We ended the last article with a passage that addresses “a lying spirit.” The following is one of the paragraphs from that passage.
Chúng tôi đã kết thúc bài viết trước bằng một đoạn trích bàn về "một thần dối trá". Sau đây là một trong những đoạn văn của đoạn trích đó.
“Unsanctified ministers are arraying themselves against God. They are praising Christ and the God of this world in the same breath. While professedly they receive Christ, they embrace Barabbas, and by their actions say, ‘Not this Man, but Barabbas.’ Let all who read these lines, take heed. Satan has made his boast of what he can do. He thinks to dissolve the unity which Christ prayed might exist in His church. He says, ‘I will go forth and be a lying spirit to deceive those that I can, to criticize, and condemn, and falsify.’ Let the son of deceit and false witness be entertained by a church that has had great light, great evidence, and that church will discard the message the Lord has sent, and receive the most unreasonable assertions and false suppositions and false theories. Satan laughs at their folly, for he knows what truth is.” Testimonies to Ministers, 409.
Những mục sư không được thánh hóa đang dàn trận chống lại Đức Chúa Trời. Họ ca ngợi Đấng Christ và chúa của đời này trong cùng một hơi thở. Trong khi bề ngoài họ xưng là tiếp nhận Đấng Christ, họ lại ôm lấy Ba-ra-ba, và bằng hành động của mình họ nói: 'Không phải người này, nhưng là Ba-ra-ba.' Hết thảy những ai đọc những dòng này, hãy lưu ý. Sa-tan đã khoe khoang về những gì nó có thể làm. Nó toan làm tan rã sự hiệp nhất mà Đấng Christ đã cầu nguyện cho Hội Thánh của Ngài. Nó nói: 'Ta sẽ đi ra và làm một linh dối trá để lừa dối những kẻ nào ta có thể, để chỉ trích, lên án và xuyên tạc.' Nếu một Hội Thánh đã nhận được ánh sáng lớn lao và những bằng cớ mạnh mẽ mà lại dung dưỡng kẻ dối trá và làm chứng dối, thì Hội Thánh ấy sẽ gạt bỏ sứ điệp Chúa đã sai đến và tiếp nhận những khẳng định vô lý nhất, những giả định sai lầm và những lý thuyết sai trái. Sa-tan cười nhạo sự dại dột của họ, vì nó biết lẽ thật là gì." Testimonies to Ministers, 409.
Let “the son of deceit and false witness be entertained by a church that has had great light, great evidence, and that church will discard the message the Lord has sent, and receive the most unreasonable assertions and false suppositions and false theories.” In 1863, Millerite Adventism ‘returned’ to the unreasonable and false methodology employed by apostate Protestantism and rejected William Miller’s identification of the seven times of Leviticus twenty-six. The subject of ‘returning’ was represented by the rebels in Numbers fourteen, when they determined to select a captain and return to Egypt.
Hãy để "đứa con của sự dối trá và lời chứng giả được một hội thánh đã có ánh sáng lớn, bằng chứng lớn tiếp nhận, và hội thánh ấy sẽ loại bỏ sứ điệp Chúa đã sai, và tiếp nhận những khẳng định vô lý nhất cùng những giả định sai lầm và những lý thuyết giả dối." Năm 1863, Phục Lâm theo Miller đã 'quay trở lại' với phương pháp luận vô lý và sai lạc được giới Tin Lành bội đạo áp dụng, và bác bỏ sự xác định của William Miller về "bảy lần" trong Lê-vi Ký 26. Chủ đề 'trở lại' được thể hiện bởi những kẻ phản loạn trong Dân-số Ký mười bốn, khi họ quyết định chọn một thủ lãnh và quay về Ai Cập.
And they said one to another, Let us make a captain, and let us return into Egypt. Numbers 14:4.
Và họ nói với nhau: “Chúng ta hãy lập một người lãnh đạo và trở về Ai Cập.” Dân Số Ký 14:4.
The subject of “returning” to apostate Protestantism was also represented by Jeremiah, when in chapter fifteen, he was told that the fallen Protestants could return to him, but he was not to “return” unto them.
Chủ đề “trở lại” với Tin Lành bội đạo cũng được minh họa qua Giê-rê-mi, khi trong chương mười lăm, ông được cho biết rằng những người Tin Lành sa ngã có thể trở lại với ông, nhưng ông không được “trở lại” với họ.
I sat not in the assembly of the mockers, nor rejoiced; I sat alone because of thy hand: for thou hast filled me with indignation. Why is my pain perpetual, and my wound incurable, which refuseth to be healed? wilt thou be altogether unto me as a liar, and as waters that fail? Therefore thus saith the Lord, If thou return, then will I bring thee again, and thou shalt stand before me: and if thou take forth the precious from the vile, thou shalt be as my mouth: let them return unto thee; but return not thou unto them. And I will make thee unto this people a fenced brazen wall: and they shall fight against thee, but they shall not prevail against thee: for I am with thee to save thee and to deliver thee, saith the Lord. Jeremiah 15:17–20.
Con không ngồi trong hội kẻ nhạo báng, cũng chẳng vui mừng; con ngồi một mình vì tay Ngài ở trên con, vì Ngài đã làm cho con đầy phẫn nộ. Vì sao nỗi đau của con cứ liên miên, và vết thương của con không thể chữa lành, chẳng chịu lành? Há Ngài sẽ hoàn toàn trở nên như kẻ dối trá đối với con, như dòng nước cạn sao? Vậy nên Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu ngươi trở lại, thì ta sẽ đưa ngươi trở về, và ngươi sẽ đứng trước mặt ta; nếu ngươi tách điều quý khỏi điều hèn, ngươi sẽ như miệng ta; hãy để họ trở lại cùng ngươi, còn ngươi chớ trở lại cùng họ. Ta sẽ làm cho ngươi đối với dân này thành một bức tường đồng kiên cố; họ sẽ chiến đấu chống lại ngươi, nhưng họ sẽ không thắng được ngươi; vì ta ở cùng ngươi để cứu và giải thoát ngươi, Đức Giê-hô-va phán. Giê-rê-mi 15:17-20.
Perhaps the clearest prophetic illustration of the principle of not returning to apostate Protestantism is found in the story of the disobedient prophet, who delivered a message of rebuke to Jeroboam, the northern ten tribe’s first king.
Có lẽ minh họa tiên tri rõ ràng nhất về nguyên tắc không trở lại với Tin Lành bội đạo được tìm thấy trong câu chuyện về vị tiên tri bất tuân, người đã truyền một sứ điệp quở trách cho Jeroboam, vị vua đầu tiên của mười chi phái miền bắc.
