The framework of William Miller’s prophetic message was the two desolating powers of paganism followed by papalism, and the framework of Future for America’s prophetic message is the three desolating powers of paganism, followed by papalism, followed by apostate Protestantism, but all being concurrent at the end. A primary prophetic key for Miller’s prophetic understanding was that “the daily” in the book of Daniel was a symbol of paganism, for it established the connection of the two desolating powers which became his framework of prophetic understanding. A primary prophetic key for Future for America’s prophetic understanding is also that “the daily” in the book of Daniel is a symbol of paganism, for the historical fulfillment of paganism established the sequence of events in Daniel eleven verses forty and forty-one, which became the framework of Future for America’s prophetic understanding.

Khuôn khổ của sứ điệp tiên tri của William Miller là hai quyền lực gây hoang tàn: chủ nghĩa ngoại giáo, tiếp theo là chủ nghĩa giáo hoàng; và khuôn khổ của sứ điệp tiên tri của Future for America là ba quyền lực gây hoang tàn: chủ nghĩa ngoại giáo, rồi đến chủ nghĩa giáo hoàng, rồi đến Tin Lành bội đạo, nhưng cuối cùng tất cả đều đồng thời. Một chìa khóa tiên tri chủ chốt cho sự hiểu biết tiên tri của Miller là rằng "của lễ hằng ngày" trong sách Đa-ni-ên là một biểu tượng của chủ nghĩa ngoại giáo, vì điều đó thiết lập mối liên hệ giữa hai quyền lực gây hoang tàn, trở thành khuôn khổ cho sự hiểu biết tiên tri của ông. Một chìa khóa tiên tri chủ chốt cho sự hiểu biết tiên tri của Future for America cũng là rằng "của lễ hằng ngày" trong sách Đa-ni-ên là một biểu tượng của chủ nghĩa ngoại giáo, vì sự ứng nghiệm lịch sử của chủ nghĩa ngoại giáo đã xác lập trình tự các sự kiện trong Đa-ni-ên đoạn mười một, câu bốn mươi và bốn mươi mốt, vốn trở thành khuôn khổ cho sự hiểu biết tiên tri của Future for America.

As is always the case with new light, the advancement of the truth unsealed in 1989 at the collapse of the Soviet Union was warred against by many various voices. The resistance brought against the truth invariably produced a clearer understanding of the truth. In those early controversies against the truth found in the last six verses of Daniel eleven, several prophetic rules that are located in the Bible were recognized as essential proofs to support the increase of knowledge that took place when the book of Daniel was unsealed in 1989. We are currently considering one of those rules, which we call “a triple application of prophecy.”

Như vẫn thường xảy ra với ánh sáng mới, sự tiến triển của lẽ thật được mở ấn vào năm 1989 khi Liên Xô sụp đổ đã bị nhiều tiếng nói khác nhau kịch liệt chống đối. Sự chống đối nhắm vào lẽ thật rốt cuộc luôn sản sinh ra một sự hiểu biết về lẽ thật rõ ràng hơn. Trong những tranh luận ban đầu chống lại lẽ thật được tìm thấy trong sáu câu cuối của Đa-ni-ên 11, một số quy tắc tiên tri được nêu trong Kinh Thánh đã được nhìn nhận là những bằng chứng thiết yếu nhằm hậu thuẫn cho sự gia tăng tri thức diễn ra khi sách Đa-ni-ên được mở ấn vào năm 1989. Hiện chúng ta đang xem xét một trong những quy tắc ấy, mà chúng ta gọi là “sự áp dụng ba lần của lời tiên tri.”

We began by looking at two triple applications that at one level are the same line, but at another level they are different. The first two manifestations of Rome (pagan and papal), establish the third manifestation of Modern Rome. The first two manifestations of Babylon (Babel and Babylon), established the third manifestation of Modern Babylon. Modern Rome is the beast of Revelation seventeen that Modern Babylon rides upon and reigns over. They are as distinct as is a cowboy from his horse, but they also commit spiritual fornication with each other, so at that level they are one. There are two other triple applications of prophecy which possess a similar relationship.

Chúng ta bắt đầu bằng việc xem xét hai sự áp dụng ba lần mà ở một cấp độ thì là cùng một đường lối, nhưng ở cấp độ khác thì lại khác nhau. Hai sự biểu hiện đầu tiên của Rô-ma (ngoại giáo và giáo hoàng) thiết lập sự biểu hiện thứ ba của Rô-ma Hiện Đại. Hai sự biểu hiện đầu tiên của Ba-by-lôn (Ba-bên và Ba-by-lôn) thiết lập sự biểu hiện thứ ba của Ba-by-lôn Hiện Đại. Rô-ma Hiện Đại là con thú của Khải Huyền mười bảy mà Ba-by-lôn Hiện Đại cưỡi lên và thống trị. Chúng khác biệt với nhau như người cao bồi với con ngựa của mình, nhưng chúng cũng phạm tà dâm thuộc linh với nhau, nên ở mức độ đó chúng là một. Có hai sự áp dụng ba lần khác của lời tiên tri có mối quan hệ tương tự.

The first two manifestations of Elijah (Elijah and John the Baptist), establish the third Elijah of the last days. Along with that the first two messengers who prepare the way for the Messenger of the Covenant (John the Baptist and William Miller), establish the messenger who prepares the way for the Messenger of the Covenant in the last days. There are three important points to recognize with these two lines of triple applications of prophecy.

