The rebellion of Aaron’s golden calf at the beginning of ancient Israel, prophetically aligns with the rebellion of Jeroboam at the beginning of the ten tribes of the northern kingdom of Ephraim. These sacred histories typify the rebellion of Adventism in 1863.

Sự phản loạn quanh con bê vàng của A-rôn vào buổi đầu của Y-sơ-ra-ên cổ đại, một cách tiên tri, tương ứng với cuộc phản loạn của Giê-rô-bô-am vào buổi đầu của mười chi phái của vương quốc phía bắc Ê-phra-im. Những lịch sử thánh này là hình bóng cho sự phản loạn của phái Cơ Đốc Phục Lâm vào năm 1863.

There are of course other witnesses to 1863, but Aaron and king Jeroboam provide witnesses that lay over the top of the history of 1863, and all those histories illustrate the movement of the one hundred and forty-four thousand, which is the Protestant horn, not only during the final days of the sixth kingdom of Bible prophecy, but all the way to the close of probation. Those histories also address the parallel history of the Republican horn in the sixth kingdom.

Dĩ nhiên còn có những chứng cứ khác về năm 1863, nhưng Aaron và vua Jeroboam đưa ra những chứng cứ chồng lên trên lịch sử của năm 1863, và tất cả những lịch sử ấy minh họa phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn, tức là sừng Tin Lành, không chỉ trong những ngày cuối cùng của vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh, mà còn suốt cho đến lúc kết thúc thời kỳ ân điển. Những lịch sử ấy cũng đề cập đến lịch sử song song của sừng Cộng hòa trong vương quốc thứ sáu.

It is generally a very difficult truth for those that believe, that the Seventh-day Adventist church is God’s remnant people at the end of the world. That belief is our first mistake. There is no biblical evidence that the Laodicean church represents the people that are lifted up as an ensign during the Sunday law crisis. Our first mistake is accepting the false premise that this is so. The ensign at the end of the world is made up of those who were cast out by the members of the synagogue of Satan.

Đây thường là một lẽ thật rất khó chấp nhận đối với những người tin rằng Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm là dân sót lại của Đức Chúa Trời vào thời kỳ cuối cùng của thế gian. Niềm tin đó là sai lầm đầu tiên của chúng ta. Không có bằng chứng Kinh Thánh nào cho thấy hội thánh Lao-đi-xê đại diện cho những người được giương lên làm cờ hiệu trong cuộc khủng hoảng luật ngày Chủ nhật. Sai lầm đầu tiên của chúng ta là chấp nhận tiền đề sai lầm rằng điều đó là như vậy. Cờ hiệu vào thời kỳ cuối cùng của thế gian gồm những người bị các thành viên của hội đường của Sa-tan đuổi ra.

And he shall set up an ensign for the nations, and shall assemble the outcasts of Israel, and gather together the dispersed of Judah from the four corners of the earth. Isaiah 11:12.

Ngài sẽ giương một ngọn cờ cho các dân tộc, sẽ tập hợp những người bị xua đuổi của Israel, và sẽ quy tụ những người tản lạc của Giu-đa từ bốn phương trên mặt đất. Ê-sai 11:12.

It is Laodicean Adventists that cast out those that are to be the ensign.

Chính những người Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê khai trừ những người sẽ là ngọn cờ.

Hear the word of the Lord, ye that tremble at his word; Your brethren that hated you, that cast you out for my name’s sake, said, Let the Lord be glorified: but he shall appear to your joy, and they shall be ashamed. Isaiah 66:5.

Hãy nghe lời của Chúa, hỡi những người run sợ trước lời Ngài; những anh em của các ngươi, kẻ ghét các ngươi và đã xua đuổi các ngươi vì cớ danh Ta, đã nói: “Nguyện Chúa được tôn vinh”; nhưng Ngài sẽ hiện ra để các ngươi vui mừng, còn họ sẽ hổ thẹn. Ê-sai 66:5.

Those that are the ensign get cast out for the “name” of Christ. The name that produces the hatred is Alpha and Omega, for the principle of Alpha and Omega is what clearly identifies who the Seventh-day Adventist church represents in Bible prophecy. The parable of the ten virgins represents Adventism.

Những người mang cờ hiệu bị loại trừ vì “danh” của Đấng Christ. Danh xưng gây ra sự thù ghét ấy là Anpha và Ômêga, vì nguyên tắc Anpha và Ômêga chính là điều xác định rõ ràng Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm đại diện cho ai trong lời tiên tri Kinh Thánh. Dụ ngôn mười trinh nữ tượng trưng cho Cơ Đốc Phục Lâm.

“The parable of the ten virgins of Matthew 25 also illustrates the experience of the Adventist people.The Great Controversy, 393.

Dụ ngôn mười trinh nữ trong Ma-thi-ơ 25 cũng minh họa kinh nghiệm của dân sự Phục Lâm. Cuộc Đại Tranh Chiến, 393.

The parable was fulfilled at the beginning of Adventism and it is fulfilled again to the very letter at the end.

Dụ ngôn đã được ứng nghiệm vào buổi đầu của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, và vào lúc cuối nó lại được ứng nghiệm đúng từng chữ.

“I am often referred to the parable of the ten virgins, five of whom were wise, and five foolish. This parable has been and will be fulfilled to the very letter, for it has a special application to this time, and, like the third angel’s message, has been fulfilled and will continue to be present truth till the close of time.” Review and Herald, August 19, 1890.

Tôi thường được nhắc đến dụ ngôn mười trinh nữ, trong đó năm người khôn ngoan, và năm người dại. Dụ ngôn này đã và sẽ được ứng nghiệm đúng từng chữ, vì nó có sự áp dụng đặc biệt cho thời kỳ này, và, cũng như sứ điệp của thiên sứ thứ ba, đã được ứng nghiệm và sẽ tiếp tục là lẽ thật hiện tại cho đến lúc thời gian chấm dứt. Review and Herald, ngày 19 tháng 8 năm 1890.

