William Miller based his prophetic message upon the framework of two desolating powers, which he correctly identified as pagan Rome and papal Rome.

William Miller đặt nền tảng cho sứ điệp tiên tri của mình trên khuôn khổ của hai quyền lực gây hoang tàn, mà ông xác định đúng là La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng.

“William Miller, when applying his hermeneutic, noticed in the various apocalyptic passages a recurring theme of controversy between the people of God and their enemies. In his analysis of the persecuting powers of God’s people throughout the ages he developed the concept of the two abominations, defined as paganism (the first abomination) symbolizing the persecuting force outside the church, and the papacy (the second abomination) representing the persecuting power within the church. It was the motif of the two abominations that characterized most of his following prophetic interpretations.” P. Gerard Damsteegt, Foundations of the Seventh-day Adventist Message and Mission, 22.

"William Miller, khi áp dụng phương pháp chú giải của mình, nhận thấy trong các đoạn văn khải huyền khác nhau một chủ đề lặp đi lặp lại về cuộc xung đột giữa dân Đức Chúa Trời và các kẻ thù của họ. Trong phân tích của ông về những quyền lực đã bách hại dân Đức Chúa Trời qua các thời đại, ông đã phát triển khái niệm hai sự gớm ghiếc, được định nghĩa là ngoại giáo (sự gớm ghiếc thứ nhất) tượng trưng cho thế lực bách hại bên ngoài Hội Thánh, và giáo hoàng chế (sự gớm ghiếc thứ hai) đại diện cho quyền lực bách hại bên trong Hội Thánh. Chính đề tài về hai sự gớm ghiếc này đã đặc trưng cho phần lớn các diễn giải tiên tri về sau của ông." P. Gerard Damsteegt, Nền tảng của Sứ điệp và Sứ mạng Cơ Đốc Phục Lâm, 22.

The theologians of Adventism acknowledge the fact that Miller’s framework of prophetic application was the two desolating powers of paganism and papalism, even if they only consider it as an analysis of Millerite history, and not as a truth that was given him by God.

Các nhà thần học của Phục Lâm thừa nhận rằng khung áp dụng lời tiên tri của Miller dựa trên hai quyền lực gây hoang tàn là ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng, dù họ chỉ coi đó như một sự phân tích về lịch sử phong trào Millerite, chứ không phải là một lẽ thật được Đức Chúa Trời ban cho ông.

“God sent His angel to move upon the heart of a farmer who had not believed the Bible, to lead him to search the prophecies. Angels of God repeatedly visited that chosen one, to guide his mind and open to his understanding prophecies which had ever been dark to God’s people. The commencement of the chain of truth was given to him, and he was led on to search for link after link, until he looked with wonder and admiration upon the Word of God. He saw there a perfect chain of truth. That Word which he had regarded as uninspired now opened before his vision in its beauty and glory. He saw that one portion of Scripture explains another, and when one passage was closed to his understanding, he found in another part of the Word that which explained it. He regarded the sacred Word of God with joy and with the deepest respect and awe.” Early Writings, 230.

Đức Chúa Trời sai thiên sứ của Ngài cảm động lòng của một người nông dân vốn không tin Kinh Thánh, để dẫn ông tìm hiểu các lời tiên tri. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời nhiều lần thăm viếng người được chọn ấy, để hướng dẫn tâm trí ông và mở ra cho sự hiểu biết của ông những lời tiên tri xưa nay vẫn tối tăm đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Mắt xích đầu tiên của chuỗi lẽ thật được ban cho ông, và ông được dẫn dắt tìm kiếm hết mắt xích này đến mắt xích khác, cho đến khi ông ngắm nhìn Lời Đức Chúa Trời với sự kinh ngạc và thán phục. Ông thấy ở đó một chuỗi lẽ thật hoàn chỉnh. Lời ấy, mà trước kia ông xem là không được linh hứng, nay mở ra trước mắt ông trong vẻ đẹp và vinh quang của nó. Ông thấy rằng phần này của Kinh Thánh giải thích phần kia; và khi một đoạn nào đó khép kín đối với sự hiểu biết của ông, ông lại tìm thấy ở phần khác của Lời điều giải thích nó. Ông trân trọng Lời thánh của Đức Chúa Trời với niềm vui mừng cùng lòng tôn kính và kính sợ sâu xa nhất. Early Writings, 230.

“His angel” is identified directly as Gabriel by Sister White.

"Thiên sứ của Ngài" được bà White xác định trực tiếp là Gabriel.

“The words of the angel, ‘I am Gabriel, that stand in the presence of God,’ show that he holds a position of high honor in the heavenly courts. When he came with a message to Daniel, he said, ‘There is none that holdeth with me in these things, but Michael [Christ] your Prince.’ Daniel 10:21. Of Gabriel the Saviour speaks in the Revelation, saying that ‘He sent and signified it by His angel unto His servant John.’ Revelation 1:1. And to John the angel declared, ‘I am a fellow servant with thee and with thy brethren the prophets.’ Revelation 22:9, R.V. Wonderful thought—that the angel who stands next in honor to the Son of God is the one chosen to open the purposes of God to sinful men.” The Desire of Ages, 99.

Lời của thiên sứ: "Ta là Ga-bri-ên, đứng chầu trước mặt Đức Chúa Trời," cho thấy ngài giữ một địa vị rất tôn quý trong triều đình thiên thượng. Khi ngài đến cùng Đa-ni-ên với một sứ điệp, ngài nói: "Trong những điều này, chẳng có ai giúp đỡ ta, ngoại trừ Mi-ca-ên [Đấng Christ], Thủ Lãnh của các ngươi." Đa-ni-ên 10:21. Về Ga-bri-ên, Đấng Cứu Thế phán trong sách Khải Huyền rằng: "Ngài đã sai thiên sứ của Ngài đến tỏ ra điều ấy cho tôi tớ của Ngài là Giăng." Khải Huyền 1:1. Và với Giăng, thiên sứ nói rằng: "Ta là bạn đồng tôi tớ với ngươi và với các anh em ngươi là các tiên tri." Khải Huyền 22:9, R.V. Thật là một ý tưởng kỳ diệu—rằng thiên sứ đứng kế tiếp Con Đức Chúa Trời về danh dự lại chính là Đấng được chọn để bày tỏ các mục đích của Đức Chúa Trời cho loài người tội lỗi. The Desire of Ages, 99.

“Wonderful thought—that the angel who stands next in honor to the Son of God is the one chosen to open the purposes of God” to William Miller’s mind. Not only Gabriel, but angels in the plural guided his understanding of the prophecies “which had ever been dark to God’s people.” Gabriel and other angels led Miller through the Bible consecutively from Genesis onward. He therefore was led to the longest time prophecy in the Bible, which is the “seven times” (twenty-five hundred and twenty years) of Leviticus twenty-six, well before he was led to the twenty-three hundred days of Daniel chapter eight and verse fourteen.

"Ý nghĩ thật tuyệt vời—rằng thiên sứ đứng kế cận Con Đức Chúa Trời về vinh dự lại chính là đấng được chọn để mở bày các mục đích của Đức Chúa Trời" trong tâm trí của William Miller. Không chỉ Gáb-ri-ên, mà các thiên sứ ở số nhiều đã hướng dẫn sự hiểu biết của ông về những lời tiên tri "vốn bấy lâu vẫn mờ tối đối với dân của Đức Chúa Trời." Gáb-ri-ên và các thiên sứ khác đã dẫn Miller đi qua Kinh Thánh một cách tuần tự từ Sáng Thế Ký trở đi. Vì vậy, ông đã được dẫn đến lời tiên tri về thời kỳ dài nhất trong Kinh Thánh, tức là "bảy lần" (hai nghìn năm trăm hai mươi năm) trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu, trước đó khá lâu so với khi ông được dẫn đến "hai nghìn ba trăm ngày" của Đa-ni-ên đoạn tám câu mười bốn.

“I then devoted myself to prayer and to the reading of the word. I determined to lay aside all my prepossessions, to thoroughly compare Scripture with Scripture, and to pursue its study in a regular and methodical manner. I commenced with Genesis, and read verse by verse, proceeding no faster than the meaning of the several passages should be so unfolded, as to leave me free from embarrassment respecting any mysticism or contradictions. Whenever I found anything obscure, my practice was to compare it with all collateral passages; and by the help of CRUDEN, I examined all the texts of Scripture in which were found any of the prominent words contained in any obscure portion. Then by letting every word have its proper bearing on the subject of the text, if my view of it harmonized with every collateral passage in the Bible, it ceased to be a difficulty. In this way I pursued the study of the Bible, in my first perusal of it, for about two years, and was fully satisfied that it is its own interpreter. I found that by a comparison of Scripture with history, all the prophecies, as far as they have been fulfilled, had been fulfilled literally; that all the various figures, metaphors, parables, similitudes, etc. of the Bible, were either explained in their immediate connection, or the terms in which they were expressed were defined in other portions of the word, and when thus explained, are to be literally understood in accordance with such explanation. I was thus satisfied that the Bible is a system of revealed truths, so clearly and simply given, that the “wayfaring man, though a fool, need not err therein.’ …

Sau đó tôi dành trọn mình cho sự cầu nguyện và đọc Lời. Tôi quyết định gác lại mọi định kiến của mình, so sánh Kinh Thánh với Kinh Thánh một cách kỹ lưỡng, và theo đuổi việc nghiên cứu ấy một cách đều đặn và có phương pháp. Tôi bắt đầu với Sáng Thế Ký và đọc từng câu một, tiến hành không nhanh hơn cho đến khi ý nghĩa của từng đoạn được mở ra đủ để tôi không còn bối rối về bất kỳ tính huyền bí hay mâu thuẫn nào. Hễ tôi gặp điều gì tối nghĩa, tôi thường so sánh nó với tất cả các đoạn liên quan; và nhờ sự trợ giúp của CRUDEN, tôi khảo sát tất cả các đoạn Kinh Thánh trong đó có xuất hiện bất kỳ từ then chốt nào nằm trong phần tối nghĩa ấy. Rồi, bằng cách để mỗi từ có vai trò thích đáng đối với chủ đề của bản văn, nếu cách hiểu của tôi hòa hợp với mọi đoạn liên quan trong Kinh Thánh, thì điều đó không còn là một khó khăn nữa. Bằng cách ấy, trong lần đọc đầu tiên, tôi theo đuổi việc nghiên cứu Kinh Thánh suốt khoảng hai năm, và hoàn toàn xác tín rằng Kinh Thánh tự nó giải nghĩa cho chính nó. Tôi nhận thấy rằng khi so sánh Kinh Thánh với lịch sử, mọi lời tiên tri, chừng nào đã được ứng nghiệm, đều đã được ứng nghiệm theo nghĩa đen; rằng mọi hình ảnh, ẩn dụ, dụ ngôn, tỉ dụ, v.v. trong Kinh Thánh hoặc được giải thích ngay trong ngữ cảnh trực tiếp, hoặc các thuật ngữ dùng để diễn đạt chúng được định nghĩa ở những phần khác của Lời, và khi đã được giải thích như vậy, thì phải được hiểu theo nghĩa đen phù hợp với lời giải thích ấy. Vì thế tôi thỏa lòng rằng Kinh Thánh là một hệ thống các lẽ thật được mặc khải, được ban cho rõ ràng và giản dị đến nỗi “người đi đường, dẫu ngu dại, cũng chẳng lầm lạc trong đó.” ...

