All ye inhabitants of the world, and dwellers on the earth, see ye, when he lifteth up an ensign on the mountains; and when he bloweth a trumpet, hear ye. Isaiah 18:3.
Hỡi hết thảy cư dân thế gian và những người ở trên đất, hãy xem, khi người ấy giương một cờ hiệu trên các núi; và khi người ấy thổi kèn, hãy nghe. Ê-sai 18:3.
The messenger represented as Elijah proclaiming the message represented by Moses is slain in the streets by a beast that ascends from the bottomless pit. After being trampled down for a period represented by the “curse” of Moses which is the “scattering” of Leviticus twenty-six the Holy Spirit enters into their dead bodies through God’s Word. They then stand up and thereafter ascend up into heaven. A message that is represented as in heaven is the everlasting gospel of the three angels.
Sứ giả được tượng trưng như Ê-li, rao giảng sứ điệp được tượng trưng bởi Môi-se, bị một con thú từ vực sâu không đáy trỗi lên giết chết trên đường phố. Sau khi bị giày xéo trong một thời kỳ được tượng trưng bởi “lời nguyền” của Môi-se, tức là sự “tản lạc” trong Lê-vi Ký chương hai mươi sáu, Đức Thánh Linh ngự vào thân thể đã chết của họ qua Lời Đức Chúa Trời. Bấy giờ họ đứng dậy, rồi sau đó thăng lên trời. Một sứ điệp được tượng trưng là ở trên trời chính là Tin Lành đời đời của ba thiên sứ.
And I saw another angel fly in the midst of heaven, having the everlasting gospel to preach unto them that dwell on the earth, and to every nation, and kindred, and tongue, and people. Revelation 14:6.
Và tôi thấy một thiên sứ khác bay giữa trời, mang Tin Lành đời đời để rao giảng cho những người sống trên đất, và cho mọi nước, mọi chi tộc, mọi thứ tiếng, và mọi dân. Khải Huyền 14:6.
Before Elijah and Moses ascend into heaven they first would stand upon their feet.
Trước khi Elijah và Moses lên trời, trước hết họ sẽ đứng dậy trên đôi chân mình.
And after three days and an half the Spirit of life from God entered into them, and they stood upon their feet; and great fear fell upon them which saw them. And they heard a great voice from heaven saying unto them, Come up hither. And they ascended up to heaven in a cloud; and their enemies beheld them. Revelation 11:11, 12.
Sau ba ngày rưỡi, Thần khí của sự sống từ Thiên Chúa nhập vào họ, và họ đứng dậy; nỗi sợ hãi lớn bao trùm những ai thấy họ. Họ nghe một tiếng lớn từ trời phán với họ: Hãy lên đây. Và họ lên trời trong một đám mây; các kẻ thù của họ nhìn thấy họ. Khải Huyền 11:11-12.
Every prophet agrees with the other prophets and they all come together in the book of Revelation. The book of Ezekiel teaches that when the Spirit enters into men they stand upon their feet.
Mọi nhà tiên tri đều đồng thuận với nhau, và tất cả cùng quy tụ trong sách Khải Huyền. Sách Ê-xê-chi-ên dạy rằng khi Thần Khí vào trong người ta, họ đứng dậy trên đôi chân mình.
And he said unto me, Son of man, stand upon thy feet, and I will speak unto thee. And the spirit entered into me when he spake unto me, and set me upon my feet, that I heard him that spake unto me. Ezekiel 2:1, 2.
Ngài phán cùng ta: Hỡi con người, hãy đứng dậy, và Ta sẽ phán cùng ngươi. Khi Ngài phán cùng ta, Thần đã vào trong ta và khiến ta đứng dậy; bấy giờ ta nghe tiếng của Đấng phán cùng ta. Ê-xê-chi-ên 2:1-2.
Ezekiel represents God’s people in the “last days” who are dead, yet they hear God speak, and the reception of God’s Word brings the presence of the Holy Spirit and they then stand upon their feet. Those in Revelation who have been slain and left in the street to be trampled down for twelve hundred and sixty symbolic days also hear God’s Word, which conveys the Holy Spirit into their hearts and minds and they stand upon their feet. Ezekiel informs us what the Word of God is that they hear, which in turn brings the entire movement represented by Moses and Elijah that has been dead in the streets back to life, and causes them to stand.