Hai hiện thân đầu tiên của Ê-li (Ê-li và Giăng Báp-tít) xác lập Ê-li thứ ba trong những ngày sau rốt. Cùng với đó, hai sứ giả đầu tiên dọn đường cho Sứ giả của Giao ước (Giăng Báp-tít và William Miller) xác lập sứ giả dọn đường cho Sứ giả của Giao ước trong những ngày sau rốt. Có ba điểm quan trọng cần nhận ra liên quan đến hai dòng ứng nghiệm ba lần của lời tiên tri này.

A first point is that the actual historical representatives of the two lines of triple applications of prophecy are essentially the same historical figures, but their purpose in the two representations are distinctly different. The second point is recognizing what the distinction between the two closely related triple applications of prophecy is. The distinction is that Elijah represents an external work in the last days, and the messenger that prepares the way for the Messenger of the Covenant, represents an internal work in the last days.

Điểm thứ nhất là các đại diện lịch sử thực sự của hai dòng ứng dụng ba lần của lời tiên tri về cơ bản là cùng những nhân vật lịch sử, nhưng mục đích của họ trong hai cách trình bày ấy lại khác nhau một cách rõ rệt. Điểm thứ hai là nhận ra sự khác biệt giữa hai ứng dụng ba lần của lời tiên tri vốn có liên hệ mật thiết với nhau. Sự khác biệt là Ê-li đại diện cho một công tác bên ngoài trong những ngày sau rốt, còn sứ giả dọn đường cho Sứ Giả của Giao Ước đại diện cho một công tác bên trong trong những ngày sau rốt.

The third point to take note of is that Jesus, as Alpha and Omega, identifies the third Elijah, and also the third messenger that prepares the way, with both a first and a last Elijah messenger, and a first and last messenger who prepares the way for the Messenger of the Covenant. The Elijah messenger of the first angel and the Elijah messenger of the third angel make up the third fulfillment of Elijah, and the messenger who prepares the way is represented as the messenger of the movements of both the first and third angels.

Điểm thứ ba cần lưu ý là Chúa Giê-su, với tư cách là Anpha và Ômêga, xác định Êlia thứ ba, và cả sứ giả dọn đường thứ ba, như gồm có cả một sứ giả Êlia thứ nhất và một sứ giả Êlia sau cùng, và một sứ giả dọn đường thứ nhất và sau cùng cho Sứ giả của Giao Ước. Sứ giả Êlia của thiên sứ thứ nhất và sứ giả Êlia của thiên sứ thứ ba hợp thành sự ứng nghiệm thứ ba của Êlia, và sứ giả dọn đường được xem là sứ giả của các phong trào của cả thiên sứ thứ nhất lẫn thiên sứ thứ ba.

Elijah the prophet provides an illustration of the last-day confrontation between God’s people and the threefold union of Modern Rome in the confrontation at Mount Carmel.

Tiên tri Ê-li là một minh họa cho cuộc chạm trán trong những ngày sau rốt giữa dân sự của Đức Chúa Trời và liên minh ba thành phần của Rôma hiện đại, qua sự đối đầu tại Núi Cát Minh.

Mount Carmel is located in northern Israel, near the Mediterranean coast. It runs roughly northwest to southeast and forms a prominent ridge that extends for about 39 miles (63 kilometers). The Valley of Megiddo, also known as the Jezreel Valley, is located to the southeast of Mount Carmel. Mount Carmel and the Valley of Megiddo are relatively close to each other in terms of distance. The distance between them, in a straight line (as the crow flies), is approximately 20 to 25 miles (32 to 40 kilometers). To the west of Mount Carmel lies the Mediterranean Sea, and to the east of the Valley of Megiddo and the Jezreel Valley lies the Sea of Galilee, also known as Lake Tiberias or the Lake of Kinneret.

Núi Carmel nằm ở miền bắc Israel, gần bờ biển Địa Trung Hải. Dãy núi này chạy xấp xỉ theo hướng tây bắc–đông nam và tạo thành một sống núi nổi bật kéo dài khoảng 39 dặm (63 kilômét). Thung lũng Megiddo, còn được gọi là Thung lũng Jezreel, nằm về phía đông nam của Núi Carmel. Núi Carmel và Thung lũng Megiddo tương đối gần nhau về khoảng cách. Khoảng cách giữa chúng, theo đường thẳng (đường chim bay), vào khoảng 20 đến 25 dặm (32 đến 40 kilômét). Phía tây Núi Carmel là Biển Địa Trung Hải, còn về phía đông của Thung lũng Megiddo và Thung lũng Jezreel là Biển Galilee, còn được gọi là hồ Tiberias hoặc hồ Kinneret.

In the Revelation the battle of Armageddon is identifying the Valley of Megiddo, and inspiration did not want students of prophecy to believe that the book of Revelation was identifying its message in literal terms, so when it identified Armageddon (Megiddo) as Armageddon it used the word “har,” which means mountain to make it clear that the battle was a spiritual representation of the final battle which the dragon, beast and false prophet lead the world to.

Trong sách Khải Huyền, trận chiến Armageddon được đồng nhất với Thung lũng Megiddo, và sự soi dẫn không muốn những người nghiên cứu về lời tiên tri tin rằng sách Khải Huyền đang trình bày sứ điệp của mình theo nghĩa đen; vì vậy khi gọi Armageddon (Megiddo) là Armageddon, sách đã dùng từ "har", nghĩa là "núi", để làm rõ rằng trận chiến ấy là một biểu tượng thuộc linh cho trận chiến cuối cùng mà con rồng, con thú và tiên tri giả dẫn dắt thế giới đến.

By identifying Megiddo as Armageddon, John made sure it was not to be understood as a literal geographical location, for Megiddo is a valley and has no mountains. In close proximity is Mount Carmel where Elijah’s confrontation with Ahab and the prophets of Jezebel occurred, thus both Megiddo and Mount Carmel are both illustrations of the final battle of Armageddon.

