The testing process that begins when the angel descends is represented by the test of whether to take the book out of the angel’s hand and eat it. Those that did choose to eat the message were then destined for a disappointment where the group who refused to eat were left behind. The little book that was to be eaten represented an “increase of knowledge” of the message that had first been unsealed at “the time of the end” at either 1798 or 1989, and then later formalized into a message that would hold the generation then alive accountable to the light of the increased knowledge. In either history, once the prophecy of Islam was fulfilled, then the message to be eaten in the angel’s hand was either received or rejected. If the message represented by the book is rejected, those who do so, and still seek to uphold the profession of still being the chosen of God, are forced to produce a counterfeit latter rain message.
Quá trình thử nghiệm bắt đầu khi thiên sứ giáng xuống được biểu trưng bởi bài thử xem có lấy cuốn sách từ tay thiên sứ và ăn nó hay không. Những ai đã chọn ăn sứ điệp thì sau đó phải đối mặt với một sự thất vọng, trong khi nhóm từ chối ăn thì bị bỏ lại phía sau. Cuốn sách nhỏ phải được ăn tượng trưng cho một “sự gia tăng tri thức” về sứ điệp vốn lần đầu được mở ấn vào “thời kỳ cuối cùng,” ở năm 1798 hoặc 1989, và sau đó được định hình thành một sứ điệp buộc thế hệ đang sống khi ấy phải chịu trách nhiệm trước ánh sáng của tri thức được gia tăng. Trong cả hai bối cảnh lịch sử, một khi lời tiên tri về Hồi giáo được ứng nghiệm, thì sứ điệp cần được ăn trong tay thiên sứ hoặc được tiếp nhận hoặc bị khước từ. Nếu sứ điệp được cuốn sách tượng trưng bị khước từ, thì những người làm như vậy nhưng vẫn tìm cách duy trì tuyên xưng rằng mình vẫn là dân được Đức Chúa Trời chọn sẽ buộc phải tạo ra một sứ điệp mưa cuối mùa giả mạo.
On September 11, 2001 the past rebellions of the generations of Adventism were again made testing issues. Habakkuk chapter two identifies a debate that occurs in the prophetic history represented therein, which is a parallel prophetic line to the parable of the ten virgins. When the watchman asked what he shall answer in the history of the parable of the ten virgins, he was commanded to “write the vision, and make it plain upon tables.” The watchmen of Millerite history produced the 1843 chart in 1842, and its production became a waymark. It was the “vision” of Habakkuk two, that had been made plain upon tables that was to speak at the end.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những sự bội nghịch của các thế hệ thuộc Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm một lần nữa trở thành các vấn đề thử nghiệm. Chương hai sách Ha-ba-cúc chỉ ra một cuộc tranh luận diễn ra trong lịch sử tiên tri được trình bày ở đó, vốn là một tuyến tiên tri song song với dụ ngôn mười trinh nữ. Khi người lính canh hỏi rằng ông phải trả lời điều gì trong bối cảnh lịch sử của dụ ngôn mười trinh nữ, ông được truyền dạy: “Hãy chép khải tượng, và làm cho nó rõ ràng trên các bảng.” Những người lính canh trong lịch sử Phong trào Miller đã soạn ra tấm biểu đồ 1843 vào năm 1842, và việc soạn ra đó trở thành một mốc chỉ đường. Chính “khải tượng” của Ha-ba-cúc chương hai, đã được làm rõ trên các bảng, là điều sẽ lên tiếng vào thời kỳ cuối cùng.
Shortly after September 11, 2001 those who recognized the activity of Islam of the third woe, were led to return to Jeremiah’s “old paths,” and to walk therein. Those “old paths” identified that the three woes of Revelation chapter eight, verse thirteen represented the prophetic role of Islam. Immediately thereafter, Future for America began to reproduce the two charts of Habakkuk chapter two at the very same point in the parallel history of the Millerites, the two charts were set forth as a waymark, which had been represented by the production of the 1843 chart, in 1842.
Không lâu sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, những người nhận ra hoạt động của Hồi giáo trong cơn tai họa thứ ba đã được dẫn dắt trở về “những nẻo xưa” của Giê-rê-mi và bước đi trong đó. Những “nẻo xưa” ấy xác định rằng ba tai họa trong Khải Huyền đoạn 8, câu 13 biểu thị vai trò tiên tri của Hồi giáo. Ngay sau đó, Future for America bắt đầu tái bản hai biểu đồ của Ha-ba-cúc đoạn 2, đúng vào cùng điểm trong lịch sử song hành của phong trào Millerite; hai biểu đồ được trình bày như một cột mốc, điều vốn đã được thể hiện bởi việc ấn hành biểu đồ năm 1843 vào năm 1842.
“In May, 1842, a General Conference was convened in Boston, [Massachusetts]. At the opening of this meeting, Brethren Charles Fitch and Apollos Hale, of Haverhill, presented the pictorial prophecies of Daniel and John, which they had painted on cloth, with the prophetic numbers, showing their fulfillment. Brother Fitch in explaining from his chart before the Conference, said, while examining these prophecies, he had thought if he could get out something of the kind as here presented it would simplify the subject and make it easier for him to present to an audience. Here was more light in our pathway. These brethren had been doing what the Lord had shown Habakkuk in his vision 2,468 years before, saying, ‘Write the vision and make it plain upon tables, that he may run that readeth it. For the vision is yet for an appointed time.’ Habakkuk 2:2.
Vào tháng 5 năm 1842, một Đại Hội đồng được triệu tập tại Boston, [Massachusetts]. Khi khai mạc cuộc họp này, các anh em Charles Fitch và Apollos Hale, ở Haverhill, trình bày những lời tiên tri bằng hình ảnh của Daniel và John, mà họ đã vẽ trên vải, kèm các con số tiên tri, cho thấy sự ứng nghiệm của chúng. Anh Fitch, khi giải thích từ tấm biểu đồ của mình trước Hội đồng, nói rằng trong lúc khảo sát những lời tiên tri này, anh đã nghĩ rằng nếu có thể làm ra một thứ như được trình bày ở đây thì sẽ đơn giản hóa chủ đề và giúp anh dễ trình bày trước thính giả hơn. Ở đây có thêm ánh sáng cho con đường của chúng ta. Những anh em này đã làm điều mà Chúa đã chỉ cho Habakkuk trong khải tượng của ông từ 2.468 năm trước, rằng, 'Hãy viết khải tượng và làm cho rõ ràng trên các bảng, để người đọc nó có thể chạy. Vì khải tượng còn chờ đến một kỳ đã định.' Habakkuk 2:2.
“After some discussion on the subject, it was voted unanimously to have three hundred similar to this one lithographed, which was soon accomplished. They were called ‘the ‘43 charts.’ This was a very important Conference.” The Autobiography of Joseph Bates, 263.
Sau một số cuộc thảo luận về vấn đề này, người ta đã bỏ phiếu nhất trí cho in thạch bản ba trăm bản tương tự như bản này, và điều đó chẳng bao lâu đã được thực hiện. Chúng được gọi là “các biểu đồ '43.” Đây là một Hội nghị rất quan trọng. Tự truyện của Joseph Bates, 263.
“It was the united testimony of Second Advent lecturers and papers, when standing on ‘the original faith,’ that the publication of the chart was a fulfillment of Habakkuk 2:2, 3. If the chart was a subject of prophecy (and those who deny it leave the original faith), then it follows that BC 457 was the year from which to date the 2300 days. It was necessary that 1843 should be the first published time in order that ‘the vision’ should ‘tarry,’ or that there should be a tarrying time, in which the virgin band was to slumber and sleep on the great subject of time, just before they were to be aroused by the Midnight Cry.” James White, Second Advent Review and Sabbath Herald, Volume I, Number 2.
