vào ban ngày, khi cây bút còn ở trong tay tôi, tôi bỗng mất ý thức, và dường như thanh gươm lửa ấy quay trước hết theo hướng này rồi lại theo hướng khác. Tai họa dường như nối tiếp tai họa, vì Đức Chúa Trời bị xúc phạm bởi những mưu toan của con người nhằm tôn cao và làm vinh hiển chính mình.
“This morning I was drawn out in earnest prayer that the Lord would lead all who are connected with the Review and Herald office to make diligent search, that they may see wherein they have disregarded the many messages God has given.
Sáng nay, tôi được thôi thúc cầu nguyện tha thiết xin Chúa dẫn dắt tất cả những ai có liên hệ với văn phòng Review and Herald thực hiện việc tra xét siêng năng, để họ thấy mình đã xem nhẹ nhiều sứ điệp Đức Chúa Trời đã ban ở những phương diện nào.
“Sometime ago the brethren at the Review office asked my counsel about the erection of another building. I then said that if those who were in favor of adding another building to the Review and Herald office had the future mapped out before them, if they could see what would be in Battle Creek, they would have no question about putting up another building there. God said: ‘My word has been despised; and I will turn and overturn.’
Một thời gian trước, các anh em tại văn phòng Review đã hỏi ý kiến tôi về việc xây dựng thêm một tòa nhà. Khi ấy tôi nói rằng nếu những người ủng hộ việc thêm một tòa nhà cho văn phòng Review and Herald có tương lai được vạch ra trước mắt họ, nếu họ có thể thấy điều gì sẽ xảy ra tại Battle Creek, họ sẽ không còn băn khoăn về việc dựng thêm một tòa nhà ở đó. Đức Chúa Trời phán: 'Lời Ta đã bị khinh dể; và Ta sẽ lật đổ và đảo lộn.'
“At the General Conference, held in Battle Creek in 1901, the Lord gave His people evidence that He was calling for reformation. Minds were convicted, and hearts were touched; but thorough work was not done. If stubborn hearts had then broken in penitence before God, there would have been seen one of the greatest manifestations of the power of God that has ever been seen. But God was not honored. The testimonies of His Spirit were not heeded. Men did not separate from the practices that were in decided opposition to the principles of truth and righteousness, which should ever be maintained in the Lord’s work.
Tại Đại Hội đồng được tổ chức tại Battle Creek vào năm 1901, Chúa đã ban cho dân Ngài bằng chứng rằng Ngài đang kêu gọi sự cải cách. Lương tâm bị cáo trách, và lòng người được cảm động; nhưng công việc vẫn chưa được làm cách triệt để. Nếu những tấm lòng cứng cỏi khi ấy đã tan vỡ trong sự ăn năn trước mặt Đức Chúa Trời, hẳn đã có thể thấy một trong những sự tỏ bày vĩ đại nhất về quyền năng của Đức Chúa Trời từng được nhìn thấy. Nhưng Đức Chúa Trời đã không được tôn vinh. Những chứng ngôn của Thánh Linh Ngài đã không được lưu tâm. Người ta đã không tách mình khỏi những thực hành trái ngược rõ rệt với các nguyên tắc của lẽ thật và sự công chính, những nguyên tắc vốn phải luôn được duy trì trong công việc của Chúa.
“The messages to the church of Ephesus and to the church in Sardis have been often repeated to me by the One who gives me instruction for His people. ‘Unto the angel of the church of Ephesus write; These things saith He that holdeth the seven stars in His right hand, who walketh in the midst of the seven golden candlesticks; I know thy works, and the labor, and thy patience, and how thou canst not bear them which are evil: and thou hast tried them which say they are apostles, and are not, and hast found them liars: and hast borne, and hast patience, and for My name’s sake hast labored, and hast not fainted. Nevertheless I have somewhat against thee, because thou hast left thy first love. Remember therefore from whence thou art fallen, and repent, and do the first works; or else I will come unto thee quickly, and will remove thy candlestick out of his place, except thou repent.’ Revelation 2:1–5.
Những sứ điệp gửi cho hội thánh Ê-phê-sô và hội thánh ở Sạt-đi đã nhiều lần được Đấng ban cho tôi sự chỉ dạy cho dân Ngài lặp lại cho tôi. “Hãy viết cho thiên sứ của hội thánh Ê-phê-sô: Nầy là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu Ngài, Đấng đi lại giữa bảy chân đèn bằng vàng: Ta biết các việc làm của ngươi, lao nhọc của ngươi, và sự nhẫn nại của ngươi, và biết ngươi không thể dung chịu những kẻ ác; ngươi đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải, và đã thấy họ là kẻ dối trá; ngươi đã chịu đựng, đã nhẫn nại, vì danh Ta mà đã lao nhọc, và chẳng mệt mỏi. Dẫu vậy Ta có điều này trách ngươi: ngươi đã bỏ tình yêu ban đầu. Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa ngã từ đâu, hãy ăn năn, và làm lại những việc ban đầu; bằng không, Ta sẽ mau đến cùng ngươi và dời chân đèn của ngươi khỏi chỗ của nó, nếu ngươi không ăn năn.” Khải Huyền 2:1-5.