Ê-xê-chi-ên tượng trưng cho dân sự của Đức Chúa Trời trong “những ngày sau rốt”, là những người đã chết nhưng vẫn nghe tiếng Đức Chúa Trời phán. Khi tiếp nhận Lời của Đức Chúa Trời, sự hiện diện của Đức Thánh Linh đến và họ đứng dậy trên đôi chân mình. Những người trong Khải Huyền đã bị giết và bị bỏ thây nơi đường phố để bị chà đạp trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày tượng trưng cũng nghe Lời của Đức Chúa Trời; Lời ấy đem Đức Thánh Linh vào lòng và trí họ, và họ đứng dậy trên đôi chân mình. Ê-xê-chi-ên cho chúng ta biết Lời của Đức Chúa Trời mà họ nghe là gì; chính Lời ấy đưa toàn bộ phong trào được Môi-se và Ê-li đại diện, vốn đã chết nơi đường phố, trở lại sự sống và khiến họ đứng dậy.
The hand of the Lord was upon me, and carried me out in the spirit of the Lord, and set me down in the midst of the valley which was full of bones, And caused me to pass by them round about: and, behold, there were very many in the open valley; and, lo, they were very dry. And he said unto me, Son of man, can these bones live? And I answered, O Lord God, thou knowest. Again he said unto me, Prophesy upon these bones, and say unto them, O ye dry bones, hear the word of the Lord. Thus saith the Lord God unto these bones; Behold, I will cause breath to enter into you, and ye shall live: And I will lay sinews upon you, and will bring up flesh upon you, and cover you with skin, and put breath in you, and ye shall live; and ye shall know that I am the Lord. So I prophesied as I was commanded: and as I prophesied, there was a noise, and behold a shaking, and the bones came together, bone to his bone. And when I beheld, lo, the sinews and the flesh came up upon them, and the skin covered them above: but there was no breath in them. Then said he unto me, Prophesy unto the wind, prophesy, son of man, and say to the wind, Thus saith the Lord God; Come from the four winds, O breath, and breathe upon these slain, that they may live. So I prophesied as he commanded me, and the breath came into them, and they lived, and stood up upon their feet, an exceeding great army. Then he said unto me, Son of man, these bones are the whole house of Israel: behold, they say, Our bones are dried, and our hope is lost: we are cut off for our parts. Therefore prophesy and say unto them, Thus saith the Lord God; Behold, O my people, I will open your graves, and cause you to come up out of your graves, and bring you into the land of Israel. And ye shall know that I am the Lord, when I have opened your graves, O my people, and brought you up out of your graves, And shall put my spirit in you, and ye shall live, and I shall place you in your own land: then shall ye know that I the Lord have spoken it, and performed it, saith the Lord. Ezekiel 37:1–14.