The foolish virgins that wake up and recognize they have no oil are the Laodiceans.

Những cô trinh nữ khờ dại thức dậy và nhận ra rằng mình không có dầu chính là những người La-ô-đi-xê.

“The state of the Church represented by the foolish virgins, is also spoken of as the Laodicean state.” Review and Herald, August 19, 1890.

Tình trạng của Hội Thánh được tượng trưng bởi các trinh nữ dại, cũng được gọi là tình trạng La-ô-đi-xê. Review and Herald, ngày 19 tháng 8, 1890.

The struggle of the wise virgins, represented also as the Philadelphian church, is with a church that claims to be Jews, but they are not.

Cuộc đấu tranh của những trinh nữ khôn ngoan, vốn cũng được ví như Hội thánh Philadelphia, là chống lại một hội thánh tự xưng là người Do Thái nhưng thực ra không phải.

Behold, I will make them of the synagogue of Satan, which say they are Jews, and are not, but do lie; behold, I will make them to come and worship before thy feet, and to know that I have loved thee. Revelation 3:9.

Này, Ta sẽ khiến những kẻ thuộc về hội đường của Sa-tan, những kẻ nói mình là người Do Thái mà không phải, nhưng nói dối; này, Ta sẽ khiến chúng đến và thờ lạy trước chân ngươi, và biết rằng Ta đã yêu ngươi. Khải Huyền 3:9.

Sister White addresses this verse in the very first publication after the great disappointment.

Bà White đề cập đến câu Kinh Thánh này trong ấn phẩm đầu tiên ngay sau Sự Thất Vọng Lớn.

“You think, that those who worship before the saint’s feet, (Revelation 3:9), will at last be saved. Here I must differ with you; for God shew me that this class were professed Adventists, who had fallen away, and ‘crucified to themselves the Son of God afresh, and put him to an open shame.’ And in the ‘hour of temptation,’ which is yet to come, to show out every one’s true character, they will know that they are forever lost; and overwhelmed with anguish of spirit, they will bow at the saint’s feet.” Word to the Little Flock, 12.

Bạn nghĩ rằng những kẻ thờ lạy trước chân của vị thánh (Khải Huyền 3:9) rốt cuộc sẽ được cứu. Ở đây tôi phải bất đồng với bạn; vì Đức Chúa Trời đã cho tôi thấy rằng hạng người này là những người tự xưng là Cơ Đốc Phục Lâm, đã sa ngã, và 'lại đóng đinh Con Đức Chúa Trời cho chính mình họ, và đem Ngài ra bêu xấu công khai.' Và trong 'giờ thử thách,' là điều còn chưa đến, để bày tỏ bản chất thật của mỗi người, họ sẽ biết rằng mình vĩnh viễn hư mất; và, tràn ngập nỗi thống khổ trong tâm linh, họ sẽ quỳ xuống trước chân của vị thánh. Lời gửi đến Bầy Nhỏ, 12.

In Isaiah chapter five the song of the vineyard, which Christ later employed is mentioned for the first time.

Trong chương năm của sách Ê-sai, bài ca về vườn nho, mà sau này Đức Kitô đã sử dụng, được nhắc đến lần đầu tiên.

Now will I sing to my wellbeloved a song of my beloved touching his vineyard. My wellbeloved hath a vineyard in a very fruitful hill: And he fenced it, and gathered out the stones thereof, and planted it with the choicest vine, and built a tower in the midst of it, and also made a winepress therein: and he looked that it should bring forth grapes, and it brought forth wild grapes. And now, O inhabitants of Jerusalem, and men of Judah, judge, I pray you, betwixt me and my vineyard. What could have been done more to my vineyard, that I have not done in it? wherefore, when I looked that it should bring forth grapes, brought it forth wild grapes? Isaiah 5:1–4.

Bây giờ tôi sẽ hát cho người yêu dấu của tôi một bài ca về vườn nho của người yêu dấu tôi. Người yêu dấu tôi có một vườn nho trên một đồi rất phì nhiêu. Người đã rào nó lại, nhặt hết đá khỏi đó, trồng vào đó giống nho tốt nhất, xây một cái tháp ở giữa nó, lại còn làm một bồn ép nho trong đó; rồi người trông đợi nó sinh ra nho, nhưng nó lại sinh ra nho dại. Vậy bây giờ, hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem và người Giu-đa, ta nài xin các ngươi hãy xét đoán giữa ta và vườn nho của ta. Còn điều gì nữa có thể làm cho vườn nho của ta mà ta chưa làm cho nó? Vì sao, khi ta trông đợi nó sinh ra nho, nó lại sinh ra nho dại? Ê-sai 5:1-4.

The parable whether in the Old Testament or the New identifies God’s church as being rejected by God for refusing to bring forth the fruits they were raised up to produce. In Isaiah five, at the conclusion of the parable, the punishment of the vineyard is identified, while also promising to lift up an ensign to the nations. Clearly the vineyard is not the ensign.

Dụ ngôn, dù ở Cựu Ước hay Tân Ước, chỉ ra rằng Hội Thánh của Đức Chúa Trời bị Ngài từ bỏ vì đã khước từ kết những bông trái mà họ đã được dấy lên để sinh ra. Trong Ê-sai đoạn 5, ở phần kết của dụ ngôn, hình phạt dành cho vườn nho được nêu ra, đồng thời cũng hứa sẽ giương một ngọn cờ cho các dân tộc. Rõ ràng vườn nho không phải là ngọn cờ ấy.

Therefore is the anger of the Lord kindled against his people, and he hath stretched forth his hand against them, and hath smitten them: and the hills did tremble, and their carcases were torn in the midst of the streets. For all this his anger is not turned away, but his hand is stretched out still. And he will lift up an ensign to the nations from far, and will hiss unto them from the end of the earth: and, behold, they shall come with speed swiftly. Isaiah 5:25, 26.