“Đó là lời chứng hiệp nhất của các giảng viên và các ấn phẩm về Tái Lâm lần thứ hai, khi đứng trên ‘đức tin ban đầu,’ rằng việc xuất bản biểu đồ là sự ứng nghiệm của Ha-ba-cúc 2:2, 3. Nếu biểu đồ là một chủ đề của lời tiên tri (và những người phủ nhận điều ấy là từ bỏ đức tin ban đầu), thì theo đó năm 457 TCN là năm làm mốc để tính 2300 ngày. Điều cần thiết là năm 1843 phải là thời điểm đầu tiên được công bố, hầu cho ‘khải tượng’ phải ‘chậm lại,’ hay là phải có một thời kỳ trì hoãn, trong đó đoàn trinh nữ phải buồn ngủ và ngủ mê về chủ đề trọng đại là thời gian, ngay trước khi họ được đánh thức bởi Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm.” James White, Second Advent Review and Sabbath Herald, Tập I, Số 2.
“Now our history shows that there were hundreds teaching from the same chronological charts that William Miller was, all of one stamp. Then it was the oneness of the message all on one theme, the coming of the Lord Jesus at a certain time, 1844.” Joseph Bates, Early SDA Pamphlets, 17.
"Giờ đây lịch sử của chúng ta cho thấy rằng đã có hàng trăm người giảng dạy theo cùng những biểu đồ niên đại mà William Miller cũng đã dùng, tất cả đều cùng một khuôn. Lúc ấy, sứ điệp mang tính thống nhất, tất cả xoay quanh một chủ đề: sự đến của Chúa Giê-xu vào một thời điểm nhất định, năm 1844." Joseph Bates, Early SDA Pamphlets, 17.
The reprinting of the 1843 and 1850 charts, in the immediate post-September 11, 2001 history was as much a fulfillment of Habakkuk two, as was the publication of the 1843 chart in 1842. The production of the tables is part of the narrative of Habakkuk chapter two, and it had to happen. On September 11, 2001 the rebellion of 1863 was again repeated by those Laodicean Adventists who refused to return to Jeremiah’s “old paths.”
Việc tái in các biểu đồ năm 1843 và 1850, trong bối cảnh lịch sử ngay sau sự kiện 11/9/2001, cũng là một sự ứng nghiệm của Ha-ba-cúc đoạn hai, không kém gì việc xuất bản biểu đồ năm 1843 vào năm 1842. Việc làm ra các bảng là một phần của câu chuyện trong Ha-ba-cúc đoạn hai, và điều đó phải xảy ra. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, cuộc phản nghịch năm 1863 đã lại tái diễn bởi những người Cơ Đốc Phục Lâm thuộc Lao-đi-xê, những người đã từ chối trở về với những “nẻo xưa” của Giê-rê-mi.
“The enemy is seeking to divert the minds of our brethren and sisters from the work of preparing a people to stand in these last days. His sophistries are designed to lead minds away from the perils and duties of the hour. They estimate as of little value the light that Christ came from heaven to give to John for His people. They teach that the scenes just before us are not of sufficient importance to receive special attention. They make of no effect the truth of heavenly origin, and rob the people of God of their past experience, giving them instead a false science. ‘Thus saith the Lord: Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein.’ [Jeremiah 6:16.]
Kẻ thù đang tìm cách làm lệch hướng tâm trí của các anh em và chị em chúng ta khỏi công việc chuẩn bị một dân để đứng vững trong những ngày sau rốt này. Những ngụy biện của hắn được lập ra nhằm dẫn dắt tâm trí xa rời các hiểm nguy và bổn phận của giờ phút này. Họ coi nhẹ ánh sáng mà Đấng Christ đã từ trời đến để ban cho Giăng vì dân Ngài. Họ dạy rằng những cảnh tượng ngay trước mắt chúng ta không đủ quan trọng để nhận được sự chú ý đặc biệt. Họ làm cho lẽ thật có nguồn gốc từ trời trở nên vô hiệu, và cướp đi kinh nghiệm quá khứ của dân Đức Chúa Trời, thay vào đó trao cho họ một thứ khoa học giả dối. “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng nơi các nẻo đường, nhìn xem, và hãy hỏi về các lối xưa, đâu là con đường tốt, hãy bước đi trong đó.” [Giê-rê-mi 6:16.]
“Let none seek to tear away the foundations of our faith,—the foundations that were laid at the beginning of our work, by prayerful study of the Word and by revelation. Upon these foundations we have been building for more than fifty years. Men may suppose that they have found a new way, that they can lay a stronger foundation than that which has been laid; but this is a great deception. ‘Other foundation can no man lay than that is laid.’ [1 Corinthians 3:11.] In the past, many have undertaken to build a new faith, to establish new principles; but how long did their building stand? It soon fell; for it was not founded upon the Rock.” Testimonies, volume 8, 296, 297.
"Đừng để ai tìm cách phá bỏ những nền tảng của đức tin chúng ta—những nền tảng đã được đặt ngay từ buổi đầu công việc của chúng ta, qua việc nghiên cứu Lời trong tinh thần cầu nguyện và qua sự bày tỏ. Trên những nền tảng này, chúng ta đã xây dựng suốt hơn năm mươi năm. Người ta có thể cho rằng họ đã tìm ra một con đường mới, rằng họ có thể đặt một nền tảng vững chắc hơn nền đã được đặt; nhưng đó là một sự lừa dối lớn. 'Không ai có thể đặt nền nào khác hơn nền đã đặt rồi.' [1 Cô-rinh-tô 3:11.] Trong quá khứ, nhiều người đã toan xây dựng một đức tin mới, thiết lập những nguyên tắc mới; nhưng công trình của họ đứng vững được bao lâu? Chẳng bao lâu nó đã sụp đổ; vì nó không được xây trên Đá." Testimonies, quyển 8, trang 296, 297.
Jeremiah identifies that to walk in the “old paths,” is to find “the rest”, and the rest is “the latter rain”, which began when the nations were angered on September 11, 2001, when the great buildings of New York City came down. Those that then ate the message became Habakkuk’s watchmen who were to “write the vision, and make it plain”. Jeremiah identifies the very same watchmen during the time of “the rest”, which is “the latter rain”.
Giê-rê-mi-a chỉ ra rằng bước đi trong “những nẻo đường xưa” là tìm được “sự yên nghỉ”, và sự yên nghỉ ấy chính là “mưa cuối mùa”, vốn khởi đầu khi các dân tộc nổi giận vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi những tòa nhà lớn của Thành phố New York đổ sập. Những người khi ấy đã ăn lấy sứ điệp trở thành những lính canh của Ha-ba-cúc, những người được dặn phải “viết khải tượng và làm cho rõ ràng”. Giê-rê-mi-a chỉ ra chính những lính canh ấy trong thời kỳ của “sự yên nghỉ”, tức là “mưa cuối mùa”.
Thus saith the Lord, Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein, and ye shall find rest for your souls. But they said, We will not walk therein. Also I set watchmen over you, saying, Hearken to the sound of the trumpet. But they said, We will not hearken. Jeremiah 6:16, 17.
Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng nơi các nẻo đường mà xem, và hỏi về các lối xưa, đâu là con đường tốt, hãy bước đi trong đó, thì các ngươi sẽ tìm được sự an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng họ nói: Chúng tôi chẳng bước đi trong đó. Ta cũng đặt những kẻ canh giữ trên các ngươi, mà rằng: Hãy lắng nghe tiếng kèn. Nhưng họ nói: Chúng tôi chẳng lắng nghe. Giê-rê-mi 6:16, 17.