Tay của Đức Giê-hô-va ở trên tôi, Ngài đem tôi đi trong Thần của Đức Giê-hô-va, và đặt tôi xuống giữa một thung lũng đầy xương cốt. Ngài khiến tôi đi vòng quanh chúng; kìa, có rất nhiều xương trong thung lũng trống; và kìa, chúng đã khô lắm. Ngài phán cùng tôi: Hỡi con người, những xương này có thể sống lại chăng? Tôi thưa: Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa biết. Ngài lại phán với tôi: Hãy nói tiên tri về các xương này, và nói với chúng: Hỡi các xương khô, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va. Chúa Giê-hô-va phán với các xương này như vầy: Này, Ta sẽ khiến hơi thở vào trong các ngươi, thì các ngươi sẽ sống; Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, khiến thịt mọc lên trên các ngươi, phủ da trên các ngươi, và đặt hơi thở vào trong các ngươi; các ngươi sẽ sống, và sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va. Vậy tôi nói tiên tri theo như điều tôi được truyền; khi tôi đang nói tiên tri thì có tiếng động, và kìa, có sự rung chuyển, rồi các xương ráp lại với nhau, xương nào vào xương nấy. Tôi nhìn, thì kìa gân và thịt mọc lên trên chúng, da phủ trên chúng; nhưng trong chúng không có hơi thở. Bấy giờ Ngài phán với tôi: Hỡi con người, hãy nói tiên tri với gió; hãy nói tiên tri và nói với gió rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi hơi thở, hãy đến từ bốn phương gió, thổi trên những người đã bị giết này, để họ được sống. Vậy tôi nói tiên tri theo như Ngài đã truyền; và hơi thở vào trong chúng, chúng sống và đứng thẳng trên chân mình, một đạo quân rất lớn. Rồi Ngài phán với tôi: Hỡi con người, các xương này là cả nhà Ít-ra-ên; kìa, họ nói: Xương cốt chúng ta đã khô, hi vọng của chúng ta mất rồi; chúng ta bị dứt khỏi phần của mình. Vậy hãy nói tiên tri và nói với họ: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Này, hỡi dân Ta, Ta sẽ mở mồ mả của các ngươi, khiến các ngươi ra khỏi mồ mả mình, và đem các ngươi vào trong đất Ít-ra-ên. Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, khi Ta đã mở mồ mả của các ngươi, hỡi dân Ta, và đưa các ngươi lên khỏi mồ mả mình; Ta sẽ đặt Thần linh của Ta trong các ngươi, các ngươi sẽ sống; và Ta sẽ đặt các ngươi trong đất riêng của mình. Bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng chính Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán và đã làm điều đó, Đức Giê-hô-va phán vậy. Ê-xê-chi-ên 37:1-14.
Daniel and John represent God’s one hundred and forty-four thousand in the “last days” who have been symbolically killed and resurrected. John in the boiling oil, Daniel in the lion’s den. The movement that was an offspring of its Laodicean mother is symbolically slain and thereafter resurrected, thus becoming the eighth that is of the seven. It is the resurrection of the sixth church, which was Philadelphia that becomes the eighth, though it is not a church but a movement. At the end of a period where they remain unburied, that they might be trampled down by those that are celebrating their deaths, they stand upon their feet as a mighty army. They stand up because they hear a message from God’s Word. Any corpse that has been in the street for over three years has rotted away to the point that all that would remain would be bones.
Đa-ni-ên và Giăng đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, những người đã bị giết và phục sinh một cách tượng trưng. Giăng trong vạc dầu sôi, Đa-ni-ên trong hang sư tử. Phong trào, vốn là con của người mẹ La-ô-đi-xê, bị giết cách tượng trưng rồi sau đó được phục sinh, nhờ đó trở thành thứ tám, vốn thuộc về bảy. Đó là sự phục sinh của Hội thánh thứ sáu, tức Phi-la-đen-phi; nó trở thành thứ tám, dẫu không phải là một hội thánh mà là một phong trào. Vào cuối một thời kỳ khi họ vẫn bị bỏ mặc không chôn cất, để những kẻ đang ăn mừng cái chết của họ giày đạp họ, họ đứng lên trên đôi chân mình như một đạo quân hùng mạnh. Họ đứng dậy vì họ nghe một thông điệp từ Lời Đức Chúa Trời. Bất kỳ xác chết nào đã nằm ngoài đường hơn ba năm đều đã thối rữa đến mức chỉ còn trơ xương.
“The dry bones need to be breathed upon by the Holy Spirit of God, that they may come into action, as by a resurrection from the dead.” Bible Training School, December 1, 1903.
Các xương khô cần được Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời hà hơi, để chúng có thể trỗi dậy hành động, như thể bởi sự sống lại từ cõi chết. Bible Training School, ngày 1 tháng 12 năm 1903.
We are required to participate in the work of resurrecting ourselves. We do this by reading, hearing and keeping the things which are written.
Chúng ta phải tham gia vào công cuộc tự phục sinh. Chúng ta làm điều này bằng cách đọc, nghe và tuân giữ những điều đã được chép.
“A revival of true godliness among us is the greatest and most urgent of all our needs. To seek this should be our first work.” Selected Messages, book 1, 121.