Vì vậy cơn thịnh nộ của Chúa bốc cháy nghịch cùng dân Ngài; Ngài đã giơ tay ra nghịch cùng họ và đánh phạt họ; các núi đồi rung động, và xác chết của họ bị xé nát giữa các đường phố. Dẫu vậy, cơn giận của Ngài vẫn chưa nguôi, nhưng tay Ngài vẫn còn giơ ra. Ngài sẽ giương cờ hiệu cho các dân ở phương xa, và sẽ huýt sáo gọi họ từ tận cùng đất; kìa, họ sẽ đến cách mau lẹ, rất nhanh. Ê-sai 5:25, 26.

When Jesus later sang the song as a parable His conclusion was just as decisive.

Sau này, khi Chúa Giê-su hát bài ca ấy như một dụ ngôn, kết luận của Ngài cũng dứt khoát như vậy.

Hear another parable: There was a certain householder, which planted a vineyard, and hedged it round about, and digged a winepress in it, and built a tower, and let it out to husbandmen, and went into a far country: And when the time of the fruit drew near, he sent his servants to the husbandmen, that they might receive the fruits of it. And the husbandmen took his servants, and beat one, and killed another, and stoned another. Again, he sent other servants more than the first: and they did unto them likewise. But last of all he sent unto them his son, saying, They will reverence my son. But when the husbandmen saw the son, they said among themselves, This is the heir; come, let us kill him, and let us seize on his inheritance. And they caught him, and cast him out of the vineyard, and slew him. When the lord therefore of the vineyard cometh, what will he do unto those husbandmen? They say unto him, He will miserably destroy those wicked men, and will let out his vineyard unto other husbandmen, which shall render him the fruits in their seasons. Jesus saith unto them, Did ye never read in the scriptures, The stone which the builders rejected, the same is become the head of the corner: this is the Lord’s doing, and it is marvellous in our eyes? Therefore say I unto you, The kingdom of God shall be taken from you, and given to a nation bringing forth the fruits thereof. And whosoever shall fall on this stone shall be broken: but on whomsoever it shall fall, it will grind him to powder. And when the chief priests and Pharisees had heard his parables, they perceived that he spake of them. Matthew 21:33–45.

Hãy nghe một dụ ngôn khác: Có một người chủ nhà trồng một vườn nho, rào giậu chung quanh, đào chỗ ép rượu trong đó, xây một cái tháp, rồi cho các tá điền thuê và đi xa. Khi gần đến mùa trái, ông sai các đầy tớ đến các tá điền để thu hoa lợi. Nhưng các tá điền bắt các đầy tớ ông: đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. Lần nữa, ông sai những đầy tớ khác, nhiều hơn trước; họ cũng đối đãi với những người ấy như vậy. Sau hết, ông sai con mình đến, nói rằng: Họ sẽ kính nể con ta. Nhưng khi các tá điền thấy người con, họ nói với nhau: Đây là người thừa tự; nào, chúng ta hãy giết hắn đi và chiếm lấy gia nghiệp của hắn. Họ bắt hắn, đuổi ra khỏi vườn nho và giết hắn. Vậy khi chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì những tá điền ấy? Họ thưa: Ông sẽ tiêu diệt thảm hại những kẻ ác ấy, và cho những tá điền khác thuê vườn nho, là những người sẽ nộp hoa lợi cho ông đúng mùa. Đức Giê-su phán cùng họ: Các ngươi chưa bao giờ đọc trong Kinh Thánh sao: Hòn đá mà thợ xây loại bỏ đã trở nên đá góc nhà; ấy là việc Chúa làm, và thật lạ lùng trong mắt chúng ta? Vì vậy ta nói với các ngươi: Nước Đức Chúa Trời sẽ bị lấy khỏi các ngươi và ban cho một dân sinh ra hoa quả của nó. Ai vấp ngã trên hòn đá này sẽ bị dập nát; còn ai bị nó rơi trúng, người ấy sẽ bị nghiền nát. Khi các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nghe các dụ ngôn của Ngài, họ biết rằng Ngài nói về họ. Ma-thi-ơ 21:33-45.

The Laodicean Seventh-day Adventist church is not the ensign that is lifted up. The vineyard in the last days that has been typified by ancient Israel is the Laodicean Seventh-day Adventist church, but there will be a nation that brings forth the fruit which qualifies as the first fruits, which is what the one hundred and forty-four thousand are.

Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê không phải là dấu kỳ được giương lên. Vườn nho trong những ngày sau rốt, vốn đã được tiêu biểu bởi Israel cổ đại, chính là Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, nhưng sẽ có một dân đem lại bông trái được xem là trái đầu mùa; đó chính là một trăm bốn mươi bốn ngàn người.

These are they which were not defiled with women; for they are virgins. These are they which follow the Lamb whithersoever he goeth. These were redeemed from among men, being the firstfruits unto God and to the Lamb. Revelation 14:4.

Ấy là những người không bị ô uế bởi phụ nữ; vì họ là những người đồng trinh. Ấy là những người theo Chiên Con; hễ Ngài đi đâu thì họ theo đó. Họ đã được chuộc từ giữa loài người, là trái đầu mùa dâng cho Đức Chúa Trời và cho Chiên Con. Khải Huyền 14:4.

As an ensign they will be employed by the Householder to bring in the final harvest. The Laodicean Seventh-day Adventist church is the vineyard who rejected the foundation stone of Moses’ seven times. From that point on it was a progressive descent into greater and greater darkness. The ensign shall be “a root of Jesse.” The root of Jesse, or David represents the very last truth Jesus presented to the quibbling Jews of His history. It is a symbol of the principle of Alpha and Omega, which the unfaithful husbandmen of both ancient and modern Israel refuse to understand.