Bằng cách đồng nhất Megiddo với Armageddon, John đã đảm bảo rằng Armageddon không được hiểu như một địa điểm địa lý theo nghĩa đen, vì Megiddo là một thung lũng và không có núi nào. Ở gần đó là Núi Carmel, nơi xảy ra cuộc đối đầu giữa Elijah với Ahab và các tiên tri của Jezebel; vì thế cả Megiddo lẫn Núi Carmel đều là những minh họa cho trận chiến cuối cùng của Armageddon.

If you were to draw a triangle with Jerusalem, Mount Carmel, and the Valley of Megiddo, Jerusalem would be situated to the southeast corner of that triangle, with Mount Carmel to the northwest and the Valley of Megiddo to the northeast. The area that symbolically represents the battle of Armageddon is bordered by two seas, and the king of the north (the whore of Modern Babylon) comes to his end between the seas and the glorious holy mountain. And at that time human probation closes.

Nếu bạn vẽ một tam giác với Jerusalem, Núi Carmel và thung lũng Megiddo, thì Jerusalem sẽ nằm ở góc đông nam của tam giác đó, Núi Carmel ở phía tây bắc và thung lũng Megiddo ở phía đông bắc. Khu vực tượng trưng cho trận chiến Armageddon giáp với hai biển, và vua phương bắc (con điếm của Babylon hiện đại) đi đến kết cục giữa các biển và ngọn núi thánh vinh hiển. Và vào lúc đó, thời kỳ thử thách của loài người khép lại.

But tidings out of the east and out of the north shall trouble him: therefore he shall go forth with great fury to destroy, and utterly to make away many. And he shall plant the tabernacles of his palace between the seas in the glorious holy mountain; yet he shall come to his end, and none shall help him. And at that time shall Michael stand up, the great prince which standeth for the children of thy people: and there shall be a time of trouble, such as never was since there was a nation even to that same time: and at that time thy people shall be delivered, every one that shall be found written in the book. Daniel 11:44–12:1.

Nhưng những tin tức từ phương đông và từ phương bắc sẽ khiến hắn bối rối; vì vậy hắn sẽ nổi cơn thịnh nộ mà xuất quân để hủy diệt, quyết diệt sạch nhiều người. Hắn sẽ dựng các lều trại hoàng cung của mình giữa hai biển, trên núi thánh vinh hiển; nhưng rồi hắn sẽ đến hồi kết, và chẳng ai giúp hắn. Lúc ấy Mi-ca-ên sẽ đứng lên, vị đại thủ lãnh bảo hộ con cái của dân ngươi; và sẽ có một thời kỳ hoạn nạn, chưa từng có kể từ khi có các dân tộc cho đến lúc ấy; và vào thời đó dân ngươi sẽ được giải cứu, hết thảy những ai được thấy có tên ghi trong sách. Đa-ni-ên 11:44–12:1.

The triple application of Elijah represents the external confrontation of God’s people with the king of the north, who is the head of the threefold union of the dragon, the beast and the false prophet that leads the world to Armageddon. Elijah’s three enemies that typified the threefold union were Ahab, who was the king of the ten northern tribes representing the ten kings of Revelation seventeen, who commit fornication with the whore of Babylon, and who agree to give their kingdom to the whore for “one hour”, which is “the hour” of the Sunday law crisis. The whore of Babylon was represented by Jezebel, and Jezebel’s prophets of Baal and the priests of the grove represent the false prophet.

Sự ứng nghiệm ba lần về Ê-li tượng trưng cho cuộc đối đầu bên ngoài của dân Đức Chúa Trời với vua phương bắc, là kẻ đứng đầu liên minh ba bên gồm con rồng, con thú và tiên tri giả, liên minh dẫn dắt thế giới đến A-ma-ghê-đôn. Ba kẻ thù của Ê-li, vốn là hình bóng cho liên minh ba bên ấy, gồm: A-háp, là vua của mười chi phái phương bắc, đại diện cho mười vua trong Khải Huyền đoạn mười bảy—những kẻ phạm dâm với con điếm Ba-by-lôn và đồng ý trao vương quốc của mình cho con điếm trong “một giờ”, tức là “giờ” của cuộc khủng hoảng luật ngày Chủ nhật. Con điếm Ba-by-lôn được Giê-sa-bên đại diện, còn các tiên tri của Ba-anh và các thầy tế của rừng thánh thuộc về Giê-sa-bên thì tượng trưng cho tiên tri giả.

The Sunday law crisis begins with the soon-coming Sunday law in the United States and ends when Michael stands up. When that Sunday law arrives the second voice of Revelation chapter eighteen, calls God’s other flock out of Babylon. The period of time from the call out of Babylon until the close of probation is the period of the judgment of the whore of Babylon. It is also the period of time when the Holy Spirit is poured out without measure. It is the “hour,” that the ten kings agree to co-rule with the whore of Tyre, who is no longer forgotten. It is the “hour,” of the great “earthquake” of Revelation eleven, when the one hundred and forty-four thousand are lifted up as an ensign.

Cuộc khủng hoảng luật ngày Chúa nhật bắt đầu với đạo luật ngày Chúa nhật sắp đến tại Hoa Kỳ và kết thúc khi Mi-ca-ên đứng lên. Khi đạo luật ngày Chúa nhật ấy đến, tiếng nói thứ hai trong Khải Huyền đoạn mười tám kêu gọi bầy chiên khác của Đức Chúa Trời ra khỏi Ba-by-lôn. Khoảng thời gian từ lời kêu gọi ra khỏi Ba-by-lôn cho đến khi kết thúc thời kỳ ân điển là thời kỳ phán xét dâm phụ Ba-by-lôn. Đó cũng là thời kỳ Đức Thánh Linh được đổ xuống cách không chừng mực. Đó là “giờ” mà mười vua đồng ý cùng cai trị với dâm phụ Ty-rơ, kẻ không còn bị lãng quên nữa. Đó là “giờ” của cơn “động đất” lớn trong Khải Huyền đoạn mười một, khi 144.000 người được giương lên như một cờ hiệu.

