We are identifying 1863 as the last testing point in a series of tests that were initiated at the great disappointment of 1844. Our first piece of logic is the fact that the Millerite movement ended when the Seventh-day Adventist church was legally registered with the government of the United States in that very year. The movement that began prophetically in 1798, ended in 1863.
Chúng tôi xác định năm 1863 là mốc thử thách cuối cùng trong một chuỗi thử thách bắt đầu từ Đại Thất Vọng năm 1844. Lập luận đầu tiên của chúng tôi là thực tế rằng phong trào Miller đã chấm dứt khi Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật được đăng ký hợp pháp với chính phủ Hoa Kỳ ngay trong năm đó. Phong trào khởi đầu mang tính tiên tri vào năm 1798 đã kết thúc vào năm 1863.
Inspiration informs us the when the mighty angel of Revelation eighteen descended on September 11, 2001, the event had been typified in the Millerite movement when the angel of Revelation ten descended. The Millerites’ movement began at the time of the end in 1798, when the vision of the Ulai river of Daniel chapters eight and nine was unsealed. The movement of the one hundred and forty-four thousand began at the time of the end in 1989, when the vision of the Hiddekel river of the last three chapters of Daniel was unsealed.
Sự linh hứng cho chúng ta biết rằng khi thiên sứ mạnh mẽ của Khải Huyền chương mười tám giáng xuống vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, thì sự kiện ấy đã được tiên trưng trong phong trào Millerite khi thiên sứ của Khải Huyền chương mười giáng xuống. Phong trào Millerite bắt đầu vào thời kỳ cuối cùng, năm 1798, khi khải tượng về sông Ulai trong Đa-ni-ên chương tám và chín được mở ấn. Phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn bắt đầu vào thời kỳ cuối cùng, năm 1989, khi khải tượng về sông Hiddekel trong ba chương cuối của Đa-ni-ên được mở ấn.
Both time of the ends began a progressive separation of the former chosen people from those in the movement of their respective histories. When the primary rule of each history was publicly confirmed the angel of each respective history descended. The message, movement and messenger were the instruments the Lord employed in each respective history to demonstrate the former chosen people’s sin, for just as Christ taught of His work, if He had not come the quibbling Jews of history would have had no sin. The messenger, message and movement were the instruments of judgment that would hold the former chosen people accountable for rejecting the progressive light of their respective histories, and when the angel descended it marked that the judgment process of the former covenant people was under way. The instrument of judgment is identified when the prophets which illustrate that history eat the message delivered unto them by the Lord. When they eat the message, they then take the message to the former chosen people who are portrayed as a stiff-necked and rebellious people, who will not hear and be converted. Once the angel descends and the message is eaten, judgment of the rebellious people begins.
Cả hai thời kỳ cuối cùng đều khởi đầu sự tách biệt dần dần giữa dân được chọn trước kia và những người trong phong trào của từng lịch sử tương ứng. Khi nguyên tắc chủ yếu của mỗi lịch sử được xác nhận công khai, thiên sứ của từng lịch sử tương ứng đã giáng xuống. Sứ điệp, phong trào và sứ giả là những công cụ Chúa dùng trong mỗi lịch sử tương ứng để bày tỏ tội lỗi của dân được chọn trước kia, vì như Đấng Christ đã dạy về công việc của Ngài, nếu Ngài đã không đến thì những người Do Thái hay lý sự trong lịch sử đã chẳng có tội. Sứ giả, sứ điệp và phong trào là những công cụ của sự phán xét buộc dân được chọn trước kia phải chịu trách nhiệm vì đã từ chối ánh sáng tăng tiến của từng lịch sử tương ứng; và khi thiên sứ giáng xuống, điều đó đánh dấu tiến trình phán xét đối với dân giao ước trước kia đã được bắt đầu. Công cụ của sự phán xét được xác định khi các tiên tri minh họa lịch sử ấy ăn lấy sứ điệp mà Chúa trao cho họ. Khi họ ăn lấy sứ điệp, họ đem sứ điệp ấy đến với dân được chọn trước kia, những người được mô tả là một dân cứng cổ và phản nghịch, không chịu nghe và hoán cải. Khi thiên sứ đã giáng xuống và sứ điệp được ăn lấy, sự phán xét đối với dân phản nghịch bắt đầu.
We are applying the judgment process of ancient Israel as illustrated in the book of Numbers to the history of the Millerite movement and ultimately, we will apply this testing process to the movement of the one hundred and forty-four thousand. The symbolism of the number ‘ten’ is to be determined by the context of the passage where it is employed.
Chúng ta đang áp dụng tiến trình phán xét của Israel cổ đại, như được minh họa trong sách Dân Số, vào lịch sử của phong trào Millerite; và cuối cùng, chúng ta sẽ áp dụng tiến trình thử nghiệm này cho phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Biểu tượng của con số 'mười' sẽ được xác định bởi ngữ cảnh của đoạn văn nơi nó được sử dụng.
The sequence of ten tests begins at the disappointment, either at the Red Sea for ancient Israel or October 22, 1844 for the Millerites. Sister White identifies the “landmark” truths that were opened up at that time beginning with what she called “the passing of time.” The disappointment for the Hebrews was the threat of Pharaoh’s army. The lack of faith in God’s power for the Hebrews was manifested in response to their fear of the army of their enemies, just as it was at the tenth and final test. Jesus illustrates the end from the beginning, so the fear of the giants in the Promised Land which the ten spies identified was the same fear that had also produced their disappointment by the Red Sea. The tenth and final test for the Millerite movement would be a time prophecy, as was October 22, 1844.