“From a farther study of the Scriptures, I concluded that the seven times of Gentile supremacy must commence when the Jews ceased to be an independent nation at the captivity of Manasseh, which the best chronologers assigned to B. C. 677; that the 2300 days commenced with the seventy weeks, which the best chronologers dated from B. C. 457; and that the 1335 days commencing with the taking away of the daily, and the setting up of the abomination that maketh desolate, Daniel chapter seven verse eleven, were to be dated from the setting up of the Papal supremacy, after the taking away of Pagan abominations, and which, according to the best historians I could consult, should be dated from about A. D. 508. Reckoning all these prophetic periods from the several dates assigned by the best chronologers for the events from which they should evidently be reckoned, they all would terminate together, about A. D. 1843. I was thus brought, in 1818, at the close of my two years study of the Scriptures, to the solemn conclusion, that in about twenty-five years from that time all the affairs of our present state would be wound up…” William Miller’s Apology and Defense, 6, 12.

Từ việc nghiên cứu Kinh Thánh sâu hơn, tôi kết luận rằng bảy thời kỳ quyền thống trị của dân ngoại phải bắt đầu khi người Do Thái thôi là một quốc gia độc lập, tức vào cuộc lưu đày thời Ma-na-se, mà các nhà định niên đại hàng đầu ấn định là năm 677 TCN; rằng 2300 ngày khởi đầu cùng với bảy mươi tuần lễ, mà các nhà định niên đại hàng đầu ghi từ năm 457 TCN; và rằng 1335 ngày, khởi đi với việc cất bỏ sự tế lễ hằng ngày và lập nên sự gớm ghiếc gây nên hoang tàn, Đa-ni-ên chương bảy câu mười một, phải được tính từ khi quyền tối thượng của Giáo hoàng được thiết lập, sau khi các điều gớm ghiếc ngoại giáo bị dẹp bỏ, và theo các sử gia hàng đầu mà tôi có thể tham khảo, nên được tính từ khoảng năm 508 SCN. Tính tất cả những thời kỳ tiên tri này từ các mốc thời gian khác nhau do các nhà định niên đại hàng đầu ấn định cho những sự kiện mà rõ ràng chúng phải được tính từ đó, thì tất cả sẽ cùng kết thúc vào khoảng năm 1843 SCN. Như vậy, vào năm 1818, khi kết thúc hai năm nghiên cứu Kinh Thánh, tôi đi đến kết luận trang nghiêm rằng khoảng hai mươi lăm năm kể từ lúc ấy mọi việc của trật tự hiện tại của chúng ta sẽ được khép lại... Lời Biện minh và Bào chữa của William Miller, tr. 6, 12.

The rule of first mention establishes that the first thing mentioned is of the greatest importance, and the first thing mentioned in Revelation chapter one verse one is the communication process that the Father employs as He gives a message to Jesus, who in turn gives it to His angel, which then gives it to a prophet that then writes it out and sends it to the churches. When Adventism rejected the work and discoveries of William Miller, they not only rejected their foundations, but they also rejected the very communication process which led Miller to in his understandings, and they rejected the process which is the only avenue for men to understand the Revelation of Jesus Christ that is opened up just before probation closes.

Quy tắc “đề cập lần đầu” xác định rằng điều được đề cập đầu tiên là quan trọng nhất, và điều được đề cập đầu tiên trong Sách Khải Huyền chương một câu một chính là tiến trình truyền đạt mà Cha sử dụng: Ngài ban một sứ điệp cho Đức Chúa Giê-xu, Đức Chúa Giê-xu lại trao cho thiên sứ của Ngài, rồi thiên sứ trao cho một tiên tri, người ấy ghi chép lại và gửi cho các hội thánh. Khi phong trào Phục Lâm khước từ công việc và các khám phá của William Miller, họ không chỉ khước từ các nền tảng của mình, mà còn khước từ chính tiến trình truyền đạt đã dẫn dắt Miller đến những hiểu biết của ông; và họ khước từ tiến trình vốn là con đường duy nhất để con người hiểu được sự khải thị của Đức Chúa Giê-xu Christ, vốn được mở ra ngay trước khi thời kỳ ân điển đóng lại.

Miller was led to understand that the seven times of Leviticus commenced in 677BC. It was not until 1856 that the Lord used Hiram Edson to identify that the scattering of the seven times was also carried out against the northern ten tribes of Israel. The Lord was attempting to develop the understanding of the seven times in agreement with, but well beyond Miller’s foundational discovery of the seven times. But in 1856 the light presented by Hiram Edson came mysteriously to an end, for the eighth article in the series ended with the words of James White, then the Editor of the Review and Herald, “To be continued.” It was to be “continued” but not until post September 11, 2001 when the Lord led his people to the “old paths” and ultimately to the unfinished series of articles penned by Hiram Edson.

Miller được dẫn dắt để hiểu rằng “bảy lần” trong sách Lê-vi Ký khởi đầu vào năm 677 TCN. Mãi đến năm 1856, Chúa mới dùng Hiram Edson để xác định rằng sự tản lạc trong “bảy lần” cũng đã giáng trên mười chi phái phía bắc của Israel. Chúa đang tìm cách phát triển sự hiểu biết về “bảy lần” sao cho phù hợp với, nhưng vượt xa, khám phá nền tảng của Miller về “bảy lần”. Thế nhưng vào năm 1856, ánh sáng do Hiram Edson trình bày đã kết thúc một cách bí ẩn, vì bài viết thứ tám trong loạt bài kết thúc bằng lời của James White, khi ấy là Tổng biên tập tờ Review and Herald: “Sẽ tiếp tục.” Đáng lẽ sẽ được “tiếp tục”, nhưng mãi đến sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi Chúa dẫn dắt dân Ngài trở về “những nẻo xưa” và rốt cuộc đến với loạt bài còn dang dở do Hiram Edson chấp bút.

We are not currently addressing the rebellion that began shortly after the great disappointment, but to simply point out that even though Miller was led to the “seven times” of Leviticus twenty-six, it is clear that the Lord purposed to increase the initial understanding of the seven times beyond Miller’s foundational understanding of the subject. He chose Hiram Edson, the same servant from that very history that He had previously chosen to give the vision of Christ moving into the Most Holy Place on October 23, 1844.

Hiện tại chúng tôi không bàn đến cuộc nổi loạn bắt đầu không lâu sau sự thất vọng lớn, mà chỉ muốn chỉ ra rằng, dù Miller đã được dẫn dắt đến "bảy lần" trong Lê-vi Ký đoạn 26, thì rõ ràng Chúa đã định ý mở rộng sự hiểu biết ban đầu về "bảy lần" vượt ra ngoài sự hiểu biết nền tảng của Miller về chủ đề này. Ngài đã chọn Hiram Edson, chính người đầy tớ thuộc giai đoạn lịch sử ấy, người mà trước đó Ngài đã chọn để ban cho khải tượng về việc Đấng Christ bước vào Nơi Chí Thánh vào ngày 23 tháng 10 năm 1844.

This is why I used the Adventist theologian’s words to acknowledge that the framework for all of Miller’s prophetic applications was based upon his understanding of the two desolating powers that in the book of Daniel are represented as the “daily” (paganism), which is always associated with either the “transgression” or “abomination,” both representing different aspects of the desolating power of papalism. Miller’s foundational understanding of the Roman powers has greatly increased since the history he represents.

Đó là lý do tôi dùng lời của vị nhà thần học Cơ Đốc Phục Lâm để thừa nhận rằng khuôn khổ cho mọi áp dụng tiên tri của Miller được dựa trên sự hiểu biết của ông về hai quyền lực tàn phá, những quyền lực mà trong sách Daniel được biểu thị là “daily” (ngoại giáo), vốn luôn gắn liền với hoặc “sự vi phạm” hoặc “sự gớm ghiếc,” cả hai đều đại diện cho những khía cạnh khác nhau của quyền lực tàn phá của chế độ giáo hoàng. Sự hiểu biết nền tảng của Miller về các quyền lực La Mã đã tăng lên rất nhiều kể từ thời kỳ lịch sử mà ông trình bày.

The angels of God, including Gabriel, led Miller to the understandings he proclaimed. Those understandings included the prophecies he proclaimed, the rules of biblical interpretation he used and also the framework that allowed him to organize the prophecies correctly. Miller was given the framework that the two desolating powers addressed in Daniel were pagan Rome and papal Rome. Future for America was led to the framework of the three desolating powers of the dragon, the beast and false prophet.

Các thiên sứ của Đức Chúa Trời, bao gồm cả Gabriel, đã dẫn dắt Miller đến những hiểu biết mà ông công bố. Những hiểu biết ấy bao gồm các lời tiên tri mà ông công bố, các quy tắc giải thích Kinh Thánh mà ông sử dụng, và cả khung khái niệm cho phép ông sắp xếp các lời tiên tri một cách đúng đắn. Miller đã được ban cho khung khái niệm rằng hai quyền lực gây hoang tàn được nói đến trong sách Daniel là La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng. Future for America đã được dẫn dắt đến khung khái niệm về ba quyền lực gây hoang tàn là con rồng, con thú và tiên tri giả.

And I saw three unclean spirits like frogs come out of the mouth of the dragon, and out of the mouth of the beast, and out of the mouth of the false prophet. For they are the spirits of devils, working miracles, which go forth unto the kings of the earth and of the whole world, to gather them to the battle of that great day of God Almighty. Revelation 16:13, 14.

Và tôi thấy ba linh ô uế giống như ếch nhái đi ra từ miệng con rồng, từ miệng con thú và từ miệng tiên tri giả. Vì chúng là các linh của ma quỷ, làm các phép lạ, đi đến với các vua trên đất và khắp thế giới, để nhóm họ lại cho trận chiến trong ngày lớn ấy của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Khải Huyền 16:13, 14.

Future for America’s framework is built upon Miller’s work, but goes beyond where his work left off. Adventism left his framework and returned to the theology of apostate Protestantism and Rome. The same line of prophecy is taken up in the book of Revelation that is began in the book of Daniel.

Khung khổ của Future for America được xây dựng trên công trình của Miller, nhưng đi xa hơn điểm mà công trình của ông dừng lại. Cơ Đốc Phục Lâm đã rời bỏ khung khổ của ông và quay trở lại với thần học của chủ nghĩa Tin Lành bội đạo và La Mã. Cùng một mạch tiên tri khởi đầu trong sách Đa-ni-ên được tiếp nối trong sách Khải Huyền.