The trumpet that they were to sound is the sixth trumpet of the second woe in Millerite history, and in the last days it is the seventh trumpet of the third woe. Habakkuk’s watchmen, who are Jeremiah’s watchmen, sound a warning message that in the rebellion of 1888, was rejected. The sixth trumpet that was rejected in 1888, was the message to Laodicea.
Tiếng kèn mà họ phải thổi là tiếng kèn thứ sáu của tai họa thứ hai trong lịch sử Millerite, và trong những ngày cuối cùng, đó là tiếng kèn thứ bảy của tai họa thứ ba. Những người lính canh của Habakkuk, cũng là những người lính canh của Jeremiah, cất lên một sứ điệp cảnh báo đã bị bác bỏ trong cuộc phản loạn năm 1888. Tiếng kèn thứ sáu đã bị bác bỏ vào năm 1888 chính là sứ điệp gửi cho Laodicea.
“The message given us by A. T. Jones, and E. J. Waggoner is the message of God to the Laodicean church, and woe be unto anyone who professes to believe the truth and yet does not reflect to others the God-given rays.” The 1888 Materials, 1053.
"Sứ điệp được A. T. Jones và E. J. Waggoner ban cho chúng ta là sứ điệp của Đức Chúa Trời gửi cho Hội thánh Lao-đi-xê, và khốn thay cho bất cứ ai tự xưng là tin lẽ thật mà lại không phản chiếu cho người khác những tia sáng do Đức Chúa Trời ban." Tài liệu 1888, 1053.
The seventh trumpet message of 1888, was first sounded to Laodicea in 1856, and then the Laodicean message was placed within the context of the increasing light of the “seven times.” On September 11, 2001 the call to return to Jeremiah’s old paths, and to walk therein for the purpose of obtaining the message of the latter rain, included the seventh Trumpet warning message that is represented as the message to Laodicea, and the “seven times,” which is the symbol of the foundations.
Sứ điệp tiếng kèn thứ bảy của năm 1888 đã lần đầu tiên vang lên cho Laodicea vào năm 1856, rồi sứ điệp Laodicea được đặt trong bối cảnh của ánh sáng ngày càng tăng của “bảy lần”. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, lời kêu gọi trở lại những lối xưa của Jeremiah và bước đi trên đó nhằm nhận được sứ điệp của mưa cuối mùa, bao gồm sứ điệp cảnh báo của tiếng kèn thứ bảy, được xem như sứ điệp gởi cho Laodicea, và “bảy lần”, vốn là biểu tượng của các nền tảng.
The “lie” identified by prophecy that produces the strong delusion of Paul’s writings was placed into the third generation of Laodicean Adventism in 1931, sixteen years after the death of the prophetess. The “lie” which arrived in the third generation is prophetically located in the period represented as the “women weeping for Tammuz,” and is therefore associated with the false latter rain message.
"Lời nói dối" được lời tiên tri chỉ ra, vốn tạo nên sự lừa dối mạnh mẽ mà các thư tín của Phao-lô nói đến, đã được đưa vào thế hệ thứ ba của Phục Lâm La-ô-đi-xê vào năm 1931, mười sáu năm sau khi nữ tiên tri qua đời. "Lời nói dối" xuất hiện ở thế hệ thứ ba này, về mặt tiên tri, được đặt trong thời kỳ được mô tả là "những người nữ khóc than vì Tammuz", và do đó gắn liền với sứ điệp mưa muộn giả.
The details of how the “lie” was propagated should be understood, as should the prophetic role of the “lie” in end-time prophecy. The scornful men that rule Jerusalem in the time of the latter rain, which is the time of the sealing of the one hundred and forty-four thousand, created a false latter rain message in the third generation of Adventism, as represented by the “women weeping for Tammuz,” in Ezekiel chapter eight. Their false latter rain message is also represented as a false foundation, a false wall of protection, and a false peace and safety message by Ezekiel.
Cần hiểu rõ chi tiết về cách “sự dối trá” ấy được truyền bá, cũng như vai trò tiên tri của “sự dối trá” ấy trong lời tiên tri thời kỳ sau rốt. Những kẻ nhạo báng cai trị Giê-ru-sa-lem vào thời kỳ mưa cuối mùa, tức thời điểm đóng ấn một trăm bốn mươi bốn ngàn, đã tạo ra một thông điệp mưa cuối mùa giả trong thế hệ thứ ba của phong trào Phục Lâm, như được biểu thị bởi “những phụ nữ khóc cho Tammuz” trong Ê-xê-chi-ên chương tám. Thông điệp mưa cuối mùa giả của họ cũng được Ê-xê-chi-ên mô tả như một nền móng giả, một bức tường bảo vệ giả, và một thông điệp “bình an và an ổn” giả.
Have ye not seen a vain vision, and have ye not spoken a lying divination, whereas ye say, The Lord saith it; albeit I have not spoken? Therefore thus saith the Lord God; Because ye have spoken vanity, and seen lies, therefore, behold, I am against you, saith the Lord God. And mine hand shall be upon the prophets that see vanity, and that divine lies: they shall not be in the assembly of my people, neither shall they be written in the writing of the house of Israel, neither shall they enter into the land of Israel; and ye shall know that I am the Lord God. Because, even because they have seduced my people, saying, Peace; and there was no peace; and one built up a wall, and, lo, others daubed it with untempered mortar: Say unto them which daub it with untempered mortar, that it shall fall: there shall be an overflowing shower; and ye, O great hailstones, shall fall; and a stormy wind shall rend it. Lo, when the wall is fallen, shall it not be said unto you, Where is the daubing wherewith ye have daubed it? Therefore thus saith the Lord God; I will even rend it with a stormy wind in my fury; and there shall be an overflowing shower in mine anger, and great hailstones in my fury to consume it. So will I break down the wall that ye have daubed with untempered mortar, and bring it down to the ground, so that the foundation thereof shall be discovered, and it shall fall, and ye shall be consumed in the midst thereof: and ye shall know that I am the Lord. Thus will I accomplish my wrath upon the wall, and upon them that have daubed it with untempered mortar, and will say unto you, The wall is no more, neither they that daubed it; To wit, the prophets of Israel which prophesy concerning Jerusalem, and which see visions of peace for her, and there is no peace, saith the Lord God. Ezekiel 13:7–16.
Há các ngươi chẳng đã thấy một khải tượng hư không, và chẳng đã nói sự bói đoán dối trá, vì các ngươi nói rằng: Chúa phán; dầu Ta chẳng hề phán ư? Vì vậy nên Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì các ngươi đã nói sự hư không, và đã thấy sự giả dối, nên, kìa, Ta nghịch cùng các ngươi, Chúa Giê-hô-va phán. Tay Ta sẽ giáng trên các tiên tri thấy sự hư không và bói đoán điều dối trá; họ sẽ không ở trong hội chúng dân Ta, cũng không được ghi vào sổ bộ nhà Y-sơ-ra-ên, cũng không được vào xứ Y-sơ-ra-ên; và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa Giê-hô-va. Vì, thật vậy, bởi họ đã dụ dỗ dân Ta mà rằng: Bình an! song chẳng có bình an; kẻ này xây một bức tường, kìa, kẻ khác trát nó bằng vữa chưa tôi. Hãy nói với những kẻ trát nó bằng vữa chưa tôi rằng: Nó sẽ sập; sẽ có mưa lớn tràn lụt; và, hỡi những cục mưa đá rất lớn, các ngươi sẽ sa xuống; và một cơn gió bão dữ dội sẽ xé rách nó. Kìa, khi bức tường đã sập, há chẳng sẽ có người nói với các ngươi: Cái lớp trát mà các ngươi đã trát nó đâu? Vì vậy nên Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Trong cơn thịnh nộ Ta, Ta sẽ dùng gió bão xé rách nó; sẽ có mưa lớn tràn lụt trong cơn giận Ta, và những cục mưa đá rất lớn trong cơn thịnh nộ Ta để tiêu diệt nó. Ta sẽ phá đổ bức tường mà các ngươi đã trát bằng vữa chưa tôi, và hạ nó xuống đất, để nền của nó lộ ra; nó sẽ sập, và các ngươi sẽ bị tiêu diệt ở giữa nó; và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa Giê-hô-va. Ta sẽ làm trọn cơn thịnh nộ Ta trên bức tường và trên những kẻ đã trát nó bằng vữa chưa tôi, và sẽ nói với các ngươi: Bức tường chẳng còn nữa, kẻ trát nó cũng chẳng còn; tức là các tiên tri của Y-sơ-ra-ên, những kẻ nói tiên tri về Giê-ru-sa-lem và thấy những khải tượng bình an cho nó, song chẳng có bình an nào, Chúa Giê-hô-va phán. Ê-xê-chi-ên 13:7-16.