Chuỗi mười thử thách bắt đầu từ nỗi thất vọng, hoặc là tại Biển Đỏ đối với Israel cổ đại, hoặc là vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 đối với những người Miller. Bà White xác định những chân lý cột mốc được mở ra vào thời điểm đó, bắt đầu với điều bà gọi là “sự trôi qua của thời gian.” Nỗi thất vọng của người Hê-bơ-rơ là mối đe dọa từ đạo quân của Pha-ra-ôn. Sự thiếu đức tin vào quyền năng của Đức Chúa Trời nơi người Hê-bơ-rơ được bộc lộ qua phản ứng trước nỗi sợ hãi trước đạo quân của kẻ thù họ, cũng như tại kỳ thử thách thứ mười và cuối cùng. Chúa Giê-su minh họa sự kết thúc từ ban đầu, nên nỗi sợ những người khổng lồ trong Đất Hứa mà mười thám tử nêu ra cũng chính là nỗi sợ đã tạo nên nỗi thất vọng của họ bên Biển Đỏ. Kỳ thử thách thứ mười và cuối cùng đối với phong trào Miller sẽ là một lời tiên tri về thời gian, như ngày 22 tháng 10 năm 1844.
The great disappointment in the progressive testing of Millerite history marked the beginning of a history that had been clearly typified by ancient Israel’s deliverance from Egypt. Beginning at the Red Sea there was a series of ten tests, and the last test would reflect the first test. The “passing of time” at the great disappointment was produced by a misunderstanding of a time prophecy. The last of the testing process for spiritual Israel would be the same as the first. In 1863, the leaders of literal Israel chose to return to the biblical methodology of those they had just identified as daughters of Rome, and rejected, or you might say, misunderstood the longest time prophecy in the Bible. The end of the ten tests in both literal and spiritual Israel was represented by the beginning. And the end, in both instances the rebels manifested a desire to return to the place that they had just been delivered from.
Sự Thất Vọng Lớn trong chuỗi thử thách tiến triển của lịch sử phong trào Millerite đánh dấu khởi đầu của một lịch sử đã được tiêu biểu rõ ràng bởi việc dân Israel cổ xưa được giải cứu khỏi Ai Cập. Bắt đầu từ Biển Đỏ, có một chuỗi mười thử thách, và thử thách cuối sẽ phản ánh thử thách đầu tiên. Việc "thời gian trôi qua" tại Sự Thất Vọng Lớn là do hiểu sai một lời tiên tri về thời gian. Giai đoạn cuối của quá trình thử thách đối với Israel thuộc linh sẽ giống như giai đoạn đầu. Năm 1863, các nhà lãnh đạo của Israel theo nghĩa đen đã chọn quay trở lại phương pháp giải nghĩa Kinh Thánh của những người mà họ vừa xác định là "các con gái của La Mã", và đã bác bỏ, hay có thể nói, đã hiểu sai lời tiên tri về thời gian dài nhất trong Kinh Thánh. Sự kết thúc của mười thử thách, cả trong Israel theo nghĩa đen lẫn Israel thuộc linh, được phản chiếu bởi sự khởi đầu. Và vào lúc kết thúc, trong cả hai trường hợp, những kẻ phản nghịch bộc lộ mong muốn quay trở lại nơi mà họ vừa được giải cứu khỏi.
By rejecting the seven times of Leviticus twenty-six Laodicean Adventism created a prophetic dilemma that they had not foreseen. To this day they have not been able to resolve the dilemma, though they offer up a variety of dishes of fables in an attempt to do so. The dilemma is in the verse that Sister White identifies as the foundation and central pillar of Adventism.
Khi bác bỏ “bảy lần” của Lê-vi Ký đoạn 26, Cơ Đốc Phục Lâm kiểu La-ô-đi-xê đã tạo ra một nan đề tiên tri mà họ không lường trước. Cho đến nay họ vẫn chưa thể giải quyết được nan đề ấy, dù bày ra đủ thứ chuyện hoang đường để cố gắng làm vậy. Nan đề nằm ở câu Kinh Thánh mà Bà White xác định là nền tảng và trụ cột trung tâm của Cơ Đốc Phục Lâm.
“The scripture which above all others had been both the foundation and central pillar of the Advent faith was the declaration, ‘Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed.’ [Daniel 8:14.]” The Great Controversy, 409.
Đoạn Kinh Thánh vượt trên mọi đoạn khác, từng là cả nền tảng lẫn trụ cột trung tâm của đức tin về sự tái lâm, chính là lời tuyên bố: 'Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy.' [Đa-ni-ên 8:14.] Cuộc Đại Tranh Chiến, 409.
Adventism has much to say about verse fourteen, but they never address the very first observation that should be made about the verse. That observation is that verse fourteen is an “answer.” An answer is meaningless, if it does not include the question that elicits the answer. Verse thirteen cannot logically, grammatically or reasonably be separated from verse fourteen, for verse thirteen is the question and verse fourteen is the answer.
Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm có nhiều điều để nói về câu 14, nhưng họ không bao giờ đề cập đến nhận xét đầu tiên đáng lẽ phải được nêu ra về câu này. Nhận xét đó là: câu 14 là một “câu trả lời”. Một câu trả lời là vô nghĩa nếu nó không bao gồm câu hỏi đã gợi ra câu trả lời ấy. Câu 13, xét về mặt logic, ngữ pháp hay tính hợp lý, đều không thể tách rời khỏi câu 14, vì câu 13 là câu hỏi và câu 14 là câu trả lời.
The question, when rightly and fairly represented produces a very different meaning to verse fourteen than what Adventism teaches. This does not mean that verse fourteen is not “the foundation and central pillar of the Advent faith,” for it is. It means that when Adventism misunderstood and set aside the seven times in 1863, they were unable to fully define what verse fourteen truly means. In the Scriptures, a half truth is not truth. Rightly understood the question of verse thirteen demands a recognition of the prophecy that marks the cleansing of the sanctuary that had been tread down, and also a recognition of the prophecy that marks the treading down of the host. The twenty-three hundred year prophecy addresses the ‘sanctuary’ and the twenty-five hundred and twenty year prophecy addresses the ‘host’.