Là cờ hiệu, họ sẽ được Gia chủ dùng để thu vào mùa gặt cuối cùng. Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê là vườn nho đã khước từ viên đá nền tảng “bảy lần” của Môi-se. Từ đó trở đi là một sự sa sút dần dần vào bóng tối ngày càng dày đặc. Cờ hiệu sẽ là “một rễ của Gie-sê.” Rễ của Gie-sê, tức Đa-vít, tượng trưng cho lẽ thật cuối cùng mà Chúa Giê-xu đã trình bày cho những người Do Thái hay bắt bẻ trong lịch sử của Ngài. Đó là biểu tượng của nguyên tắc Alpha và Omega, mà những tá điền bất trung của cả Y-sơ-ra-ên xưa lẫn nay từ chối hiểu.

And in that day there shall be a root of Jesse, which shall stand for an ensign of the people; to it shall the Gentiles seek: and his rest shall be glorious. Isaiah 11:10.

Trong ngày đó sẽ có cội rễ của Gie-sê, đứng làm cờ hiệu cho các dân; các dân ngoại sẽ tìm đến Ngài; và nơi an nghỉ của Ngài sẽ vinh hiển. Ê-sai 11:10.

Sister White and James White clearly identify that by 1856 the movement had become Laodicea, so when does she identify that it ever accepted the message to the Laodiceans? She never did. Our first mistake is accepting the claim that the Seventh-day Adventist church has been a victorious church as she went through history. It is quite the opposite. If we accept that first mistaken premise, our eyes are closed to prophetic facts that teach otherwise. For instance, Sister White repeatedly identifies that the history of ancient literal Israel illustrates the experience and history of modern spiritual Israel. Often when she references ancient Israel as the example for modern Israel, she simultaneously quotes the apostle Paul’s classic statement of the same fact.

Bà White và ông James White xác quyết rằng đến năm 1856, phong trào đã rơi vào tình trạng La-ô-đi-xê; vậy khi nào bà xác định rằng phong trào từng chấp nhận sứ điệp gửi cho Hội Thánh La-ô-đi-xê? Bà chưa bao giờ làm vậy. Sai lầm đầu tiên của chúng ta là chấp nhận lời khẳng định rằng Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy đã là một hội thánh đắc thắng trong suốt lịch sử của mình. Thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Nếu chúng ta chấp nhận tiền đề sai lầm đó, mắt chúng ta sẽ bị che khuất trước những dữ kiện tiên tri cho thấy điều ngược lại. Chẳng hạn, Bà White nhiều lần chỉ ra rằng lịch sử của Y-sơ-ra-ên xưa theo nghĩa đen minh họa cho kinh nghiệm và lịch sử của Y-sơ-ra-ên thuộc linh ngày nay. Thường khi bà lấy Y-sơ-ra-ên xưa làm gương cho Y-sơ-ra-ên ngày nay, bà đồng thời trích lời tuyên bố kinh điển của sứ đồ Phao-lô về chính thực tế ấy.

Now all these things happened unto them for ensamples: and they are written for our admonition, upon whom the ends of the world are come. 1 Corinthians 10:11.

Vả, mọi điều ấy đã xảy ra cho họ như những gương; và đã được chép lại để khuyên răn chúng ta, là những người mà tận cùng các thời đại đã đến. 1 Cô-rinh-tô 10:11.

The apostle Paul in verse eleven is summarizing the previous ten verses.

Ở câu mười một, sứ đồ Phao-lô đang tóm tắt mười câu trước đó.

Moreover, brethren, I would not that ye should be ignorant, how that all our fathers were under the cloud, and all passed through the sea; And were all baptized unto Moses in the cloud and in the sea; And did all eat the same spiritual meat; And did all drink the same spiritual drink: for they drank of that spiritual Rock that followed them: and that Rock was Christ. But with many of them God was not well pleased: for they were overthrown in the wilderness. Now these things were our examples, to the intent we should not lust after evil things, as they also lusted. Neither be ye idolaters, as were some of them; as it is written, The people sat down to eat and drink, and rose up to play. Neither let us commit fornication, as some of them committed, and fell in one day three and twenty thousand. Neither let us tempt Christ, as some of them also tempted, and were destroyed of serpents. Neither murmur ye, as some of them also murmured, and were destroyed of the destroyer. 1 Corinthians 10:1–10.

Hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết rằng mọi tổ phụ chúng ta đều ở dưới đám mây, và hết thảy đều đi qua biển; hết thảy đều chịu báp-têm vào Môi-se trong đám mây và trong biển; hết thảy đều ăn cùng một thức ăn thuộc linh; hết thảy đều uống cùng một thức uống thuộc linh, vì họ đã uống từ hòn đá thuộc linh đã theo họ; và hòn đá ấy chính là Đấng Christ. Nhưng Đức Chúa Trời không đẹp lòng phần nhiều trong số họ, vì họ đã ngã chết trong đồng vắng. Những điều ấy là gương cho chúng ta, để chúng ta đừng ham muốn những điều ác như họ đã ham muốn. Cũng đừng trở nên kẻ thờ hình tượng như một số người trong họ, như có chép: Dân ngồi xuống ăn uống, rồi đứng dậy vui chơi. Cũng đừng phạm dâm dục như một số người trong họ đã phạm, và trong một ngày có hai mươi ba ngàn người ngã chết. Cũng đừng thử Đấng Christ như một số người trong họ đã thử, và bị rắn tiêu diệt. Cũng đừng lằm bằm như một số người trong họ đã lằm bằm, và bị kẻ hủy diệt tiêu diệt. 1 Cô-rinh-tô 10:1-10.

Paul and Sister White do not use ancient Israel as an example of a victorious and righteous people. Quite the opposite. Paul summarizes those first ten verses, in verse eleven, and then in the next verse states the lesson that the history of ancient Israel is to convey to those who will see.