The falsehood and lies which the scornful men in Jerusalem hide beneath in Isaiah chapters twenty-eight and twenty-nine are ultimately judged and destroyed by the “overflowing scourge.”
Trong Ê-sai các chương 28 và 29, sự giả dối và những lời dối trá mà những kẻ nhạo báng ở Giê-ru-sa-lem ẩn nấp dưới đó rốt cuộc bị phán xét và tiêu diệt bởi "roi vọt tràn ngập".
Judgment also will I lay to the line, and righteousness to the plummet: and the hail shall sweep away the refuge of lies, and the waters shall overflow the hiding place. And your covenant with death shall be disannulled, and your agreement with hell shall not stand; when the overflowing scourge shall pass through, then ye shall be trodden down by it. Isaiah 28:17, 18.
Ta cũng sẽ lấy lẽ công bình làm dây đo, và lấy sự công chính làm chì dọi; mưa đá sẽ quét sạch nơi nương náu của sự dối trá, và nước lũ sẽ ngập tràn chỗ ẩn náu. Giao ước của các ngươi với sự chết sẽ bị hủy bỏ, và hiệp ước của các ngươi với Âm phủ sẽ không đứng vững; khi tai họa tràn ngập đi qua, bấy giờ các ngươi sẽ bị nó chà đạp. Ê-sai 28:17, 18.
Isaiah’s “overflowing scourge” is Ezekiel’s “overflowing shower,” that is brought upon those who have “divined lies,” by presenting a “vain vision” and by claiming “the Lord saith it,” “albeit” the Lord had “not spoken.” The “lie” that the ancient men hide under is represented as something they claim that the Lord had spoken, so it is a “lie” about God’s Word. Either they have identified a doctrine from God’s Word as error, or they have erroneously claimed that God directed their understanding (God had spoken), upon a doctrine of the Bible.
“Cơn roi vọt tràn lụt” của Ê-sai chính là “trận mưa tràn lũ” của Ê-xê-chi-ên, điều ấy giáng trên những kẻ đã “bói ra điều dối trá” bằng cách trình bày một “khải tượng hư không” và quả quyết “Chúa phán vậy”, “mặc dầu” Chúa “chẳng hề phán.” “Sự dối trá” mà những người xưa ẩn nấp dưới được trình bày như điều họ khẳng định rằng Chúa đã phán; vì vậy đó là một “sự dối trá” về Lời Đức Chúa Trời. Hoặc họ đã coi một giáo lý từ Lời Đức Chúa Trời là sai lầm, hoặc họ đã lầm lẫn quả quyết rằng Đức Chúa Trời đã hướng dẫn sự hiểu biết của họ (Chúa đã phán) về một giáo lý trong Kinh Thánh.
The “lie” that arrived in 1931, was a claim that Sister White had endorsed the false view of “the daily,” in the book of Daniel. The false view that “the daily,” represents Christ’s sanctuary ministry was premised upon a “lie” which claimed that in 1910, Ellen White had informed A. G. Daniells that he and Prescott’s view of “the daily,” representing Christ’s sanctuary ministry was actually correct, in spite of her direct written words to the contrary.
“Lời nói dối” xuất hiện vào năm 1931 là lời khẳng định rằng Bà White đã ủng hộ quan điểm sai lầm về “the daily” trong sách Daniel. Quan điểm sai lầm cho rằng “the daily” đại diện cho chức vụ đền thánh của Đấng Christ được dựa trên một “lời nói dối” khẳng định rằng vào năm 1910, Ellen White đã cho A. G. Daniells biết rằng quan điểm của ông và của Prescott về “the daily” — rằng nó đại diện cho chức vụ đền thánh của Đấng Christ — thực ra là đúng, bất chấp những lời bà đã viết trực tiếp phủ nhận điều đó.
The false view of “the daily,” that was then (1931) established within Laodicean Adventism, became the theological foundation which was employed to build a message that is described by Ezekiel as “peace and safety.” The various arguments that are employed to uphold the false foundation are the various counterfeit coins and jewels that Miller saw in his dream. By the end of his dream his original jewels are fully covered with counterfeits and rubbish, and the rubbish and counterfeit jewels and coins represent the message that was based upon their foundational error that “the daily” represents Christ’s sanctuary ministry.
Quan điểm sai lầm về “sự hằng ngày”, vốn khi ấy (năm 1931) được thiết lập trong Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, đã trở thành nền tảng thần học được dùng để xây dựng một sứ điệp mà Ê-xê-chi-ên mô tả là “bình an và an ổn”. Các lập luận khác nhau được dùng để chống đỡ nền tảng sai lầm ấy chính là những đồng tiền và châu báu giả mà Miller đã thấy trong giấc mơ của mình. Đến cuối giấc mơ, các châu báu nguyên bản của ông bị che phủ hoàn toàn bởi đồ giả và rác rưởi, và đống rác cùng các châu báu và đồng tiền giả ấy tượng trưng cho sứ điệp được đặt trên sai lầm nền tảng rằng “sự hằng ngày” đại diện cho chức vụ của Đấng Christ trong đền thánh.
In Ezekiel’s passage the rubbish and counterfeit jewels is represented as a “wall” that has been built with a cement that is so weak it cannot hold up under the stress of the “stormy wind” or the “overflowing shower.”
Trong đoạn sách Ê-xê-chi-ên, rác rưởi và đá quý giả được ví như một "bức tường" được xây bằng thứ vữa yếu đến nỗi không thể trụ vững trước sức ép của "gió bão" hoặc "trận mưa tuôn xối xả."
The disobedient prophet from Judah that rebuked Jeroboam, ultimately died between an “ass” and a “lion”. The lion represents Babylon and the ass represents Islam. The two doctrines which Laodicean Adventism cannot see, that are represented by the death of the disobedient prophet are the message of the papacy (the lion), and the message of Islam of the third Woe (the ass).
Nhà tiên tri bất tuân từ Giu-đa, người đã quở trách Giê-rô-bô-am, rốt cuộc đã chết giữa một “con lừa” và một “con sư tử”. Sư tử tượng trưng cho Ba-by-lôn và con lừa tượng trưng cho Hồi giáo. Hai giáo lý mà Chủ nghĩa Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê không nhận ra, được tượng trưng bởi cái chết của nhà tiên tri bất tuân, là sứ điệp của giáo hoàng quyền (sư tử) và sứ điệp của Hồi giáo thuộc Khốn thứ ba (con lừa).