“Revelation is a sealed book, but it is also an opened book. It records marvelous events that are to take place in the last days of this earth’s history. The teachings of this book are definite, not mystical and unintelligible. In it the same line of prophecy is taken up as in Daniel. Some prophecies God has repeated, thus showing that importance must be given to them. The Lord does not repeat things that are of no great consequence.” Manuscript Releases, volume 9, 8.

"Khải Huyền là một quyển sách được niêm phong, nhưng cũng là một quyển sách mở. Nó ghi lại những sự kiện kỳ diệu sẽ diễn ra trong những ngày cuối cùng của lịch sử trái đất này. Những giáo huấn của quyển sách này là rõ ràng, chứ không huyền bí và khó hiểu. Trong đó, cùng một dòng tiên tri được tiếp nối như trong sách Đa-ni-ên. Một số lời tiên tri Đức Chúa Trời đã lặp lại, qua đó cho thấy rằng chúng cần được coi trọng. Chúa không lặp lại những điều không mấy hệ trọng." Manuscript Releases, tập 9, 8.

Miller could not grasp the prophecies of the book of Revelation, for the line of paganism and papalism that is so firmly identified in Daniel is expanded in the book of Revelation to include the next persecuting power to arrive on the stage of prophetic history.

Miller đã không hiểu được các lời tiên tri trong sách Khải Huyền, vì mạch ngoại giáo và chủ nghĩa giáo hoàng, vốn được xác định rất rõ ràng trong sách Đa-ni-ên, đã được mở rộng trong sách Khải Huyền để bao gồm quyền lực bắt bớ kế tiếp sẽ xuất hiện trên vũ đài lịch sử tiên tri.

“Through paganism, and then through the Papacy, Satan exerted his power for many centuries in an effort to blot from the earth God’s faithful witnesses. Pagans and papists were actuated by the same dragon spirit. They differed only in that the Papacy, making a pretense of serving God, was the more dangerous and cruel foe. Through the agency of Romanism, Satan took the world captive. The professed church of God was swept into the ranks of this delusion, and for more than a thousand years the people of God suffered under the dragon’s ire. And when the Papacy, robbed of its strength, was forced to desist from persecution, John beheld a new power coming up to echo the dragon’s voice, and carry forward the same cruel and blasphemous work. This power, the last that is to wage war against the church and the law of God, was symbolized by a beast with lamblike horns. The beasts preceding it had risen from the sea, but this came up out of the earth, representing the peaceful rise of the nation which is symbolized. The ‘two horns like a lamb’ well represent the character of the United States Government, as expressed in its two fundamental principles, Republicanism and Protestantism. These principles are the secret of our power and prosperity as a nation. Those who first found an asylum on the shores of America rejoiced that they had reached a country free from the arrogant claims of popery and the tyranny of kingly rule. They determined to establish a government upon the broad foundation of civil and religious liberty.

Qua ngoại giáo, rồi qua chế độ Giáo hoàng, Sa-tan đã thi triển quyền lực của mình suốt nhiều thế kỷ nhằm xóa sạch khỏi đất những chứng nhân trung tín của Đức Chúa Trời. Những người ngoại giáo và những người theo phái Giáo hoàng đều bị thúc đẩy bởi cùng một linh của con rồng. Họ chỉ khác ở chỗ chế độ Giáo hoàng, làm ra vẻ phục sự Đức Chúa Trời, lại là kẻ thù nguy hiểm và tàn bạo hơn. Qua công cụ là giáo quyền La-mã, Sa-tan đã đưa cả thế giới vào ách nô lệ. Hội Thánh tự xưng là của Đức Chúa Trời bị cuốn vào hàng ngũ của sự lừa dối này, và suốt hơn một ngàn năm dân sự của Đức Chúa Trời chịu khổ dưới cơn thịnh nộ của con rồng. Và khi chế độ Giáo hoàng, bị tước mất sức mạnh, buộc phải chấm dứt sự bách hại, Giăng thấy một quyền lực mới trỗi lên để vọng lại tiếng của con rồng và tiếp tục công việc tàn ác cùng phạm thượng như thế. Quyền lực này, quyền lực sau cùng sẽ gây chiến chống lại Hội Thánh và luật pháp của Đức Chúa Trời, được tượng trưng bằng một con thú có những chiếc sừng như chiên con. Các con thú trước nó nổi lên từ biển, còn con này thì lên từ đất, tượng trưng cho sự trỗi dậy trong hòa bình của quốc gia được biểu trưng. “Hai sừng như chiên con” rất phù hợp để biểu trưng cho đặc tính của Chính phủ Hoa Kỳ, được thể hiện trong hai nguyên tắc căn bản của nó: chế độ cộng hòa và Tin Lành. Những nguyên tắc này là bí quyết sức mạnh và thịnh vượng của chúng ta với tư cách một quốc gia. Những người đầu tiên tìm được chốn tị nạn trên bờ biển châu Mỹ đã vui mừng vì họ đã đến một đất nước thoát khỏi những yêu sách ngạo mạn của giáo quyền La-mã và ách chuyên chế của sự cai trị vua chúa. Họ quyết tâm thiết lập một chính thể trên nền tảng rộng lớn của tự do dân sự và tự do tôn giáo.

“But the stern tracing of the prophetic pencil reveals a change in this peaceful scene. The beast with lamblike horns speaks with the voice of a dragon, and ‘exerciseth all the power of the first beast before him.’ Prophecy declares that he will say to them that dwell on the earth that they should make an image to the beast, and that ‘he causeth all, both small and great, rich and poor, free and bond, to receive a mark in their right hand, or in their foreheads; and that no man might buy or sell, save he that had the mark, or the name of the beast, or the number of his name.’ Thus Protestantism follows in the steps of the Papacy.” Signs of the Times, November 1, 1899.

Nhưng nét phác thảo nghiêm nghị của ngòi bút tiên tri phơi bày một sự thay đổi trong khung cảnh yên bình này. Con thú có hai sừng như chiên con nói như rồng, và 'thi hành mọi quyền lực của con thú thứ nhất trước mặt nó.' Lời tiên tri tuyên bố rằng nó sẽ nói với dân cư trên đất phải làm một hình tượng cho con thú, và rằng 'nó khiến mọi người, cả nhỏ lẫn lớn, giàu và nghèo, tự do và nô lệ, đều nhận một dấu ở tay phải hoặc trên trán; và rằng không ai có thể mua hoặc bán, ngoại trừ kẻ có dấu ấy, hoặc tên của con thú, hoặc số của tên nó.' Như vậy, chủ nghĩa Kháng Cách bước theo dấu chân của chế độ Giáo hoàng. Signs of the Times, ngày 1 tháng 11 năm 1899.

For Miller the sea beast and earth beast of Revelation thirteen represented pagan Rome followed by papal Rome. Miller also attempted to apply his framework to Revelation seventeen, but the healing of the deadly wound of the papacy, the prophetic role of the United States and the United Nations were outside the divine framework that had been given him by angels. For him the beast that came up out of the earth in Revelation thirteen was the papacy.

Theo Miller, con thú từ biển và con thú từ đất trong Khải Huyền chương mười ba tượng trưng cho La Mã ngoại giáo, tiếp theo là La Mã giáo hoàng. Miller cũng cố gắng áp dụng khuôn khổ của mình vào Khải Huyền chương mười bảy, nhưng việc chữa lành vết thương chí tử của chế độ giáo hoàng, vai trò tiên tri của Hoa Kỳ và Liên Hợp Quốc nằm ngoài khuôn khổ thiêng liêng đã được các thiên sứ ban cho ông. Đối với ông, con thú lên từ đất trong Khải Huyền chương mười ba là chế độ giáo hoàng.

Miller was the messenger that was to be used to remove the mantle of Protestantism from the hands of the professed Protestants that had come out of the Dark Ages. The period when the United States would speak as a dragon, when Republicanism turned into a democracy and apostate Protestantism would combine with the apostate government and repeat the combination of church and state that is the image of the papacy was still future to his day. For that reason, he attempted to place the book of Revelation into the divine framework he had been given by angels.

Miller là sứ giả được dùng để tước bỏ tấm áo choàng Tin Lành khỏi tay những người tự xưng là Tin Lành đã bước ra từ Thời kỳ Tăm Tối. Thời kỳ khi Hoa Kỳ sẽ nói như một con rồng, khi chủ nghĩa cộng hòa biến thành một nền dân chủ và Tin Lành bội đạo sẽ kết hợp với chính quyền bội đạo để lặp lại sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, vốn là hình ảnh của giáo hoàng quyền, vẫn còn thuộc về tương lai so với thời của ông. Vì lý do đó, ông đã cố gắng đặt sách Khải Huyền vào khuôn khổ thiêng liêng mà các thiên sứ đã ban cho ông.

He was chosen to understand the increase of knowledge that was produced in 1798 when the Ulai River vision of Daniel eight and nine was unsealed. Future for America was to understand the vision of the Hiddekel River of Daniel chapters ten through twelve that was unsealed in 1989, when, as described in Daniel eleven, verse forty, the countries representing the former Soviet Union were swept away by the papacy and the United States.

Ông được chọn để hiểu sự gia tăng hiểu biết đã xuất hiện vào năm 1798, khi khải tượng về sông Ulai trong sách Đa-ni-ên chương tám và chín được mở ấn. Future for America được định để hiểu khải tượng về sông Hiddekel trong sách Đa-ni-ên các chương mười đến mười hai, khải tượng đã được mở ấn vào năm 1989, khi, như được mô tả trong Đa-ni-ên chương mười một, câu bốn mươi, các quốc gia đại diện cho Liên Xô cũ đã bị giáo quyền La Mã và Hoa Kỳ quét sạch.

The framework that was given by angels to Future for America was based upon the identification of, and application of prophecy in the context of the three-fold union of the dragon, the beast and false prophet.

Khuôn khổ mà các thiên sứ đã ban cho Future for America dựa trên việc nhận diện và áp dụng lời tiên tri trong bối cảnh liên minh ba bên giữa con rồng, con thú và tiên tri giả.

“The light that Daniel received from God was given especially for these last days. The visions he saw by the banks of the Ulai and the Hiddekel, the great rivers of Shinar, are now in process of fulfillment, and all the events foretold will soon come to pass.” Testimonies to Ministers, 112.

"Ánh sáng mà Daniel nhận từ Đức Chúa Trời đã được ban đặc biệt cho những ngày sau rốt này. Những khải tượng ông thấy bên bờ sông Ulai và Hiddekel, những con sông lớn của Shinar, hiện đang được ứng nghiệm, và mọi sự kiện đã được báo trước sẽ sớm xảy ra." Testimonies to Ministers, 112.