Câu hỏi, khi được trình bày đúng đắn và công bằng, mang lại cho câu mười bốn một ý nghĩa rất khác với điều mà Phục Lâm dạy. Điều này không có nghĩa là câu mười bốn không phải là "nền tảng và trụ cột trung tâm của đức tin Phục Lâm", vì đúng là như vậy. Nó có nghĩa là khi Phục Lâm hiểu sai và gạt sang một bên "bảy thời kỳ" vào năm 1863, họ đã không thể xác định đầy đủ câu mười bốn thật sự có nghĩa gì. Trong Kinh Thánh, nửa sự thật không phải là sự thật. Khi được hiểu đúng, câu hỏi ở câu mười ba đòi hỏi phải nhìn nhận lời tiên tri đánh dấu sự thanh tẩy đền thánh vốn đã bị giày đạp, và cũng phải nhìn nhận lời tiên tri đánh dấu sự giày đạp của đạo quân. Lời tiên tri hai nghìn ba trăm năm đề cập đến "đền thánh" và lời tiên tri hai nghìn năm trăm hai mươi năm đề cập đến "đạo quân".
To address the relationship of the two verses requires a lengthy study, which I do not intend to do at this point in these articles. These points have repeatedly been addressed through the years and can be found in the series Habakkuk’s Tables. I am still addressing the symbolism of Elijah and wish to finish those truths first.
Việc bàn tới mối quan hệ giữa hai câu đòi hỏi một nghiên cứu dài hơi, điều mà hiện tại tôi không dự định thực hiện trong những bài viết này. Những điểm này đã nhiều lần được đề cập suốt nhiều năm qua và có thể được tìm thấy trong loạt bài Habakkuk's Tables. Tôi vẫn đang bàn về tính biểu tượng của Elijah và muốn hoàn tất những sự thật đó trước.
William Miller was the Elijah of the beginning of Adventism and his first discovery was the seven times of Leviticus twenty-six, so the rejection of that truth in 1863 was a rejection of the Elijah message. At this point I am addressing the characteristic of Alpha and Omega that identifies the end with the beginning. The final test for ancient Israel was represented in the first test. Both tests represent fear that the heathen nations were more powerful than God. The tenth test being the same in principle was much more rebellious than the first test, for the history of the victory of God in the first test should have produced a settled confidence in the rebels. They manifested their rejection of God in spite of much more evidence of His power than they had at the Red Sea. Millerite Adventism by 1863 was already explaining why the great disappointment was a powerful work of God, but they still decided to pick a captain and return to Egypt and reject the message that Daniel calls the “oath” of Moses that had been represented by Elijah.
William Miller là Ê-li của buổi khởi đầu của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm, và khám phá đầu tiên của ông là “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu, vì vậy việc khước từ lẽ thật ấy vào năm 1863 là khước từ sứ điệp của Ê-li. Ở đây tôi đang nói đến đặc điểm của An-pha và Ô-mê-ga, đặc điểm đồng nhất phần cuối với phần đầu. Bài thử cuối cùng dành cho Y-sơ-ra-ên xưa đã được thể hiện trong bài thử thứ nhất. Cả hai bài thử đều bày tỏ nỗi sợ rằng các dân ngoại mạnh hơn Đức Chúa Trời. Bài thử thứ mười, tuy cùng nguyên tắc, nhưng phản nghịch hơn nhiều so với bài thử thứ nhất, vì lịch sử chiến thắng của Đức Chúa Trời trong bài thử thứ nhất lẽ ra phải tạo nên sự tin quyết vững vàng nơi những kẻ phản loạn. Họ bày tỏ sự chối bỏ Đức Chúa Trời mặc dù có nhiều bằng chứng về quyền năng của Ngài hơn lúc ở Biển Đỏ. Đến năm 1863, phong trào Phục Lâm theo Miller đã giải thích vì sao sự thất vọng lớn là một công việc quyền năng của Đức Chúa Trời, nhưng họ vẫn quyết định lập một người làm đầu để trở về Ai Cập và khước từ sứ điệp mà Đa-ni-ên gọi là “lời thề” của Môi-se, vốn đã được Ê-li đại diện.
Rather than taking the time to set forth the proofs of the validity of the seven times as a time prophecy, I intend to use some simple logic to prove its validity in another way. For the movement that began in 1798, the final test of 1863 would also represent the final test for the movement of the mighty angel of Revelation eighteen. Inspiration has been very clear what the last test is for both movements.
Thay vì dành thời gian để trình bày các bằng chứng cho tính đúng đắn của bảy thời kỳ như một lời tiên tri về thời gian, tôi dự định dùng vài lập luận đơn giản để chứng minh tính đúng đắn của nó theo một cách khác. Đối với phong trào bắt đầu vào năm 1798, cuộc thử thách cuối cùng năm 1863 cũng đồng thời là cuộc thử thách cuối cùng cho phong trào của thiên sứ quyền năng trong Khải Huyền đoạn mười tám. Sự soi dẫn đã nói rất rõ cuộc thử thách cuối cùng của cả hai phong trào là gì.
“Satan is . . . constantly pressing in the spurious—to lead away from the truth. The very last deception of Satan will be to make of none effect the testimony of the Spirit of God. ‘Where there is no vision, the people perish’ (Proverbs 29:18).” Selected Messages, book 1, 48.
"Sa-tan . . . không ngừng đưa vào những điều giả mạo - để dẫn lạc khỏi lẽ thật. Sự lừa dối cuối cùng của Sa-tan sẽ là làm cho lời chứng của Thánh Linh Đức Chúa Trời trở nên vô hiệu. 'Nơi nào không có khải tượng, dân sự bị diệt vong' (Châm Ngôn 29:18)." Thông điệp được chọn, quyển 1, 48.
There is no honest way to take the writings of Ellen White and suggest that she did not fully endorse the seven times of Leviticus twenty-six. Sister White, as we have previously identified in these articles and is well documented in the series titled Habakkuk’s Tables directly informs us that God directed both the 1843 and 1850 charts. She directly teaches that those two tables were a fulfillment of Habakkuk chapter two. Both charts identify the seven times of Leviticus twenty-six as the center point of their respective graphical layout. In both charts the line of the seven times has the cross of Christ as the center of the prophetic line of the seven times.