And the king said unto the man of God, Come home with me, and refresh thyself, and I will give thee a reward. And the man of God said unto the king, If thou wilt give me half thine house, I will not go in with thee, neither will I eat bread nor drink water in this place: For so was it charged me by the word of the Lord, saying, Eat no bread, nor drink water, nor turn again by the same way that thou camest. So he went another way, and returned not by the way that he came to Bethel. 1 Kings 13:7–10.
Vua nói với người của Đức Chúa Trời: Hãy về nhà với ta, nghỉ ngơi cho khỏe, và ta sẽ ban thưởng cho ngươi. Nhưng người của Đức Chúa Trời nói với vua: Dẫu vua cho tôi nửa nhà của vua, tôi cũng không vào với vua; tôi cũng chẳng ăn bánh, cũng chẳng uống nước tại nơi này; vì bởi lời của Đức Chúa Trời đã truyền dặn tôi rằng: Chớ ăn bánh, chớ uống nước, cũng chớ trở lại bằng con đường mình đã đến. Vậy người đi một con đường khác, không trở lại theo con đường đã đến Bê-tên. 1 Các Vua 13:7-10.
The disobedient prophet had been told of God not to return the way he came. Millerite Adventism had come out of Protestantism represented by Sardis, and they were not to return. Though the disobedient prophet knew full well not to return the way he came, a false prophet of Jeroboam’s kingdom, told him that God had said that the disobedient prophet should return to the false prophet’s home and eat with him. In spite of God’s direction, he did that very thing. Once he had begun to eat the false prophet’s food, the Bible plainly states the prophet of Samaria had lied.
Người tiên tri bất tuân đã được Đức Chúa Trời dặn không được trở lại đường cũ. Phong trào Phục Lâm Millerite đã ra khỏi Tin Lành, được Sardis đại diện, và họ không được trở lại. Dù người tiên tri bất tuân biết rất rõ rằng không được trở lại đường cũ, một tiên tri giả của vương quốc Jeroboam nói với ông rằng Đức Chúa Trời đã phán người tiên tri bất tuân nên trở về nhà của tiên tri giả và ăn cùng ông ta. Bất chấp sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, ông vẫn làm đúng như vậy. Khi ông vừa bắt đầu ăn đồ ăn của tiên tri giả, Kinh Thánh ghi rõ rằng người tiên tri ở Samaria đã nói dối.
Now there dwelt an old prophet in Bethel; and his sons came and told him all the works that the man of God had done that day in Bethel: the words which he had spoken unto the king, them they told also to their father. And their father said unto them, What way went he? For his sons had seen what way the man of God went, which came from Judah. And he said unto his sons, Saddle me the ass. So they saddled him the ass: and he rode thereon, And went after the man of God, and found him sitting under an oak: and he said unto him, Art thou the man of God that camest from Judah? And he said, I am. Then he said unto him, Come home with me, and eat bread. And he said, I may not return with thee, nor go in with thee: neither will I eat bread nor drink water with thee in this place: For it was said to me by the word of the Lord, Thou shalt eat no bread nor drink water there, nor turn again to go by the way that thou camest. He said unto him, I am a prophet also as thou art; and an angel spake unto me by the word of the Lord, saying, Bring him back with thee into thine house, that he may eat bread and drink water. But he lied unto him. So he went back with him, and did eat bread in his house, and drank water. 1 Kings 13:11–19.
Bấy giờ có một tiên tri già sống tại Bê-tên; các con trai ông đến và thuật cho ông mọi việc người của Đức Chúa Trời đã làm trong ngày ấy tại Bê-tên; cả những lời ông ấy đã nói với vua, họ cũng thuật lại cho cha mình. Cha họ nói với họ: “Ông ấy đi đường nào?” Vì các con trai ông đã thấy người của Đức Chúa Trời, là người từ Giu-đa đến, đã đi đường nào. Ông bảo các con trai mình: “Hãy thắng yên con lừa cho ta.” Vậy họ thắng yên con lừa cho ông; ông cưỡi nó, đuổi theo người của Đức Chúa Trời, và gặp người đang ngồi dưới một cây sồi; ông nói với người: “Có phải ông là người của Đức Chúa Trời đến từ Giu-đa không?” Người đáp: “Phải, tôi là.” Ông nói với người: “Hãy về nhà với tôi và ăn bánh.” Người nói: “Tôi không thể trở về với ông, cũng không thể vào cùng ông; tôi sẽ không ăn bánh hay uống nước với ông tại nơi này; vì lời của Chúa đã phán với tôi rằng: Ngươi chớ ăn bánh, chớ uống nước ở đó, cũng đừng trở lại theo con đường ngươi đã đến.” Ông nói với người: “Tôi cũng là một tiên tri như ông; và một thiên sứ đã phán với tôi bởi lời của Chúa rằng: Hãy đưa ông ấy về nhà ngươi, để ông ấy ăn bánh và uống nước.” Nhưng ông ta đã nói dối người. Thế là người trở lại với ông, vào nhà ông, ăn bánh và uống nước. 1 Các Vua 13:11-19.
The disobedient prophet ate and drank with the lying prophet of Samaria, meaning he accepted the message of an apostate prophet, and rejected the message of the Lord. The message he had faithfully delivered the same day. He knew full well he was not to return, but he did it anyway. Sister White informs us that if the “son of deceit and false witness be entertained by a church that has had great light, great evidence, and that church will discard the message the Lord has sent.” In Millerite history the first angel had lightened the earth with its glory. In 1840, the first angel’s message was carried to every mission station in the world.
Nhà tiên tri bất tuân đã ăn uống với nhà tiên tri dối trá ở Samari, nghĩa là ông đã chấp nhận sứ điệp của một nhà tiên tri bội đạo và khước từ sứ điệp của Chúa. Chính sứ điệp mà cùng ngày hôm đó ông đã trung tín rao truyền. Ông biết rất rõ rằng mình không được quay trở lại, nhưng ông vẫn làm như vậy. Bà White cho chúng ta biết rằng nếu “con của sự lừa dối và chứng gian” được một hội thánh vốn đã có ánh sáng lớn, bằng chứng lớn tiếp đãi, thì hội thánh ấy sẽ gạt bỏ sứ điệp mà Chúa đã sai đến. Trong lịch sử phong trào Millerite, thiên sứ thứ nhất đã chiếu sáng khắp đất bằng vinh quang của mình. Năm 1840, sứ điệp của thiên sứ thứ nhất đã được mang đến mọi trạm truyền giáo trên thế giới.
“The tidings of the Lord’s soon coming in power and great glory to our world is truth, and in 1840 many voices were raised in its proclamation.” Manuscript Releases, volume 9, 134.
"Tin về việc Chúa sắp đến trong quyền năng và vinh hiển lớn lao đến thế gian chúng ta là lẽ thật, và vào năm 1840, nhiều tiếng nói đã cất lên để rao truyền điều ấy." Manuscript Releases, tập 9, 134.