The Millerites presented the first and second angel’s message, announcing the opening of the judgment. Future for America is presenting the third angel’s message.

Những người theo phái Miller đã rao giảng sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai, loan báo việc mở ra cuộc phán xét. Future for America đang rao giảng sứ điệp của thiên sứ thứ ba.

I have planted, Apollos watered; but God gave the increase. So then neither is he that planteth any thing, neither he that watereth; but God that giveth the increase. Now he that planteth and he that watereth are one: and every man shall receive his own reward according to his own labour. For we are labourers together with God: ye are God’s husbandry, ye are God’s building. According to the grace of God which is given unto me, as a wise masterbuilder, I have laid the foundation, and another buildeth thereon. But let every man take heed how he buildeth thereupon. For other foundation can no man lay than that is laid, which is Jesus Christ. 1 Corinthians 3:6–11.

Tôi đã trồng, Apôl-lô đã tưới; nhưng Đức Chúa Trời làm cho lớn lên. Vậy thì, người trồng chẳng là gì, kẻ tưới cũng chẳng là gì; chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên. Nay người trồng và kẻ tưới đều là một; và mỗi người sẽ nhận phần thưởng riêng theo công khó của mình. Vì chúng tôi là những người đồng công với Đức Chúa Trời; anh em là cánh đồng của Đức Chúa Trời, là công trình xây dựng của Đức Chúa Trời. Theo ân điển Đức Chúa Trời đã ban cho tôi, như một người thợ cả khôn ngoan, tôi đã đặt nền móng, và người khác xây trên đó. Nhưng mỗi người phải cẩn trọng xem mình xây trên đó như thế nào. Vì chẳng ai có thể đặt một nền móng nào khác ngoài nền đã đặt rồi, tức là Chúa Giê-xu Christ. 1 Cô-rinh-tô 3:6–11.

To correctly present the third angel’s message you must also present the first two angels’ messages, for we are informed that there cannot be a third without a first and second. The first and second messages are the foundation and the third is the capstone, but the third message will never deny or contradict the first and second. If it does it is not the genuine message.

Để trình bày đúng đắn sứ điệp của thiên sứ thứ ba, bạn cũng phải trình bày hai sứ điệp của hai thiên sứ đầu tiên, vì chúng ta được cho biết rằng không thể có sứ điệp thứ ba nếu không có sứ điệp thứ nhất và thứ hai. Hai sứ điệp thứ nhất và thứ hai là nền tảng, còn sứ điệp thứ ba là đỉnh chóp; nhưng sứ điệp thứ ba sẽ không bao giờ phủ nhận hay mâu thuẫn với sứ điệp thứ nhất và thứ hai. Nếu như vậy thì đó không phải là sứ điệp chân thật.

“The first and second messages were given in 1843 and 1844, and we are now under the proclamation of the third; but all three of the messages are still to be proclaimed. It is just as essential now as ever before that they shall be repeated to those who are seeking for the truth. By pen and voice we are to sound the proclamation, showing their order, and the application of the prophecies that bring us to the third angel’s message. There cannot be a third without the first and second. These messages we are to give to the world in publications, in discourses, showing in the line of prophetic history the things that have been and the things that will be.” Selected Messages, book 2, 104, 105.

Sứ điệp thứ nhất và thứ hai đã được ban ra vào các năm 1843 và 1844, và hiện nay chúng ta đang ở trong thời kỳ rao giảng sứ điệp thứ ba; nhưng cả ba sứ điệp ấy vẫn còn phải được rao giảng. Điều cần thiết hiện nay cũng như trước kia là chúng phải được nhắc lại cho những ai đang tìm kiếm lẽ thật. Bằng bút và lời nói, chúng ta phải cất lên lời công bố, trình bày thứ tự của chúng và sự áp dụng các lời tiên tri dẫn chúng ta đến sứ điệp của thiên sứ thứ ba. Không thể có sứ điệp thứ ba nếu không có sứ điệp thứ nhất và thứ hai. Những sứ điệp này chúng ta phải trao cho thế giới qua các ấn phẩm, qua các bài giảng, trình bày theo dòng lịch sử tiên tri những điều đã xảy ra và những điều sẽ xảy đến. Những Sứ Điệp Tuyển Chọn, quyển 2, trang 104, 105.

There is a very nice observation of Millerite history and our history. The Millerites were the beginning and we are the end. They presented and lived the first and second angel’s messages. We present the third angel. Their unsealed message (the Ulai vision) is found in two chapters of Daniel, and ours (the Hiddekel vision) is found in three chapters. They identified the first and second woes, and lived within the fulfillment of the second woe. We identify and live within the fulfillment of the third woe. Their framework of prophetic application was pagan Rome (the dragon) and papal Rome (the beast). Our framework for prophetic application is modern Rome as a three-fold beast.

Có một nhận định rất hay về lịch sử của phong trào Millerite và lịch sử của chúng ta. Những người Millerite là khởi đầu, còn chúng ta là phần kết thúc. Họ trình bày và sống theo sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai. Chúng ta trình bày sứ điệp của thiên sứ thứ ba. Sứ điệp đã được mở ấn của họ (khải tượng Ulai) được tìm thấy trong hai chương của sách Đa-ni-ên, và sứ điệp của chúng ta (khải tượng Hiddekel) được tìm thấy trong ba chương. Họ đã xác định tai họa thứ nhất và thứ hai, và sống trong sự ứng nghiệm của tai họa thứ hai. Chúng ta xác định và sống trong sự ứng nghiệm của tai họa thứ ba. Khuôn khổ áp dụng tiên tri của họ là La Mã ngoại giáo (con rồng) và La Mã giáo hoàng (con thú). Khuôn khổ áp dụng tiên tri của chúng ta là La Mã hiện đại như một con thú gồm ba thành phần.

As we begin to consider the characteristic of papal Rome in chapter seventeen of Revelation being the eighth that is of the seven it is worthwhile to consider what the Millerites understood of Rome during the foundational history. The third angel will have additional light, but that light will never contradict established truth.

Khi chúng ta bắt đầu xem xét đặc điểm của La Mã giáo hoàng trong Khải Huyền chương mười bảy—kẻ thứ tám nhưng thuộc về bảy—thì cũng đáng để cân nhắc những gì những người Millerite đã hiểu về La Mã trong lịch sử nền tảng. Thiên sứ thứ ba sẽ có thêm ánh sáng, nhưng ánh sáng ấy sẽ không bao giờ mâu thuẫn với lẽ thật đã được thiết lập.

Daniel chapter two, seven, eight, eleven and twelve identify Rome, among other powers. We are considering Rome’s two phases prior to 1798; pagan and papal as the framework for Miller’s prophetic applications. Miller and the pioneers identify that “the robbers of thy people” in Daniel chapter eleven and verse fourteen represents Rome.

Các chương 2, 7, 8, 11 và 12 của sách Đa-ni-ên nhận diện La Mã, bên cạnh các quyền lực khác. Chúng ta đang xét hai giai đoạn của La Mã trước năm 1798: ngoại giáo và giáo hoàng, làm khuôn khổ cho các áp dụng tiên tri của Miller. Miller và các nhà tiên phong xác định rằng "những kẻ cướp của dân ngươi" trong Đa-ni-ên chương 11, câu 14 đại diện cho La Mã.

And in those times there shall many stand up against the king of the south: also the robbers of thy people shall exalt themselves to establish the vision; but they shall fall. Daniel 11:14.

Trong thời ấy sẽ có nhiều người đứng lên chống lại vua phương nam; cả những kẻ cướp trong dân ngươi cũng sẽ tự tôn mình lên để làm cho khải tượng được ứng nghiệm; nhưng rồi chúng sẽ thất bại. Đa-ni-ên 11:14.

There are at least two important points to consider within this verse. The word “vision” in the verse is one of two Hebrew words in the book of Daniel that are translated as “vision.” One of the Hebrew words translated as “vision” is châzôn, and means a dream, or a prophecy or a vision. The word châzôn identifies prophetic history, or a period of time, and it is found ten times in Daniel and always translated as “vision.”

Trong câu này có ít nhất hai điểm quan trọng cần xem xét. Từ “vision” trong câu này tương ứng với một trong hai từ Hê-bơ-rơ trong sách Đa-ni-ên được dịch là “vision”. Một trong những từ Hê-bơ-rơ được dịch là “vision” là châzôn, và có nghĩa là một giấc mơ, hoặc một lời tiên tri, hoặc một khải tượng. Từ châzôn dùng để chỉ lịch sử tiên tri, hoặc một khoảng thời gian, và nó xuất hiện mười lần trong sách Đa-ni-ên và luôn được dịch là “vision”.

The other Hebrew word that is also translated as “vision” is mar-eh’ and means appearance. The word mar-eh’ is identifying a singular sight, a point in time. The Hebrew word mar-eh’ is found thirteen times in Daniel and it is translated as “vision” six times, four times as “countenance,” twice as “appearance” and once as “well favored.”

Từ tiếng Hê-bơ-rơ khác cũng được dịch là "khải tượng" là mar-eh' và có nghĩa là "vẻ bề ngoài". Từ mar-eh' dùng để chỉ một cảnh tượng đơn lẻ, tại một thời điểm. Từ Hê-bơ-rơ mar-eh' xuất hiện mười ba lần trong sách Đa-ni-ên và được dịch là "khải tượng" sáu lần, bốn lần là "vẻ mặt", hai lần là "vẻ bề ngoài" và một lần là "ưa nhìn".

The robbers of thy people represent Rome and it is therefore the prophetic subject of Rome that establishes the prophetic “vision” in the book of Daniel. For this reason, it is important to understand the significance of Rome as a prophetic symbol.

Những kẻ cướp của dân ngươi tượng trưng cho La Mã, và vì thế chính chủ đề tiên tri về La Mã thiết lập “khải tượng” tiên tri trong sách Đa-ni-ên. Vì lý do này, điều quan trọng là phải hiểu ý nghĩa của La Mã như một biểu tượng tiên tri.

Prophetic logic demands that the word “vision” representing prophetic history is the same “vision” that is addressed in the book of Revelation, for inspiration identifies that Daniel and Revelation are the same book, that they complement each other, that they bring each other to perfection and that the same line of prophecy that is located in Daniel is taken up in the Revelation. Those points set forth in the Spirit of Prophecy have already been included in this series of articles, so I won’t include them again. I will add another point that we have also already included from Sister White. That point is that all the books of the Bible meet and end in the book of Revelation. The “vision” of prophetic history (châzôn) that is found in Daniel and is established with the prophetic subject of Rome, represents the vision of prophetic history throughout the Bible. All the books of the Bible meet and end in the Revelation and God never contradicts Himself. Never! If you think He has, you are misunderstanding something. The very same Hebrew word (châzôn) is also translated as vision in the book of Proverbs.