Không có cách nào thành thật để dựa vào các trước tác của Ellen White rồi cho rằng bà không hoàn toàn ủng hộ “bảy thời kỳ” của Lê-vi Ký 26. Bà White, như chúng tôi đã nêu trước đây trong các bài viết này và như được ghi chép đầy đủ trong loạt bài mang tựa “Các Bảng của Ha-ba-cúc”, trực tiếp cho biết rằng Đức Chúa Trời đã hướng dẫn cả hai biểu đồ 1843 và 1850. Bà trực tiếp dạy rằng hai bảng ấy là sự ứng nghiệm của Ha-ba-cúc chương hai. Cả hai biểu đồ đều xác định “bảy thời kỳ” của Lê-vi Ký 26 là điểm trung tâm trong bố cục đồ họa tương ứng của chúng. Trong cả hai biểu đồ, đường “bảy thời kỳ” đặt thập tự giá của Đấng Christ làm trung tâm của dòng tiên tri ấy.
Along with her endorsements of Habakkuk’s two tables, she has recorded multiple times that we are to continue to present the message that was presented from 1840 through 1844, and every Adventist historian that addresses how the Millerites promoted the message they proclaimed, identifies that they employed the 1843 chart. Not only does she endorse the messages represented upon the charts, and counsel God’s people to continue to present the very same messages that were presented in that history, she also provides multiple passages where she warns that those messages would be attacked throughout the history of God’s remnant people. When she warns of those attacks, she repeatedly identifies that it is the work of God’s watchmen to defend those very truths.
Bên cạnh sự ủng hộ của bà đối với hai bảng của Ha-ba-cúc, bà đã nhiều lần ghi lại rằng chúng ta phải tiếp tục trình bày sứ điệp đã được trình bày từ năm 1840 đến 1844, và mọi sử gia Cơ Đốc Phục Lâm khi bàn về cách phong trào Miller quảng bá sứ điệp họ công bố đều khẳng định rằng họ đã sử dụng biểu đồ năm 1843. Bà không chỉ ủng hộ các sứ điệp được thể hiện trên các biểu đồ và khuyên dân sự của Đức Chúa Trời tiếp tục trình bày chính những sứ điệp đã được trình bày trong giai đoạn lịch sử ấy, mà bà còn đưa ra nhiều đoạn viết cảnh báo rằng các sứ điệp đó sẽ bị tấn công suốt lịch sử của dân sót của Đức Chúa Trời. Khi bà cảnh báo về những cuộc tấn công ấy, bà nhiều lần xác định rằng công việc của những người canh gác của Đức Chúa Trời là bảo vệ chính những lẽ thật ấy.
If the charts are incorrect, then the messages they graphically represent are incorrect. If the message the Millerites proclaimed from 1840 through 1844 was incorrect, then Ellen White’s repeated identification that the Millerite message was the foundation is also incorrect. If those messages were incorrect her repeated commands to continue to present those very same truths is false counsel. If the message of the Millerites does not represent the foundations that were to be preserved and guarded from satanic attacks, then those counsels are also erroneous. To reach the conclusion that all these issues associated with the Elijah message of that history is erroneous, would clearly demonstrate that Ellen White was a false prophet.
Nếu các biểu đồ là sai, thì những sứ điệp mà chúng minh họa cũng sai. Nếu sứ điệp mà những người theo Miller rao giảng từ năm 1840 đến 1844 là sai, thì sự khẳng định lặp đi lặp lại của Ellen White rằng sứ điệp của những người theo Miller là nền tảng cũng sai. Nếu các sứ điệp ấy là sai, thì những chỉ dạy lặp đi lặp lại của bà kêu gọi tiếp tục trình bày chính những lẽ thật ấy là lời khuyên sai lầm. Nếu sứ điệp của những người theo Miller không đại diện cho những nền tảng cần được gìn giữ và bảo vệ khỏi các cuộc tấn công của Sa-tan, thì những lời khuyên ấy cũng sai lầm. Đi đến kết luận rằng tất cả những vấn đề liên quan đến sứ điệp Ê-li trong lịch sử đó đều sai lầm sẽ cho thấy rõ ràng rằng Ellen White là một tiên tri giả.
Modern Adventism still teaches at their Revelation Seminars that the remnant church would possess the Spirit of Prophecy, which is the testimony of Jesus, but they certainly don’t tell those who they are seeking to draw into church membership that they fully reject Ellen White’s endorsement and warnings connected with those early foundational truths and history. What does the following passage mean to you?
Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm hiện đại vẫn dạy trong các Hội thảo Khải Huyền của họ rằng hội thánh còn sót lại sẽ có Thần Linh của Lời Tiên Tri, tức là lời chứng của Đức Chúa Giê-su, nhưng họ chắc chắn không nói cho những người mà họ đang tìm cách thu hút trở thành thành viên hội thánh biết rằng họ hoàn toàn bác bỏ sự xác nhận và những lời cảnh báo của Ellen White liên quan đến các lẽ thật và lịch sử nền tảng thuở ban đầu ấy. Đoạn trích sau đây có ý nghĩa gì đối với bạn?
“We have nothing to fear for the future, except as we shall forget the way the Lord has led us, and His teaching in our past history.” Life Sketches, 196.
"Chúng ta không có gì phải sợ cho tương lai, trừ phi chúng ta quên đường lối Chúa đã dẫn dắt chúng ta và sự dạy dỗ của Ngài trong lịch sử quá khứ của chúng ta." Life Sketches, 196.
In 1863, the Millerite movement reached a conclusion and registered as a legal entity with the government that would ultimately form an image to the papacy, which by Ellen White’s definition is the combination of the church with the state.
Năm 1863, phong trào Millerite đi đến kết luận và đăng ký như một pháp nhân với chính phủ, chính phủ này rốt cuộc sẽ hình thành một hình ảnh cho giáo hoàng quyền, theo định nghĩa của Ellen White là sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước.
“In the movements now in progress in the United States to secure for the institutions and usages of the church the support of the state, Protestants are following in the steps of papists. Nay, more, they are opening the door for the Papacy to regain in Protestant America the supremacy which she has lost in the Old World.” The Great Controversy, 573.