“‘And unto the angel of the church in Sardis write; These things saith He that hath the seven Spirits of God, and the seven stars; I know thy works, that thou hast a name that thou livest, and art dead. Be watchful, and strengthen the things which remain, that are ready to die: for I have not found thy works perfect before God. Remember therefore how thou hast received and heard, and hold fast, and repent. If therefore thou shalt not watch, I will come on thee as a thief, and thou shalt not know what hour I will come upon thee.’ Revelation 3:1–3.
'Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh tại Sardis: Đây là lời của Đấng có bảy Thần của Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao: Ta biết các việc của ngươi, rằng ngươi có tiếng là sống, nhưng ngươi là chết. Hãy tỉnh thức và củng cố những gì còn lại, đang sắp chết; vì Ta chưa thấy các việc của ngươi trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời. Vậy hãy nhớ lại cách ngươi đã nhận lãnh và đã nghe, hãy giữ lấy và ăn năn. Vậy nếu ngươi không tỉnh thức, Ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi sẽ không biết giờ nào Ta sẽ đến trên ngươi.' Khải Huyền 3:1-3.
“We are seeing the fulfillment of these warnings. Never have scriptures been more strictly fulfilled than these have been.
Chúng ta đang chứng kiến những lời cảnh báo này được ứng nghiệm. Chưa bao giờ Kinh Thánh được ứng nghiệm chính xác như những điều này.
“Men may erect the most carefully constructed, fireproof buildings, but one touch of God’s hand, one spark from heaven, will sweep away every refuge.
Con người có thể dựng nên những tòa nhà chống cháy được xây dựng cẩn trọng nhất, nhưng chỉ một cái chạm của bàn tay Đức Chúa Trời, một tia lửa từ trời, sẽ quét sạch mọi nơi nương náu.
“It has been asked if I have any advice to give. I have already given the advice that God has given me, hoping to prevent the falling of the fiery sword that was hanging over Battle Creek. Now that which I dreaded has come—the news of the burning of the Review and Herald building. When this news came, I felt no surprise, and I had no words to speak. What I have had to say from time to time in warnings has had no effect except to harden those who heard, and now I can only say: I am so sorry, so very sorry, that it was necessary for this stroke to come. Light enough has been given. If it were acted upon, further light would not be needed.” Testimonies, volume 8, 97–99.
“Có người hỏi tôi liệu tôi có lời khuyên nào không. Tôi đã đưa ra những lời khuyên mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi, với hy vọng ngăn chặn sự giáng xuống của thanh gươm lửa đang treo lơ lửng trên Battle Creek. Giờ đây điều tôi lo sợ đã đến—tin về việc tòa nhà Review and Herald bị thiêu rụi. Khi tin này đến, tôi không ngạc nhiên, và tôi không có lời nào để nói. Những lời cảnh cáo mà tôi thỉnh thoảng đã nêu ra chẳng có tác dụng gì ngoài việc làm cứng lòng những người đã nghe, và bây giờ tôi chỉ có thể nói: Tôi rất tiếc, vô cùng tiếc, rằng đòn giáng này buộc phải đến. Ánh sáng đã được ban cho đủ rồi. Nếu điều ấy được làm theo, thì sẽ không cần thêm ánh sáng nữa.” Lời chứng, tập 8, 97-99.
The second generation of Adventism was not a victory, and in fulfillment of Ezekiel chapter eight, the rebellion only continued to escalate.
Thế hệ thứ hai của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm không phải là một thắng lợi, và trong sự ứng nghiệm của Ê-xê-chi-ên đoạn tám, sự bội nghịch chỉ tiếp tục leo thang.
“By written messages and by fire the Lord has declared that he wants his people to move out of Battle Creek. May God help us to hear his voice. Does it mean nothing to us that our two great institutions in Battle Creek were swept away by fire? You may say, ‘But the new Sanitarium has many patients.’ Yes; but if there were many thousand patients there, this would be no argument in favor of our people building homes in Battle Creek, and settling there.
Qua các sứ điệp bằng văn bản và qua lửa, Chúa đã tuyên bố rằng Ngài muốn dân Ngài rời khỏi Battle Creek. Cầu xin Đức Chúa Trời giúp chúng ta lắng nghe tiếng Ngài. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì đối với chúng ta sao khi hai cơ sở lớn của chúng ta ở Battle Creek đã bị lửa thiêu rụi? Bạn có thể nói, 'Nhưng Viện Điều dưỡng mới có rất nhiều bệnh nhân.' Đúng; nhưng dẫu cho ở đó có hàng nghìn bệnh nhân đi nữa, thì điều này cũng không phải là lý lẽ ủng hộ việc dân chúng ta xây nhà ở Battle Creek và định cư tại đó.