Lập luận mang tính tiên tri đòi hỏi rằng từ “khải tượng” đại diện cho lịch sử tiên tri là cùng một “khải tượng” được nói đến trong sách Khải Huyền, vì sự linh hứng chỉ ra rằng Đa-ni-ên và Khải Huyền là một sách, chúng bổ túc cho nhau, làm cho nhau trở nên trọn vẹn, và cùng một mạch tiên tri được trình bày trong Đa-ni-ên được tiếp tục trong Khải Huyền. Những điểm ấy, được nêu ra trong Thần Linh của Lời Tiên Tri, đã được đưa vào loạt bài này, nên tôi sẽ không nhắc lại. Tôi sẽ thêm một điểm nữa mà chúng ta cũng đã trích từ Bà White. Điểm đó là tất cả các sách trong Kinh Thánh gặp gỡ và kết thúc trong sách Khải Huyền. “Khải tượng” về lịch sử tiên tri (châzôn) được tìm thấy trong Đa-ni-ên và được xác lập qua chủ đề tiên tri về La Mã, đại diện cho khải tượng về lịch sử tiên tri xuyên suốt Kinh Thánh. Tất cả các sách trong Kinh Thánh đều hội tụ và kết thúc trong Khải Huyền, và Đức Chúa Trời không bao giờ tự mâu thuẫn. Không bao giờ! Nếu bạn nghĩ Ngài có, thì bạn đang hiểu lầm điều gì đó. Chính từ Hê-bơ-rơ ấy (châzôn) cũng được dịch là khải tượng trong sách Châm-ngôn.

Where there is no vision, the people perish: but he that keepeth the law, happy is he. Proverbs 29:18.

Ở đâu không có khải tượng, dân sự bị diệt vong; nhưng ai giữ luật pháp thì được phước. Châm Ngôn 29:18.

That is the first point to consider about the verse. If we misunderstand Rome, then we cannot establish the vision of prophetic history. That fact essentially defines the efforts of Jesuits and others throughout history who have introduced counterfeit theology to destroy the prophetic subject of Rome. As we consider the foundational understanding of Rome, we should bear this in mind.

Đó là điểm đầu tiên cần xem xét về câu này. Nếu chúng ta hiểu sai về La Mã, chúng ta sẽ không thể hình thành tầm nhìn về lịch sử tiên tri. Thực tế đó, về cơ bản, định rõ bản chất các nỗ lực của Dòng Tên và những người khác trong suốt lịch sử, là những người đã đưa vào thứ thần học giả mạo nhằm phá hủy chủ đề tiên tri về La Mã. Khi cân nhắc sự hiểu biết nền tảng về La Mã, chúng ta nên ghi nhớ điều này.

“Those who become confused in their understanding of the word, who fail to see the meaning of antichrist, will surely place themselves on the side of antichrist. There is no time now for us to assimilate with the world. Daniel is standing in his lot and in his place. The prophecies of Daniel and of John are to be understood. They interpret each other. They give to the world truths which everyone should understand. These prophecies are to be witness in the world. By their fulfillment in these last days, they will explain themselves.Kress Collection, 105.

Những ai lẫn lộn trong sự hiểu biết về Lời, không nhận ra ý nghĩa của kẻ chống Đấng Christ, chắc chắn sẽ tự đặt mình về phía kẻ chống Đấng Christ. Bây giờ không còn thời gian để chúng ta đồng hóa với thế gian. Đa-ni-ên đang đứng trong phần của mình và trong vị trí của mình. Những lời tiên tri của Đa-ni-ên và của Giăng cần phải được hiểu. Chúng giải thích lẫn nhau. Chúng mang đến cho thế gian những lẽ thật mà ai nấy đều nên hiểu. Những lời tiên tri này phải làm chứng giữa thế gian. Qua sự ứng nghiệm của chúng trong những ngày sau rốt này, chúng sẽ tự giải thích. Bộ sưu tập Kress, 105.

If you fail to see the meaning of antichrist (Rome) you will join Rome, and this warning is placed within the context of being able to or not being able to understand the books of Daniel and Revelation. The Millerites built the foundational understanding of Adventism upon their identification of Rome. They understood that Rome was represented by two desolating powers, that both were phases of Rome, but they were not at a place in history to see Rome as a three-fold union as represented in the book of Revelation. Daniel is therefore the foundation represented by the Millerites and Revelation is the capstone represented by Future for America. There is another point from Daniel eleven verse fourteen which we wish to identify.

Nếu bạn không nhận ra ý nghĩa của Phản Kitô (Rô-ma), bạn sẽ đứng về phía Rô-ma, và lời cảnh báo này được đặt trong bối cảnh việc có thể hay không thể hiểu các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền. Những người theo Miller xây dựng sự hiểu biết nền tảng của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm trên việc họ nhận diện Rô-ma. Họ hiểu rằng Rô-ma được biểu trưng bởi hai quyền lực gây hoang tàn, cả hai đều là những giai đoạn của Rô-ma, nhưng họ chưa ở vào thời điểm lịch sử để thấy Rô-ma như một liên minh ba phần như được trình bày trong sách Khải Huyền. Vì vậy, Đa-ni-ên là nền tảng, được những người theo Miller đại diện, và Khải Huyền là viên đá chóp đỉnh, được Future for America đại diện. Còn một điểm nữa từ Đa-ni-ên đoạn 11 câu 14 mà chúng tôi muốn chỉ ra.

Miller and the pioneers understood that the image of Nebuchadnezzar’s dream represented the four kingdoms of Babylon, Medo-Persia, Greece and Rome. They could not see beyond the fourth kingdom, for they understood that papal Rome was simply a second phase of Rome and therefore that the fourth kingdom had ended in 1798. From their vantage point of history the only prophetic waymark left was the Second Coming of Christ, where the rock that was cut out of the mountain would strike the feet of the image. The Millerites recognized prophetic distinctions between pagan and papal Rome, but being forced to align 1798 with Christ’s return they could see no further than four kingdoms.

Miller và các nhà tiên phong hiểu rằng hình tượng trong giấc mơ của Nebuchadnezzar tượng trưng cho bốn vương quốc: Babylon, Medo-Persia, Hy Lạp và La Mã. Họ không thể nhìn vượt quá vương quốc thứ tư, vì họ hiểu rằng La Mã giáo hoàng chỉ là giai đoạn thứ hai của La Mã, và vì thế vương quốc thứ tư đã chấm dứt vào năm 1798. Từ góc nhìn lịch sử của họ, cột mốc tiên tri duy nhất còn lại là Sự Tái Lâm của Đấng Christ, khi tảng đá được đục ra từ núi sẽ đánh vào chân của hình tượng. Những người Millerite nhận ra các phân biệt tiên tri giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng, nhưng vì buộc phải gắn năm 1798 với sự trở lại của Đấng Christ nên họ không thể thấy xa hơn bốn vương quốc.

“We have come to a time when God’s sacred work is represented by the feet of the image in which the iron was mixed with the miry clay. God has a people, a chosen people, whose discernment must be sanctified, who must not become unholy by laying upon the foundation wood, hay, and stubble. Every soul who is loyal to the commandments of God will see that the distinguishing feature of our faith is the seventh-day Sabbath. If the government would honor the Sabbath as God has commanded, it would stand in the strength of God and in defense of the faith once delivered to the saints. But statesmen will uphold the spurious sabbath, and will mingle their religious faith with the observance of this child of the papacy, placing it above the Sabbath which the Lord has sanctified and blessed, setting it apart for man to keep holy, as a sign between Him and His people to a thousand generations. The mingling of churchcraft and statecraft is represented by the iron and the clay. This union is weakening all the power of the churches. This investing the church with the power of the state will bring evil results. Men have almost passed the point of God’s forbearance. They have invested their strength in politics, and have united with the papacy. But the time will come when God will punish those who have made void His law, and their evil work will recoil upon themselves.” Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 4, 1168.

"Chúng ta đã đến thời kỳ khi công việc thánh của Đức Chúa Trời được tượng trưng bởi bàn chân của pho tượng, trong đó sắt được trộn lẫn với đất sét lầy lội. Đức Chúa Trời có một dân, một dân được chọn, những người có sự phân định phải được thánh hóa, những người không được trở nên ô uế bằng cách đặt trên nền tảng gỗ, cỏ khô và rơm rạ. Mọi linh hồn trung thành với các điều răn của Đức Chúa Trời sẽ thấy rằng đặc điểm phân biệt của đức tin chúng ta là ngày Sa-bát ngày thứ Bảy. Nếu chính quyền tôn trọng ngày Sa-bát như Đức Chúa Trời đã truyền dạy, thì nó sẽ đứng vững trong sức mạnh của Đức Chúa Trời và trong sự bênh vực đức tin một lần đã được ban cho các thánh đồ. Nhưng các chính khách sẽ ủng hộ ngày Sa-bát giả mạo và sẽ trộn lẫn đức tin tôn giáo của họ với việc giữ gìn đứa con của chế độ giáo hoàng này, đặt nó lên trên ngày Sa-bát mà Chúa đã thánh hóa và ban phước, biệt riêng nó ra cho loài người để giữ làm thánh, như một dấu hiệu giữa Ngài và dân sự Ngài đến ngàn thế hệ. Sự pha trộn giữa giáo quyền và quyền lực nhà nước được tượng trưng bởi sắt và đất sét. Sự liên minh này đang làm suy yếu mọi sức mạnh của các hội thánh. Việc khoác cho hội thánh quyền lực của nhà nước sẽ mang lại những kết quả xấu. Con người gần như đã vượt quá giới hạn sự nhẫn nại của Đức Chúa Trời. Họ đã dồn sức mình vào chính trị và đã liên hiệp với chế độ giáo hoàng. Nhưng sẽ đến lúc Đức Chúa Trời trừng phạt những kẻ đã làm vô hiệu luật pháp Ngài, và công việc gian ác của họ sẽ quay trở lại giáng trên chính họ." Chú Giải Kinh Thánh Cơ Đốc Phục Lâm, tập 4, 1168.

Revelation seventeen is the last identification of the kingdoms of Bible prophecy, and it identifies that seven kingdoms have fallen and that the eighth kingdom is the three-fold union of modern Rome. If the first reference to the kingdoms of Bible prophecy is Daniel chapter two, and it most certainly is; then the last reference should be illustrated by the first reference. How can the four kingdoms of Daniel chapter two agree with eight kingdoms in Revelation seventeen?

Khải Huyền chương mười bảy là sự xác định cuối cùng về các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh, và nó cho biết rằng bảy vương quốc đã sụp đổ và rằng vương quốc thứ tám là liên minh ba phần của La Mã hiện đại. Nếu sự đề cập đầu tiên đến các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh là Đa-ni-ên chương hai, và quả đúng là như vậy; thì sự đề cập cuối cùng nên được minh họa bởi sự đề cập đầu tiên. Làm sao bốn vương quốc trong Đa-ni-ên chương hai lại phù hợp với tám vương quốc trong Khải Huyền chương mười bảy?