Shortly thereafter, Millerite Adventism returned to “the lie” of apostate Protestantism’s methodology, and discarded “the message of the Lord” which God had sent through William Miller. They discarded the message of Moses as presented by Elijah, and the “lie” received at the beginning in Millerite history, represents the “lie” that is believed at the end; the “lie” which brings strong delusion upon Laodicean Adventism.
Ngay sau đó, chủ nghĩa Cơ Đốc Phục Lâm Millerite đã quay lại với "sự dối trá" của phương pháp luận Tin Lành bội đạo, và loại bỏ "sứ điệp của Chúa" mà Đức Chúa Trời đã sai qua William Miller. Họ đã loại bỏ sứ điệp của Môi-se như được Ê-li trình bày, và "sự dối trá" đã được tiếp nhận lúc ban đầu trong lịch sử Millerite đại diện cho "sự dối trá" được tin vào về sau; "sự dối trá" đem đến sự lầm lạc mạnh mẽ cho Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê.
And with all deceivableness of unrighteousness in them that perish; because they received not the love of the truth, that they might be saved. And for this cause God shall send them strong delusion, that they should believe a lie: That they all might be damned who believed not the truth, but had pleasure in unrighteousness. 2 Thessalonians 2:10–12.
Và với mọi sự lừa dối của sự bất chính nơi những kẻ bị hư mất, vì họ đã không tiếp nhận tình yêu đối với lẽ thật để họ được cứu. Vì cớ đó, Đức Chúa Trời sẽ sai đến trên họ một sự mê lầm mạnh mẽ, để họ tin điều dối trá, hầu cho hết thảy những kẻ không tin lẽ thật nhưng ưa thích sự bất chính đều bị đoán phạt. 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:10-12.
We are attempting to demonstrate the role of Elijah as a symbol in connection with the parallel histories of the horn of Protestantism and the horn of Republicanism during the period that the sixth kingdom of Bible prophecy reigns. The difficulty in bringing all the issues of 1863 together prophetically, at least for me, is the various interrelated lines that border on the concept of “circuitous logic”. A straight forward logic is always the best approach, but identifying divine truths and the relationships of those truths to each other is a difficult work, for they are found in the Bible “here a little and there a little.”
Chúng tôi đang cố gắng chứng minh vai trò của Ê-li-a như một biểu tượng trong mối liên hệ với các lịch sử song song của chiếc sừng của Chủ nghĩa Tin Lành và chiếc sừng của Chủ nghĩa Cộng hòa trong thời kỳ vương quốc thứ sáu của lời tiên tri Kinh Thánh trị vì. Khó khăn trong việc tập hợp tất cả các vấn đề của năm 1863 lại với nhau theo phương diện tiên tri, ít nhất đối với tôi, là nhiều tuyến có liên hệ với nhau vốn giáp ranh với khái niệm "lý luận vòng vo". Một lối lập luận mạch lạc, thẳng thắn luôn là cách tiếp cận tốt nhất, nhưng việc nhận diện các chân lý thiêng liêng và các mối quan hệ giữa những chân lý ấy với nhau là một công việc khó khăn, vì chúng được tìm thấy trong Kinh Thánh "một ít ở đây và một ít ở kia."
Whom shall he teach knowledge? and whom shall he make to understand doctrine? them that are weaned from the milk, and drawn from the breasts. For precept must be upon precept, precept upon precept; line upon line, line upon line; here a little, and there a little. Isaiah 28:9, 10.
Ngài sẽ dạy tri thức cho ai? Và Ngài sẽ làm cho ai hiểu lẽ đạo? Ấy là những kẻ đã cai sữa, đã dứt khỏi vú mẹ. Vì điều răn phải nối tiếp điều răn, điều răn nối tiếp điều răn; dòng trên dòng, dòng trên dòng; chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Ê-sai 28:9, 10.
It is also a difficult work when your target audience consists of those that are familiar with the primary truths you are addressing, but others are new to it all. Virtually all the truths I intend to give an overview of in this article, can be found in Habakkuk’s Tables. For fear of sounding as if I am using ‘circuitous logic’, I am going to tell you where we are going, in advance of actually going there.
Đó cũng là một công việc khó khăn khi độc giả mục tiêu của bạn bao gồm những người đã quen thuộc với các chân lý căn bản mà bạn đang đề cập, nhưng cũng có những người hoàn toàn mới mẻ với tất cả những điều ấy. Hầu như tất cả những chân lý mà tôi dự định trình bày tổng quan trong bài viết này đều có thể tìm thấy trong những tấm bảng của Habakkuk. Vì sợ rằng sẽ có vẻ như tôi đang dùng 'lý luận vòng vo', tôi sẽ nói trước cho bạn biết đích đến của chúng ta trước khi thực sự đi đến đó.
In 1863, Laodicean Millerite Adventism set up an image of jealousy. The image of jealousy represents the first of Laodicean Adventism’s four generations.
Vào năm 1863, Cơ Đốc Phục Lâm Millerite Laodicea đã dựng lên một hình tượng ghen tuông. Hình tượng ghen tuông ấy tượng trưng cho thế hệ thứ nhất trong bốn thế hệ của Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea.
Then said he unto me, Son of man, lift up thine eyes now the way toward the north. So I lifted up mine eyes the way toward the north, and behold northward at the gate of the altar this image of jealousy in the entry. Ezekiel 8:5.
Bấy giờ Ngài phán cùng ta: Hỡi con người, bây giờ hãy ngước mắt nhìn về phương bắc. Vậy ta ngước mắt nhìn về phương bắc, và kìa, phía bắc, tại cổng của bàn thờ, có hình tượng ghen tuông này ở lối vào. Ê-xê-chi-ên 8:5.
The four generations of the Seventh-day Adventist church are represented in various passages of Scripture, but I employ Ezekiel eight as the primary point of reference. The reason for this is that chapter eight leads into chapter nine. In Ezekiel nine, the sealing of the one hundred and forty-four thousand is illustrated, and in Testimonies, volume five, Sister White clearly identifies this fact. In Sister White’s comments she clearly addresses two classes of worshippers in Jerusalem when the sealing takes place. Ezekiel does the same thing, and the class that does not receive the seal are represented in chapter eight.
Bốn thế hệ của Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy được trình bày trong nhiều đoạn Kinh Thánh, nhưng tôi dùng Ê-xê-chi-ên đoạn tám làm điểm tham chiếu chính. Lý do là đoạn tám dẫn vào đoạn chín. Trong Ê-xê-chi-ên đoạn chín, việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn được minh họa, và trong Chứng Ngôn, tập năm, Bà White đã xác định rõ điều này. Trong những lời bình của Bà White, bà nêu rõ hai hạng người thờ phượng tại Giê-ru-sa-lem khi việc đóng ấn diễn ra. Ê-xê-chi-ên cũng làm như vậy, và hạng người không nhận ấn được trình bày ở đoạn tám.