Một cuộc phục hưng của sự tin kính chân thật giữa chúng ta là nhu cầu lớn nhất và cấp bách nhất của chúng ta. Tìm kiếm điều này phải là công việc trước hết của chúng ta. Những Thông Điệp Chọn Lọc, quyển 1, 121.
The prophetic “Word” that produces this resurrection from a Laodicean experience unto the experience of Philadelphia comes from a message found in the books of Daniel and Revelation.
"Lời" tiên tri tạo nên sự sống lại này, từ kinh nghiệm La-ô-đi-xê đến kinh nghiệm Phi-la-đen-phi, bắt nguồn từ một sứ điệp được tìm thấy trong các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền.
“When the books of Daniel and Revelation are better understood, believers will have an entirely different religious experience.” Testimonies to Ministers, 112–114.
"Khi các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền được hiểu rõ hơn, các tín hữu sẽ có một kinh nghiệm tôn giáo hoàn toàn khác." Lời chứng cho các Mục sư, 112-114.
The experience of the legal religion of Laodicea is changed by a life-giving message. The message of the Revelation of Jesus Christ is the message of His creative power, which most certainly is the power of God unto salvation for everyone that believes.
Kinh nghiệm của tôn giáo mang tính luật pháp ở Laodicea được biến đổi bởi một sứ điệp ban sự sống. Sứ điệp của sự mạc khải về Đức Chúa Giê-su Christ là sứ điệp về quyền năng sáng tạo của Ngài, mà chắc chắn chính là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu rỗi mọi kẻ tin.
“What power must we have from God that icy hearts, having only a legal religion, should see the better things provided for them—Christ and His righteousness! A life-giving message was needed to give life to the dry bones.” Manuscript Releases, volume 12, 205.
"Chúng ta cần quyền năng nào từ Đức Chúa Trời để những tấm lòng băng giá, vốn chỉ giữ đạo theo lối luật pháp, có thể nhìn thấy những điều tốt hơn đã được sắm sẵn cho họ—Đấng Christ và sự công chính của Ngài! Một thông điệp ban sự sống là điều cần thiết để ban sự sống cho những xương khô." Bản Thảo Phát Hành, tập 12, 205.
The legal religion is a backslidden religion as represented by Adventism’s departure from the foundations in 1863 and onward.
Tôn giáo luật pháp là một tôn giáo đã sa sút, như được thể hiện qua việc Phong trào Phục Lâm rời bỏ các nền tảng từ năm 1863 trở đi.
“I lay down my pen and lift up my soul in prayer, that the Lord would breathe upon his backslidden people, which are as dry bones, that they may live.” General Conference Bulletin, February 4, 1893.
"Tôi đặt bút xuống và nâng linh hồn tôi lên trong lời cầu nguyện, xin Chúa hà hơi trên dân sự đã lui bước của Ngài, như những xương khô, hầu cho họ được sống." General Conference Bulletin, ngày 4 tháng 2 năm 1893.
Jesus is “the faithful witness” in the Revelation.
Giê-su là "nhân chứng trung tín" trong Sách Khải Huyền.
And unto the angel of the church of the Laodiceans write; These things saith the Amen, the faithful and true witness, the beginning of the creation of God. Revelation 3:14.
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh tại Lao-đi-xê rằng: Đây là lời phán của Đấng A-men, Đấng chứng nhân trung tín và chân thật, khởi nguyên của sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Khải Huyền 3:14.
Sister White informs us that it is Jesus who is the “faithful witness” that presents a “straight testimony” to the Laodiceans who are dead in trespasses and sin, and that just as with the message to the valley of dead dry bones, the message causes a shaking.
Bà White cho chúng ta biết rằng chính Chúa Giê-su là “chứng nhân trung tín” trình bày “lời chứng thẳng thắn” cho những người La-ô-đi-xê đã chết trong sa ngã và tội lỗi, và rằng cũng như sứ điệp gửi đến thung lũng những bộ xương khô chết, sứ điệp ấy gây ra một sự rúng động.