Remember therefore as we proceed, the Millerites could not see prophetic events beyond their history. The message they understood and proclaimed identified the Second Coming of Christ as the next waymark of prophetic history. But if the Millerite understanding of Rome as the symbol that establishes the vision of prophetic history and also Daniel chapter two are both Millerite foundational truths, how can this agree with the eight kingdoms of chapter seventeen of Revelation?

Vì vậy, khi chúng ta tiếp tục, hãy nhớ rằng những người Millerite không thể nhìn thấy các sự kiện tiên tri vượt ra ngoài lịch sử của họ. Sứ điệp mà họ hiểu và rao giảng xác định Sự Tái Lâm của Đấng Christ là cột mốc tiếp theo của lịch sử tiên tri. Nhưng nếu cách hiểu của người Millerite về La Mã như biểu tượng thiết lập khải tượng của lịch sử tiên tri, và cả chương hai của sách Đa-ni-ên, đều là những chân lý nền tảng của phong trào Millerite, thì điều đó làm sao có thể phù hợp với tám vương quốc trong chương mười bảy của Khải Huyền?

If you are uncertain if the image of Daniel two is foundational, all you need to do is consider the 1843 and 1850 pioneer charts. Both have the image of Daniel two portrayed upon them. Just as significantly is that Ellen White identifies that both charts were made by God’s direction and by His design.

Nếu bạn không chắc liệu hình tượng trong Đa-ni-ên đoạn 2 có mang tính nền tảng hay không, thì bạn chỉ cần xem xét các biểu đồ tiên phong năm 1843 và 1850. Cả hai đều có hình tượng trong Đa-ni-ên đoạn 2 được khắc họa trên đó. Cũng quan trọng không kém là Ellen White cho biết rằng cả hai biểu đồ đều được thực hiện theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời và theo ý định của Ngài.

“I have seen that the 1843 chart was directed by the hand of the Lord, and that it should not be altered; that the figures were as He wanted them; that His hand was over and hid a mistake in some of the figures, so that none could see it, until His hand was removed.” Early Writings, 74, 75.

“Tôi đã thấy rằng tấm biểu đồ năm 1843 do bàn tay Chúa hướng dẫn, và rằng nó không nên bị thay đổi; rằng các con số đúng như Ngài muốn; rằng bàn tay Ngài đã che phủ và giấu đi một sai sót trong một vài con số, đến nỗi không ai có thể thấy nó, cho đến khi bàn tay Ngài được cất đi.” Early Writings, 74, 75.

Of the 1850 chart she stated:

Về biểu đồ năm 1850, cô ấy cho biết:

“I saw that God was in the publishment of the chart by Brother Nichols. I saw that there was a prophecy of this chart in the Bible, and if this chart is designed for God’s people, if it [is] sufficient for one it is for another, and if one needed a new chart painted on a larger scale, all need it just as much.” Manuscript Releases, volume 13, 359.

“Tôi thấy rằng Đức Chúa Trời ở trong việc xuất bản biểu đồ do Anh Nichols thực hiện. Tôi thấy rằng có một lời tiên tri về biểu đồ này trong Kinh Thánh, và nếu biểu đồ này được dành cho dân sự của Đức Chúa Trời, thì nếu nó đủ cho một người, nó cũng đủ cho người khác; và nếu một người cần một biểu đồ mới vẽ theo tỷ lệ lớn hơn, thì mọi người đều cần đến nó như nhau.” Manuscript Releases, tập 13, trang 359.

There is an ancient proverb from the world that states, “Error has many paths, but truth has only one.” There are several various errors that have been employed to prevent people from recognizing that modern Rome in Revelation seventeen is the eighth head that is of the seven. One of those errors which is employed by the theologians of Adventism is a misrepresentation of the kingdoms of history. I am not here referring to the kingdoms of Bible prophecy, these are two different designations. The kingdoms of Bible prophecy are established upon the first mention in Daniel chapter two, but there were kingdoms of history that preceded Babylon. Ellen White clearly identifies who the kingdoms of history were, but the theologians of Adventism ignore the inspired testimony and create a sequence of kingdoms of history that clouds the understanding that Rome always comes up eighth and is of the seven. Yet it is Rome that establishes the vision.

Có một câu tục ngữ cổ xưa trên thế giới nói rằng: “Sai lầm có nhiều con đường, nhưng chân lý chỉ có một.” Có nhiều sai lầm khác nhau đã được sử dụng nhằm ngăn cản mọi người nhận ra rằng Rô-ma hiện đại trong Khải Huyền đoạn mười bảy là đầu thứ tám, vốn thuộc về bảy. Một trong những sai lầm đó, được các nhà thần học của phái Cơ Đốc Phục Lâm sử dụng, là sự xuyên tạc về các vương quốc của lịch sử. Ở đây tôi không nói đến các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh; đây là hai cách gọi khác nhau. Các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh được xác lập dựa trên lần nêu đầu tiên ở Đa-ni-ên đoạn hai, nhưng đã có những vương quốc của lịch sử đi trước Ba-by-lôn. Ellen White xác định rõ các vương quốc của lịch sử là những ai, nhưng các nhà thần học của phái Cơ Đốc Phục Lâm phớt lờ lời chứng được cảm thúc và tạo ra một chuỗi các vương quốc của lịch sử làm lu mờ sự hiểu biết rằng Rô-ma luôn xuất hiện là thứ tám và thuộc về bảy. Tuy nhiên, chính Rô-ma thiết lập khải tượng.

The theologians of Adventism and apostate Protestantism suggest that the kingdoms of history were Egypt, Assyria, Babylon, Medo-Persia, Greece, Rome and on. Sister White informs us that there is a third kingdom of history, which they choose to leave out. Are they leaving out that kingdom, or are they leaving out the Spirit of Prophecy? Both.

Những nhà thần học thuộc phái Cơ Đốc Phục Lâm và phái Tin Lành bội đạo cho rằng các vương quốc trong lịch sử là Ai Cập, A-si-ri, Ba-by-lôn, Mê-đi Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, v.v. Bà White cho biết rằng có một vương quốc thứ ba trong lịch sử mà họ chọn bỏ qua. Họ đang bỏ qua vương quốc đó, hay họ đang bỏ qua Thần Khí của Lời Tiên Tri? Cả hai.

The history of nations that one after another have occupied their allotted time and place, unconsciously witnessing to the truth of which they themselves knew not the meaning, speaks to us. To every nation and to every individual of today God has assigned a place in His great plan. Today men and nations are being measured by the plummet in the hand of Him who makes no mistake. All are by their own choice deciding their destiny, and God is overruling all for the accomplishment of His purposes.

Lịch sử các dân tộc — những dân tộc đã lần lượt đến đúng thời và đúng chỗ đã được ấn định cho mình, vô thức làm chứng cho chân lý mà chính họ không hiểu ý nghĩa — đang nói với chúng ta. Cho mỗi dân tộc và mỗi cá nhân ngày nay, Đức Chúa Trời đã ấn định một vị trí trong kế hoạch vĩ đại của Ngài. Ngày nay, con người và các dân tộc đang được đo bằng dây dọi trong tay Đấng chẳng hề sai lầm. Tất cả đều, bằng sự lựa chọn của chính mình, đang quyết định vận mệnh của mình, và Đức Chúa Trời đang tể trị trên mọi sự để hoàn thành các mục đích của Ngài.

“The history which the great I AM has marked out in His word, uniting link after link in the prophetic chain, from eternity in the past to eternity in the future, tells us where we are today in the procession of the ages, and what may be expected in the time to come. All that prophecy has foretold as coming to pass, until the present time, has been traced on the pages of history, and we may be assured that all which is yet to come will be fulfilled in its order.

Lịch sử mà Đấng Tự Hữu Hằng Hữu vĩ đại đã vạch ra trong lời Ngài, nối kết mắt xích này với mắt xích khác trong chuỗi lời tiên tri, từ cõi đời đời trong quá khứ đến cõi đời đời trong tương lai, cho chúng ta biết hôm nay chúng ta đang ở đâu trong dòng diễn tiến của các thời đại, và điều gì có thể trông đợi trong thời gian sắp tới. Tất cả những gì lời tiên tri đã báo trước sẽ xảy ra, cho đến hiện tại, đều đã được ghi dấu trên các trang lịch sử, và chúng ta có thể tin chắc rằng mọi điều còn ở phía trước sẽ được ứng nghiệm theo đúng thứ tự của nó.

“The final overthrow of all earthly dominions is plainly foretold in the word of truth. In the prophecy uttered when sentence from God was pronounced upon the last king of Israel is given the message: ‘Thus saith the Lord God; Remove the diadem, and take off the crown: … exalt him that is low, and abase him that is high. I will overturn, overturn, overturn, it: and it shall be no more, until He come whose right it is; and I will give it Him.’ Ezekiel 21:26, 27.

Sự lật đổ cuối cùng của mọi quyền cai trị trần gian đã được lời chân lý báo trước một cách rõ ràng. Trong lời tiên tri được phán ra khi bản án từ Đức Chúa Trời được tuyên trên vị vua cuối cùng của Y-sơ-ra-ên, có lời: “Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hãy cất bỏ mão triều thiên, và cởi bỏ vương miện: ... hãy tôn cao kẻ thấp hèn và hạ kẻ cao sang. Ta sẽ lật đổ, lật đổ, lật đổ nó; và nó sẽ không còn nữa, cho đến khi Đấng có quyền ấy đến; và Ta sẽ trao nó cho Ngài.” Ê-xê-chi-ên 21:26, 27.

The crown removed from Israel passed successively to the kingdoms of Babylon, Medo-Persia, Greece, and Rome. God says, ‘It shall be no more, until He come whose right it is; and I will give it Him.’

Vương miện bị cất khỏi Israel đã lần lượt chuyển sang các vương quốc Ba-by-lôn, Mê-đi Ba Tư, Hy Lạp và La Mã. Đức Chúa Trời phán: “Nó sẽ không còn nữa, cho đến khi Đấng mà quyền ấy thuộc về Ngài đến; và Ta sẽ trao nó cho Ngài.”

“That time is at hand. Today the signs of the times declare that we are standing on the threshold of great and solemn events. Everything in our world is in agitation. Before our eyes is fulfilling the Saviour’s prophecy of the events to precede His coming: ‘Ye shall hear of wars and rumors of wars…. Nation shall rise against nation, and kingdom against kingdom: and there shall be famines, and pestilences, and earthquakes, in divers places.’ Matthew 24:6, 7.