Ezekiel’s “stormy wind,” is a symbol of Isaiah’s “rough wind that is stayed” in “the day of the east wind” in chapter twenty seven. Ezekiel’s “stormy wind” is also the “four winds” of Revelation chapter seven, that are held until God’s servants are sealed. Ezekiel’s “stormy wind” is his message from the “four winds” in chapter thirty-seven, that brings the dead dry bones to life as a mighty army. Ezekiel’s “stormy wind” that brings down the “wall built with untempered mortar,” is the latter rain message of the third Woe.
“Gió bão” của Ê-xê-chi-ên là biểu tượng của “cơn gió dữ bị ngăn lại” của Ê-sai trong “ngày gió đông” ở chương hai mươi bảy. “Gió bão” của Ê-xê-chi-ên cũng là “bốn luồng gió” trong Khải Huyền chương bảy, bị giữ lại cho đến khi các tôi tớ của Đức Chúa Trời được đóng ấn. “Gió bão” của Ê-xê-chi-ên là sứ điệp của ông từ “bốn luồng gió” trong chương ba mươi bảy, làm cho những bộ xương khô sống lại thành một đạo quân hùng mạnh. “Gió bão” của Ê-xê-chi-ên, thứ làm sụp đổ “bức tường xây bằng vữa không tôi,” là sứ điệp mưa cuối mùa của tai họa thứ ba.
Ezekiel’s “overflowing shower” is a symbol of the papacy, and more specifically it is the symbol of the period of the Sunday law crisis which begins at the soon-coming Sunday law in the United States. The disobedient prophet from Judah that died between the ass and the lion, represented the death of Laodicean Adventism that takes place between September 11, 2001, at the arrival of the ass (the third woe), and the soon-coming Sunday law (the lion). Laodicean Adventism’s death occurs during the sealing of the one hundred and forty-four thousand that began when the nations were angered, yet held in check on September 11, 2001, and concludes at the soon-coming Sunday law. Their death, as illustrated by the disobedient prophet, is brought about because they returned to the methodology of apostate Protestantism, though they had been directly informed to never return to the “assembly of mockers.”
“Cơn mưa tuôn tràn” của Ê-xê-chi-ên là một biểu tượng của giáo hoàng quyền, và cụ thể hơn, đó là biểu tượng của giai đoạn khủng hoảng về luật Chủ nhật, bắt đầu với luật Chủ nhật sắp tới tại Hoa Kỳ. Vị tiên tri bất tuân từ Giu-đa, người đã chết giữa con lừa và con sư tử, đại diện cho cái chết của Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea, vốn diễn ra trong khoảng thời gian giữa ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi con lừa đến (tai họa thứ ba), và luật Chủ nhật sắp tới (con sư tử). Cái chết của Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea diễn ra trong thời kỳ đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn, vốn bắt đầu khi các dân tộc nổi giận nhưng bị kiềm chế vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và kết thúc tại thời điểm luật Chủ nhật sắp tới. Cái chết của họ, như được minh họa bởi vị tiên tri bất tuân, xảy ra vì họ đã quay lại với phương pháp luận của Tin Lành bội đạo, mặc dù họ đã được thông báo trực tiếp là đừng bao giờ trở lại “hội của kẻ nhạo báng.”
Their death occurs in the history of the sealing of the one hundred and forty-four thousand. As soon as God’s people are sealed, the destroying angels begin their work. From September 11, 2001 unto the soon-coming Sunday law the judgment of the living is accomplished in God’s church, for judgment begins in Jerusalem, and it begins with the ancient men that were to be the guardians of the people, but who had abandoned their responsibilities over four generations. Those who receive the seal in that period are the ensign that is lifted up to the nations. They are sealed before the soon-coming Sunday law for the only way God’s other flock can be warned is by seeing men and women in the Sunday law crisis who have the seal of God.
Cái chết của họ xảy ra trong lịch sử việc đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Ngay khi dân Đức Chúa Trời được đóng ấn, các thiên sứ hủy diệt bắt đầu công việc của họ. Từ ngày 11 tháng 9 năm 2001 cho đến khi luật ngày Chủ nhật sắp đến, sự phán xét những người sống được tiến hành trong hội thánh của Đức Chúa Trời, vì sự phán xét khởi đầu tại Giê-ru-sa-lem, và bắt đầu với các trưởng lão vốn phải là những người canh giữ của dân sự, nhưng đã bỏ bê trách nhiệm của mình suốt bốn thế hệ. Những người nhận ấn trong thời kỳ đó là tiêu kỳ được giương lên cho các dân tộc. Họ được đóng ấn trước luật ngày Chủ nhật sắp đến, vì cách duy nhất để bầy chiên khác của Đức Chúa Trời được cảnh báo là nhìn thấy những người nam và nữ trong cơn khủng hoảng luật ngày Chủ nhật có ấn của Đức Chúa Trời.
“The work of the Holy Spirit is to convince the world of sin, of righteousness and of judgment. The world can only be warned by seeing those who believe the truth sanctified through the truth, acting upon high and holy principles, showing in a high, elevated sense, the line of demarcation between those who keep the commandments of God, and those who trample them under their feet. The sanctification of the Spirit signalizes the difference between those who have the seal of God, and those who keep a spurious rest-day. When the test comes, it will be clearly shown what the mark of the beast is. It is the keeping of Sunday. Those who after having heard the truth, continue to regard this day as holy, bear the signature of the man of sin, who thought to change times and laws.” Bible Training School, December 1, 1903.
"Công việc của Đức Thánh Linh là cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét. Thế gian chỉ có thể được cảnh cáo khi thấy những người tin lẽ thật được thánh hóa bởi lẽ thật, hành động theo những nguyên tắc cao cả và thánh khiết, bày tỏ một cách cao cả và rõ ràng ranh giới phân định giữa những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và những kẻ giày đạp chúng dưới chân. Sự thánh hóa của Đức Thánh Linh đánh dấu sự khác biệt giữa những người có ấn của Đức Chúa Trời và những kẻ giữ một ngày nghỉ giả mạo. Khi sự thử thách đến, dấu của con thú là gì sẽ được bày tỏ rõ ràng. Ấy là việc giữ ngày Chủ nhật. Những ai, sau khi đã nghe lẽ thật, vẫn tiếp tục xem ngày ấy là thánh, mang lấy dấu ấn của con người tội ác, kẻ đã toan đổi thay các thời kỳ và luật pháp." Bible Training School, ngày 1 tháng 12, 1903.
The death of Laodicean Adventism is accomplished during the history of the latter rain, that began to sprinkle on September 11, 2001, and is poured out without measure at the soon-coming Sunday law, when God has established and then lifts up as an ensign a people who have been sealed for eternity.
Sự chết của chủ nghĩa Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê được hoàn tất trong lịch sử của cơn mưa cuối mùa, vốn bắt đầu lấm tấm từ ngày 11 tháng 9 năm 2001, và sẽ được đổ xuống cách không hạn chế vào lúc đạo luật Chủ nhật sắp được ban hành, khi Đức Chúa Trời đã lập nên một dân sự đã được đóng ấn cho cõi đời đời, rồi giương họ lên như một tiêu kỳ.
In that period of time, those in Laodicean Adventism that are preparing for, and will receive the mark of the beast, are represented by the twenty-five men bowing to the sun in Ezekiel chapter eight. They are those who have accepted Ezekiel’s false “peace and safety” message, that represents a counterfeit of the true latter rain message, that is being proclaimed by the true watchmen in that history. The foundation of that false latter rain message is the identification that “the daily” in the book of Daniel is a symbol of Christ, when it is actually a symbol of Satan. That false foundational belief is the doctrine that the “scornful men that rule the people of Jerusalem” employ to erect their untempered wall.