And the kings of the earth, who have committed fornication and lived deliciously with her, shall bewail her, and lament for her, when they shall see the smoke of her burning, Standing afar off for the fear of her torment, saying, Alas, alas that great city Babylon, that mighty city! for in one hour is thy judgment come. Revelation 18:9, 10.

Và các vua trên đất, những kẻ đã phạm tà dâm và sống xa hoa với nó, sẽ than khóc nó và kêu than vì nó, khi thấy khói của sự thiêu đốt nó, họ đứng xa xa vì sợ khổ hình của nó, mà nói rằng: Khốn thay, khốn thay, Babylon, thành lớn kia, thành hùng mạnh ấy! Vì chỉ trong một giờ, sự phán xét của ngươi đã đến. Khải Huyền 18:9, 10.

Just as John identified Megiddo as the mountain (“har”) of Megiddo to identify a spiritual and not a literal truth, the judgment of the whore of Babylon and Tyre is identified as occurring during the “hour,” and also in a “day.”

Cũng như John đã gọi Megiddo là núi ("har") của Megiddo để chỉ ra một lẽ thật thuộc linh chứ không phải theo nghĩa đen, sự phán xét đối với kỹ nữ của Babylon và đối với Tyre được xác định là xảy ra trong "giờ", và cũng trong một "ngày".

Therefore shall her plagues come in one day, death, and mourning, and famine; and she shall be utterly burned with fire: for strong is the Lord God who judgeth her. Revelation 18:8.

Vì vậy, các tai họa của nó sẽ đến trong một ngày: sự chết, than khóc và đói kém; và nó sẽ hoàn toàn bị thiêu rụi bằng lửa; vì Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng xét đoán nó, thật mạnh mẽ. Khải Huyền 18:8.

After October 22, 1844 prophetic time is no longer to be applied prophetically and the judgment of the papal power is therefore represented as occurring in an “hour,” and also as in a “day.” The “hour” of her judgment is the prophetic period from the Sunday law in the United States until probation closes. It is important to mark this period when considering the Elijah of the last days, for Elijah’s battle of Mount Carmel follows the internal testing of God’s people of the last days, and the testing period for both the church and the world contain the same prophetic beginnings and endings.

Sau ngày 22 tháng 10 năm 1844, thời gian tiên tri không còn được áp dụng nữa; vì vậy, sự phán xét đối với quyền lực giáo hoàng được trình bày là xảy ra trong một "giờ", và cũng trong một "ngày". "Giờ" phán xét của nó là khoảng thời gian tiên tri từ đạo luật Chủ nhật tại Hoa Kỳ cho đến khi thời kỳ ân điển chấm dứt. Điều quan trọng là phải lưu ý giai đoạn này khi xem xét Ê-li của những ngày sau rốt, vì trận chiến trên núi Cạt-mên của Ê-li diễn ra sau sự thử nghiệm nội bộ của dân Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, và thời kỳ thử nghiệm cho cả hội thánh lẫn thế gian đều có cùng những khởi đầu và kết thúc mang tính tiên tri.

The two voices of Revelation eighteen, represent two distinct calls to two churches. The first church is the one hundred and forty-four thousand of Revelation chapter seven, and the second church that is called is the great multitude of Revelation chapter seven. The call to the one hundred and forty-four thousand is made while the Holy Spirit is being poured out in measure, and the call to the great multitude is made when the Holy Spirit is being poured out without measure.

Hai tiếng nói trong Khải Huyền chương mười tám tượng trưng cho hai lời kêu gọi riêng biệt dành cho hai hội thánh. Hội thánh thứ nhất là một trăm bốn mươi bốn ngàn trong Khải Huyền chương bảy, và hội thánh thứ hai được kêu gọi là đám đông lớn trong Khải Huyền chương bảy. Lời kêu gọi dành cho một trăm bốn mươi bốn ngàn được ban ra khi Đức Thánh Linh đang được tuôn đổ có mức độ, và lời kêu gọi dành cho đám đông lớn được ban ra khi Đức Thánh Linh được tuôn đổ không hạn lượng.

“The prophet says, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory. And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils” (Revelation 18:1, 2). This is the same message that was given by the second angel. Babylon is fallen, ‘because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication’ (Revelation 14:8). What is that wine?—Her false doctrines. She has given to the world a false sabbath instead of the Sabbath of the fourth commandment, and has repeated the falsehood that Satan first told Eve in Eden—the natural immortality of the soul. Many kindred errors she has spread far and wide, “teaching for doctrines the commandments of men” (Matthew 15:9).

Nhà tiên tri nói: “Tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người. Người kêu lớn tiếng rằng: ‘Ba-by-lôn vĩ đại đã đổ, đã đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ.’” (Khải Huyền 18:1, 2). Đây là cùng sứ điệp đã được thiên sứ thứ hai công bố. Ba-by-lôn đã đổ, “vì nàng đã làm cho muôn dân uống rượu thịnh nộ của sự tà dâm nàng” (Khải Huyền 14:8). Rượu đó là gì? — Những giáo lý sai lạc của nàng. Nàng đã ban cho thế gian một ngày Sa-bát giả mạo thay cho ngày Sa-bát của điều răn thứ tư, và đã lặp lại lời dối trá mà Sa-tan trước hết nói với Ê-va trong Ê-đen — sự bất tử tự nhiên của linh hồn. Nhiều sai lầm cùng loại nàng đã gieo rắc khắp nơi, “lấy điều răn của loài người làm giáo lý” (Ma-thi-ơ 15:9).