Trong các phong trào hiện đang diễn ra tại Hoa Kỳ nhằm giành được sự hậu thuẫn của nhà nước cho các thể chế và thực hành của giáo hội, những người Tin Lành đang bước theo dấu chân của những người theo phái Giáo hoàng. Hơn thế nữa, họ đang mở đường cho quyền lực Giáo hoàng giành lại tại nước Mỹ theo Tin Lành quyền tối thượng mà nó đã đánh mất ở Cựu Thế Giới. The Great Controversy, 573.
Under the premise that the legal association with the government was part of the necessity for organization, in a time when the youth of the nation were being drafted into the blood bath known as the Civil War, the movement of the Millerites ended. In 1863, both with a printed article and a new chart, the Seventh-day Adventist church rejected the prophecy of slavery which Daniel calls the oath of Moses. In 1850, the Lord had directed His people to make the second table of Habakkuk, and correct the error that He had held his hand over on the 1843 table. The chart ordered in 1850 fully accomplished its purpose, for Ellen White said that she saw “that God was in the publishment of the chart,” while also identifying that the 1850 chart was identified in Habakkuk chapter two.
Dựa trên tiền đề rằng sự liên kết pháp lý với chính phủ là một phần của sự cần thiết của việc tổ chức, vào thời điểm thanh niên cả nước bị gọi nhập ngũ vào cuộc tắm máu được gọi là Nội chiến, phong trào Millerite đã chấm dứt. Năm 1863, thông qua cả một bài báo in lẫn một bảng mới, Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy đã bác bỏ lời tiên tri về chế độ nô lệ, mà Đa-ni-ên gọi là “lời thề của Môi-se”. Năm 1850, Chúa đã hướng dẫn dân Ngài làm bảng thứ hai của Ha-ba-cúc và sửa lại sai lầm mà Ngài đã đặt tay che trên bảng năm 1843. Tấm bảng được chỉ thị vào năm 1850 đã hoàn thành trọn vẹn mục đích của nó, vì Ellen White nói rằng bà đã thấy “rằng Đức Chúa Trời ở trong việc xuất bản tấm bảng ấy”, đồng thời cũng xác định rằng bảng năm 1850 được nhắc đến trong Ha-ba-cúc chương hai.
The purpose of the 1850 chart was the same as the 1843 chart. It was to be the evangelistic tool used to present the message of the third angel to a dying world. In 1863, that message was discarded. The testing process that is typified by the testing process that began at the Red Sea, began with the time prophecy identifying the sanctuary that was to be tread down in verse thirteen of Daniel eight, and the testing process ended with the time prophecy identifying the host that was to be tread down in verse thirteen of Daniel eight.
Mục đích của bảng năm 1850 cũng giống như bảng năm 1843. Nó nhằm làm công cụ truyền giáo để trình bày sứ điệp của thiên sứ thứ ba cho một thế gian đang hấp hối. Năm 1863, sứ điệp đó đã bị gạt bỏ. Quá trình thử thách, được tiêu biểu bởi kỳ thử thách bắt đầu tại Biển Đỏ, khởi đầu với lời tiên tri về thời kỳ xác định đền thánh sẽ bị giày xéo trong câu mười ba của Đa-ni-ên đoạn tám, và quá trình thử thách ấy kết thúc với lời tiên tri về thời kỳ xác định cơ binh sẽ bị giày xéo trong câu mười ba của Đa-ni-ên đoạn tám.
Then I heard one saint speaking, and another saint said unto that certain saint which spake, How long shall be the vision concerning the daily sacrifice, and the transgression of desolation, to give both the sanctuary and the host to be trodden under foot? And he said unto me, Unto two thousand and three hundred days; then shall the sanctuary be cleansed. Daniel 8:13, 14.
Bấy giờ tôi nghe một vị thánh nói, và một vị thánh khác nói với vị thánh đang nói: Bao lâu nữa thì khải tượng về của lễ hằng ngày và sự vi phạm gây nên cảnh hoang tàn sẽ còn kéo dài, để cả đền thánh và đạo binh đều bị giày đạp? Người nói với tôi: Cho đến hai nghìn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy. Đa-ni-ên 8:13, 14.
The testing process that began on October 22, 1844, has the signature of Alpha and Omega. The beginning of that testing process was a time prophecy that represented the sanctuary that was to be trampled down. It was a prophecy that produced great light when fulfilled. The testing process that ended in 1863, has the signature of Alpha and Omega. The ending of that testing process was a time prophecy that represented the host that was to be trampled down. It was a prophecy that was designed to produced great light when fulfilled. It was a time prophecy presented by the Elijah of that history, and when it was rejected and set aside, it produced great darkness.
Quá trình thử thách bắt đầu vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 mang dấu ấn của Anpha và Ômêga. Khởi đầu của quá trình thử thách đó là một lời tiên tri về thời kỳ, liên quan đến việc đền thánh sẽ bị giày xéo. Đó là một lời tiên tri đã mang lại ánh sáng lớn lao khi được ứng nghiệm. Quá trình thử thách kết thúc vào năm 1863 mang dấu ấn của Anpha và Ômêga. Kết thúc của quá trình thử thách đó là một lời tiên tri về thời kỳ, liên quan đến đạo binh sẽ bị giày xéo. Đó là một lời tiên tri nhằm mang lại ánh sáng lớn lao khi được ứng nghiệm. Đó là một lời tiên tri về thời kỳ được Ê-li của thời kỳ lịch sử ấy công bố, và khi nó bị khước từ và gác sang một bên, nó đã gây nên sự tối tăm lớn lao.
And this is the condemnation, that light is come into the world, and men loved darkness rather than light, because their deeds were evil. John 3:19.
Và đây là sự kết án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta yêu bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm là ác. Giăng 3:19.
The logic that I intend to finish this article with is what I have already noted. Did God through Ellen White endorse the 1843 and 1850 charts?