Trong khoảng thời gian ấy, những người trong hàng ngũ Cơ Đốc Phục Lâm ở tình trạng La-ô-đi-xê đang chuẩn bị và sẽ nhận dấu của con thú, được đại diện bởi hai mươi lăm người cúi lạy mặt trời trong Ê-xê-chi-ên đoạn 8. Họ là những kẻ đã chấp nhận sứ điệp “bình an và an ổn” giả mạo, như Ê-xê-chi-ên mô tả, vốn là một sự giả mạo của sứ điệp mưa cuối mùa chân thật đang được các lính canh chân thật rao truyền trong lịch sử ấy. Nền tảng của sứ điệp mưa cuối mùa giả đó là sự xác định rằng “sự hằng ngày” trong sách Đa-ni-ên là biểu tượng của Đấng Christ, trong khi thực ra nó là biểu tượng của Sa-tan. Niềm tin nền tảng sai lạc ấy là giáo lý mà “những kẻ nhạo báng cai trị dân Giê-ru-sa-lem” dùng để dựng nên bức tường trét hồ không chín của họ.
The identification of “the daily,” as a symbol of Christ was historically put in place by a “lie,” in 1931. From then onward the untempered wall of counterfeit coins and jewels was erected. That “wall” is destined to come down when the dirt brush man arrives to thoroughly purge His floor. That purging is accomplished in the prophetic period of history between the “stormy wind” (the ass of September 11, 2001), and the “overflowing showers” (the lion of the soon-coming Sunday law). In that history the disobedient prophet is slain and buried in the tomb of the false prophet of Bethel. Sister White identifies the “wall” of prophecy as the law of God.
Việc xác định "the daily" như một biểu tượng của Đấng Christ đã được thiết lập về mặt lịch sử bởi một "sự dối trá" vào năm 1931. Kể từ đó, bức tường không được tôi luyện bằng những đồng tiền và châu báu giả mạo đã được dựng lên. "Bức tường" đó được định sẵn sẽ sụp đổ khi người quét bụi đến để quét sạch sàn của Ngài một cách triệt để. Việc tẩy sạch đó được thực hiện trong thời kỳ lịch sử mang tính tiên tri giữa "cơn gió bão" (con lừa của ngày 11 tháng 9 năm 2001) và "những cơn mưa tuôn tràn" (sư tử của luật Chủ nhật sắp tới). Trong lịch sử đó, nhà tiên tri bất tuân bị giết và chôn trong mộ của nhà tiên tri giả ở Bê-tên. Bà White xác định "bức tường" của lời tiên tri là luật pháp của Đức Chúa Trời.
“The prophet here describes a people who, in a time of general departure from truth and righteousness, are seeking to restore the principles that are the foundation of the kingdom of God. They are repairers of a breach that has been made in God’s law—the wall that He has placed around His chosen ones for their protection, and obedience to whose precepts of justice, truth, and purity is to be their perpetual safeguard.
Vị tiên tri ở đây mô tả một dân sự, là những người, trong một thời kỳ có sự xa rời phổ biến khỏi lẽ thật và sự công chính, đang tìm cách khôi phục những nguyên tắc vốn là nền tảng của Nước Đức Chúa Trời. Họ là những người sửa chữa lỗ hổng đã bị tạo ra trong luật pháp của Đức Chúa Trời—bức tường mà Ngài đã dựng quanh những người được chọn của Ngài để bảo vệ họ—và sự vâng phục các giới luật về công lý, lẽ thật và sự thanh khiết của luật pháp ấy sẽ là sự bảo vệ thường hằng cho họ.
“In words of unmistakable meaning the prophet points out the specific work of this remnant people who build the wall. ‘If thou turn away thy foot from the Sabbath, from doing thy pleasure on My holy day; and call the Sabbath a delight, the holy of the Lord, honorable; and shalt honor Him, not doing thine own ways, nor finding thine own pleasure, nor speaking thine own words: then shalt thou delight thyself in the Lord; and I will cause thee to ride upon the high places of the earth, and feed thee with the heritage of Jacob thy father: for the mouth of the Lord hath spoken it.’ Isaiah 58:13, 14.” Prophets and Kings, 678.
Bằng những lời lẽ có ý nghĩa không thể hiểu lầm, vị tiên tri chỉ ra công việc cụ thể của dân sót lại này, những người xây bức tường. “Nếu ngươi giữ chân mình khỏi phạm ngày Sa-bát, không làm theo ý thích mình trong ngày thánh của Ta; và gọi ngày Sa-bát là sự vui thích, là thánh của Đức Giê-hô-va, đáng tôn kính; và ngươi tôn kính Ngài, không làm theo đường lối riêng mình, không tìm thú vui riêng mình, không nói lời của chính mình: thì bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm sự vui thỏa; và Ta sẽ khiến ngươi cưỡi trên các nơi cao của đất, và cho ngươi hưởng cơ nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ ngươi; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy.” Ê-sai 58:13, 14. Tiên tri và Các Vua, 678.
The beginning of the fourth generation of Adventism is marked by the publication of a book, as was the beginning of the third generation. The third generation began with the publication of W. W. Prescott’s, The Doctrine of Christ, and that generation ended with the publication of Questions on Doctrine. The Doctrine of Christ presented a gospel that was purposely void of the Millerite prophetic message. Questions on Doctrine presented a gospel that denied the work of sanctification that is accomplished by Christ. The Doctrine of Christ removed the light of the (chazon) vision of prophetic history, and Questions on Doctrine removed the light of the (Mareh) vision of Christ’s “appearance”.
Sự khởi đầu của thế hệ thứ tư của phong trào Phục Lâm được đánh dấu bằng việc xuất bản một cuốn sách, cũng như sự khởi đầu của thế hệ thứ ba. Thế hệ thứ ba bắt đầu với việc xuất bản tác phẩm The Doctrine of Christ của W. W. Prescott, và thế hệ đó kết thúc với việc xuất bản Questions on Doctrine. The Doctrine of Christ trình bày một phúc âm cố ý loại bỏ sứ điệp tiên tri Millerite. Questions on Doctrine trình bày một phúc âm phủ nhận công cuộc nên thánh do Đấng Christ thực hiện. The Doctrine of Christ đã loại bỏ ánh sáng của khải tượng (chazon) về lịch sử tiên tri, và Questions on Doctrine đã loại bỏ ánh sáng của khải tượng (Mareh) về "sự xuất hiện" của Đấng Christ.
In between those two books the false latter rain message represented by the “women weeping for Tammuz” was developed. It was in that history that the “lie of 1931,” was promoted. That third generation (abomination) is also represented by the compromise of the third church of Pergamos. The symbol of compromise in the third church, identifies the work of seeking accreditation from the worldly institutions that dictated rules for theology and rules for medicine. It was in the third generation that the compromise of truth was accomplished, which included the introduction and emphasis on the use of Bibles that had been translated from corrupted manuscripts.
Trong khoảng giữa hai cuốn sách ấy, sứ điệp mưa rào muộn giả, được biểu trưng bởi “những phụ nữ khóc than vì Tammuz,” đã được phát triển. Chính trong giai đoạn lịch sử đó, “sự dối trá năm 1931” đã được cổ xúy. Thế hệ thứ ba ấy (sự gớm ghiếc) cũng được biểu trưng bởi sự thỏa hiệp của hội thánh thứ ba ở Bẹt-gam. Biểu tượng của sự thỏa hiệp trong hội thánh thứ ba cho thấy việc tìm kiếm sự công nhận từ các định chế thế tục, những nơi áp đặt các quy tắc cho thần học và cho y học. Chính trong thế hệ thứ ba mà sự thỏa hiệp với lẽ thật đã được hoàn tất, bao gồm việc đưa vào và nhấn mạnh việc sử dụng các bản Kinh Thánh được dịch từ những bản thảo đã bị làm sai lệch.