“The class who do not feel grieved over their own spiritual declension, nor mourn over the sins of others, will be left without the seal of God. The Lord commissions His messengers, the men with slaughtering weapons in their hands: ‘Go ye after him through the city, and smite: let not your eye spare, neither have ye pity: slay utterly old and young, both maids, and little children, and women: but come not near any man upon whom is the mark; and begin at My sanctuary. Then they began at the ancient men which were before the house.’
Hạng người không đau buồn về sự sa sút thuộc linh của chính mình, cũng không than khóc vì tội lỗi của người khác, sẽ không có ấn của Đức Chúa Trời. Chúa truyền lệnh cho các sứ giả của Ngài, những người cầm vũ khí giết chóc trong tay: 'Hãy theo sau người ấy đi khắp thành, và đánh; chớ để mắt ngươi dung tha, cũng chớ thương xót; hãy giết sạch cả già lẫn trẻ, cả gái đồng trinh, trẻ nhỏ và đàn bà; nhưng chớ đến gần bất cứ ai trên người có dấu; và hãy bắt đầu tại Thánh điện của Ta. Bấy giờ họ bắt đầu từ những người già cả ở trước nhà.'
“Here we see that the church—the Lord’s sanctuary—was the first to feel the stroke of the wrath of God. The ancient men, those to whom God had given great light and who had stood as guardians of the spiritual interests of the people, had betrayed their trust. They had taken the position that we need not look for miracles and the marked manifestation of God’s power as in former days. Times have changed. These words strengthen their unbelief, and they say: The Lord will not do good, neither will He do evil. He is too merciful to visit His people in judgment. Thus ‘Peace and safety’ is the cry from men who will never again lift up their voice like a trumpet to show God’s people their transgressions and the house of Jacob their sins. These dumb dogs that would not bark are the ones who feel the just vengeance of an offended God. Men, maidens, and little children all perish together.” Testimonies, volume 5, 211.
"Ở đây chúng ta thấy rằng Hội thánh—đền thánh của Chúa—là nơi đầu tiên hứng chịu đòn giáng của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Các bậc trưởng lão, những người mà Đức Chúa Trời đã ban cho ánh sáng lớn lao và đã đứng làm người canh giữ các lợi ích thuộc linh của dân sự, đã phản bội sự tín nhiệm. Họ đã cho rằng chúng ta không cần trông đợi các phép lạ và những sự bày tỏ rõ rệt quyền năng của Đức Chúa Trời như thuở trước. Thời thế đã thay đổi. Những lời ấy càng củng cố sự vô tín của họ, và họ nói: Chúa sẽ chẳng làm điều lành, cũng chẳng làm điều dữ. Ngài quá nhân từ để thăm phạt dân Ngài. Vì thế, 'Bình yên và an ổn' là tiếng kêu từ những người sẽ chẳng bao giờ nữa cất tiếng như tiếng kèn để chỉ cho dân Đức Chúa Trời biết các sự vi phạm của họ và cho nhà Gia-cốp biết các tội lỗi của họ. Những con chó câm không chịu sủa ấy chính là những kẻ phải nếm trải sự báo thù công chính của Đức Chúa Trời bị xúc phạm. Đàn ông, thiếu nữ và các con trẻ đều cùng nhau bị diệt vong." Testimonies, quyển 5, trang 211.
Chapter eight is describing those in Jerusalem–“the church” that in the fourth of the four generations–represented as bowing down to the sun.
Chương tám mô tả những người ở Jerusalem—"hội thánh"—mà trong thế hệ thứ tư của bốn thế hệ, được trình bày là cúi lạy mặt trời.
And he brought me into the inner court of the Lord’s house, and, behold, at the door of the temple of the Lord, between the porch and the altar, were about five and twenty men, with their backs toward the temple of the Lord, and their faces toward the east; and they worshipped the sun toward the east. Then he said unto me, Hast thou seen this, O son of man? Is it a light thing to the house of Judah that they commit the abominations which they commit here? for they have filled the land with violence, and have returned to provoke me to anger: and, lo, they put the branch to their nose. Therefore will I also deal in fury: mine eye shall not spare, neither will I have pity: and though they cry in mine ears with a loud voice, yet will I not hear them. Ezekiel 8:16–18.
Ngài đưa tôi vào sân trong của nhà Đức Giê-hô-va; kìa, tại cửa đền của Đức Giê-hô-va, giữa hiên cửa và bàn thờ, có chừng hai mươi lăm người, họ quay lưng về phía đền của Đức Giê-hô-va, mặt hướng về phía đông, và họ thờ lạy mặt trời hướng về phía đông. Bấy giờ Ngài phán với tôi: Hỡi con người, ngươi có thấy điều này chăng? Há đối với nhà Giu-đa, việc họ phạm những sự ghê tởm mà họ làm tại đây là chuyện nhỏ sao? Vì họ đã làm cho đất đầy dẫy bạo lực, và còn quay lại chọc giận ta; kìa, họ đưa nhánh cây lên mũi mình. Vì vậy, ta cũng sẽ xử phạt trong cơn thịnh nộ: mắt ta sẽ chẳng dung tha, ta cũng chẳng thương xót; dẫu họ có kêu lớn tiếng vào tai ta, ta cũng sẽ không nghe họ. Ê-xê-chi-ên 8:16-18.
Just as with the evil report of the ten spies, the twenty-five leaders of the rebellion that are worshipping the sun have “provoked” the Lord to anger. The Sunday law is the “day of provocation” which the prophets point forward to. Chapter nine describes those that receive the seal of God at the same point in time, for it is simply repeating and enlarging upon chapter eight.
Cũng như tin dữ của mười người do thám, hai mươi lăm người lãnh đạo của sự phản nghịch đang thờ lạy mặt trời đã “chọc giận” Đức Chúa Trời. Luật ngày Chủ nhật là “ngày chọc giận” mà các tiên tri đã báo trước. Chương chín mô tả những người nhận ấn của Đức Chúa Trời vào cùng thời điểm ấy, vì đó chỉ là sự lặp lại và mở rộng của chương tám.
“This sealing of the servants of God [Revelation seven] is the same that was shown to Ezekiel in vision.” Testimonies to Ministers, 445.
"Việc đóng ấn các tôi tớ của Đức Chúa Trời [Khải Huyền đoạn bảy] chính là điều đã được tỏ cho Ê-xê-chi-ên thấy trong khải tượng." Những Lời Chứng cho Các Mục Sư, 445.
In 1863, the first generation of Laodicean Adventism began its wandering through the wilderness. The prophetic history that identifies the image of jealousy in 1863, was the golden calf of Aaron. The prophetic characteristics of the golden calf are that it was an image of a beast, and it was gold. Gold is the symbol of Babylon, so Aaron’s golden calf was the image of the beast of Babylon. The image of the beast is only defined as the combination of church and state with the church in control of the relationship.