Phao-lô và Bà White không dùng Y-sơ-ra-ên xưa làm tấm gương về một dân tộc chiến thắng và công chính. Hoàn toàn ngược lại. Trong câu mười một, Phao-lô tóm tắt mười câu đầu ấy, rồi ở câu kế tiếp nêu ra bài học mà lịch sử Y-sơ-ra-ên xưa muốn truyền đạt cho những ai biết nhìn nhận.

Wherefore let him that thinketh he standeth take heed lest he fall. 1 Corinthians 10:12.

Vì vậy, ai nghĩ rằng mình đang đứng vững, hãy cẩn thận kẻo ngã. 1 Cô-rinh-tô 10:12.

Ancient Israel provides an example of a people that were called of God, led of God, fulfilled the prophecies of God and rebelled against God every step of the way, and ultimately crucified the Creator of heaven and earth! Adventists have no problem admitting these facts about ancient Israel, but rarely do they allow the intended warning to break through their Laodicean blindness. They may quote the passages where Sister White identifies the church as the apple of God’s eye, and it is, but God’s love for His people does not throw a cloak over their actual condition. Those who He loves He rebukes and chastens. As much as God’s church is the apple of God’s eye, Jesus very plainly summarized His relationship with that apple, His apple.

Israel cổ đại là một ví dụ về một dân tộc được Đức Chúa Trời kêu gọi, được Ngài dẫn dắt, ứng nghiệm các lời tiên tri của Ngài nhưng lại phản nghịch cùng Ngài trên từng bước đường, và cuối cùng đã đóng đinh Đấng Tạo Hóa của trời và đất! Người Cơ Đốc Phục Lâm không gặp khó khăn khi thừa nhận những sự thật này về Israel cổ đại, nhưng hiếm khi họ cho phép lời cảnh báo nhắm đến họ xuyên thủng sự mù lòa Lao-đi-xê của mình. Họ có thể trích những đoạn trong đó Bà White gọi hội thánh là con ngươi trong mắt Đức Chúa Trời, và quả thật là vậy, nhưng tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho dân Ngài không che đậy tình trạng thực sự của họ. Ngài yêu ai thì quở trách và sửa phạt người ấy. Dù hội thánh của Đức Chúa Trời là con ngươi của mắt Ngài đến mức nào đi nữa, Chúa Giê-xu đã rất rõ ràng tóm tắt mối quan hệ của Ngài với con ngươi ấy, con ngươi của Ngài.

O Jerusalem, Jerusalem, which killest the prophets, and stonest them that are sent unto thee; how often would I have gathered thy children together, as a hen doth gather her brood under her wings, and ye would not! Behold, your house is left unto you desolate: and verily I say unto you, Ye shall not see me, until the time come when ye shall say, Blessed is he that cometh in the name of the Lord. Luke 13:34, 35.

Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ được sai đến với ngươi; bao lần Ta đã muốn nhóm các con cái ngươi lại, như gà mái ấp ủ bầy con dưới cánh, mà các ngươi chẳng muốn! Kìa, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang; quả thật, Ta nói cùng các ngươi: các ngươi sẽ chẳng thấy Ta, cho đến khi đến lúc các ngươi nói: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến. Lu-ca 13:34, 35.

The questions should be asked, “Does Jesus truly illustrate the end with the beginning? Does ancient Israel actually illustrate modern Israel?” The problem with ancient Israel throughout their history was that they believed that their heritage proved they were God’s people, and therefore that they could not be anything, but God’s people. That is why in Jeremiah’s day they professed to be the temple of the Lord.

Những câu hỏi cần được đặt ra: “Chúa Giê-xu có thật sự cho thấy cái kết ngay từ lúc khởi đầu không? Israel thời xưa có thật sự minh họa cho Israel hiện đại không?” Vấn đề của Israel xưa trong suốt lịch sử của họ là họ tin rằng huyết thống của mình chứng tỏ họ là dân của Đức Chúa Trời, và vì thế họ không thể là gì khác ngoài dân của Đức Chúa Trời. Đó là lý do vì sao vào thời Giê-rê-mi họ tự cho mình là đền thờ của Chúa.

The word that came to Jeremiah from the Lord, saying, Stand in the gate of the Lord’s house, and proclaim there this word, and say, Hear the word of the Lord, all ye of Judah, that enter in at these gates to worship the Lord. Thus saith the Lord of hosts, the God of Israel, Amend your ways and your doings, and I will cause you to dwell in this place. Trust ye not in lying words, saying, The temple of the Lord, The temple of the Lord, The temple of the Lord, are these. Jeremiah 7:1–4.

Lời từ Đức Giê-hô-va đến cùng Giê-rê-mi, phán rằng: Hãy đứng tại cổng nhà Đức Giê-hô-va, và công bố tại đó lời này, mà nói: Hỡi hết thảy người Giu-đa vào qua các cổng này để thờ phượng Đức Giê-hô-va, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Hãy sửa đổi đường lối và việc làm của các ngươi, thì Ta sẽ cho các ngươi ở trong chốn này. Đừng tin cậy nơi những lời dối trá mà rằng: Đền thờ của Đức Giê-hô-va, đền thờ của Đức Giê-hô-va, đền thờ của Đức Giê-hô-va, ấy là đây. Giê-rê-mi 7:1-4.

This very same delusion was also emphasized by John the Baptist.

Chính ảo tưởng này cũng đã được Gioan Tẩy Giả nhấn mạnh.

And were baptized of him in Jordan, confessing their sins. But when he saw many of the Pharisees and Sadducees come to his baptism, he said unto them, O generation of vipers, who hath warned you to flee from the wrath to come? Bring forth therefore fruits meet for repentance: And think not to say within yourselves, We have Abraham to our father: for I say unto you, that God is able of these stones to raise up children unto Abraham. And now also the ax is laid unto the root of the trees: therefore every tree which bringeth not forth good fruit is hewn down, and cast into the fire. Matthew 3:6–10.