“Temptations are increasing. Men are rejecting the light that God has sent in the Testimonies of his Spirit, and they are choosing their own devising and their own plans. Will men continue to separate themselves from God? Must he reveal his displeasure in a still more marked manner than he has already done?” Pamphlets, SpTB06, 45.
"Sự cám dỗ đang gia tăng. Con người đang khước từ ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã gửi trong các Lời chứng của Thánh Linh Ngài, và họ đang chọn những điều do chính họ bày đặt và những kế hoạch của riêng họ. Liệu con người có tiếp tục tự tách mình khỏi Đức Chúa Trời? Chẳng lẽ Ngài phải bày tỏ sự không hài lòng của Ngài theo một cách còn rõ rệt hơn nữa so với những gì Ngài đã làm rồi sao?" Pamphlets, SpTB06, 45.
Men were “choosing their own devising’s and their own plans,” as represented by the seventy elders in the chambers of imagery of Ezekiel chapter eight, who proclaimed, “The Lord seeth us not.” The Lord raised up a prophetess and gave her “open visions” for exactly forty years, until 1884. He placed his signature upon this gift, for He gave it and ended it in a city named Portland, and he gave it for forty years. Just prior to the cessation of “open visions” the ancient men began to undermine the authority of the Bible and the Spirit of Prophecy in 1881, and 1882. The “open visions,” then ended in 1884, and in four years the rebellion of Korah, Dathan and Abiram was repeated at the 1888 General Conference.
Con người “chọn theo mưu kế riêng và kế hoạch riêng của mình,” như được thể hiện bởi bảy mươi trưởng lão trong các buồng ảnh tượng ở chương tám sách Ezekiel, những người đã tuyên bố: “Chúa không thấy chúng ta.” Chúa đã dấy lên một nữ tiên tri và ban cho bà những “khải tượng mở” trong đúng bốn mươi năm, cho đến năm 1884. Ngài đã đặt ấn chứng của Ngài trên ân tứ này, vì Ngài đã ban nó và cũng kết thúc nó tại một thành phố tên là Portland, và Ngài đã ban nó trong bốn mươi năm. Ngay trước khi các “khải tượng mở” chấm dứt, các bậc lão thành bắt đầu làm suy yếu thẩm quyền của Kinh Thánh và Thần Linh của Lời Tiên Tri vào các năm 1881 và 1882. Các “khải tượng mở” sau đó chấm dứt vào năm 1884, và bốn năm sau, cuộc nổi loạn của Korah, Dathan và Abiram được lặp lại tại Đại Hội Đồng năm 1888.
The rebellion of 1888, produced an escalation of rebellion that saw God’s direct intervention into the history of Laodicean Adventism as He burnt down the publishing work and the health work. Yet those direct judgments did not deter the rebellion that was under way. In 1919, a Bible Conference took place, where one of the primary rebels of the second generation, William Warren Prescott, the theologian trained in the universities of apostate Protestantism, was the primary leader of pushing the satanic view that claimed “the daily,” represented Christ’s sanctuary work gave a series of presentations.
Cuộc phản loạn năm 1888 đã làm leo thang tình trạng phản loạn, khiến lịch sử của phong trào Phục Lâm Laodicea chứng kiến sự can thiệp trực tiếp của Đức Chúa Trời khi Ngài thiêu rụi công tác xuất bản và công tác y tế. Tuy nhiên, những sự phán xét trực tiếp đó vẫn không ngăn được cuộc phản loạn đang diễn ra. Năm 1919, một Hội nghị Kinh Thánh được tổ chức; tại đó, một trong những kẻ nổi loạn chủ chốt thuộc thế hệ thứ hai, William Warren Prescott, nhà thần học được đào tạo trong các trường đại học của phái Tin Lành bội đạo, là người lãnh đạo chính thúc đẩy quan điểm của Sa-tan cho rằng “the daily” tượng trưng cho chức vụ trong đền thánh của Đấng Christ, và ông đã trình bày một loạt bài thuyết trình.
History identified that at that Bible conference in 1919, Prescott presented a gospel that consisted of removing every tenet of the prophetic message of the Millerites. He even attempted to remove the twenty-three hundred days, but could not pull that off. Yet he presented a gospel that was fully void of the prophetic understandings of the Millerites. His gospel was rejected at the meeting, but still those blind leaders decided to take his series of presentations and construct them into a book titled, The Doctrine of Christ. That book became the symbol of the arrival of the third generation of Laodicean Adventism.