“When Jesus began His public ministry, He cleansed the Temple from its sacrilegious profanation. Among the last acts of His ministry was the second cleansing of the Temple. So in the last work for the warning of the world, two distinct calls are made to the churches. The second angel’s message is, ‘Babylon is fallen, is fallen, that great city, because she made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication’ (Revelation 14:8). And in the loud cry of the third angel’s message a voice is heard from heaven saying, ‘Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. For her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities’ (Revelation 18:4, 5).” Selected Messages, book 2, 118.

"Khi Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ công khai của Ngài, Ngài đã thanh tẩy Đền Thờ khỏi sự ô uế phạm thánh. Một trong những việc làm sau cùng của chức vụ Ngài là lần thanh tẩy Đền Thờ thứ hai. Vậy, trong công tác sau cùng để cảnh báo thế gian, có hai lời kêu gọi riêng biệt được gửi đến các hội thánh. Sứ điệp của thiên sứ thứ hai là: 'Ba-by-lôn đã sụp đổ, đã sụp đổ, thành lớn kia, vì nó đã khiến muôn dân uống rượu của cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó' (Khải Huyền 14:8). Và trong tiếng kêu lớn của sứ điệp thiên sứ thứ ba, có một tiếng từ trời phán rằng: 'Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi đừng dự phần vào tội lỗi của nó, và đừng nhận lấy các tai vạ của nó. Vì tội lỗi của nó đã lên đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ lại những gian ác của nó' (Khải Huyền 18:4, 5)." Selected Messages, quyển 2, trang 118.

The mighty angel came down in fulfillment of Revelation chapter eighteen, when the great buildings of New York City were brought down on September 11, 2001, with the arrival of the “east wind” of Islam. He then cried “mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils.” And then in verse four another voice “is heard from heaven saying, ‘Come out of her, my people.’” Those two voices are “two distinct calls made to the churches.” The two distinct churches of God in the last days are identified as the one hundred and forty-four thousand and the great multitude.

Thiên sứ có quyền lớn đã xuống để ứng nghiệm Khải Huyền đoạn mười tám, khi các tòa nhà lớn của Thành phố New York bị đánh sập vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, với sự xuất hiện của "gió đông" của Hồi giáo. Rồi Ngài kêu lớn tiếng với giọng mạnh mẽ: "Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ." Và rồi ở câu bốn, một tiếng khác "được nghe từ trời phán: 'Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó.'" Hai tiếng ấy là "hai lời kêu gọi riêng biệt gửi đến các hội thánh." Hai hội thánh riêng biệt của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt được xác định là một trăm bốn mươi bốn nghìn và đoàn dân rất đông.

The testing period for the one hundred and forty-four thousand begins with Islam of the third Woe, which Isaiah identifies as the “day of the east wind.” That testing period ends with the soon-coming Sunday law in the United States and the enforcement of the mark of the beast. The beast is the counterfeit king of the north, the head of modern Babylon. Babylon is the lion in Daniel chapter seven, and the disobedient prophet from Judah, who represents Laodicean Adventism, that dies in the period that begins with the “ass” of Islam (September 11, 2001), and ends with the “lion,” (Modern Babylon).

Thời kỳ thử nghiệm dành cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người bắt đầu với Hồi giáo của tai họa thứ ba, mà Ê-sai gọi là "ngày của gió đông." Thời kỳ thử nghiệm ấy kết thúc với luật Chủ nhật sắp tới tại Hoa Kỳ và việc áp đặt dấu của con thú. Con thú là vua phương bắc giả mạo, là đầu của Ba-by-lôn hiện đại. Ba-by-lôn là con sư tử trong Đa-ni-ên chương bảy, và nhà tiên tri bất tuân từ Giu-đa, người đại diện cho Phục Lâm La-ô-đi-xê, chết trong giai đoạn bắt đầu với "con lừa" của Hồi giáo (11 tháng 9, 2001) và kết thúc với "sư tử" (Ba-by-lôn hiện đại).

In the period of time represented as “the tomb” of the disobedient prophet of Laodicean Adventism, the latter rain is measured out, as a distinct call is made to the church of the one hundred and forty-four thousand. When that period ends, at the “hour” of the “great earthquake”, representing the Sunday law in the United States; the period of the second voice of Revelation eighteen, arrives with the implementation of the mark of the beast, which is the mark of the king of the north. At the same time Islam of the third Woe is used to bring a progressive escalating judgment upon an apostate world. The message proclaimed by the “ensign” of the one hundred and forty-four thousand during that second distinct call to the church of the “great multitude” identifies the “mark” of the “king of the north”, and the role of Islam of the third Woe, represented as the “children of the east”.

Trong khoảng thời gian được tượng trưng là "mồ chôn" của vị tiên tri bất tuân thuộc phái Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê, mưa cuối mùa được phân phát, khi một lời kêu gọi riêng biệt được đưa ra cho hội thánh của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Khi giai đoạn ấy kết thúc, vào "giờ" của "trận động đất lớn", tượng trưng cho luật ngày Chủ nhật tại Hoa Kỳ; thì kỳ của tiếng nói thứ hai trong Khải Huyền mười tám đến, cùng với việc áp đặt dấu của con thú, tức là dấu của vua phương bắc. Đồng thời, Hồi giáo của Khốn Nạn thứ ba được dùng để đem đến một sự phán xét tăng tiến theo từng nấc trên một thế giới bội đạo. Thông điệp được rao truyền bởi "tiêu kỳ" của một trăm bốn mươi bốn ngàn trong thời kỳ lời kêu gọi riêng biệt thứ hai gửi đến hội thánh của "đại đoàn dân" xác định "dấu" của "vua phương bắc", và vai trò của Hồi giáo của Khốn Nạn thứ ba, được tượng trưng là "con cái phương đông".