Và họ chịu phép báp-têm bởi ông tại sông Giô-đanh, xưng nhận tội lỗi của mình. Nhưng khi ông thấy nhiều người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến với phép báp-têm của ông, ông nói với họ rằng: Hỡi dòng dõi rắn độc, ai đã cảnh báo các ngươi phải trốn khỏi cơn thịnh nộ sắp đến? Vậy hãy sinh bông trái xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nhủ rằng: Chúng ta có Áp-ra-ham làm tổ phụ; vì ta nói với các ngươi rằng Đức Chúa Trời có thể từ những hòn đá này dấy lên con cháu cho Áp-ra-ham. Hiện nay rìu cũng đã đặt sẵn nơi gốc cây; vậy hễ cây nào không sinh quả tốt thì bị chặt đi và quăng vào lửa. Ma-thi-ơ 3:6-10.

The very same misguided understanding within Adventism that is symbolized by the expression “The temple of the Lord, are we,” and that we are Abraham’s spiritual “seed” is the primary manifestation of the blindness of Laodicea.

Chính sự hiểu biết sai lạc y hệt ấy trong nội bộ Cơ Đốc Phục Lâm, được biểu trưng bằng câu nói “Đền thờ của Chúa là chúng ta” và quan niệm rằng chúng ta là “dòng dõi” thuộc linh của Abraham, là biểu hiện chủ yếu của sự mù lòa của Laodicea.

“God sends messengers to tell His people what they must be and do in order to obey His laws of righteousness, which if a man do, he shall also live in them. They are to love God supremely, having no other gods before Him; and they are to love their neighbor as themselves, doing to him as they would wish him to do to them.

Đức Chúa Trời sai các sứ giả đến để nói cho dân Ngài biết họ phải là gì và phải làm gì để vâng theo các luật pháp về sự công chính của Ngài; ai làm theo thì sẽ nhờ đó mà sống. Họ phải yêu mến Đức Chúa Trời trên hết, không có thần nào khác trước mặt Ngài; và họ phải yêu người lân cận như chính mình, làm cho người ta như điều họ muốn người ta làm cho mình.

“Not one tittle of God’s holy law is to be treated lightly or disrespectfully. Those who transgress a ‘Thus saith the Lord,’ stand under the banner of the prince of darkness, in rebellion against their Maker and their Redeemer. They claim the promises given to the obedient, saying, The temple of the Lord, the temple of the Lord are we, while they dishonor God by misrepresenting His character, by doing the very things He has told them not to do. They set up a standard which God has not given. Their example is misleading, their influence corrupting. They are not lights in the world, for they do not follow the principles of righteousness.

Không một chấm một nét nào của luật pháp thánh của Đức Chúa Trời được phép bị xem nhẹ hoặc bị đối xử bất kính. Những ai vi phạm một lời “Chúa phán rằng” thì đứng dưới ngọn cờ của chúa tể bóng tối, dấy loạn chống lại Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc của mình. Họ đòi nhận những lời hứa dành cho người vâng phục, nói rằng: “Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa là chúng ta,” trong khi họ làm ô danh Đức Chúa Trời bằng cách xuyên tạc bản tính của Ngài, bằng cách làm chính những điều Ngài đã bảo họ đừng làm. Họ dựng nên một tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời không hề ban ra. Gương mẫu của họ gây lạc hướng, ảnh hưởng của họ làm bại hoại. Họ không phải là ánh sáng cho thế gian, vì họ không theo các nguyên tắc của sự công chính.

Men cannot show greater treachery toward God than by disregarding the light He sends them. Those who do this mislead the ignorant, for they set up false waymarks. They are continually perverting pure principles. . . .

Không có sự phản bội nào đối với Đức Chúa Trời lớn hơn việc phớt lờ ánh sáng Ngài ban cho. Những ai làm như vậy làm lạc lối những người thiếu hiểu biết, vì họ dựng lên những cột mốc chỉ đường giả. Họ không ngừng xuyên tạc các nguyên tắc tinh tuyền...

“In the words of Holy Writ we are plainly told why desolation came upon the Jewish nation. They had great light, rich blessings, and wonderful prosperity. But they proved unfaithful to their trust. They did not care faithfully for the Lord’s vineyard, or render Him the fruits thereof. They acted as though there were no God, and therefore calamity overtook them.” Manuscript Releases, volume 14, 343–345.

"Trong lời Thánh Kinh, người ta nói rõ cho chúng ta biết vì sao sự hoang tàn đã giáng trên dân tộc Do Thái. Họ có ánh sáng lớn, phước lành dồi dào và sự thịnh vượng tuyệt vời. Nhưng họ tỏ ra bất trung với trách nhiệm được giao. Họ đã không chăm nom cách trung tín vườn nho của Chúa, cũng chẳng dâng lên Ngài những hoa trái của nó. Họ hành động như thể không có Đức Chúa Trời, và vì thế tai họa đã ập đến trên họ." Manuscript Releases, tập 14, 343-345.

Israel believed that because they had been chosen by God in the beginning of their history, they would always be His chosen people. Worse yet, they also believed that because they were His chosen people He would honor them, in spite of the fact that they refused to honor Him. Prophetically, they were His chosen people, until they were divorced, but they were never the people God had desired them to be. The righteousness of the chosen people is not determined on who they might think they are. Ancient Israel is the primary example of the Seventh-day Adventist church, but when the false premise is accepted that they represent the one hundred and forty-four thousand at the end of the world, the blindness of Laodicea is manifested, as was ancient Israel’s. Adventism believes and teaches that they are the remnant people of God at the end of the world, in spite of the clear evidence to the contrary.