Lịch sử ghi nhận rằng, tại hội nghị Kinh Thánh năm 1919 ấy, Prescott đã trình bày một phúc âm bao gồm việc loại bỏ mọi tín điều thuộc sứ điệp tiên tri của phong trào Millerite. Ông thậm chí đã tìm cách loại bỏ hai nghìn ba trăm ngày, nhưng không thể thực hiện được. Thế nhưng ông đã trình bày một phúc âm hoàn toàn thiếu vắng các hiểu biết tiên tri của phong trào Millerite. Phúc âm của ông bị bác bỏ tại cuộc họp, nhưng những nhà lãnh đạo mù lòa ấy vẫn quyết định lấy loạt bài thuyết trình của ông và biên soạn thành một cuốn sách nhan đề “Giáo lý của Đấng Christ”. Cuốn sách đó trở thành biểu tượng cho sự xuất hiện của thế hệ thứ ba của Phục Lâm mang tính Laodicea.
The book represents another gospel than the Millerite gospel of Habakkuk chapter two, and Paul informs us another gospel is not a gospel at all.
Cuốn sách này trình bày một tin lành khác với tin lành Millerite của Ha-ba-cúc chương hai, và Phao-lô cho chúng ta biết rằng một tin lành khác thì không phải là tin lành chút nào.
I marvel that ye are so soon removed from him that called you into the grace of Christ unto another gospel: Which is not another; but there be some that trouble you, and would pervert the gospel of Christ. But though we, or an angel from heaven, preach any other gospel unto you than that which we have preached unto you, let him be accursed. As we said before, so say I now again, If any man preach any other gospel unto you than that ye have received, let him be accursed. Galatians 1:6–9.
Tôi lấy làm lạ vì anh em lại sớm lìa bỏ Đấng đã gọi anh em trong ân điển của Đấng Christ để theo một Tin Lành khác; mà thật chẳng có Tin Lành nào khác đâu; chỉ có mấy kẻ làm rối anh em và muốn xuyên tạc Tin Lành của Đấng Christ. Dẫu là chúng tôi, hay một thiên sứ từ trời, mà rao giảng cho anh em một Tin Lành khác với Tin Lành chúng tôi đã giảng cho anh em, thì người ấy đáng bị rủa sả. Như chúng tôi đã nói trước, nay tôi lại nói lần nữa: Nếu ai rao giảng cho anh em một Tin Lành khác với Tin Lành anh em đã nhận, thì người ấy đáng bị rủa sả. Ga-la-ti 1:6-9.
The third generation of Adventism is represented by Ezekiel’s third abomination where the women are weeping for Tammuz. Tammuz was a Mesopotamian deity associated with fertility and the cycles of vegetation. Tammuz was sometimes depicted as a shepherd or a young man, linked to the changing seasons and the growth of crops. Tammuz’s death and subsequent resurrection, was tied to the agricultural calendar. According to the mythology, Tammuz would die or disappear during the summer months, which was seen as a representation of the withering of vegetation in the hot, dry season. The weeping for Tammuz was a mourning ritual that involved lamenting the death or disappearance of Tammuz during the summer months, followed by rejoicing at his resurrection, which symbolized the renewal of vegetation and agricultural life.
Thế hệ thứ ba của Cơ Đốc Phục Lâm được thể hiện qua “điều gớm ghiếc” thứ ba trong sách Ê-xê-chi-ên, nơi những người phụ nữ khóc than cho Tammuz. Tammuz là một vị thần Lưỡng Hà gắn với sự sinh sản và các chu kỳ của thảm thực vật. Tammuz đôi khi được mô tả như một người chăn chiên hoặc một chàng trai trẻ, gắn liền với sự thay đổi các mùa và sự sinh trưởng của cây trồng. Cái chết của Tammuz và sự phục sinh sau đó gắn liền với lịch nông nghiệp. Theo thần thoại, Tammuz sẽ chết hoặc biến mất trong những tháng mùa hè, điều này được xem như biểu tượng cho sự héo úa của thảm thực vật trong mùa nóng, khô. Việc khóc than cho Tammuz là một nghi lễ tang chế, bao gồm việc than khóc cho cái chết hoặc sự biến mất của Tammuz trong những tháng mùa hè, sau đó là vui mừng trước sự phục sinh của ông, điều này tượng trưng cho sự tái sinh của thảm thực vật và đời sống nông nghiệp.
Weeping for Tammuz represents a counterfeit latter rain message, which is what the gospel of W. W. Prescott represented. The removal of the prophetic foundation, which began in the rebellion of 1863, reached a point in 1919, that Laodicean Adventism allowed the false gospel to be established. That false gospel was based fully upon the methodology of apostate Protestantism. Its original architect was W. W. Prescott, and as with William Miller, both men’s gospel was based upon their foundational understanding of “the daily,” in the book of Daniel. Both gospels are represented in the passage of 2 Thessalonians where Miller first discovered that “the daily,” represented paganism. In the passage there is a class represented by Miller, who accept the truth presented by Paul, and another class who do not possess a love of the truth.