Năm 1863, thế hệ thứ nhất của Phục Lâm Laodixê bắt đầu cuộc lang thang trong đồng vắng. Lịch sử tiên tri xác định “hình tượng ghen tương” vào năm 1863 là con bê vàng của A-rôn. Những đặc điểm mang tính tiên tri của con bê vàng là: nó là hình tượng của một con thú, và nó bằng vàng. Vàng là biểu tượng của Ba-by-lôn, vì vậy con bê vàng của A-rôn là hình tượng của con thú của Ba-by-lôn. Hình tượng của con thú chỉ được định nghĩa là sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, trong đó giáo hội nắm quyền kiểm soát mối quan hệ.
“But what is the ‘image to the beast’? and how is it to be formed? The image is made by the two-horned beast, and is an image to the beast. It is also called an image of the beast. Then to learn what the image is like and how it is to be formed we must study the characteristics of the beast itself—the papacy.
Nhưng “ảnh tượng cho con thú” là gì? Và nó sẽ được hình thành như thế nào? Ảnh tượng ấy do con thú có hai sừng làm ra, và là một ảnh tượng cho con thú. Nó cũng được gọi là ảnh tượng của con thú. Vậy để biết ảnh tượng ấy như thế nào và nó sẽ được hình thành ra sao, chúng ta phải nghiên cứu các đặc điểm của chính con thú ấy—tức là giáo hoàng quyền.
“When the early church became corrupted by departing from the simplicity of the gospel and accepting heathen rites and customs, she lost the Spirit and power of God; and in order to control the consciences of the people, she sought the support of the secular power. The result was the papacy, a church that controlled the power of the state and employed it to further her own ends, especially for the punishment of ‘heresy.’ In order for the United States to form an image of the beast, the religious power must so control the civil government that the authority of the state will also be employed by the church to accomplish her own ends.” The Great Controversy, 443.
Khi Hội thánh buổi đầu bị bại hoại vì rời bỏ sự đơn sơ của Phúc Âm và chấp nhận các nghi lễ cùng phong tục ngoại giáo, Hội thánh đánh mất Thánh Linh và quyền năng của Đức Chúa Trời; và để kiểm soát lương tâm của dân chúng, Hội thánh tìm kiếm sự hậu thuẫn của thế quyền. Kết quả là chế độ giáo hoàng, một giáo hội nắm quyền lực của nhà nước và sử dụng nó để phục vụ các mục đích riêng của mình, đặc biệt là để trừng phạt “dị giáo”. Để Hoa Kỳ có thể tạo nên hình tượng của con thú, quyền lực tôn giáo phải kiểm soát chính quyền dân sự đến mức mà uy quyền của nhà nước cũng sẽ được giáo hội sử dụng nhằm thực hiện các mục đích riêng của mình. The Great Controversy, 443.
The calf built by Aaron, was built when Moses was receiving the Ten Commandments. The second commandment forbids the worship of idols, and includes a partial description of God’s character, when it identifies God as a jealous God.
A-rôn đã làm con bê ấy khi Môi-se đang nhận Mười Điều Răn. Điều răn thứ hai cấm thờ lạy hình tượng và bao gồm một mô tả phần nào về bản tính của Đức Chúa Trời, khi gọi Ngài là Đức Chúa Trời ghen tuông.
Thou shalt not make unto thee any graven image, or any likeness of anything that is in heaven above, or that is in the earth beneath, or that is in the water under the earth: Thou shalt not bow down thyself to them, nor serve them: for I the Lord thy God am a jealous God, visiting the iniquity of the fathers upon the children unto the third and fourth generation of them that hate me; And showing mercy unto thousands of them that love me, and keep my commandments. Exodus 20:4–6.
Ngươi chớ làm cho mình tượng chạm nào, cũng chớ làm bất cứ hình tượng nào giống vật gì ở trên trời cao, dưới đất thấp, hay trong nước dưới đất. Ngươi chớ quỳ lạy chúng, cũng chớ phụng sự chúng; vì Ta, Đức Chúa Trời của ngươi, là Đức Chúa Trời ghen tuông, trừng phạt tội lỗi của tổ phụ trên con cháu đến ba bốn đời của những kẻ ghét Ta; và bày tỏ lòng thương xót đến hàng ngàn người là những kẻ yêu mến Ta và giữ các điều răn Ta. Xuất Hành 20:4-6.
Aaron’s image of the golden calf, being an idol, represents an image of jealousy, for it produced the righteous indignation that compelled Moses to throw down and break the first two tables of the Ten Commandments. We intend to show that the counterfeit chart of 1863, was represented by Aaron’s golden calf. God’s jealousy was manifested towards Aaron’s golden calf, for the golden calf represented a false god. The calf was the counterfeit representation of God. Aaron proclaimed that it represented the gods that had delivered them from Egyptian bondage. The two tables which Moses broke in that very history, were a “transcript” of the true God’s character, the God that had actually brought them out of Egypt. The counterfeit chart produced in 1863, is an image of jealousy, for it broke the two tables of Habakkuk chapter two by removing the seven times of Moses’ oath.
Hình tượng con bò con bằng vàng của A-rôn, vốn là một thần tượng, tượng trưng cho hình tượng ghen tuông, vì nó đã sinh ra sự phẫn nộ chính đáng buộc Môi-se phải ném xuống và đập vỡ hai tấm bia đầu tiên của Mười Điều Răn. Chúng tôi dự định cho thấy rằng biểu đồ giả mạo năm 1863 được tượng trưng bởi con bò con bằng vàng của A-rôn. Sự ghen tuông của Đức Chúa Trời được bày tỏ đối với con bò con bằng vàng của A-rôn, vì con bò con ấy tượng trưng cho một thần giả. Con bò con là sự đại diện giả mạo về Đức Chúa Trời. A-rôn tuyên bố rằng nó đại diện cho các thần đã giải cứu họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Hai tấm bia mà Môi-se đã đập vỡ trong chính câu chuyện đó là "bản sao" của bản tánh Đức Chúa Trời chân thật, Đấng thật sự đã đưa họ ra khỏi Ai Cập. Biểu đồ giả mạo được soạn năm 1863 là một hình tượng ghen tuông, vì nó đã phá vỡ hai bảng của Ha-ba-cúc đoạn hai bằng cách loại bỏ "bảy lần" trong lời thề của Môi-se.
“I have seen that the 1843 chart was directed by the hand of the Lord, and that it should not be altered; that the figures were as He wanted them; that His hand was over and hid a mistake in some of the figures, so that none could see it, until His hand was removed.” Early Writings, 74, 75.