“I asked the meaning of the shaking I had seen and was shown that it would be caused by the straight testimony called forth by the counsel of the True Witness to the Laodiceans. This will have its effect upon the heart of the receiver, and will lead him to exalt the standard and pour forth the straight truth. Some will not bear this straight testimony. They will rise up against it, and this is what will cause a shaking among God’s people.
Tôi hỏi ý nghĩa của sự sàng sẩy mà tôi đã thấy, và được cho thấy rằng nó sẽ do lời chứng thẳng thắn, được khơi dậy bởi lời khuyên răn của Đấng Làm Chứng Chân Thật gửi đến những người La-ô-đi-xê, gây ra. Điều này sẽ tác động đến tấm lòng của người tiếp nhận, và sẽ dẫn người ấy đến chỗ nâng cao tiêu chuẩn và tuôn ra lẽ thật thẳng thắn. Một số người sẽ không chịu nổi lời chứng thẳng thắn này. Họ sẽ dấy lên chống lại nó, và chính điều này sẽ gây ra sự sàng sẩy giữa dân của Đức Chúa Trời.
“I saw that the testimony of the True Witness has not been half heeded. The solemn testimony upon which the destiny of the church hangs has been lightly esteemed, if not entirely disregarded. This testimony must work deep repentance; all who truly receive it will obey it and be purified.
Tôi thấy rằng lời chứng của Chứng Nhân Chân Thật đã chẳng được lưu tâm dù chỉ một nửa. Lời chứng nghiêm trọng mà vận mệnh của Hội Thánh tùy thuộc vào đó đã bị xem nhẹ, nếu không muốn nói là hoàn toàn bị bỏ qua. Lời chứng này phải gây nên sự ăn năn sâu sắc; tất cả những ai thật lòng tiếp nhận sẽ vâng theo và được thanh tẩy.
“Said the angel, ‘List ye!’ Soon I heard a voice like many musical instruments all sounding in perfect strains, sweet and harmonious. It surpassed any music I had ever heard, seeming to be full of mercy, compassion, and elevating, holy joy. It thrilled through my whole being. Said the angel, ‘Look ye!’ My attention was then turned to the company I had seen, who were mightily shaken. I was shown those whom I had before seen weeping and praying in agony of spirit. The company of guardian angels around them had been doubled, and they were clothed with an armor from their head to their feet. They moved in exact order, like a company of soldiers. Their countenances expressed the severe conflict which they had endured, the agonizing struggle they had passed through. Yet their features, marked with severe internal anguish, now shone with the light and glory of heaven. They had obtained the victory, and it called forth from them the deepest gratitude and holy, sacred joy.
“Thiên sứ nói: ‘Hãy lắng nghe!’ Chẳng bao lâu, tôi nghe một âm thanh như tiếng của nhiều nhạc cụ, tất cả đồng vang lên những giai điệu hoàn hảo, êm dịu và hài hòa. Nó vượt qua mọi khúc nhạc tôi từng nghe, dường như tràn đầy lòng thương xót, lòng trắc ẩn và niềm vui thánh khiết, nâng cao tâm hồn. Nó làm rung động toàn thể con người tôi. Thiên sứ nói: ‘Hãy nhìn xem!’ Bấy giờ sự chú ý của tôi quay về đoàn người tôi đã thấy, những người đã được lay động mạnh mẽ. Tôi được chỉ cho thấy những người mà trước đó tôi đã thấy khóc lóc và cầu nguyện trong nỗi thống khổ của tâm linh. Đoàn thiên sứ hộ vệ quanh họ đã được tăng gấp đôi, và họ được mặc áo giáp từ đầu đến chân. Họ di chuyển theo trật tự chuẩn xác, như một đội quân. Nét mặt họ bộc lộ cuộc chiến khốc liệt mà họ đã chịu đựng, cuộc tranh đấu đau đớn họ đã trải qua. Tuy vậy, những đường nét trên gương mặt, vốn hằn sâu nỗi đau nội tâm dữ dội, giờ rạng ngời ánh sáng và vinh quang của thiên đàng. Họ đã giành được chiến thắng, và điều đó khơi dậy nơi họ lòng biết ơn sâu xa nhất cùng niềm vui thánh khiết, linh thiêng.”