Việc than khóc Tammuz tượng trưng cho một sứ điệp mưa muộn giả mạo, điều mà phúc âm của W. W. Prescott đã thể hiện. Việc loại bỏ nền tảng tiên tri, vốn khởi đầu từ cuộc phản nghịch năm 1863, đã đạt đến một điểm vào năm 1919, khi Phục Lâm La-ô-đi-xê cho phép phúc âm giả được thiết lập. Phúc âm giả đó hoàn toàn dựa trên phương pháp luận của Tin Lành bội đạo. Kiến trúc sư ban đầu của nó là W. W. Prescott, và cũng như William Miller, phúc âm của cả hai người đều dựa trên sự hiểu biết nền tảng của họ về "the daily" trong sách Đa-ni-ên. Cả hai phúc âm đều được thể hiện trong phân đoạn ở 2 Tê-sa-lô-ni-ca, nơi Miller lần đầu khám phá rằng "the daily" tượng trưng cho ngoại giáo. Trong phân đoạn đó có một nhóm do Miller đại diện, những người chấp nhận lẽ thật do Phao-lô trình bày, và một nhóm khác không có lòng yêu mến lẽ thật.
One class in the last days, represented by Miller, “recognize” and receive the latter rain, and another class, represented by Prescott, receive strong delusion. The strong delusion they receive is based upon a false gospel, that is no gospel at all, and it identifies a false message of the latter rain. Thus, the third abomination of Ezekiel is the women (churches of Laodicean Adventism), weeping for Tammuz. Their summertime tears (rain), are to produce the fruit of the harvest.
Trong những ngày sau rốt, một nhóm, được Miller đại diện, "nhận ra" và tiếp nhận mưa cuối mùa, còn một nhóm khác, được Prescott đại diện, thì tiếp nhận sự lừa dối mạnh mẽ. Sự lừa dối mạnh mẽ mà họ tiếp nhận dựa trên một Tin Lành giả, vốn chẳng phải là Tin Lành chút nào, và nó nhận diện một sứ điệp giả về mưa cuối mùa. Vì vậy, sự gớm ghiếc thứ ba trong Ê-xê-chi-ên là những người phụ nữ (các hội thánh của Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê), khóc thương Tammuz. Những giọt lệ mùa hạ của họ (mưa) là để sinh ra bông trái của mùa gặt.
The distinction between two types of latter rain message pervades the Bible and Spirit of Prophecy. The Bible repeatedly identifies that the rain is withheld from a disobedient people.
Sự phân biệt giữa hai loại sứ điệp về mưa cuối mùa xuất hiện xuyên suốt Kinh Thánh và Thần Linh của Lời Tiên Tri. Kinh Thánh nhiều lần chỉ ra rằng mưa bị cầm giữ khỏi một dân không vâng phục.
They say, If a man put away his wife, and she go from him, and become another man’s, shall he return unto her again? shall not that land be greatly polluted? but thou hast played the harlot with many lovers; yet return again to me, saith the Lord. Lift up thine eyes unto the high places, and see where thou hast not been lien with. In the ways hast thou sat for them, as the Arabian in the wilderness; and thou hast polluted the land with thy whoredoms and with thy wickedness. Therefore the showers have been withholden, and there hath been no latter rain; and thou hadst a whore’s forehead, thou refusedst to be ashamed. Jeremiah 3:1–3.
Người ta nói: Nếu một người rẫy vợ mình, và nàng rời bỏ người ấy, trở thành vợ của người khác, thì người ấy còn trở lại với nàng nữa chăng? Há chẳng phải xứ ấy sẽ bị ô uế nặng nề sao? Nhưng ngươi đã làm điếm với nhiều tình nhân; dẫu vậy, hãy trở về với ta, Chúa phán. Hãy ngước mắt lên những nơi cao, và xem có chỗ nào ngươi chưa bị nằm cùng chăng. Bên đường ngươi ngồi đợi họ, như người Ả Rập trong hoang mạc; và ngươi đã làm ô uế xứ sở bởi sự dâm loạn và gian ác của ngươi. Vì vậy, các cơn mưa rào đã bị ngăn lại, và chẳng có mưa cuối mùa; còn ngươi mang trán gái điếm, không chịu biết hổ thẹn. Giê-rê-mi 3:1-3.
Laodicean Adventism began playing the harlot in 1863, and ever since then the showers have been withheld. They refuse to be ashamed of their rebellion, and that lack of humility produces a whore’s forehead, and the whore of Bible prophecy is the papacy. The third generation is where the final work of preparing to bow down to the whore of Rome’s mark is accomplished. The preparation for the fourth generation is accomplished in the third generation, by a counterfeit message of the latter rain. As with the rebellion of 1863, and the rebellion of 1888, the rebellion of 1919, are aligned with September 11, 2001, for when the buildings of New York City then came down the mighty angel of Revelation eighteen descended and the genuine latter rain began.