Israel tin rằng, vì họ đã được Đức Chúa Trời chọn lựa từ buổi đầu lịch sử của mình, họ sẽ luôn luôn là dân được Ngài chọn. Tệ hơn nữa, họ còn tin rằng vì họ là dân được Ngài chọn nên Ngài sẽ tôn vinh họ, mặc cho thực tế là họ đã từ chối tôn vinh Ngài. Về phương diện tiên tri, họ là dân được Ngài chọn cho đến khi Ngài ly dị họ, nhưng họ chưa bao giờ là dân tộc mà Đức Chúa Trời mong muốn họ trở thành. Sự công bình của dân được chọn không được xác định bởi việc họ nghĩ mình là ai. Israel thời xưa là ví dụ tiêu biểu nhất cho Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm, nhưng khi người ta chấp nhận tiền đề sai lầm rằng họ đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người vào thời kỳ cuối cùng của thế giới, sự mù lòa của Laodicea được bộc lộ, giống như của Israel xưa. Cơ Đốc Phục Lâm tin và dạy rằng họ là dân sót lại của Đức Chúa Trời vào thời kỳ cuối cùng của thế giới, mặc dù có những bằng chứng rõ ràng chứng tỏ điều ngược lại.

The nearer we get to the close of probation the more serious and straight the message to the Laodicean people must become. If that false premise is not set aside for the truth, then the examples of Aaron, Jeroboam and 1863 are hidden under the cloak of tradition and custom. It is too near to the close of probation, to hide under that cloak any longer.

Càng đến gần lúc đóng cửa ân điển, sứ điệp gửi đến dân Laodicea càng phải trở nên nghiêm túc và thẳng thắn hơn. Nếu tiền đề sai lầm đó không được gạt bỏ để nhường chỗ cho lẽ thật, thì những ví dụ về Aaron, Jeroboam và năm 1863 sẽ bị che đậy dưới tấm áo choàng của truyền thống và tập quán. Đã quá gần lúc đóng cửa ân điển để còn ẩn mình dưới tấm áo choàng ấy nữa.

And this is the condemnation, that light is come into the world, and men loved darkness rather than light, because their deeds were evil. For every one that doeth evil hateth the light, neither cometh to the light, lest his deeds should be reproved. John 3:19, 20.

Và đây là sự phán xét: Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta ưa thích bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc làm của họ là ác. Vì ai làm điều ác thì ghét ánh sáng, và không đến với ánh sáng, kẻo các việc làm của mình bị quở trách. Giăng 3:19, 20.

The history of the apostasies of Adventism has been tracked in God’s prophetic Word. It is a prophetic reality. The first proof of this is ancient Israel. Ancient Israel is a history of continued and escalating apostasy, and yet the Bible and Spirit of Prophecy teach that ancient Israel typifies modern Israel. Sad as this is, it has never been more important to understand this truth as at this present time. What is being unsealed with the Revelation of Jesus Christ is the fact that Adventism’s history as the Protestant horn runs parallel with the history of the Republican horn. Both horns provide a second witness for each other, and to refuse to correctly see one of the witnesses, simultaneously prevents the other witness from being recognized.

Lịch sử những sự bội đạo trong phong trào Cơ Đốc Phục Lâm đã được ghi lại trong Lời Tiên Tri của Đức Chúa Trời. Đó là một thực tại tiên tri. Bằng chứng đầu tiên cho điều này là Y-sơ-ra-ên cổ đại. Y-sơ-ra-ên cổ đại là một lịch sử của sự bội đạo liên tục và leo thang, thế nhưng Kinh Thánh và Thần Linh của Lời Tiên Tri dạy rằng Y-sơ-ra-ên cổ đại là hình bóng cho Y-sơ-ra-ên hiện đại. Dù điều này đáng buồn, nhưng chưa bao giờ việc hiểu lẽ thật này lại quan trọng như lúc hiện nay. Điều đang được mở ấn qua Khải Huyền của Đức Chúa Giê-su Christ là thực tế rằng lịch sử của Cơ Đốc Phục Lâm với tư cách là chiếc sừng Tin Lành song hành với lịch sử của chiếc sừng Cộng Hòa. Cả hai chiếc sừng là nhân chứng thứ hai cho nhau, và việc từ chối nhìn nhận đúng một trong các nhân chứng đồng thời ngăn cản việc nhận biết nhân chứng còn lại.

The lines of Aaron, Jeroboam and 1863 identify the beginning of modern spiritual Israel, and in so doing they also identify the beginning of the Republican horn. The third angel’s message is a warning against receiving the mark of the beast. It is the United States that first passes a Sunday law and then forces the entire world to do the same.

Các dòng của Aaron, Jeroboam và 1863 xác định điểm khởi đầu của Israel thuộc linh hiện đại, và qua đó cũng xác định sự khởi đầu của sừng Cộng hòa. Sứ điệp của thiên sứ thứ ba là một lời cảnh báo chống lại việc nhận lấy dấu của con thú. Chính Hoa Kỳ là nước đầu tiên ban hành một đạo luật Chủ nhật và sau đó buộc cả thế giới phải làm theo.

“Foreign nations will follow the example of the United States. Though she leads out, yet the same crisis will come upon our people in all parts of the world.” Testimonies, volume 6, 395.

"Các quốc gia khác sẽ noi gương Hoa Kỳ. Mặc dù Hoa Kỳ đi đầu, nhưng cùng một cuộc khủng hoảng sẽ xảy đến với dân chúng ta ở khắp nơi trên thế giới." Testimonies, tập 6, 395.

The prophetic truths connected with the Sunday law crisis cannot be separated from the work of the United States. The earth beast of Revelation thirteen is the sixth kingdom of Bible prophecy, that reigns for seventy prophetic years according to Isaiah twenty-three. It is the earth beast that has two horns. The truths associated with the relationship of those two horns are now being unsealed, but only to those who choose to understand that Jesus accomplishes the unsealing of the Revelation of Jesus Christ by employing the beginning of a thing to illustrate the end of a thing.