The message that enrages the papal power in verse forty-four of Daniel chapter eleven, and the message that initiates the final papal bloodbath, is represented as “tidings out of the east” (Islam) and “the north” (the mark of the beast). In that period, as with the previous period, Islam of the “east wind” brings judgment upon the United States to begin the period, and the period ends when the king of the north comes to his end, “between the seas and the glorious holy mountain”, in the valley of Megiddo and the Mount at Carmel.

Sứ điệp khiến quyền lực giáo hoàng nổi giận trong câu bốn mươi bốn của chương mười một sách Đa-ni-ên, và sứ điệp khởi phát cuộc tắm máu cuối cùng của giáo hoàng, được mô tả là “tin tức từ phương đông” (Hồi giáo) và “phương bắc” (dấu của con thú). Trong thời kỳ ấy, cũng như thời kỳ trước, Hồi giáo của “gió đông” đem sự phán xét đến trên Hoa Kỳ để mở đầu thời kỳ, và thời kỳ kết thúc khi vua phương bắc đến hồi tận số, “giữa các biển và núi thánh vinh hiển”, tại thung lũng Mê-ghi-đô và núi Cạt-men.

The judgment period for modern Babylon that represents her deathbed (tomb), begins with the symbol of the east and ends with the symbol of the north, just as the deathbed for the disobedient Laodicean prophet ended in the first distinct call to the churches. The tomb (deathbed) that both the lying prophet of Bethel and the disobedient prophet of Judah are buried in is represented between an “ass” and a “lion”.

Thời kỳ phán xét dành cho Ba-by-lôn hiện đại, tượng trưng cho giường hấp hối (mộ) của nàng, bắt đầu với biểu tượng của phương đông và kết thúc với biểu tượng của phương bắc, cũng như giường hấp hối của nhà tiên tri La-ô-đi-xê bất tuân đã kết thúc bằng lời kêu gọi rõ rệt đầu tiên gửi đến các hội thánh. Ngôi mộ (giường hấp hối) nơi cả nhà tiên tri dối trá của Bê-tên và nhà tiên tri bất tuân của Giu-đa đều được chôn cất, được mô tả là ở giữa một "con lừa" và một "con sư tử".

Elijah represents God’s last day people who were confronted with a threefold enemy represented by Ahab, Jezebel and Jezebel’s prophets. Jezebel is the symbol of the papal power in the fourth church of Thyatira, and her prophets at Carmel were represented by the prophets of Baal and the priests of the grove. Baal represents a male deity and the priests of the grove represented Ashtaroth, a female deity, thus Jezebel’s false prophets consisted of male and female, representing the combination of Church and State that is represented by the image of the beast in the book of Revelation.

Ê-li tiêu biểu cho dân sự của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt, là những người đã đối đầu với ba kẻ thù: Ahab, Giê-sa-bên và các tiên tri của Giê-sa-bên. Giê-sa-bên là biểu tượng của quyền lực giáo hoàng trong Hội thánh thứ tư Thi-a-ti-rơ, và các tiên tri của bà tại Cạt-mên được tiêu biểu bởi các tiên tri của Baal và các thầy tế nơi lùm cây. Baal tượng trưng cho một nam thần, còn các thầy tế nơi lùm cây tượng trưng cho Astarốt, một nữ thần; vì vậy các tiên tri giả của Giê-sa-bên gồm cả nam lẫn nữ, tượng trưng cho sự kết hợp giữa Giáo hội và Nhà nước, điều được biểu trưng bởi hình tượng của con thú trong sách Khải Huyền.

It is the United States that first erects an image of the beast in the United States and thereafter in the world, and it is the United States that is the false prophet of the threefold union. Ahab, the king of the ten tribes, represents the ten kings of Revelation seventeen, that is the dragon, and Jezebel is the beast. Elijah was in confrontation with the threefold union of Modern Babylon, at Mount Carmel, where the whore of Babylon comes to her end with none to help. The triple application of Elijah represents the external confrontation which is brought against God’s last-day people, and Elijah represents the prophet that is in direct confrontation with those three powers.

Chính Hoa Kỳ trước hết dựng nên hình tượng của con thú trên đất Hoa Kỳ, rồi sau đó trên toàn thế giới; và chính Hoa Kỳ là tiên tri giả của liên minh ba bên. A-háp, vua của mười chi phái, tượng trưng cho mười vua trong Khải Huyền chương mười bảy, tức là con rồng; còn Giê-sa-bên là con thú. Ê-li đã đối đầu với liên minh ba bên của Ba-by-lôn hiện đại tại núi Cạt-mên, nơi con điếm Ba-by-lôn đi đến chỗ tận diệt mà không ai giúp đỡ. Sự áp dụng ba lần về Ê-li tượng trưng cho sự đối đầu từ bên ngoài nhằm chống lại dân sự ngày sau rốt của Đức Chúa Trời, và Ê-li tượng trưng cho vị tiên tri trực tiếp đối đầu với ba quyền lực ấy.

An important element of Elijah’s story is the “rain,” which represents the latter rain that is poured out in the history of the confrontation. Leading up to the confrontation at Mount Carmel, Elijah has plainly stated that there would be no rain, except at his word. The period that leads up to the “hour” of Jezebel’s judgment is the period represented by the first distinct “voice” given to the churches. That “voice” arrived on September 11, 2001, and in that period the “rain” was only “measured”, and in that period, there were two competing latter rain messages that were involved with Habakkuk’s debate. One was the counterfeit message of weeping for Tammuz, that represented a “peace and safety message”, and the other was the true message of the third Woe of Islam.