Chủ nghĩa Phục Lâm La-ô-đi-xê bắt đầu phạm tội tà dâm vào năm 1863, và kể từ đó mưa đã bị cầm giữ. Họ từ chối hổ thẹn về sự phản nghịch của mình, và sự thiếu khiêm nhường ấy sinh ra trán của dâm phụ, còn dâm phụ trong lời tiên tri Kinh Thánh chính là giáo hoàng quyền. Thế hệ thứ ba là nơi hoàn tất công việc cuối cùng của sự chuẩn bị để cúi mình trước dấu của dâm phụ Rô-ma. Sự chuẩn bị cho thế hệ thứ tư được hoàn tất trong thế hệ thứ ba, bằng một sứ điệp giả mạo về mưa cuối mùa. Các cuộc phản nghịch năm 1863, 1888 và 1919 được liên kết với ngày 11 tháng 9 năm 2001; vì khi các tòa nhà của Thành phố New York sụp đổ, thiên sứ quyền năng trong Khải Huyền đoạn mười tám đã giáng xuống và mưa cuối mùa chân thật bắt đầu.
“The latter rain is to fall upon the people of God. A mighty angel is to come down from heaven, and the whole earth is to be lighted with his glory.” Review and Herald, April 21, 1891.
“Mưa cuối mùa sẽ đổ xuống trên dân sự của Đức Chúa Trời. Một thiên sứ quyền năng sẽ từ trời giáng xuống, và cả trái đất sẽ được chiếu sáng bởi vinh quang của thiên sứ ấy.” Review and Herald, ngày 21 tháng 4 năm 1891.
When the latter rain began the ancient men of Laodicean Adventism would not recognize it as the latter rain, for they had been indoctrinated by a false latter rain message, represented by Ezekiel as the women weeping for Tammuz, and in application as a message of peace and safety.
Khi mưa cuối mùa bắt đầu, các bậc lão thành của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê đã không nhận ra đó là mưa cuối mùa, vì họ đã bị thấm nhuần một sứ điệp mưa cuối mùa giả, được Ê-xê-chi-ên tượng trưng bằng hình ảnh những phụ nữ than khóc Tammuz, và về mặt áp dụng thì đó là một sứ điệp về bình an và yên ổn.
“Only those who are living up to the light they have will receive greater light. Unless we are daily advancing in the exemplification of the active Christian virtues, we shall not recognize the manifestations of the Holy Spirit in the latter rain. It may be falling on hearts all around us, but we shall not discern or receive it.” Testimonies to Ministers, 507.
"Chỉ những người sống theo ánh sáng mà họ có mới nhận được ánh sáng lớn hơn. Nếu chúng ta không hằng ngày tiến bộ trong việc thể hiện các đức hạnh Cơ Đốc tích cực, chúng ta sẽ không nhận ra các sự bày tỏ của Đức Thánh Linh trong cơn mưa muộn. Nó có thể đang đổ xuống trên những tấm lòng xung quanh chúng ta, nhưng chúng ta sẽ không nhận ra hoặc đón nhận nó." Chứng Ngôn cho Các Mục Sư, 507.
It was impossible for the guardians of the people to recognize the arrival of the latter rain, for their false gospel of a false latter rain, denied the possibility of any manifestation of the power of God as had been in former ages.
Những người canh giữ dân chúng đã không thể nhận ra sự xuất hiện của mưa cuối mùa, vì phúc âm giả về mưa cuối mùa giả của họ đã phủ nhận khả năng có bất kỳ sự bày tỏ nào của quyền năng Đức Chúa Trời như đã từng có trong các thời đại trước kia.
“There is to be in the churches a wonderful manifestation of the power of God, but it will not move upon those who have not humbled themselves before the Lord, and opened the door of the heart by confession and repentance. In the manifestation of that power which lightens the earth with the glory of God, they will see only something which in their blindness they think dangerous, something which will arouse their fears, and they will brace themselves to resist it. Because the Lord does not work according to their ideas and expectations, they will oppose the work. ‘Why,’ they say, ‘should not we know the Spirit of God, when we have been in the work so many years?’—Because they did not respond to the warnings, the entreaties of the messages of God, but persistently said, ‘I am rich, and increased with goods, and have need of nothing.’ Talent, long experience, will not make men channels of light, unless they place themselves under the bright beams of the Sun of Righteousness, and are called, and chosen, and prepared by the endowment of the Holy Spirit. When men who handle sacred things will humble themselves under the mighty hand of God, the Lord will lift them up. He will make them men of discernment—men rich in the grace of his Spirit. Their strong, selfish traits of character, their stubbornness, will be seen in the light shining from the Light of the world. ‘I will come unto thee quickly, and will remove thy candlestick out of his place, except thou repent.’ If you seek the Lord with all your heart, he will be found of you.” Review and Herald, December 23, 1890.