“The numbers of this company had lessened. Some had been shaken out and left by the way. The careless and indifferent, who did not join with those who prized victory and salvation enough to perseveringly plead and agonize for it, did not obtain it, and they were left behind in darkness, and their places were immediately filled by others taking hold of the truth and coming into the ranks. Evil angels still pressed around them, but could have no power over them.
Số người trong nhóm này đã giảm bớt. Một số đã bị sàng lọc và bỏ lại dọc đường. Những kẻ bất cẩn và thờ ơ, những người không cùng hiệp với những ai coi trọng chiến thắng và sự cứu rỗi đến mức kiên trì khẩn cầu và quặn thắt vì điều ấy, đã không đạt được điều ấy; họ bị bỏ lại trong bóng tối, và chỗ của họ lập tức được lấp đầy bởi những người khác nắm lấy lẽ thật và gia nhập hàng ngũ. Các thiên sứ ác vẫn vây bủa quanh họ, nhưng không có quyền lực nào trên họ.
“I heard those clothed with the armor speak forth the truth with great power. It had effect. Many had been bound; some wives by their husbands, and some children by their parents. The honest who had been prevented from hearing the truth now eagerly laid hold upon it. All fear of their relatives was gone, and the truth alone was exalted to them. They had been hungering and thirsting for truth; it was dearer and more precious than life. I asked what had made this great change. An angel answered, ‘It is the latter rain, the refreshing from the presence of the Lord, the loud cry of the third angel.’” Early Writings, 270, 271.
“Tôi nghe những người mặc lấy áo giáp công bố lẽ thật với quyền năng lớn lao. Điều đó có hiệu quả. Nhiều người đã bị ràng buộc; có những người vợ bị chồng mình ràng buộc, và có những con cái bị cha mẹ ràng buộc. Những người thành thật, vốn đã bị ngăn cản không được nghe lẽ thật, nay sốt sắng đón nhận nó. Mọi nỗi sợ người thân đều tan biến, và đối với họ, chỉ lẽ thật được tôn cao. Họ đã đói khát lẽ thật; nó quý giá hơn cả sự sống. Tôi hỏi điều gì đã tạo nên sự thay đổi lớn lao này. Một thiên sứ đáp: ‘Ấy là mưa cuối mùa, sự làm tươi mới từ trước mặt Chúa, tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba.’” Early Writings, trang 270, 271.
The straight testimony to Laodicea that raises up an army after a severe shaking is the message to the valley of dead dry bones, and those bones represent the message of Moses and the messenger Elijah that were slain in the street on July 18, 2020 by a beast from the bottomless pit.
Lời chứng thẳng thắn gửi đến La-ô-đi-xê, vốn dựng dậy một đạo quân sau một cơn rung chuyển dữ dội, chính là sứ điệp gửi đến thung lũng xương khô chết; và những bộ xương ấy tượng trưng cho sứ điệp của Môi-se và sứ giả Ê-li, những người đã bị giết trên đường phố vào ngày 18 tháng 7 năm 2020 bởi một con thú từ vực không đáy.
“A straight testimony must be borne to our churches and institutions, to arouse the sleeping ones.’
"Một lời chứng thẳng thắn phải được trình bày cho các hội thánh và các tổ chức của chúng ta, để đánh thức những người đang ngủ.'"
“When the word of the Lord is believed and obeyed, steady advancement will be made. Let us now see our great need. The Lord cannot use us until he breathes life into the dry bones. I heard the words spoken: ‘Without the deep moving of the Spirit of God upon the heart, without its life-giving influence, truth becomes a dead letter.’” Review and Herald, November 18, 1902.
"Khi lời của Chúa được tin và vâng theo, sẽ có sự tiến triển vững chắc. Giờ đây, chúng ta hãy nhận ra nhu cầu lớn lao của chúng ta. Chúa không thể dùng chúng ta cho đến khi Ngài thổi sự sống vào những bộ xương khô. Tôi nghe có lời phán: 'Nếu không có sự cảm động sâu xa của Thánh Linh của Đức Chúa Trời trên lòng, nếu không có ảnh hưởng ban sự sống của Ngài, lẽ thật trở thành chữ chết.'" Review and Herald, ngày 18 tháng 11 năm 1902.