Một yếu tố quan trọng trong câu chuyện về Elijah là “mưa”, tượng trưng cho mưa muộn được đổ ra trong lịch sử của cuộc đối đầu. Trước cuộc đối đầu trên núi Carmel, Elijah đã nói rõ rằng sẽ không có mưa, trừ khi theo lời ông. Khoảng thời gian dẫn đến “giờ” phán xét của Jezebel là khoảng thời gian được tượng trưng bởi “tiếng nói” đầu tiên, rõ rệt, ban cho các hội thánh. “Tiếng nói” đó đến vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và trong thời kỳ ấy “mưa” chỉ được “đo lường”, và trong thời kỳ ấy có hai thông điệp mưa muộn đối nghịch liên quan đến cuộc tranh luận của Habakkuk. Một là thông điệp giả mạo về việc khóc than vì Tammuz, tượng trưng cho một thông điệp “bình an và an ninh”, và thông điệp kia là thông điệp chân thật về Khốn nạn thứ ba của Hồi giáo.

The true “latter rain” message was based upon the role of Islam of the third Woe. That message originated at one source (which was Future for America), and the two messages contended for supremacy until history confirmed the validity of the true message, and also confirmed the foolishness of a “peace and safety” message in such a time as this.

Thông điệp “mưa cuối mùa” chân chính được dựa trên vai trò của Hồi giáo trong Tai họa thứ ba. Thông điệp ấy bắt nguồn từ một nguồn (đó là Future for America), và hai thông điệp đã tranh nhau giành ưu thế cho đến khi lịch sử xác nhận tính đúng đắn của thông điệp chân thật, đồng thời cũng xác nhận sự dại dột của một thông điệp “bình an và an toàn” trong một thời như thế này.

“The prophecies of Daniel and of John are to be understood. They interpret each other. They give to the world truths which everyone should understand. These prophecies are to be witness in the world. By their fulfillment in these last days, they will explain themselves.Kress Collection, 105.

Những lời tiên tri của Đa-ni-ên và của Giăng cần được hiểu. Chúng giải thích lẫn nhau. Chúng mang đến cho thế giới những chân lý mà mọi người đều nên hiểu. Những lời tiên tri này sẽ làm chứng cho thế giới. Qua sự ứng nghiệm của chúng trong những ngày cuối cùng này, chúng sẽ tự giải thích. Bộ sưu tập Kress, 105.

The first fulfillment of Elijah in the triple application of Elijah, is confirmed by the second Elijah, who Jesus identified as John the Baptist. Together those two witnesses establish the third Elijah.

Sự ứng nghiệm thứ nhất của Ê-li trong sự áp dụng ba lần của Ê-li được xác nhận bởi Ê-li thứ hai, người mà Chúa Giê-su xác định là Giăng Báp-tít. Cùng nhau, hai nhân chứng ấy xác lập Ê-li thứ ba.

And as they departed, Jesus began to say unto the multitudes concerning John, What went ye out into the wilderness to see? A reed shaken with the wind? But what went ye out for to see? A man clothed in soft raiment? behold, they that wear soft clothing are in kings’ houses. But what went ye out for to see? A prophet? yea, I say unto you, and more than a prophet. For this is he, of whom it is written, Behold, I send my messenger before thy face, which shall prepare thy way before thee. Verily I say unto you, Among them that are born of women there hath not risen a greater than John the Baptist: notwithstanding he that is least in the kingdom of heaven is greater than he. And from the days of John the Baptist until now the kingdom of heaven suffereth violence, and the violent take it by force. For all the prophets and the law prophesied until John. And if ye will receive it, this is Elias, which was for to come. He that hath ears to hear, let him hear. Matthew 11:7–15.

Khi họ đi khỏi, Đức Chúa Jêsus bắt đầu nói với đoàn dân về Giăng: Các ngươi đã ra nơi đồng vắng để xem gì? Một cây sậy bị gió lay ư? Nhưng các ngươi ra để xem gì? Một người mặc áo quần mềm mại ư? Kìa, những kẻ mặc áo quần mềm mại thì ở trong cung điện vua chúa. Nhưng các ngươi ra để xem gì? Một nhà tiên tri ư? Phải, ta nói cùng các ngươi, và còn hơn một nhà tiên tri. Vì ấy là người mà có chép rằng: Này, ta sai sứ giả ta đi trước mặt ngươi; người sẽ dọn đường cho ngươi. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong số những người bởi đàn bà sinh ra, chưa từng có ai lớn hơn Giăng Báp-tít; dầu vậy, kẻ nhỏ nhất trong nước thiên đàng còn lớn hơn người. Từ những ngày Giăng Báp-tít cho đến bây giờ, nước thiên đàng phải chịu sự bạo lực, và những kẻ bạo lực cướp lấy. Vì hết thảy các đấng tiên tri và luật pháp đã nói tiên tri cho đến Giăng. Nếu các ngươi chịu nhận, thì người này chính là Ê-li, là người phải đến. Ai có tai mà nghe, hãy nghe. Ma-thi-ơ 11:7-15.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“Today, in the spirit and power of Elias and of John the Baptist, messengers of God’s appointment are calling the attention of a judgment-bound world to the solemn events soon to take place in connection with the closing hours of probation and the appearance of Christ Jesus as King of kings and Lord of lords. Soon every man is to be judged for the deeds done in the body. The hour of God’s judgment has come, and upon the members of His church on earth rests the solemn responsibility of giving warning to those who are standing as it were on the very brink of eternal ruin. To every human being in the wide world who will give heed must be made plain the principles at stake in the great controversy being waged, principles upon which hang the destinies of all mankind.