Lập luận mà tôi dự định dùng để kết thúc bài viết này chính là điều tôi đã nêu. Có phải Đức Chúa Trời, qua Ellen White, đã tán thành các biểu đồ năm 1843 và 1850 không?
“I have seen that the 1843 chart was directed by the hand of the Lord, and that it should not be altered; that the figures were as He wanted them; that His hand was over and hid a mistake in some of the figures, so that none could see it, until His hand was removed.” Early Writings, 74.
Tôi đã thấy rằng biểu đồ năm 1843 đã được bàn tay của Chúa hướng dẫn, và rằng nó không nên bị thay đổi; rằng các con số đúng như Ngài muốn; rằng tay Ngài đã bao phủ và che giấu một sai lầm trong một vài con số, đến nỗi không ai có thể thấy nó, cho đến khi tay Ngài được dời đi. Những Bài Viết Sớm, 74.
“I saw that God was in the publishment of the chart by Brother Nichols. I saw that there was a prophecy of this chart in the Bible, and if this chart is designed for God’s people, if it [is] sufficient for one it is for another, and if one needed a new chart painted on a larger scale, all need it just as much.” Manuscript Releases, number 13, 359; 1853.
“Tôi thấy rằng Đức Chúa Trời hiện diện trong việc xuất bản biểu đồ của Anh Nichols. Tôi thấy rằng trong Kinh Thánh có một lời tiên tri về biểu đồ này, và nếu biểu đồ này được lập ra cho dân sự của Đức Chúa Trời, nếu nó đủ cho một người thì cũng đủ cho người khác, và nếu một người cần một biểu đồ mới được vẽ theo tỉ lệ lớn hơn, thì mọi người cũng cần như thế.” Manuscript Releases, số 13, 359; 1853.
Did God through Ellen White endorse the message the Millerites presented during the history of 1840 through 1844?
Đức Chúa Trời, qua Ellen White, có tán thành thông điệp mà những người Millerite đã trình bày trong giai đoạn từ năm 1840 đến 1844 không?
“God is not giving us a new message. We are to proclaim the message that in 1843 and 1844 brought us out of the other churches.” Review and Herald, January 19, 1905.
"Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta một sứ điệp mới. Chúng ta phải rao giảng sứ điệp đã đưa chúng ta ra khỏi các giáo hội khác vào những năm 1843 và 1844." Review and Herald, ngày 19 tháng 1 năm 1905.
“God bids us give our time and strength to the work of preaching to the people the messages that stirred men and women in 1843 and 1844.” Manuscript Release, Number 760.
“Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta dâng thời giờ và sức lực cho công việc rao giảng những sứ điệp đã đánh động lòng người nam và người nữ vào các năm 1843 và 1844 đến với dân chúng.” Ấn phẩm Bản thảo, số 760.
“All the messages given from 1840–1844 are to be made forcible now, for there are many people who have lost their bearings. The messages are to go to all the churches.
Tất cả các sứ điệp đã được ban từ năm 1840 đến 1844 nay phải được trình bày một cách mạnh mẽ, vì có nhiều người đã mất phương hướng. Những sứ điệp ấy phải đến với mọi hội thánh.
“Christ said, ‘Blessed are your eyes, for they see; and your ears, for they hear. For verily I say unto you, That many prophets and righteous men have desired to see those things which ye see, and have not seen them; and to hear those things which ye hear, and have not heard them’ [Matthew 13:16, 17]. Blessed are the eyes which saw the things that were seen in 1843 and 1844.
Đấng Christ phán: “Phước cho mắt của anh em, vì chúng thấy; và tai của anh em, vì chúng nghe. Vì quả thật, ta nói với anh em: nhiều đấng tiên tri và người công chính đã ao ước được thấy những điều anh em thấy mà không được thấy; và được nghe những điều anh em nghe mà không được nghe” [Ma-thi-ơ 13:16, 17]. Phước thay cho những đôi mắt đã chứng kiến những điều xảy ra vào các năm 1843 và 1844.
“The message was given. And there should be no delay in repeating the message, for the signs of the times are fulfilling; the closing work must be done. A great work will be done in a short time. A message will soon be given by God’s appointment that will swell into a loud cry. Then Daniel will stand in his lot, to give his testimony.” Manuscript Releases, volume 21, 437.
“Sứ điệp đã được ban ra. Và không được chậm trễ trong việc nhắc lại sứ điệp, vì các dấu chỉ của thời cuộc đang ứng nghiệm; công cuộc kết thúc phải được hoàn tất. Một công việc lớn sẽ được thực hiện trong một thời gian ngắn. Một sứ điệp sẽ sớm được ban theo sự chỉ định của Đức Chúa Trời và sẽ dâng lên thành tiếng kêu lớn. Bấy giờ Đa-ni-ên sẽ đứng nơi phần của mình để làm chứng.” Bản Thảo Được Công Bố, tập 21, trang 437.
“The truths that we received in 1841, ‘42, ‘43, and ‘44 are now to be studied and proclaimed. The messages of the first, second, and third angels will in the future be proclaimed with a loud voice. They will be given with earnest determination and in the power of the Spirit.” Manuscript Releases, volume 15, 371.
"Những lẽ thật mà chúng ta đã nhận được vào các năm 1841, '42, '43 và '44 hiện nay cần được nghiên cứu và rao giảng. Các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba trong tương lai sẽ được rao giảng lớn tiếng. Chúng sẽ được công bố với sự kiên quyết nhiệt thành và trong quyền năng của Thánh Linh." Manuscript Releases, tập 15, 371.
“We understand the present feebleness and smallness of the work. We have had an experience. In doing the work God has given us, we may go trustingly forward, assured that He will be our efficiency. He will be with us in 1906, as He was with us in 1841, 1842, 1843, and 1844.” Loma Linda Messages, 156.