In 1957, the book Questions on Doctrine, represented a capitulation of the primary truth of the gospel. That truth being Jesus died to save us “from” sin, but he did not die to save us “in” sin. The Catholic and apostate Protestant teaching that a man cannot be obedient to God’s Word is Satan’s eternal argument. Man can, and must be obedient to God’s Word, even if Satan claims that “thou shall not surely die.” The fallen apostate Protestant view that men cannot overcome sin, and therefore men cannot be obedient to God’s law until Jesus magically transforms them into obedient robots at His second coming, was incorporated into the teachings of the book Questions on Doctrine.
Năm 1957, cuốn sách Questions on Doctrine đồng nghĩa với việc từ bỏ chân lý cốt lõi của phúc âm. Chân lý ấy là Chúa Giê-su đã chết để cứu chúng ta “khỏi” tội lỗi, chứ Ngài không chết để cứu chúng ta “trong” tội lỗi. Giáo huấn của Công giáo và của phái Tin Lành bội đạo cho rằng con người không thể vâng phục Lời Đức Chúa Trời là luận điệu muôn thuở của Sa-tan. Con người có thể, và phải, vâng phục Lời Đức Chúa Trời, dẫu Sa-tan có khẳng định rằng “ngươi chắc chẳng chết đâu.” Quan điểm sa ngã của phái Tin Lành bội đạo cho rằng con người không thể thắng hơn tội lỗi, và vì thế con người không thể vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời cho đến khi Chúa Giê-su một cách kỳ diệu biến họ thành những rô-bốt vâng lời trong lần tái lâm của Ngài, đã được đưa vào giáo huấn của cuốn sách Questions on Doctrine.
In 1957, the fourth generation of Laodicean Adventism began, and its untempered wall (law), had been established, thus providing the logic that will allow the twenty-five ancient men to bow to the sun at the conclusion of the time of the sealing of the one hundred and forty-four thousand. That untempered wall, which is the belief that keeping the law of God is impossible, is swept away when the “wall” of separation of Church and State is removed, at the soon-coming Sunday law. The Sunday law is the overflowing showers, or as Isaiah expresses it, it is the overflowing scourge, and that flood begins at the soon-coming Sunday law in the United States.
Vào năm 1957, thế hệ thứ tư của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê đã bắt đầu, và bức tường không được tôi luyện (luật pháp) đã được thiết lập, qua đó cung cấp cơ sở lý luận sẽ cho phép hai mươi lăm trưởng lão cúi lạy mặt trời vào lúc kết thúc thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Bức tường không được tôi luyện ấy—tức niềm tin rằng việc giữ luật pháp của Đức Chúa Trời là điều không thể—sẽ bị cuốn trôi khi “bức tường” phân cách giữa Giáo hội và Nhà nước bị dỡ bỏ, vào thời điểm luật Chủ nhật sắp đến. Luật Chủ nhật là những cơn mưa ào ạt tràn ngập, hay như Ê-sai diễn tả, là cơn tai họa tràn ngập; và trận lũ ấy bắt đầu với luật Chủ nhật sắp đến tại Hoa Kỳ.
At the Sunday law in the United States the enemy (the pope) comes in “as a flood” (the overflowing scourge), and it is then that “the ensign” is lifted up against him. It is then that the “untempered wall” that Laodicean Adventism erected upon the false application of “the daily” is swept away.
Khi có luật ngày Chủ nhật tại Hoa Kỳ, kẻ thù (giáo hoàng) tràn vào "như nước lũ" (tai họa tràn ngập), và chính khi đó "cờ hiệu" được giương lên chống lại y. Cũng chính khi ấy, "bức tường không trát vữa" mà Cơ Đốc Phục Lâm Laodixê đã dựng lên dựa trên sự áp dụng sai lầm của "the daily" bị quét sạch.
According to their deeds, accordingly he will repay, fury to his adversaries, recompense to his enemies; to the islands he will repay recompense. So shall they fear the name of the Lord from the west, and his glory from the rising of the sun. When the enemy shall come in like a flood, the Spirit of the Lord shall lift up a standard against him. And the Redeemer shall come to Zion, and unto them that turn from transgression in Jacob, saith the Lord. As for me, this is my covenant with them, saith the Lord; My spirit that is upon thee, and my words which I have put in thy mouth, shall not depart out of thy mouth, nor out of the mouth of thy seed, nor out of the mouth of thy seed’s seed, saith the Lord, from henceforth and forever. Arise, shine; for thy light is come, and the glory of the Lord is risen upon thee. For, behold, the darkness shall cover the earth, and gross darkness the people: but the Lord shall arise upon thee, and his glory shall be seen upon thee. And the Gentiles shall come to thy light, and kings to the brightness of thy rising. Isaiah 59:18–60:3.
Theo công việc của họ, Người sẽ báo trả: cơn thịnh nộ cho những kẻ đối nghịch, báo ứng cho các kẻ thù; đối với các hải đảo, Người cũng sẽ báo ứng. Bấy giờ người ta sẽ kính sợ danh của Chúa từ phương tây, và vinh quang của Ngài từ nơi mặt trời mọc. Khi kẻ thù kéo đến như nước lũ, Thần của Chúa sẽ giương cờ chống lại nó. Và Đấng Cứu Chuộc sẽ đến Si-ôn, đến với những kẻ trong Gia-cốp quay khỏi tội lỗi, Chúa phán. Phần Ta, đây là giao ước của Ta với họ, Chúa phán: Thần Ta ở trên ngươi, và những lời Ta đã đặt trong miệng ngươi sẽ không rời khỏi miệng ngươi, cũng không rời khỏi miệng dòng dõi ngươi, cũng chẳng rời khỏi miệng dòng dõi của dòng dõi ngươi, Chúa phán, từ nay cho đến đời đời. Hãy đứng dậy, tỏa sáng; vì ánh sáng của ngươi đã đến, và vinh quang của Chúa đã chiếu trên ngươi. Vì kìa, bóng tối sẽ bao phủ đất, và bóng tối dày đặc bao phủ các dân; nhưng Chúa sẽ chiếu sáng trên ngươi, và vinh quang Ngài sẽ được thấy trên ngươi. Các dân ngoại sẽ đến với ánh sáng của ngươi, và các vua đến với vẻ rạng rỡ khi ngươi bừng dậy. Ê-sai 59:18–60:3.
The Gentiles come to the light when God’s glory is upon His people, and this occurs when the enemy comes in as a flood. When that enemy comes in God lifts up a standard (ensign) against him. The glory of the Lord that is upon those people who the Gentiles respond to, is His character, and His character does not sin. It is a false peace and safety message that teaches that men and women cannot overcome sin. That message is a false latter rain message that is proclaimed during the time of the true latter rain message, which arrived on September 11, 2001. That false message is a false message concerning God’s law, which is the “wall.” That false doctrine is represented in the book Questions on Doctrine, that marked the arrival of Laodicean Adventism’s fourth and final generation.
Dân ngoại đến với ánh sáng khi vinh hiển của Đức Chúa Trời ở trên dân Ngài, và điều này xảy ra khi kẻ thù kéo đến như nước lũ. Khi kẻ thù ấy kéo đến, Đức Chúa Trời giương cờ (kỳ hiệu) nghịch cùng nó. Vinh hiển của Chúa ở trên những người mà Dân ngoại đáp ứng chính là đức tánh của Ngài, và đức tánh của Ngài không phạm tội. Đó là một sứ điệp "bình an và an ổn" giả dạy rằng nam và nữ không thể chiến thắng tội lỗi. Sứ điệp ấy là một sứ điệp mưa muộn giả được rao giảng trong thời kỳ của sứ điệp mưa muộn thật, vốn đã đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Sứ điệp giả đó là một sứ điệp sai lạc liên quan đến luật pháp của Đức Chúa Trời, vốn là "bức tường". Giáo lý sai lạc ấy được thể hiện trong cuốn sách Questions on Doctrine, cuốn đã đánh dấu sự xuất hiện của thế hệ thứ tư và cuối cùng của Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea.