Ngày nay, trong tinh thần và quyền năng của Ê-li và Giăng Báp-tít, những sứ giả được Đức Chúa Trời sai phái đang kêu gọi sự chú ý của một thế giới sắp bị phán xét đến những biến cố trọng đại sắp diễn ra liên quan đến những giờ phút cuối của thời kỳ ân điển và sự xuất hiện của Đức Chúa Giê-su Christ như Vua trên muôn vua và Chúa trên muôn chúa. Chẳng bao lâu, mỗi người sẽ bị phán xét về các việc đã làm trong thân xác. Giờ phán xét của Đức Chúa Trời đã đến, và trách nhiệm hệ trọng phải cảnh báo những người đang như đứng ngay trên bờ vực của sự hư mất đời đời đặt trên các thành viên của Hội Thánh Ngài trên đất. Cho mọi người trên khắp thế giới, ai chịu lắng nghe, phải được làm cho rõ ràng những nguyên tắc đang đặt lên bàn cân trong cuộc đại tranh chiến đang diễn ra—những nguyên tắc mà vận mệnh của cả nhân loại tùy thuộc vào đó.

“In these final hours of probation for the sons of men, when the fate of every soul is so soon to be decided forever, the Lord of heaven and earth expects His church to arouse to action as never before. Those who have been made free in Christ through a knowledge of precious truth, are regarded by the Lord Jesus as His chosen ones, favored above all other people on the face of the earth; and He is counting on them to show forth the praises of Him who hath called them out of darkness into marvelous light. The blessings which are so liberally bestowed are to be communicated to others. The good news of salvation is to go to every nation, kindred, tongue, and people.

Trong những giờ cuối cùng của thời kỳ thử thách dành cho con cái loài người, khi số phận của mỗi linh hồn sắp được định đoạt vĩnh viễn, Chúa của trời và đất mong đợi Hội Thánh Ngài thức tỉnh để hành động như chưa từng có. Những ai đã được giải phóng trong Đấng Christ nhờ sự nhận biết lẽ thật quý báu được Chúa Giê-xu xem là những người được chọn của Ngài, được ưu ái hơn mọi người khác trên mặt đất; và Ngài trông cậy họ bày tỏ sự ngợi khen Đấng đã gọi họ ra khỏi bóng tối vào ánh sáng lạ lùng. Những phước lành được ban phát cách dồi dào như vậy phải được chia sẻ cho người khác. Tin Lành cứu rỗi phải đến với mọi quốc gia, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ và mọi dân.

In the visions of the prophets of old the Lord of glory was represented as bestowing special light upon His church in the days of darkness and unbelief preceding His second coming. As the Sun of Righteousness, He was to arise upon His church, ‘with healing in His wings.’ Malachi 4:2. And from every true disciple was to be diffused an influence for life, courage, helpfulness, and true healing.

Trong những khải tượng của các tiên tri xưa, Chúa vinh hiển được mô tả là ban ánh sáng đặc biệt trên Hội Thánh Ngài trong những ngày tăm tối và vô tín trước khi Ngài tái lâm. Là Mặt Trời Công Chính, Ngài sẽ mọc lên trên Hội Thánh Ngài, 'với sự chữa lành trong cánh Ngài.' Malachi 4:2. Và từ mỗi môn đồ chân thật sẽ lan tỏa một ảnh hưởng đem lại sự sống, lòng can đảm, sự giúp đỡ, và sự chữa lành chân thật.

“The coming of Christ will take place in the darkest period of this earth’s history. The days of Noah and of Lot picture the condition of the world just before the coming of the Son of man. The Scriptures, pointing forward to this time, declare that Satan will work with all power and ‘with all deceivableness of unrighteousness.’ 2 Thessalonians 2:9, 10. His working is plainly revealed by the rapidly increasing darkness, the multitudinous errors, heresies, and delusions of these last days. Not only is Satan leading the world captive, but his deceptions are leavening the professed churches of our Lord Jesus Christ. The great apostasy will develop into darkness deep as midnight. To God’s people it will be a night of trial, a night of weeping, a night of persecution for the truth’s sake. But out of that night of darkness God’s light will shine.” Prophets and Kings, 716, 717.

"Sự tái lâm của Đấng Christ sẽ diễn ra trong thời kỳ đen tối nhất của lịch sử trái đất này. Những ngày của Nô-ê và của Lót mô tả tình trạng của thế gian ngay trước khi Con Người đến. Kinh Thánh, hướng về thời kỳ này, tuyên bố rằng Sa-tan sẽ hành động với mọi quyền năng và 'với mọi sự lừa dối của sự bất chính.' 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:9, 10. Công việc của hắn được bày tỏ rõ ràng qua bóng tối đang gia tăng nhanh chóng, vô số sai lầm, tà thuyết và ảo tưởng lừa dối của những ngày sau rốt này. Sa-tan không chỉ đang giam cầm cả thế gian, mà những sự lừa dối của hắn còn đang làm dậy men các hội thánh xưng thuộc về Chúa Giê-su Christ của chúng ta. Sự bội đạo lớn sẽ phát triển thành bóng tối dày đặc như nửa đêm. Đối với dân Đức Chúa Trời, đó sẽ là một đêm thử luyện, một đêm than khóc, một đêm bị bắt bớ vì lẽ thật. Nhưng từ giữa đêm tối ấy, ánh sáng của Đức Chúa Trời sẽ chiếu rạng." Prophets and Kings, 716, 717.