Chúng ta hiểu tình trạng yếu ớt và nhỏ bé hiện nay của công việc. Chúng ta đã có kinh nghiệm. Khi làm công việc Đức Chúa Trời đã giao cho chúng ta, chúng ta có thể tin cậy tiến bước, vững tin rằng Ngài sẽ là năng lực của chúng ta. Ngài sẽ ở cùng chúng ta trong năm 1906, như Ngài đã ở cùng chúng ta vào các năm 1841, 1842, 1843 và 1844. Loma Linda Messages, 156.
“Those who stand as teachers and leaders in our institutions are to be sound in the faith and in the principles of the third angel’s message. God wants His people to know that we have the message as He gave it to us in 1843 and 1844.” General Conference Bulletin, April 1, 1903.
Những người đảm nhiệm vai trò giáo viên và lãnh đạo trong các cơ sở của chúng ta phải vững vàng trong đức tin và trong các nguyên tắc của sứ điệp thiên sứ thứ ba. Đức Chúa Trời muốn dân Ngài biết rằng sứ điệp mà chúng ta nắm giữ là đúng như Ngài đã ban cho chúng ta vào các năm 1843 và 1844. Bản tin Đại Hội Đồng, ngày 1 tháng 4 năm 1903.
“The warning has come: Nothing is to be allowed to come in that will disturb the foundation of the faith upon which we have been building ever since the message came in 1842, 1843, and 1844. I was in this message, and ever since I have been standing before the world, true to the light that God has given us. We do not propose to take our feet off the platform on which they were placed as day by day we sought the Lord with earnest prayer, seeking for light. Do you think that I could give up the light that God has given me? It is to be as the Rock of Ages. It has been guiding me ever since it was given.” Review and Herald, April 14, 1903.
“Lời cảnh báo đã đến: Không được cho phép bất cứ điều gì chen vào làm lung lay nền tảng của đức tin mà trên đó chúng ta đã xây dựng kể từ khi sứ điệp đến vào các năm 1842, 1843 và 1844. Tôi đã ở trong sứ điệp này, và kể từ đó đến nay tôi đã đứng trước thế gian, trung thành với ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Chúng tôi không chủ trương rời khỏi nền tảng mà chúng tôi đã đứng, nền tảng được hình thành khi ngày qua ngày chúng tôi tìm kiếm Chúa bằng những lời cầu nguyện tha thiết, khẩn cầu ánh sáng. Bạn có nghĩ rằng tôi có thể từ bỏ ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi không? Ánh sáng ấy phải vững như Vầng Đá Muôn Đời. Từ khi được ban, nó đã dẫn dắt tôi.” Review and Herald, ngày 14 tháng 4, năm 1903.
Did God through Ellen White warn His people to defend against attacks that would undermine the truths of the Millerite history?
Có phải Đức Chúa Trời, qua Ellen White, đã cảnh báo dân sự Ngài hãy chống lại những cuộc tấn công sẽ làm suy yếu các lẽ thật của lịch sử phong trào Millerite?
“The great waymarks of truth, showing us our bearings in prophetic history, are to be carefully guarded, lest they be torn down, and replaced with theories that would bring confusion rather than genuine light.” Selected Messages, book 2, 101, 102.
"Những cột mốc lớn của chân lý, cho chúng ta định hướng trong lịch sử tiên tri, phải được gìn giữ cẩn thận, kẻo chúng bị phá bỏ và bị thay thế bằng các lý thuyết sẽ mang lại sự rối rắm thay vì ánh sáng chân thật." Những Sứ điệp Được Chọn, quyển 2, trang 101, 102.
“Today Satan is seeking opportunities to tear down the waymarks of truth,—the monuments that have been raised up along the way; and we need the experience of the aged workers who have built their house upon the solid rock, who through evil report as well as good report have been steadfast to the truth.” Gospel Workers, 104.
"Ngày nay Sa-tan đang tìm cơ hội để phá đổ những mốc chỉ đường của lẽ thật—những cột mốc đã được dựng lên dọc đường; và chúng ta cần kinh nghiệm của những người công tác cao niên, những người đã xây nhà mình trên tảng đá vững chắc, những người qua tiếng xấu cũng như tiếng tốt vẫn kiên định với lẽ thật." Gospel Workers, 104.
“God never leaves the world without men who can discern between good and evil, righteousness and unrighteousness. God has men whom he has appointed to stand in the forefront of the battle in times of emergency. In a crisis, he will raise up men as he did in ancient times. Young men will be bidden to link up with the aged standard-bearers, that they may be strengthened and taught by the experience of these faithful ones, who have passed through so many conflicts, and to whom, through the testimonies of his Spirit, God has so often spoken, pointing out the right way and condemning the wrong way. When perils arise, which try the faith of God’s people, these pioneer workers are to recount the experiences of the past, when just such crises came, when the truth was questioned, when strange sentiments, proceeding not from God, were brought in.
Đức Chúa Trời không bao giờ để thế gian thiếu những người có thể phân biệt điều thiện và điều ác, điều công chính và điều bất chính. Ngài có những người mà Ngài đã đặt để để đứng ở tuyến đầu của chiến trận trong những lúc khẩn cấp. Trong cơn khủng hoảng, Ngài sẽ dấy lên những người như Ngài đã làm thuở xưa. Những người trẻ sẽ được kêu gọi hiệp với các vị cầm cờ lão thành, để họ được thêm sức và được dạy dỗ bởi kinh nghiệm của những người trung tín này, những người đã trải qua biết bao cuộc tranh chiến, và với họ, qua những lời chứng của Thánh Linh Ngài, Đức Chúa Trời đã nhiều lần phán dạy, chỉ ra đường lối đúng và quở trách đường lối sai. Khi hiểm nguy nổi lên, thử thách đức tin của dân Đức Chúa Trời, những người tiên phong này phải thuật lại những kinh nghiệm của quá khứ, khi những cơn khủng hoảng tương tự đã đến, khi lẽ thật bị chất vấn, khi những tư tưởng lạ, không đến từ Đức Chúa Trời, được đưa vào.
“The experience of those aged workers is needed now; for Satan is watching every opportunity to make of no account the old waymarks,—the monuments that have been raised up along the way.” Review and Herald, November 19, 1903.