On September 11, 2001, the four rebellions of Laodicean Adventism arrived to test that final generation with the sins of their fathers. On that date God directed His people to return to Jeremiah’s old paths, that they might understand and accept the foundational message represented as Miller’s jewels. If they did so, they would find the latter rain, which Jeremiah called the “rest.” The call to return to the old paths was a repetition of the test that produced the rebellion of 1863.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, bốn cuộc phản loạn của Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê đã đến để thử thách thế hệ cuối cùng ấy bằng những tội lỗi của cha ông họ. Vào ngày đó Đức Chúa Trời chỉ dẫn dân Ngài trở về những nẻo xưa của Giê-rê-mi-a, để họ có thể hiểu và chấp nhận sứ điệp nền tảng được biểu trưng như những viên ngọc của Miller. Nếu họ làm như vậy, họ sẽ tìm được mưa cuối mùa, mà Giê-rê-mi-a gọi là "sự yên nghỉ". Lời kêu gọi trở về các nẻo xưa là sự lặp lại của sự thử thách đã dẫn đến cuộc phản loạn năm 1863.
On September 11, 2001, which is Isaiah’s “day of the east and rough wind” the “song of the vineyard” was to be sung, by those who in Revelation chapter fourteen, verse three and also in chapter fifteen, verse three sing the song of Moses and the Lamb. That song is the Laodicean message that identifies that the former chosen people were then being passed by, for God was then in the process of giving His vineyard to men and women that would bring forth the intended fruits of the vineyard. That vineyard message is the message to Laodicea, which was the message presented by Jones and Waggoner at the rebellion of 1888.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, mà Ê-sai gọi là “ngày của gió đông dữ dội,” “bài ca về vườn nho” phải được cất lên bởi những người, như Khải Huyền chương mười bốn câu ba và chương mười lăm câu ba, hát bài ca của Môi-se và Chiên Con. Bài ca ấy là thông điệp La-ô-đi-xê, cho biết rằng dân được chọn trước đây khi ấy đang bị bỏ qua, vì Đức Chúa Trời đang trong tiến trình trao vườn nho của Ngài cho những người nam và nữ sẽ kết ra bông trái của vườn nho như Ngài định. Thông điệp về vườn nho ấy là thông điệp gửi cho La-ô-đi-xê, vốn là thông điệp do Jones và Waggoner trình bày tại cuộc nổi loạn năm 1888.
On September 11, 2001, the latter rain began, and in the debate of Habakkuk chapter two it identifies a class who presented the message of the two tables, for they had returned to Jeremiah’s old paths and were receiving the “rest and refreshing,” that Isaiah identifies is brought upon those whose methodology is “line upon line.” The debate they were involved in was in opposition to a false latter rain message, represented by the “women weeping for Tammuz,” which encouraged the sleeping Laodicean people with a peace and safety message.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, mưa cuối mùa đã bắt đầu, và trong cuộc tranh luận ở chương hai sách Habakkuk, có một nhóm được xác định là những người đã trình bày thông điệp về hai bảng, vì họ đã trở lại các nẻo đường xưa của Jeremiah và đang nhận lấy “sự nghỉ ngơi và sự tươi mới” mà Isaiah xác định là được ban cho những ai có phương pháp “dòng trên dòng.” Cuộc tranh luận mà họ tham gia là nhằm phản đối một thông điệp mưa cuối mùa giả, được tượng trưng bởi “những phụ nữ khóc than cho Tammuz,” vốn khích lệ những người Laodicea đang ngủ bằng một thông điệp về bình an và an toàn.
The peace and safety message claims that it is impossible for men and women not to sin, and therefore God can and will only justify them “in” their sins. The scornful men claim their peace and safety message is the true message of justification by faith, that Jones and Waggoner presented, but it leaves off the truth that he who God justifies, He also sanctifies, for God did not die to save people in their sins, but from their sins.
Sứ điệp “bình an và an toàn” cho rằng con người, cả nam lẫn nữ, không thể nào không phạm tội; vì vậy Đức Chúa Trời chỉ có thể và sẽ xưng công bình cho họ “trong” tội lỗi của họ. Những người nhạo báng cho rằng sứ điệp “bình an và an toàn” của họ là sứ điệp xưng công bình bởi đức tin chân thật mà Jones và Waggoner đã trình bày, nhưng nó bỏ qua lẽ thật rằng ai được Đức Chúa Trời xưng công bình thì Ngài cũng thánh hóa, vì Đức Chúa Trời không chết để cứu người ta trong tội lỗi của họ, nhưng khỏi tội lỗi của họ.
September 11, 2001, marked the beginning of the period of the sealing of the one hundred and forty-four thousand that concludes with one class receiving the seal of God, as represented by those who sigh and cry for the abominations in the church and in the land, and another class that have turned their backs upon the temple, where the final work of the third angel is being accomplished, and they are bowing to the sun. The history of the Millerites illustrates the history of the movement of the third angel, and in so doing the climax is about the message of the latter rain, and the experience it produces in those who choose to eat.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001 đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn, kết thúc với một nhóm nhận ấn của Đức Chúa Trời, được đại diện bởi những người thở than và khóc lóc vì những sự gớm ghiếc trong hội thánh và trong xứ, và một nhóm khác đã quay lưng lại với đền thờ, nơi công việc cuối cùng của thiên sứ thứ ba đang được hoàn tất, và họ đang cúi lạy mặt trời. Lịch sử của những người Millerite minh họa lịch sử của phong trào của thiên sứ thứ ba, và qua đó cao trào xoay quanh sứ điệp về mưa muộn, cùng trải nghiệm mà nó tạo ra nơi những người chọn ăn.
We will continue this study in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.
“An unwillingness to yield up preconceived opinions, and to accept this truth, lay at the foundation of a large share of the opposition manifested at Minneapolis against the Lord’s message through Brethren Waggoner and Jones. By exciting that opposition Satan succeeded in shutting away from our people, in a great measure, the special power of the Holy Spirit that God longed to impart to them. The enemy prevented them from obtaining that efficiency which might have been theirs in carrying the truth to the world, as the apostles proclaimed it after the day of Pentecost. The light that is to lighten the whole earth with its glory was resisted, and by the action of our own brethren has been in a great degree kept away from the world.” Selected Messages, book 1, 235.
“Sự không sẵn lòng từ bỏ những ý kiến định sẵn và chấp nhận lẽ thật này nằm ở nền tảng của phần lớn sự chống đối được bày tỏ tại Minneapolis đối với sứ điệp của Chúa qua các anh em Waggoner và Jones. Bằng cách khơi dậy sự chống đối ấy, Satan đã thành công trong việc, ở mức độ lớn, ngăn chặn khỏi dân sự của chúng ta quyền năng đặc biệt của Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời hằng ao ước ban cho họ. Kẻ thù đã ngăn họ đạt được hiệu quả mà lẽ ra họ có trong việc mang lẽ thật đến cho thế giới, như các sứ đồ đã rao giảng sau ngày Lễ Ngũ Tuần. Ánh sáng vốn sẽ chiếu rạng cả trái đất bằng vinh quang của mình đã bị chống đối, và bởi hành động của chính các anh em của chúng ta đã bị, ở mức độ lớn, ngăn không cho đến với thế gian.” Selected Messages, quyển 1, 235.