We have shown that the four waymarks that represent the history of the seven thunders are represented in every reform line. In connection with that is the fact that in each reform line each of the four waymarks represent the same prophetic theme. With Moses the theme at each of the four waymarks typifying the seven thunders was the covenant with a chosen people. With David it was the ark of God. With Christ it was death and resurrection. With the Millerites it was the day for a year principle.
Chúng ta đã cho thấy rằng bốn cột mốc tượng trưng cho lịch sử của bảy tiếng sấm đều được thể hiện trong mọi dòng cải cách. Đi đôi với điều đó là thực tế rằng trong mỗi dòng cải cách, mỗi cột mốc trong bốn cột mốc ấy đều biểu thị cùng một chủ đề tiên tri. Với Môi-se, chủ đề tại mỗi cột mốc tiêu biểu cho bảy tiếng sấm là giao ước với một dân được chọn. Với Đa-vít, đó là Hòm Bia của Đức Chúa Trời. Với Đấng Christ, đó là sự chết và sự phục sinh. Với những người Millerite, đó là nguyên tắc một ngày bằng một năm.
With Future for America, it is Islam. Islam on September 11, 2001. It was again Islam on July 18, 2020 with the failed prediction, the first disappointment and the beginning of a tarrying time. The third waymark that produces a mighty army that stands up is the message of the four winds, which represents Islam, the “angry horse” of Bible prophecy.
Đối với Future for America, đó là Hồi giáo. Hồi giáo vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Lại là Hồi giáo vào ngày 18 tháng 7 năm 2020 với lời dự đoán thất bại, nỗi thất vọng đầu tiên và sự khởi đầu của một thời kỳ trì hoãn. Mốc thứ ba tạo ra một đạo quân hùng mạnh đứng dậy là sứ điệp của bốn luồng gió, tượng trưng cho Hồi giáo, "con ngựa giận dữ" trong lời tiên tri Kinh Thánh.
“Angels are holding the four winds, represented as an angry horse seeking to break loose and rush over the face of the whole earth, bearing destruction and death in its path.
Các thiên sứ đang nắm giữ bốn luồng gió; những luồng gió ấy được ví như một con ngựa giận dữ đang tìm cách xổng ra và lao khắp mặt đất, gieo rắc sự tàn phá và chết chóc trên đường nó đi.
“Shall we sleep on the very verge of the eternal world? Shall we be dull and cold and dead? Oh, that we might have in our churches the Spirit and breath of God breathed into His people, that they might stand upon their feet and live. We need to see that the way is narrow, and the gate strait. But as we pass through the strait gate, its wideness is without limit.” Manuscript Releases, volume 20, 216, 217.
Chúng ta sẽ ngủ ngay bên bờ mé của cõi vĩnh hằng sao? Chúng ta sẽ khô khan, nguội lạnh và chết sao? Ôi, ước chi trong các hội thánh của chúng ta, Thánh Linh và hơi thở của Đức Chúa Trời được hà hơi vào dân Ngài, để họ có thể đứng lên trên đôi chân mình và sống. Chúng ta cần nhận ra rằng đường chật và cửa hẹp. Nhưng khi chúng ta bước qua cửa hẹp, sự rộng lớn của nó thì không bờ bến. Manuscript Releases, quyển 20, trang 216, 217.
Immediately after Elijah and Moses stand up, they are lifted up to heaven as an ensign.
Ngay sau khi Ê-li và Môi-se đứng dậy, họ được cất lên trời như một lá cờ hiệu.
And they heard a great voice from heaven saying unto them, Come up hither. And they ascended up to heaven in a cloud; and their enemies beheld them. Revelation 11:12.
Và họ nghe một tiếng lớn từ trời phán với họ rằng: Hãy lên đây. Và họ lên trời trong một đám mây; và các kẻ thù của họ trông thấy họ. Khải Huyền 11:12.
We will address the ensign represented by Moses and Elijah in the next article.
Chúng tôi sẽ đề cập đến cờ hiệu được Môi-se và Ê-li biểu trưng trong bài viết tiếp theo.