“Tôi đã thấy rằng tấm biểu đồ năm 1843 do bàn tay Chúa hướng dẫn, và rằng nó không nên bị thay đổi; rằng các con số đúng như Ngài muốn; rằng bàn tay Ngài đã che phủ và giấu đi một sai sót trong một vài con số, đến nỗi không ai có thể thấy nó, cho đến khi bàn tay Ngài được cất đi.” Early Writings, 74, 75.
Further Ellen White adds to the command not to altar the 1843 chart, with the qualifications of “except by inspiration.”
Hơn nữa, Ellen White bổ sung vào mệnh lệnh không được sửa đổi biểu đồ năm 1843 một ngoại lệ: "trừ khi do linh hứng."
“I saw that the old chart was directed by the Lord, and that not a figure of it should be altered except by inspiration. I saw that the figures of the chart were as God would have them, and that His hand was over and hid a mistake in some of the figures, so that none should see it till His hand was removed.” Spalding and Magan, 2.
Tôi thấy rằng tấm biểu đồ cũ đã được Chúa hướng dẫn, và rằng không một con số nào trên đó được phép sửa đổi, trừ khi bởi sự soi dẫn của Đức Chúa Trời. Tôi thấy rằng các con số trên biểu đồ ấy đúng như Đức Chúa Trời muốn, và rằng tay Ngài bao phủ và che giấu một sai lầm trong một vài con số, để không ai thấy được điều đó cho đến khi tay Ngài được cất đi. Spalding và Magan, 2.
James and Ellen White were living with Otis Nichol’s family, when Nichol’s prepared and produced the 1850 chart. The only thing that was “altered” with the 1850 chart, was that the year ‘1844’ was used to replace the year ‘1843,’ that had been represented upon the 1843 chart. The only thing “altered” was a correction of the “mistake” that God had held His hand over. The inspiration of the prophetess was in the very home where the 1843 chart was “altered” into the 1850 chart, and the seven times of Leviticus twenty-six remained enshrined upon that chart, as it had been on the 1843 chart.
James và Ellen White đang sống cùng gia đình của Otis Nichol khi Nichol chuẩn bị và phát hành biểu đồ năm 1850. Điều duy nhất được "sửa đổi" trong biểu đồ năm 1850 là năm "1844" được dùng để thay cho năm "1843", vốn đã được thể hiện trên biểu đồ 1843. Điều duy nhất được "sửa đổi" là một sự chỉnh sửa đối với "sai lầm" mà Đức Chúa Trời đã che phủ bằng tay Ngài. Sự cảm hứng của nữ tiên tri ở ngay trong ngôi nhà nơi biểu đồ 1843 được "sửa đổi" thành biểu đồ 1850, và "bảy lần" của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu vẫn được ghi khắc trên biểu đồ đó, như nó đã có trên biểu đồ 1843.
The second commandment includes another piece of this prophetic puzzle, for it identifies that God counts the generations until He visits the iniquity that occurs. 1863, began the first of four generations of the Seventh-day Adventist church, for the Millerite movement ended at that point.
Điều răn thứ hai bao gồm một mảnh ghép khác của bức tranh tiên tri này, vì nó cho biết rằng Đức Chúa Trời đếm các đời cho đến khi Ngài thăm phạt tội lỗi đã xảy ra. Năm 1863 mở đầu thế hệ thứ nhất trong bốn thế hệ của Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, vì phong trào Millerite đã kết thúc vào thời điểm đó.
The two tables of the Ten Commandments typify the two tables of Habakkuk, but they also typify the two wave loaves of Pentecost, which were the only offering in the sanctuary service that included sin. The manifestation of God’s power in the giving of the Ten Commandments, the manifestation of God’s power at the Pentecostal outpouring and the manifestation of God’s power in the history of the two charts of the Millerites, all typify the final manifestation of the outpouring of the Holy Spirit in the latter rain. The two wave loaves of Pentecost represent the one hundred and forty-four thousand who are lifted up as an ensign during the latter rain.
Hai tấm bia của Mười Điều Răn tiêu biểu cho hai bảng của Ha-ba-cúc, nhưng chúng cũng tiêu biểu cho hai ổ bánh dâng đưa qua đưa lại của Lễ Ngũ Tuần, vốn là lễ vật duy nhất trong nghi lễ đền thánh có bao gồm tội lỗi. Sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời trong việc ban Mười Điều Răn, sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự đổ xuống tại Lễ Ngũ Tuần và sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời trong lịch sử của hai biểu đồ của những người Millerite đều tiêu biểu cho sự bày tỏ cuối cùng của sự đổ xuống Đức Thánh Linh trong cơn mưa muộn. Hai ổ bánh dâng đưa qua đưa lại của Lễ Ngũ Tuần tượng trưng cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người được giương lên như một cờ hiệu trong thời kỳ mưa muộn.
The Pentecostal wave loaves were to be prepared with “leaven”, which represents sin, but the leaven was destroyed by the process of baking.
Các ổ bánh dâng đưa của Lễ Ngũ Tuần phải được chuẩn bị với “men”, vốn tượng trưng cho tội lỗi, nhưng men ấy bị tiêu hủy trong quá trình nướng.
In the mean time, when there were gathered together an innumerable multitude of people, insomuch that they trode one upon another, he began to say unto his disciples first of all, Beware ye of the leaven of the Pharisees, which is hypocrisy. Luke 12:1.
Trong khi ấy, khi một đoàn dân đông không kể xiết tụ họp lại, đến nỗi họ giẫm đạp lên nhau, thì trước hết, Ngài bắt đầu nói với các môn đồ rằng: Hãy đề phòng men của người Pha-ri-si, tức là sự giả hình. Lu-ca 12:1.
The wave loaves were a first fruit offering.
Những ổ bánh dâng đưa qua đưa lại là của lễ đầu mùa.
Ye shall bring out of your habitations two wave loaves of two tenth deals: they shall be of fine flour; they shall be baken with leaven; they are the firstfruits unto the Lord. Leviticus 23:17.
Các ngươi sẽ đem từ chỗ ở mình ra hai ổ bánh dùng để dâng vẫy, bột lường hai phần mười; chúng phải làm bằng bột mịn, nướng với men; ấy là những trái đầu mùa dâng cho Đức Giê-hô-va. Lê-vi Ký 23:17.
The one hundred and forty-four thousand are the first fruit offering in the last days.
Một trăm bốn mươi bốn nghìn là của lễ đầu mùa trong những ngày sau rốt.
And I looked, and, lo, a Lamb stood on the mount Sion, and with him an hundred forty and four thousand, having his Father’s name written in their foreheads. And I heard a voice from heaven, as the voice of many waters, and as the voice of a great thunder: and I heard the voice of harpers harping with their harps: And they sung as it were a new song before the throne, and before the four beasts, and the elders: and no man could learn that song but the hundred and forty and four thousand, which were redeemed from the earth. These are they which were not defiled with women; for they are virgins. These are they which follow the Lamb whithersoever he goeth. These were redeemed from among men, being the firstfruits unto God and to the Lamb. And in their mouth was found no guile: for they are without fault before the throne of God. Revelation 14:1–5.