Thời điểm ấy đã gần kề. Hôm nay, các dấu hiệu của thời cuộc cho thấy rằng chúng ta đang đứng trên ngưỡng cửa của những biến cố trọng đại và trang nghiêm. Mọi sự trong thế giới chúng ta đều đang xao động. Ngay trước mắt chúng ta, lời tiên tri của Đấng Cứu Thế về những sự kiện sẽ xảy ra trước khi Ngài đến đang được ứng nghiệm: "Các ngươi sẽ nghe về chiến tranh và tin đồn về chiến tranh... Dân này sẽ dấy lên chống lại dân kia, nước này chống lại nước kia; và sẽ có nạn đói, ôn dịch và động đất ở nhiều nơi." Ma-thi-ơ 24:6, 7.

“The present is a time of overwhelming interest to all living. Rulers and statesmen, men who occupy positions of trust and authority, thinking men and women of all classes, have their attention fixed upon the events taking place about us. They are watching the strained, restless relations that exist among the nations. They observe the intensity that is taking possession of every earthly element, and they recognize that something great and decisive is about to take place—that the world is on the verge of a stupendous crisis.

Hiện tại là một thời điểm gây mối quan tâm sâu sắc đối với tất cả những ai đang sống. Các nhà cai trị và chính khách, những người nắm giữ vị trí tín nhiệm và quyền lực, những người nam nữ biết suy tư thuộc mọi tầng lớp, đều dồn sự chú ý vào những sự kiện đang diễn ra quanh chúng ta. Họ đang theo dõi những mối quan hệ căng thẳng, bất an đang tồn tại giữa các quốc gia. Họ nhận thấy sự gay gắt đang bao trùm lên mọi yếu tố trần thế, và họ nhận ra rằng có điều gì đó vĩ đại và mang tính quyết định sắp diễn ra—rằng thế giới đang đứng trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng khổng lồ.

“Angels are now restraining the winds of strife, that they may not blow until the world shall be warned of its coming doom; but a storm is gathering, ready to burst upon the earth; and when God shall bid His angels loose the winds, there will be such a scene of strife as no pen can picture.

Hiện nay các thiên sứ đang ngăn giữ những luồng gió tranh chiến, để chúng không thổi cho đến khi thế gian được cảnh báo về tai họa sắp giáng đến; nhưng một cơn bão đang tụ lại, sẵn sàng ập xuống địa cầu; và khi Đức Chúa Trời truyền các thiên sứ của Ngài thả những luồng gió ấy ra, sẽ có một cảnh tranh chiến đến nỗi không bút nào tả xiết.

“The Bible, and the Bible only, gives a correct view of these things. Here are revealed the great final scenes in the history of our world, events that already are casting their shadows before, the sound of their approach causing the earth to tremble and men’s hearts to fail them for fear.” Education, 178–180.

"Kinh Thánh, và chỉ Kinh Thánh mà thôi, mới cho cái nhìn đúng đắn về những điều này. Ở đây những cảnh cuối cùng vĩ đại trong lịch sử thế giới chúng ta được bày tỏ, những biến cố mà bóng của chúng đã phủ xuống từ trước; âm thanh báo hiệu sự đến gần của chúng khiến đất rung chuyển và lòng người rụng rời vì sợ hãi." Giáo dục, 178-180.

This passage has much light for our time, but what I want to point out is that Sister White clearly identifies that the kingdom of history that preceded Babylon was Israel, not Assyria. The kingdoms of history that is used by theologians leave out Israel as a kingdom of history, in spite of the power and glory that was established during the reign of king Solomon, and in spite of inspiration’s direct testimony through Ezekiel and Ellen White that the crown of Israel passed to Babylon.

Đoạn này có nhiều ánh sáng cho thời đại của chúng ta, nhưng điều tôi muốn chỉ ra là Bà White đã xác định rõ rằng vương quốc trong lịch sử đứng trước Ba-by-lôn là Israel, chứ không phải A-si-ri. Danh sách các vương quốc trong lịch sử mà các nhà thần học sử dụng đã loại bỏ Israel như một vương quốc lịch sử, bất chấp quyền lực và vinh quang được thiết lập dưới triều vua Sa-lô-môn, và bất chấp lời chứng trực tiếp do sự cảm hứng ban qua Ê-xê-chi-ên và Ellen White rằng vương quyền của Israel đã được chuyển giao cho Ba-by-lôn.

If we apply the inspired commentary to the kingdoms of history, we find that Israel needs to be counted among those kingdoms. Israel, Assyria and Egypt are kingdoms of history that preceded the first kingdom of Bible prophecy which was Babylon. Therefore, the fourth kingdom of “history” was Babylon, the fifth was Medo-Persia, the sixth was Greece, the seventh was pagan Rome, and the eighth was papal Rome, which was of the seven for it represents the second phase of pagan Rome. With the kingdoms of history papal Rome is the eighth, and is of the seven.

Nếu chúng ta áp dụng lời chú giải được soi dẫn vào các vương quốc trong lịch sử, chúng ta nhận thấy rằng Israel cần được kể vào trong các vương quốc ấy. Israel, A-si-ri và Ai Cập là các vương quốc trong lịch sử đã có trước vương quốc đầu tiên trong lời tiên tri Kinh Thánh, tức là Ba-by-lôn. Vì vậy, vương quốc thứ tư của "lịch sử" là Ba-by-lôn, thứ năm là Mê-đi Ba Tư, thứ sáu là Hy Lạp, thứ bảy là La Mã ngoại giáo, và thứ tám là La Mã giáo hoàng, vốn thuộc trong số bảy vì nó đại diện cho giai đoạn thứ hai của La Mã ngoại giáo. Xét theo các vương quốc của lịch sử, La Mã giáo hoàng là thứ tám, và thuộc trong số bảy.

In Daniel seven we have the kingdoms of Bible prophecy represented by beasts. Babylon is the lion that was followed by the bear of Medo-Persia. The third was Greece as the leopard, and then Rome as the “dreadful and terrible” beast that had “iron teeth.” The terrible beast in agreement with the image of Daniel two is Rome, the fourth kingdom of Bible prophecy.

Trong Đa-ni-ên chương bảy, chúng ta thấy các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh được tượng trưng bằng các loài thú. Ba-by-lôn là con sư tử, tiếp theo là con gấu của Mê-đi Ba Tư. Thứ ba là Hy Lạp như con báo, rồi đến La Mã là con thú "đáng sợ và kinh khiếp" có "răng bằng sắt." Con thú khủng khiếp phù hợp với hình tượng trong Đa-ni-ên chương hai là La Mã, vương quốc thứ tư trong lời tiên tri Kinh Thánh.

The Millerites understood the fourth kingdom to be Rome, so they understood the characteristics of the terrible beast as such, and simply applied all the prophetic characteristics of the beast unto the fourth kingdom. They saw the distinction between pagan Rome and papal Rome in the passage, but could not see a fifth kingdom of Bible prophecy, for they correctly used the first mention of the kingdoms of Bible prophecy as their point of reference. But the distinction between the two Rome’s is in the passage, which allows us to consider the distinction between the two Rome’s as representing two kingdoms. But this is not the point we are considering.

Những người theo phái Miller hiểu vương quốc thứ tư là La Mã, nên họ hiểu các đặc điểm của con thú khủng khiếp như thế và đơn giản là áp dụng tất cả các đặc điểm tiên tri của con thú cho vương quốc thứ tư. Họ thấy trong đoạn văn có sự phân biệt giữa La Mã ngoại giáo và La Mã giáo hoàng, nhưng không thấy một vương quốc thứ năm trong lời tiên tri Kinh Thánh, vì họ đã đúng khi dùng lần đề cập đầu tiên về các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh làm điểm tham chiếu. Nhưng sự phân biệt giữa hai La Mã ấy có trong đoạn, điều này cho phép chúng ta xem sự phân biệt giữa hai La Mã như đại diện cho hai vương quốc. Tuy nhiên, đó không phải là điểm chúng ta đang xem xét.

Thus he said, The fourth beast shall be the fourth kingdom upon earth, which shall be diverse from all kingdoms, and shall devour the whole earth, and shall tread it down, and break it in pieces. And the ten horns out of this kingdom are ten kings that shall arise: and another shall rise after them; and he shall be diverse from the first, and he shall subdue three kings. And he shall speak great words against the most High, and shall wear out the saints of the most High, and think to change times and laws: and they shall be given into his hand until a time and times and the dividing of time. But the judgment shall sit, and they shall take away his dominion, to consume and to destroy it unto the end. Daniel 7:23–26.

Người nói rằng: Con thú thứ tư sẽ là vương quốc thứ tư trên đất, khác hẳn mọi vương quốc; nó sẽ nuốt trọn cả đất, giày đạp và nghiền nát. Còn mười sừng từ vương quốc này là mười vua sẽ dấy lên; rồi một cái khác sẽ dấy lên sau chúng; nó sẽ khác với những cái trước, và sẽ khuất phục ba vua. Nó sẽ nói những lời kiêu ngạo chống nghịch Đấng Chí Cao, làm hao mòn các thánh của Đấng Chí Cao, và toan đổi các thời kỳ và luật pháp; các thánh sẽ bị phó vào tay nó cho đến một thời, các thời, và nửa thời. Nhưng tòa án sẽ ngồi, và người ta sẽ cất lấy quyền thống trị của nó, để tiêu hao và hủy diệt nó cho đến cuối cùng. Đa-ni-ên 7:23-26.

The fourth kingdom in Daniel two is Rome. The ten horns represent the ten nations that represent the kingdom of pagan Rome, and before papal Rome would take control of the world in 538, three of those kingdoms would be removed, or plucked up. Then the “little” “horn” of verse eight with “eyes like the eyes of man, and a mouth speaking great things,” would arise. If we have ten horns in the fourth kingdom and three are removed in order for the “little horn” to replace those three horns, then when the three horns are removed it leaves seven horns, and the little horn is the eighth, for Rome always comes up eighth and is of the seven. There is much light concerning Rome in its two phases in this chapter, but we are simply here providing a second witness that prophetically as well as historically, Rome comes up eighth and is of the seven.

Vương quốc thứ tư trong Đa-ni-ên đoạn hai là La Mã. Mười sừng tượng trưng cho mười quốc gia đại diện cho vương quốc La Mã ngoại giáo, và trước khi La Mã giáo hoàng nắm quyền kiểm soát thế giới vào năm 538, ba trong các vương quốc ấy sẽ bị loại bỏ, hay bị nhổ bật. Rồi “sừng” “nhỏ” ở câu tám, “có mắt như mắt loài người, và miệng nói những lời lớn lao”, sẽ nổi lên. Nếu chúng ta có mười sừng trong vương quốc thứ tư và ba sừng bị dẹp bỏ để “sừng nhỏ” thay thế ba sừng ấy, thì khi ba sừng bị loại bỏ sẽ còn lại bảy sừng, và sừng nhỏ là sừng thứ tám, vì La Mã luôn xuất hiện là thứ tám và là một trong bảy. Có nhiều ánh sáng liên quan đến La Mã trong hai giai đoạn của nó trong chương này, nhưng ở đây chúng tôi chỉ đơn giản cung cấp một lời chứng thứ hai rằng, cả về phương diện tiên tri lẫn lịch sử, La Mã xuất hiện là thứ tám và là một trong bảy.