Những lẽ thật tiên tri gắn liền với cuộc khủng hoảng về luật ngày Chủ nhật không thể tách rời khỏi vai trò của Hoa Kỳ. Con thú từ đất trong Khải Huyền mười ba là vương quốc thứ sáu của lời tiên tri Kinh Thánh, trị vì bảy mươi năm tiên tri theo Ê-sai hai mươi ba. Ấy là con thú từ đất có hai sừng. Những lẽ thật liên quan đến mối quan hệ của hai sừng ấy hiện đang được mở ấn, nhưng chỉ cho những ai lựa chọn hiểu rằng Chúa Giê-su thực hiện việc mở ấn Khải Huyền của Chúa Giê-su Christ bằng cách dùng phần khởi đầu của một sự việc để minh họa phần kết thúc của sự việc ấy.

The United States began as the sixth kingdom of Bible prophecy in 1798, and over the next sixty-five years, the two horns that would go through history together were placed into a setting that could be recognized, but only by those who are willing to see. The sixty-five years that are set forth in Isaiah chapter seven, began in 742 BC and ended in 677 BC. From 1798 until 1863 those years were repeated. Those sixty-five years identify a process of crisis in both horns.

Hoa Kỳ khởi đầu như vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh vào năm 1798, và trong sáu mươi lăm năm tiếp theo, hai chiếc sừng sẽ cùng đi qua lịch sử được đặt vào một bối cảnh có thể nhận ra, nhưng chỉ bởi những ai sẵn lòng nhìn thấy. Sáu mươi lăm năm được nêu trong sách Ê-sai chương bảy bắt đầu vào năm 742 TCN và kết thúc vào năm 677 TCN. Từ năm 1798 đến năm 1863, những năm ấy được lặp lại. Sáu mươi lăm năm ấy xác định một tiến trình khủng hoảng trong cả hai chiếc sừng.

By 1863, the beginning period of the prophetic “days of one king” of Isaiah twenty-three had concluded, and in so doing it established the prophetic waymarks of the ending period of “the days of one king.” The ending of Isaiah twenty-three’s symbolic seventy is illustrated by the first sixty-five years. 1863 until the time of the end in 1989, is the period of the Laodicean Adventist church, that began from the Millerite movement and ends at the movement of the one hundred and forty-four thousand. In order to understand the period at the end, we must understand the period at the beginning. Adventism cannot do this, for its beginning is marked by its rejection of the oath of Moses, which identifies the very sixty-five years which represents Adventism’s and the United States’ beginning and ending.

Đến năm 1863, thời kỳ khởi đầu của “những ngày của một vua” mang tính tiên tri trong Ê-sai đoạn hai mươi ba đã kết thúc, và qua đó đã xác lập những mốc chỉ tiên tri cho thời kỳ kết thúc của “những ngày của một vua.” Sự kết thúc của con số bảy mươi mang tính biểu tượng trong Ê-sai đoạn hai mươi ba được minh họa bởi sáu mươi lăm năm đầu tiên. Từ năm 1863 cho đến thời kỳ cuối cùng vào năm 1989 là giai đoạn của Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê, vốn khởi đầu từ phong trào Miller và kết thúc ở phong trào của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Để hiểu thời kỳ ở phần cuối, chúng ta phải hiểu thời kỳ ở phần khởi đầu. Chủ nghĩa Phục Lâm không thể làm điều này, vì khởi đầu của nó được đánh dấu bởi việc khước từ lời thề của Môi-se, lời thề ấy xác định chính sáu mươi lăm năm tượng trưng cho sự khởi đầu và sự kết thúc của Phục Lâm và của Hoa Kỳ.

For this reason, and this is a reason of high importance, this article has attempted to establish one prophetic fact that is now being unsealed by the Lion of the tribe of Judah. The fact is that if you are unwilling to recognize that the Seventh-day Adventist church has always been in the Laodicean condition, then you are logically unable to rightly divide the history of Adventism, and without rightly dividing the history of Adventism you are incapable of rightly identifying the horn of Republicanism.

Vì lý do này, và đây là một lý do hết sức quan trọng, bài viết này đã cố gắng xác lập một sự thật tiên tri mà hiện đang được Sư tử của chi phái Giu-đa mở ấn. Sự thật ấy là: nếu bạn không sẵn lòng thừa nhận rằng Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy từ trước đến nay luôn ở trong tình trạng Laodicê, thì về mặt logic bạn không thể phân định đúng lịch sử của phong trào Phục Lâm; và nếu không phân định đúng lịch sử của phong trào Phục Lâm, bạn sẽ không thể nhận diện đúng sừng của chủ nghĩa Cộng hòa.

For if after they have escaped the pollutions of the world through the knowledge of the Lord and Saviour Jesus Christ, they are again entangled therein, and overcome, the latter end is worse with them than the beginning. For it had been better for them not to have known the way of righteousness, than, after they have known it, to turn from the holy commandment delivered unto them. But it is happened unto them according to the true proverb, The dog is turned to his own vomit again; and the sow that was washed to her wallowing in the mire. 2 Peter 2:20–22.

Vì nếu, sau khi đã thoát khỏi những ô uế của thế gian nhờ sự nhận biết Chúa và Cứu Chúa Giê-xu Christ, họ lại vướng mắc vào đó lần nữa và bị chế ngự, thì tình trạng sau cùng của họ còn tệ hơn lúc ban đầu. Vì thà họ chưa từng biết con đường công chính còn hơn, hơn là sau khi đã biết rồi lại quay lưng khỏi điều răn thánh đã được truyền cho họ. Nhưng điều xảy đến cho họ đúng như câu tục ngữ chân thật: Chó lại quay về với đồ mửa của mình; và con heo cái đã được rửa sạch lại lăn lộn trong bùn lầy. 2 Phi-e-rơ 2:20-22.