Và tôi nhìn xem, kìa, Chiên Con đứng trên núi Si-ôn, và cùng với Ngài có một trăm bốn mươi bốn nghìn người, trên trán họ có ghi danh Cha Ngài. Tôi nghe một tiếng từ trời, như tiếng của nhiều dòng nước, và như tiếng sấm lớn; tôi cũng nghe tiếng những người chơi đàn hạc, gảy đàn hạc của họ. Họ hát như thể một bài ca mới trước ngai, trước bốn sinh vật và các trưởng lão; và chẳng ai có thể học bài ca ấy ngoại trừ một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là những người đã được chuộc khỏi đất. Ấy là những người không bị ô uế với đàn bà; vì họ đồng trinh. Họ là những người theo Chiên Con bất cứ nơi nào Ngài đi. Họ đã được chuộc ra từ giữa loài người, làm trái đầu mùa dâng cho Đức Chúa Trời và cho Chiên Con. Trong miệng họ chẳng thấy có sự gian dối nào; vì họ không tì vết trước ngai Đức Chúa Trời. Khải Huyền 14:1-5.
The class of worshippers in the last days who never die, represented by Elijah will have fully overcome sin, for the fire of purification that is brought upon them by the Messenger of the Covenant, thoroughly bakes out and removes the leaven, from the sons of Levi.
Nhóm những người thờ phượng trong những ngày sau rốt, những người không bao giờ chết, được Ê-li tiêu biểu, sẽ hoàn toàn chiến thắng tội lỗi; vì lửa thanh luyện do Sứ giả của Giao Ước đem đến trên họ sẽ luyện sạch và loại bỏ hết men khỏi các con trai của Lê-vi.
Behold, I will send my messenger, and he shall prepare the way before me: and the Lord, whom ye seek, shall suddenly come to his temple, even the messenger of the covenant, whom ye delight in: behold, he shall come, saith the Lord of hosts. But who may abide the day of his coming? and who shall stand when he appeareth? for he is like a refiner’s fire, and like fullers’ soap: And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years. Malachi 3:1–4.
Kìa, Ta sẽ sai sứ giả của Ta, và người sẽ dọn đường trước mặt Ta; rồi Đức Chúa, Đấng các ngươi tìm kiếm, sẽ thình lình đến đền thờ của Ngài, tức là Sứ giả của giao ước, Đấng các ngươi ưa thích. Kìa, Ngài sẽ đến, Đức Giê-hô-va vạn quân phán. Nhưng ai có thể chịu nổi ngày Ngài đến? Và ai đứng nổi khi Ngài hiện ra? Vì Ngài như lửa của thợ luyện, và như thuốc tẩy của thợ giặt. Ngài sẽ ngồi như thợ luyện và tinh lọc bạc; Ngài sẽ tinh sạch các con trai Lê-vi, luyện lọc họ như vàng và bạc, để họ dâng cho Đức Chúa một của lễ trong sự công chính. Bấy giờ của lễ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Đức Chúa, như trong những ngày xưa, như những năm thuở trước. Ma-la-chi 3:1-4.
The offering that is “as the days of old” is the Pentecostal wave offering of two loaves. It was lifted up as an offering, identifying the two prophets that were slain in the streets, and who are then lifted up to heaven as an ensign, at the beginning of the Sunday law crisis.
Lễ dâng “như những ngày xưa” là lễ vẫy Ngũ Tuần với hai ổ bánh. Nó được giơ lên như một của lễ, tượng trưng cho hai nhà tiên tri đã bị giết nơi đường phố, và họ rồi được cất lên trời như một cờ hiệu, vào lúc khởi đầu cuộc khủng hoảng Luật Ngày Chủ Nhật.
When Aaron produced his golden calf, he pronounced that the calf was the gods that had brought them out of Egypt, and then proclaimed a feast to the Lord.
Khi Aaron làm ra con bê vàng, ông tuyên bố rằng con bê ấy chính là những vị thần đã đưa họ ra khỏi Ai Cập, rồi công bố một lễ kính Chúa.
And he received them at their hand, and fashioned it with a graving tool, after he had made it a molten calf: and they said, These be thy gods, O Israel, which brought thee up out of the land of Egypt. And when Aaron saw it, he built an altar before it; and Aaron made proclamation, and said, Tomorrow is a feast to the Lord. Exodus 32:4, 5.
Ông nhận lấy những vật ấy từ tay họ, rồi dùng đồ chạm trổ để tạo hình nó, sau khi đã đúc nó thành một con bê con; và họ nói: “Hỡi Israel, đây là các thần của ngươi đã đưa ngươi lên khỏi đất Ai Cập.” Khi A-rôn thấy vậy, ông dựng một bàn thờ trước nó; và A-rôn công bố rằng: “Ngày mai là lễ cho Chúa.” Xuất Hành 32:4, 5.
When the northern kingdom of Israel broke away from the southern kingdom of Judah, Jeroboam, the first king of Israel purposely introduced a counterfeit worship service in two cities, made the same pronouncement as Aaron, claiming his two golden calves were the gods that brought them out of Egypt, and ordained a counterfeit feast as had Aaron.
Khi vương quốc Israel phía bắc tách ra khỏi vương quốc Giu-đa phía nam, Giê-rô-bô-am, vị vua đầu tiên của Israel, đã cố ý thiết lập một hình thức thờ phượng giả mạo tại hai thành, đưa ra cùng một lời tuyên bố như A-rôn, cho rằng hai con bê vàng của ông là các thần đã đưa họ ra khỏi Ai Cập, và đặt ra một kỳ lễ giả mạo như A-rôn đã làm.
And Jeroboam said in his heart, Now shall the kingdom return to the house of David: If this people go up to do sacrifice in the house of the Lord at Jerusalem, then shall the heart of this people turn again unto their lord, even unto Rehoboam king of Judah, and they shall kill me, and go again to Rehoboam king of Judah. Whereupon the king took counsel, and made two calves of gold, and said unto them, It is too much for you to go up to Jerusalem: behold thy gods, O Israel, which brought thee up out of the land of Egypt. And he set the one in Bethel, and the other put he in Dan. And this thing became a sin: for the people went to worship before the one, even unto Dan. And he made an house of high places, and made priests of the lowest of the people, which were not of the sons of Levi. And Jeroboam ordained a feast in the eighth month, on the fifteenth day of the month, like unto the feast that is in Judah, and he offered upon the altar. So did he in Bethel, sacrificing unto the calves that he had made: and he placed in Bethel the priests of the high places which he had made. So he offered upon the altar which he had made in Bethel the fifteenth day of the eighth month, even in the month which he had devised of his own heart; and ordained a feast unto the children of Israel: and he offered upon the altar, and burnt incense. 1 Kings 12:26–33.