In chapter eight we find the enlargement of chapter seven. The chapter once again identifies the kingdoms of Bible prophecy but leaves off the first kingdom of Babylon for when Daniel received the vision of chapter eight it was very close to the end of Babylon. In the chapter Medo-Persia is represented by a ram that had two horns. Greece is represented by a goat with one horn that is broken and produces four horns out of the broken horn. Then a “little horn” follows after Greece, and once again the little horn is representing Rome. Though Rome was not a direct descendant from the empire of Greece, the passage portrays the little horn as coming out of one of the four horns that arose in the Greek kingdom after the first horn—representing Alexander the Great—was broken. Rome was not a descendant of the Greeks, but it began its conquering of the world from the area of Greece, and in that sense, it came out of one of those four horns.

Trong chương tám, chúng ta thấy phần mở rộng của chương bảy. Chương này một lần nữa xác định các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh, nhưng bỏ qua vương quốc đầu tiên là Ba-by-lôn, vì khi Đa-ni-ên nhận khải tượng của chương tám thì Ba-by-lôn đã gần đến hồi kết. Trong chương này, Mê-đi Ba Tư được tượng trưng bởi một con chiên đực có hai sừng. Hy Lạp được tượng trưng bởi một con dê đực có một sừng; sừng ấy bị gãy và từ sừng gãy mọc ra bốn sừng. Rồi một “sừng nhỏ” xuất hiện sau Hy Lạp, và một lần nữa sừng nhỏ đại diện cho La Mã. Dù La Mã không phải là hậu duệ trực tiếp của đế quốc Hy Lạp, đoạn văn mô tả sừng nhỏ như mọc lên từ một trong bốn sừng đã trỗi lên trong vương quốc Hy Lạp sau khi sừng thứ nhất—đại diện cho Alexander Đại đế—bị gãy. La Mã không phải là hậu duệ của người Hy Lạp, nhưng nó bắt đầu chinh phục thế giới từ vùng Hy Lạp, và theo nghĩa đó, nó đã xuất phát từ một trong bốn sừng ấy.

We therefore find in chapter eight a second witness to chapter seven. Medo-Persia had two horns, Greece had one and thereafter four more horns. That equals seven horns before Rome’s as the little horn came out of one of Greece’s four horns. Two plus one plus four equals seven, then Rome, the little horn, is the eighth and it is of the seven. It is worth noting that in this passage that identifies that Rome comes out of one of the Greek horns is one of the greatest prophetic arguments that Miller and his co-laborers had to meet in their history.

Vì vậy, chúng ta thấy trong chương tám một bằng chứng thứ hai cho chương bảy. Mê-đi Ba Tư có hai sừng, Hy Lạp có một, rồi sau đó thêm bốn sừng nữa. Như vậy là bảy sừng trước sừng của La Mã, vì sừng nhỏ đã xuất phát từ một trong bốn sừng của Hy Lạp. Hai cộng một cộng bốn bằng bảy; rồi La Mã, sừng nhỏ, là sừng thứ tám và nó thuộc về bảy sừng ấy. Đáng lưu ý là đoạn văn này, đoạn xác định rằng La Mã xuất phát từ một trong các sừng Hy Lạp, là một trong những lập luận tiên tri lớn nhất mà Miller và các cộng sự của ông đã phải đối mặt trong lịch sử của họ.

The Protestants of that history insisted that the little horn of Rome could not be Rome, for the prophecy identifies that the little horn came out from one of the four Grecian horns. They therefore argued that the little horn represented Antiochus Epiphanes who was one of the Seleucid kings that carried on through history after the division of Alexander the Great’s demise. The argument of Millerite history over this issue was so great that on the 1843 chart the argument against the Protestant teaching that was based upon the fact that Daniel saw the little horn come out from one of the four Grecian horns and therefore could not identify Rome, for Rome did not descend from Greece. The argument impacted all the passages in Daniel where Rome is identified. The Protestant position included that the “robbers of thy people” in verse fourteen of Daniel eleven had to be Antiochus Epiphanes. The Millerites therefore included upon the chart that Sister White identified was “directed by the hand of the Lord and should not be altered,” a reference to Antiochus Epiphanes identifying why he could not have been that fourth kingdom. Does Rome establish the vision of prophetic history or did a Seleucid king that died over a hundred years before Christ was born represent the power that stood up against Christ at his crucifixion?

Những người Thệ Phản trong bối cảnh lịch sử ấy khẳng định rằng sừng nhỏ của Rô-ma không thể là Rô-ma, vì lời tiên tri xác định rằng sừng nhỏ xuất phát từ một trong bốn sừng Hy Lạp. Vì vậy, họ lập luận rằng sừng nhỏ tượng trưng cho Antiochus Epiphanes, một trong các vua Seleucid tiếp tục tồn tại trong lịch sử sau sự phân chia đế quốc sau khi Alexander Đại đế qua đời. Cuộc tranh luận trong lịch sử phong trào Miller về vấn đề này gay gắt đến nỗi trên biểu đồ năm 1843, họ đã đưa vào lập luận phản bác giáo huấn của người Thệ Phản, dựa trên thực tế rằng Đa-ni-ên thấy sừng nhỏ xuất phát từ một trong bốn sừng Hy Lạp và do đó không thể chỉ về Rô-ma, vì Rô-ma không xuất thân từ Hy Lạp. Lập luận ấy ảnh hưởng đến tất cả những đoạn trong sách Đa-ni-ên nơi Rô-ma được nhận diện. Lập trường của người Thệ Phản còn cho rằng “bọn cướp của dân ngươi” ở câu mười bốn, Đa-ni-ên đoạn mười một, phải là Antiochus Epiphanes. Vì thế, những người theo Miller đã đưa vào trên biểu đồ mà Bà White cho biết là “được bàn tay của Chúa hướng dẫn và không nên bị thay đổi” một tham chiếu đến Antiochus Epiphanes, nêu rõ vì sao ông không thể là vương quốc thứ tư. Vậy Rô-ma xác lập khải tượng của lịch sử tiên tri, hay một vị vua Seleucid chết hơn một trăm năm trước khi Đấng Christ ra đời mới là quyền lực đã đứng lên chống lại Đấng Christ khi Ngài bị đóng đinh?

The question that could be raised is, why was Daniel shown Rome coming out of one of the Grecian horns, if Rome was not a direct descendant of Greece? The answer is that the beginning of Rome’s rise to power began in that region which had formerly been Greek territory, but why was the prophecy portrayed in such a way to allow for that confusion?

Câu hỏi có thể được đặt ra là: vì sao Đa-ni-ên được cho thấy La Mã xuất hiện từ một trong những sừng Hy Lạp, nếu La Mã không phải là hậu duệ trực tiếp của Hy Lạp? Câu trả lời là sự trỗi dậy lên nắm quyền của La Mã bắt đầu ở vùng vốn trước kia là lãnh thổ Hy Lạp, nhưng tại sao lời tiên tri lại được trình bày theo cách như vậy để dẫn đến sự nhầm lẫn đó?

At least one answer, beyond the importance of noting where Rome began to rise, is that the enigma of Rome always coming up eighth and being of the seven is answered by Rome being associated with the territory of Greece, in order to retain the enigma’s point of Rome being of the seven. The enigma is that important, though the Millerites could never had understood that concept from their vantage point in history. The fact that all the references upon not only the 1843, but also the 1850 chart are illustrations of subjects that are directly addressed in God’s prophetic Word, except for the one reference that emphasizes that Antiochus Epiphanes is not the power that stood against Christ, makes the addition to the chart very significant. How sad is it that when Adventism left their foundations, they find themselves today teaching that the power of verse fourteen of Daniel eleven is Antiochus Epiphanes and not Rome! They now teach what the Millerites opposed so strongly that they represented that controversy upon the 1843 chart!

Ít nhất có một lời giải, ngoài tầm quan trọng của việc ghi nhận nơi La Mã bắt đầu trỗi dậy, đó là: điều bí ẩn về việc La Mã luôn xuất hiện như thứ tám nhưng lại thuộc về bảy được giải thích bằng việc La Mã gắn với lãnh thổ Hy Lạp, để giữ nguyên điểm cốt lõi của điều bí ẩn rằng La Mã thuộc về bảy. Điều bí ẩn ấy quan trọng đến thế, dù những người Millerite không bao giờ có thể hiểu khái niệm đó từ góc nhìn lịch sử của họ. Thực tế rằng mọi tham chiếu không chỉ trên biểu đồ 1843 mà cả biểu đồ 1850 đều là những minh họa cho các chủ đề được Lời tiên tri của Đức Chúa Trời trực tiếp đề cập, ngoại trừ một tham chiếu nhấn mạnh rằng Antiochus Epiphanes không phải là quyền lực đã chống lại Đấng Christ, khiến phần bổ sung vào biểu đồ trở nên rất quan trọng. Thật buồn thay, khi phái Cơ Đốc Phục Lâm rời bỏ nền tảng của mình, họ ngày nay lại dạy rằng quyền lực ở câu mười bốn của Đa-ni-ên mười một là Antiochus Epiphanes chứ không phải La Mã! Giờ đây họ dạy điều mà những người Millerite đã kịch liệt phản đối đến mức họ đã minh họa cuộc tranh luận ấy ngay trên biểu đồ 1843!

The kingdoms of history identify that Rome comes up eighth and is of the seven. The “little horn” in chapter seven that speaks “great words against the Most High” comes up eighth and is of the seven. The horns of chapter eight identify that Rome comes up eighth and is of the seven.

Các vương quốc trong lịch sử chỉ ra rằng La Mã trỗi lên là thứ tám và thuộc về bảy. “Sừng nhỏ” trong chương bảy, kẻ nói “những lời lộng ngôn nghịch cùng Đấng Tối Cao”, trỗi lên là thứ tám và thuộc về bảy. Các sừng của chương tám chỉ ra rằng La Mã trỗi lên là thứ tám và thuộc về bảy.

In the next article we will consider how modern Rome, as represented in Revelation seventeen comes up eighth and is of the seven. We will then return to Daniel two and identify why Daniel two’s four kingdoms, which is the first mention of the kingdoms of Bible prophecy, is in agreement with Revelation seventeen’s eight kingdoms.

Trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cách La Mã hiện đại, như được trình bày trong Khải Huyền 17, xuất hiện là thứ tám và thuộc về bảy. Sau đó, chúng ta sẽ quay lại Đa-ni-ên 2 và xác định vì sao bốn vương quốc của Đa-ni-ên 2, vốn là lần đề cập đầu tiên đến các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh, lại phù hợp với tám vương quốc trong Khải Huyền 17.