Kinh nghiệm của những người công tác lớn tuổi hiện đang rất cần; vì Sa-tan đang rình rập mọi cơ hội để làm cho những mốc chỉ đường xưa trở nên vô nghĩa—những bia mốc đã được dựng dọc đường. Review and Herald, ngày 19 tháng 11 năm 1903.
In 1863 the Millerite movement ended by rejecting the first truth the Elijah of that history had been led to understand. Its final test was based upon the two verses in Daniel eight that identify the trampling down of the sanctuary and the host. The light of the sanctuary was opened at the first of ten tests and darkness was brought upon the host at the last of ten tests.
Năm 1863, phong trào Millerite kết thúc bằng việc khước từ lẽ thật đầu tiên mà Elijah của lịch sử đó đã được dẫn dắt để hiểu. Thử thách cuối cùng của nó dựa trên hai câu trong Daniel tám xác định sự chà đạp đền thánh và đạo binh. Ánh sáng của đền thánh đã được mở ra ở bài thứ nhất trong mười bài thử thách, và bóng tối đã giáng xuống trên đạo binh ở bài cuối cùng trong mười bài thử thách.
“One thing is certain: those Seventh-day Adventists who take their stand under Satan’s banner will first give up their faith in the warnings and reproofs contained in the Testimonies of God’s spirit.
Một điều chắc chắn: những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm nào đứng dưới ngọn cờ của Sa-tan trước hết sẽ từ bỏ niềm tin vào những lời cảnh cáo và quở trách được chứa đựng trong các Chứng ngôn của Thánh Linh Đức Chúa Trời.
“The call to greater consecration and holier service is being made, and will continue to be made. Some who are now voicing Satan’s suggestions will come to their senses. There are those in important positions of trust who do not understand the truth for this time. To them the message must be given. If they receive it, Christ will accept them, and will make them workers together with him. But if they refuse to hear the message, they will take their stand under the black banner of the Prince of Darkness.
Lời kêu gọi hướng đến sự tận hiến sâu sắc hơn và sự phục vụ thánh khiết hơn đang được đưa ra, và sẽ còn tiếp tục được đưa ra. Một số người hiện đang lên tiếng theo những gợi ý của Sa-tan sẽ tỉnh ngộ. Có những người giữ những vị trí quan trọng, được tín nhiệm, nhưng không hiểu lẽ thật cho thời điểm này. Với họ, thông điệp ấy phải được trao. Nếu họ tiếp nhận, Đấng Christ sẽ chấp nhận họ và khiến họ trở nên những người cùng làm việc với Ngài. Nhưng nếu họ từ chối lắng nghe thông điệp, họ sẽ đứng vào hàng ngũ dưới ngọn cờ đen của Hoàng Tử Bóng Tối.
“I am instructed to say that the precious truth for this time is open more and more clearly to human minds. In a special sense men and women are to eat of Christ’s flesh and drink of his blood. There will be a development of the understanding, for the truth is capable of constant expansion. The divine originator of truth will come into closer and still closer communion with those who follow on to know him. As God’s people receive his word as the bread of heaven, they will know that his goings forth are prepared as the morning. They will receive spiritual strength, as the body receives physical strength when food is eaten.
Tôi được chỉ dạy để nói rằng lẽ thật quý báu cho thời này đang được bày tỏ ngày càng rõ ràng cho tâm trí con người. Theo một nghĩa đặc biệt, người nam và người nữ phải ăn thịt và uống huyết của Đấng Christ. Sẽ có sự phát triển trong sự hiểu biết, vì lẽ thật có khả năng không ngừng mở rộng. Đấng khởi nguyên thiêng liêng của lẽ thật sẽ bước vào sự thông công ngày càng mật thiết với những người tiếp tục theo để biết Ngài. Khi dân Đức Chúa Trời tiếp nhận lời Ngài như bánh từ trời, họ sẽ biết rằng những bước đi của Ngài đã được định liệu như buổi sớm mai. Họ sẽ nhận được sức mạnh thuộc linh, như thân thể nhận sức lực thể xác khi ăn thức ăn.
“We do not half understand the Lord’s plan in taking the children of Israel from Egyptian bondage, and leading them through the wilderness into Canaan.
Chúng ta chưa hiểu được một nửa kế hoạch của Chúa trong việc đưa con cái Israel ra khỏi ách nô lệ Ai Cập và dẫn họ qua sa mạc vào Ca-na-an.
“As we gather up the divine rays shining from the gospel, we shall have a clearer insight into the Jewish economy, and a deeper appreciation of its important truths. Our exploration of truth is yet incomplete. We have gathered up only a few rays of light. Those who are not daily students of the Word will not solve the problems of the Jewish economy. They will not understand the truths taught by the temple service. The work of God is hindered by a worldly understanding of his great plan. The future life will unfold the meaning of the laws that Christ, enshrouded in the pillar of cloud, gave to his people.” Spalding and Magan, 305, 306.
"Khi chúng ta thu góp những tia sáng thiêng liêng tỏa ra từ phúc âm, chúng ta sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn về chế độ Do Thái và trân trọng sâu sắc hơn những lẽ thật quan trọng của nó. Cuộc tìm kiếm lẽ thật của chúng ta vẫn chưa hoàn tất. Chúng ta mới chỉ thu góp được vài tia sáng. Những ai không học Lời hằng ngày sẽ không giải được các nan đề của chế độ Do Thái. Họ sẽ không hiểu những lẽ thật do nghi lễ đền thờ truyền dạy. Công việc của Đức Chúa Trời bị cản trở bởi cách hiểu mang tính thế gian về chương trình vĩ đại của Ngài. Đời sau sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa của những luật lệ mà Đấng Christ, được bao phủ trong trụ mây, đã ban cho dân Ngài." Spalding và Magan, 305, 306.
We will continue our consideration of the symbolism of Elijah in connection with 1863 in the next article.
Trong bài viết tiếp theo, chúng ta sẽ tiếp tục xem xét ý nghĩa biểu tượng của Êlia liên quan đến năm 1863.