Giê-rô-bô-am nghĩ trong lòng: Bây giờ vương quốc sẽ trở về với nhà Đa-vít. Nếu dân này lên dâng tế lễ tại đền thờ Đức Giê-hô-va ở Giê-ru-sa-lem, thì lòng của dân này sẽ lại hướng về chúa mình, tức là Rê-hô-bô-am, vua Giu-đa; họ sẽ giết ta và trở về với Rê-hô-bô-am, vua Giu-đa. Vì vậy, vua bèn bàn tính và đúc hai con bê bằng vàng, rồi nói với dân: Lên Giê-ru-sa-lem thật là quá phiền cho các ngươi; hỡi Israel, đây là các thần của các ngươi, đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập. Ông đặt một con tại Bê-tên, còn con kia thì đặt tại Đan. Điều ấy trở nên tội lỗi; vì dân sự đến thờ lạy trước con ấy, thậm chí đến tận Đan. Ông lập miếu thờ trên các nơi cao, và lập các thầy tế lễ từ những người hèn mọn nhất trong dân, là những người không thuộc dòng dõi Lê-vi. Giê-rô-bô-am lập một kỳ lễ vào tháng thứ tám, ngày mười lăm trong tháng, giống như kỳ lễ ở Giu-đa, và ông dâng tế lễ trên bàn thờ. Ông cũng làm như vậy tại Bê-tên, dâng tế lễ cho những con bê mà ông đã làm; và ông đặt tại Bê-tên các thầy tế lễ của những nơi cao mà ông đã lập. Vào ngày mười lăm tháng thứ tám—chính tháng mà ông tự nghĩ ra—ông dâng tế lễ trên bàn thờ mà ông đã làm tại Bê-tên, và lập một kỳ lễ cho con cái Israel; rồi ông dâng tế lễ trên bàn thờ và đốt hương. 1 Các Vua 12:26-33.
Dan means judgment, and represents a state; Bethel means the house of God. With Aaron’s rebellion as with king Jeroboam’s the symbols identify the combination of church and state that ultimately takes place at the Sunday law in the United States.
Dan có nghĩa là phán xét và đại diện cho nhà nước; Bethel có nghĩa là nhà của Đức Chúa Trời. Trong cuộc nổi loạn của Aaron cũng như của vua Jeroboam, các biểu tượng chỉ ra sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước, mà rốt cuộc diễn ra khi ban hành luật Chủ nhật tại Hoa Kỳ.
The Sunday law occurs at the end of Adventism and in the beginning of Adventism, the movement, which had been identified as the Protestant horn in the summer of 1844, came together legally with the Republican horn. Thus, Aaron and Jeroboam’s rebellion represents both 1863, and the soon-coming Sunday law.
Luật Chủ nhật xảy ra vào cuối thời kỳ của phong trào Phục Lâm; còn vào buổi đầu của phong trào đó, vốn đã được nhận diện là sừng Tin Lành vào mùa hè năm 1844, phong trào này đã liên kết về mặt pháp lý với sừng Cộng hòa. Vì vậy, sự nổi loạn của Aaron và Jeroboam tượng trưng cho cả năm 1863 lẫn luật Chủ nhật sắp tới.
The reason that the messenger of the covenant purifies the “sons of Levi” and not any other of the tribes, is because at the rebellion of Aaron’s golden calf, it was the Levites that stood with Moses. For their faithfulness, they were then made the tribe that represented the priesthood, an honor which had been previously designed to consist of the firstborn of each of the tribes. This is why Jeroboam made sure that his counterfeit priesthood was not of the sons of Levi, and instead made his priesthood “of the lowest of the people, which were not of the sons of Levi.”
Lý do sứ giả của giao ước thanh tẩy “các con cháu Lê-vi” chứ không phải bất kỳ chi tộc nào khác là vì, khi xảy ra cuộc phản loạn với tượng bê vàng của A-rôn, chính những người Lê-vi đã đứng về phía Môi-se. Vì lòng trung tín của họ, họ đã được lập làm chi tộc đại diện cho chức tư tế, một vinh dự vốn trước đó được định dành cho con đầu lòng của mỗi chi tộc. Đó là lý do Giê-rô-bô-am bảo đảm rằng chức tư tế giả mạo của ông không thuộc về con cháu Lê-vi, mà thay vào đó lập chức tư tế “từ những người hèn mọn nhất trong dân, vốn không phải con cháu Lê-vi.”
The sons of Levi are those that are purified by fire as an ensign, or wave offering during the Sunday law crisis. The history of the Sunday law crisis in the last days, was typified by the crisis of 1863, when the newly identified Protestant horn became legally attached to the Republican horn. We have one more line of history to address before we begin to work through the passages we have just referenced.
Các con cháu Lê-vi là những người được thanh luyện bằng lửa như một cờ hiệu, hoặc như một của lễ vẫy, trong cuộc khủng hoảng luật Chủ nhật. Lịch sử của cuộc khủng hoảng luật Chủ nhật trong những ngày sau rốt đã được minh họa qua cuộc khủng hoảng năm 1863, khi sừng Tin Lành vừa được nhận diện đã liên kết hợp pháp với sừng Cộng hòa. Chúng ta còn một dòng lịch sử nữa cần đề cập trước khi bắt đầu khảo sát các đoạn vừa nhắc đến.
That line is the year 1856, and we will address that in our next article.
Dòng đó là năm 1856, và chúng tôi sẽ đề cập đến điều đó trong bài viết tiếp theo.
“The coming of Christ as our high priest to the most holy place, for the cleansing of the sanctuary, brought to view in Daniel 8:14; the coming of the Son of man to the Ancient of Days, as presented in Daniel 7:13; and the coming of the Lord to His temple, foretold by Malachi, are descriptions of the same event; and this is also represented by the coming of the bridegroom to the marriage, described by Christ in the parable of the ten virgins, of Matthew 25.” The Great Controversy, 426.
Sự đến của Đấng Christ, với tư cách là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta, vào Nơi Chí Thánh để thanh tẩy đền thánh, được trình bày trong Đa-ni-ên 8:14; sự đến của Con Người đến với Đấng Thượng Cổ, như được trình bày trong Đa-ni-ên 7:13; và việc Chúa đến đền thờ của Ngài, đã được Ma-la-chi tiên báo, đều là những mô tả về cùng một sự kiện; và điều này cũng được minh họa bằng việc chàng rể đến dự lễ cưới, được Đấng Christ mô tả trong dụ ngôn mười trinh nữ ở Ma-thi-ơ 25." Đại Tranh Chiến, 426.