Sẽ có trong các hội thánh một sự bày tỏ lạ lùng về quyền năng của Đức Chúa Trời, nhưng điều đó sẽ không tác động đến những người chưa hạ mình trước Chúa và chưa mở cửa lòng bằng sự xưng tội và ăn năn. Trong sự bày tỏ của quyền năng ấy, quyền năng chiếu sáng khắp đất bằng vinh hiển của Đức Chúa Trời, họ sẽ chỉ thấy điều gì đó mà trong sự mù lòa họ cho là nguy hiểm, điều gì đó sẽ khơi dậy nỗi sợ hãi của họ, và họ sẽ tự gồng mình để chống lại. Vì Chúa không hành động theo ý nghĩ và mong đợi của họ, họ sẽ chống đối công việc ấy. ‘Tại sao,’ họ nói, ‘chúng ta lại không biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời, khi chúng ta đã làm công việc này bao nhiêu năm?’ — Bởi vì họ đã không đáp lại những lời cảnh báo, những lời nài xin trong các sứ điệp của Đức Chúa Trời, nhưng cứ khăng khăng nói, ‘Tôi giàu có, đã nên giàu, và chẳng cần gì cả.’ Tài năng, kinh nghiệm lâu năm sẽ không khiến con người trở nên kênh dẫn ánh sáng, trừ khi họ đặt mình dưới những tia sáng rực rỡ của Mặt Trời Công Chính, và được kêu gọi, được chọn lựa, và được chuẩn bị bởi ơn ban của Đức Thánh Linh. Khi những người lo liệu những việc thánh hạ mình dưới cánh tay quyền năng của Đức Chúa Trời, Chúa sẽ nâng họ lên. Ngài sẽ khiến họ trở thành những người có khả năng phân định — những người giàu ân điển của Thánh Linh Ngài. Những nét tính cách mạnh mẽ, ích kỷ của họ, sự bướng bỉnh của họ, sẽ được thấy rõ trong ánh sáng tỏa ra từ Ánh Sáng của thế gian. ‘Ta sẽ đến cùng ngươi mau chóng, và sẽ dời chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó, nếu ngươi chẳng ăn năn.’ Nếu bạn tìm kiếm Chúa hết lòng, bạn sẽ tìm thấy Ngài. Review and Herald, ngày 23 tháng 12 năm 1890.
The elders of Ezekiel chapter eight, accepted a gospel of peace and safety in 1919, and when September 11, 2001 arrived the fruit of that escalating rebellion was manifested in their inability to recognize the arrival of the latter rain. In the history beginning at the time of the end in 1989, God repeated the Millerite movement to the very letter. Miller was a symbol of Elijah, and Elijah had straitly told Ahab that there would be no rain, except at the word of Elijah.
Các trưởng lão trong Ê-xê-chi-ên đoạn tám đã chấp nhận một Tin Lành về bình an và an ninh vào năm 1919, và khi ngày 11 tháng 9 năm 2001 đến, bông trái của sự phản loạn ngày càng leo thang ấy đã bộc lộ qua việc họ không thể nhận ra sự đến của mưa cuối mùa. Trong lịch sử bắt đầu từ thời kỳ cuối cùng vào năm 1989, Đức Chúa Trời đã lặp lại phong trào Miller đúng từng chi tiết. Miller là biểu tượng của Ê-li, và Ê-li đã nghiêm khắc nói với A-háp rằng sẽ không có mưa, trừ phi có lời của Ê-li.
We will continue our consideration of the third generation of Adventism in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục bàn về thế hệ thứ ba của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm trong bài viết tiếp theo.
“The class who do not feel grieved over their own spiritual declension, nor mourn over the sins of others, will be left without the seal of God. The Lord commissions His messengers, the men with slaughtering weapons in their hands: ‘Go ye after him through the city, and smite: let not your eye spare, neither have ye pity: slay utterly old and young, both maids, and little children, and women: but come not near any man upon whom is the mark; and begin at My sanctuary. Then they began at the ancient men which were before the house.’
Hạng người không đau buồn về sự sa sút thuộc linh của chính mình, cũng không than khóc vì tội lỗi của người khác, sẽ không có ấn của Đức Chúa Trời. Chúa truyền lệnh cho các sứ giả của Ngài, những người cầm vũ khí giết chóc trong tay: 'Hãy theo sau người ấy đi khắp thành, và đánh; chớ để mắt ngươi dung tha, cũng chớ thương xót; hãy giết sạch cả già lẫn trẻ, cả gái đồng trinh, trẻ nhỏ và đàn bà; nhưng chớ đến gần bất cứ ai trên người có dấu; và hãy bắt đầu tại Thánh điện của Ta. Bấy giờ họ bắt đầu từ những người già cả ở trước nhà.'
“Here we see that the church—the Lord’s sanctuary—was the first to feel the stroke of the wrath of God. The ancient men, those to whom God had given great light and who had stood as guardians of the spiritual interests of the people, had betrayed their trust. They had taken the position that we need not look for miracles and the marked manifestation of God’s power as in former days. Times have changed. These words strengthen their unbelief, and they say: The Lord will not do good, neither will He do evil. He is too merciful to visit His people in judgment. Thus ‘Peace and safety’ is the cry from men who will never again lift up their voice like a trumpet to show God’s people their transgressions and the house of Jacob their sins. These dumb dogs that would not bark are the ones who feel the just vengeance of an offended God. Men, maidens, and little children all perish together.
Ở đây chúng ta thấy rằng hội thánh—đền thánh của Chúa—là đối tượng đầu tiên phải chịu đòn giáng của cơn thịnh nộ Đức Chúa Trời. Những người lão thành, những kẻ được Đức Chúa Trời ban cho ánh sáng lớn lao và đã đứng làm người canh giữ các lợi ích thuộc linh của dân sự, đã phản bội sự tín nhiệm. Họ đã cho rằng chúng ta không cần trông đợi các phép lạ và sự bày tỏ rõ rệt quyền năng của Đức Chúa Trời như thuở xưa. Thời thế đã thay đổi. Những lời ấy củng cố sự vô tín của họ, và họ nói: Chúa sẽ chẳng làm điều lành, cũng chẳng làm điều dữ. Ngài quá nhân từ để thăm viếng dân Ngài bằng sự đoán phạt. Vậy nên “Bình an và yên ổn” là tiếng kêu của những người sẽ không bao giờ còn cất tiếng như kèn để chỉ cho dân Đức Chúa Trời biết các sự vi phạm của họ và cho nhà Gia-cốp biết các tội lỗi của họ. Những con chó câm không chịu sủa ấy chính là những kẻ phải chịu sự báo thù công bình của Đức Chúa Trời bị xúc phạm. Đàn ông, thiếu nữ, và các trẻ nhỏ đều cùng nhau bị tiêu diệt.
“The abominations for which the faithful ones were sighing and crying were all that could be discerned by finite eyes, but by far the worst sins, those which provoked the jealousy of the pure and holy God, were unrevealed. The great Searcher of hearts knoweth every sin committed in secret by the workers of iniquity. These persons come to feel secure in their deceptions and, because of His long-suffering, say that the Lord seeth not, and then act as though He had forsaken the earth. But He will detect their hypocrisy and will open before others those sins which they were so careful to hide.
Những điều ghê tởm vì đó những người trung tín thở than và khóc lóc chỉ là những gì mắt phàm có thể nhận thấy, nhưng những tội lỗi trầm trọng nhất—những tội khơi dậy sự ghen tương của Đức Chúa Trời tinh sạch và thánh khiết—thì vẫn chưa được bày tỏ. Đấng dò xét lòng vĩ đại biết mọi tội lỗi mà những kẻ làm ác đã phạm trong chỗ kín giấu. Những kẻ này dần dần cảm thấy an toàn trong sự dối trá của mình và, vì sự nhịn nhục lâu dài của Ngài, nói rằng Chúa chẳng thấy, rồi hành động như thể Ngài đã bỏ mặc thế gian. Nhưng Ngài sẽ phát hiện sự giả hình của họ và sẽ bày tỏ trước người khác những tội mà họ đã hết sức cẩn thận che giấu.
“No superiority of rank, dignity, or worldly wisdom, no position in sacred office, will preserve men from sacrificing principle when left to their own deceitful hearts. Those who have been regarded as worthy and righteous prove to be ring-leaders in apostasy and examples in indifference and in the abuse of God’s mercies. Their wicked course He will tolerate no longer, and in His wrath He deals with them without mercy.
Không có sự vượt trội về địa vị, phẩm giá hay khôn ngoan thế gian, cũng không có địa vị trong chức vụ thánh nào, có thể giữ cho con người khỏi hy sinh nguyên tắc khi họ bị phó mặc cho lòng dối trá của chính mình. Những người từng được xem là xứng đáng và công chính lại tỏ ra là những kẻ cầm đầu trong sự bội đạo, và là điển hình về thái độ dửng dưng cũng như về sự lạm dụng lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Con đường gian ác của họ Ngài sẽ không dung thứ nữa; trong cơn thịnh nộ, Ngài xử trị họ chẳng chút xót thương.
“It is with reluctance that the Lord withdraws His presence from those who have been blessed with great light and who have felt the power of the word in ministering to others. They were once His faithful servants, favored with His presence and guidance; but they departed from Him and led others into error, and therefore are brought under the divine displeasure.” Testimonies, volume 5, 211, 212.
"Chúa chỉ miễn cưỡng rút lại sự hiện diện của Ngài khỏi những người đã được ban phước với ánh sáng lớn lao và đã cảm nhận quyền năng của Lời khi phục vụ người khác. Họ đã từng là những đầy tớ trung tín của Ngài, được đặc ân với sự hiện diện và sự hướng dẫn của Ngài; nhưng họ đã lìa bỏ Ngài và dẫn dắt người khác vào sai lầm, vì thế họ chịu sự bất bình của Đức Chúa Trời." Chứng Ngôn, tập 5, 211, 212.