Sister White addresses several times that the passage in Isaiah which Jesus read in the synagogue at Nazareth, not only announced His work, but typified our work. The perfect fulfillment of that anointed work is accomplished by those who make up the ensign of the one hundred and forty-four thousand.
Bà White nhiều lần đề cập rằng đoạn Kinh Thánh trong Ê-sai mà Đức Chúa Jêsus đã đọc trong nhà hội tại Na-xa-rét không những công bố công việc của Ngài, mà còn tiêu biểu cho công việc của chúng ta. Sự ứng nghiệm trọn vẹn của công việc được xức dầu ấy được thực hiện bởi những người hợp thành cờ hiệu của một trăm bốn mươi bốn ngàn.
The spirit of the Lord God is upon me; because the Lord hath anointed me to preach good tidings unto the meek; he hath sent me to bind up the brokenhearted, to proclaim liberty to the captives, and the opening of the prison to them that are bound; To proclaim the acceptable year of the Lord, and the day of vengeance of our God; to comfort all that mourn; To appoint unto them that mourn in Zion, to give unto them beauty for ashes, the oil of joy for mourning, the garment of praise for the spirit of heaviness; that they might be called trees of righteousness, the planting of the Lord, that he might be glorified. And they shall build the old wastes, they shall raise up the former desolations, and they shall repair the waste cities, the desolations of many generations. And strangers shall stand and feed your flocks, and the sons of the alien shall be your plowmen and your vinedressers. But ye shall be named the Priests of the Lord: men shall call you the Ministers of our God: ye shall eat the riches of the Gentiles, and in their glory shall ye boast yourselves. For your shame ye shall have double; and for confusion they shall rejoice in their portion: therefore in their land they shall possess the double: everlasting joy shall be unto them. Isaiah 61:1–7.
Thần của Chúa Hằng Hữu ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta để rao truyền tin lành cho những kẻ nhu mì; Ngài đã sai ta băng bó những tấm lòng tan vỡ, công bố sự tự do cho những kẻ bị cầm tù, và sự mở cửa ngục cho những kẻ bị trói buộc; để công bố năm đẹp lòng Đức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta; để an ủi mọi kẻ than khóc; để ban cho những kẻ than khóc tại Si-ôn mão hoa thay cho tro bụi, dầu vui mừng thay cho tang chế, áo ngợi khen thay cho tâm thần nặng nề; hầu cho họ được gọi là cây của sự công chính, là sự trồng của Đức Giê-hô-va, để Ngài được vinh hiển. Và họ sẽ xây lại những nơi hoang phế xưa, sẽ dựng lại những chỗ đổ nát ban trước, và sẽ sửa sang các thành bị tàn phá, những nơi hoang vu qua nhiều đời. Người ngoại sẽ đứng chăn bầy cho các ngươi, con cháu kẻ xa lạ sẽ làm người cày ruộng và người trồng nho cho các ngươi. Nhưng các ngươi sẽ được gọi là các Thầy Tế lễ của Đức Giê-hô-va; người ta sẽ xưng các ngươi là những Tôi tớ của Đức Chúa Trời chúng ta; các ngươi sẽ ăn của cải các dân ngoại, và sẽ lấy vinh quang của họ mà tự hào. Thay vì sự hổ nhục của các ngươi, các ngươi sẽ được gấp đôi; thay vì sự nhuốc nha, họ sẽ vui mừng về phần cơ nghiệp mình; vì thế trong xứ mình họ sẽ nhận được gấp đôi; niềm vui đời đời sẽ thuộc về họ. Ê-sai 61:1–7.
In the previous article we began to identify the “hour, month, day and year” that made up the time prophecy of three hundred and ninety-one years and fifteen days. Time is no longer, so the four expressions of time must be applied symbolically in the latter days, when the prophetic characteristics of the first and second woes are repeated in the third woe. The “year” is “the acceptable year of the Lord,” and it is also “the day of vengeance of our God.”
Trong bài viết trước, chúng ta đã bắt đầu xác định “giờ, tháng, ngày và năm” cấu thành lời tiên tri về thời kỳ ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày. Không còn thời gian nữa, vì vậy bốn cách diễn đạt về thời gian ấy phải được áp dụng theo nghĩa biểu tượng trong những ngày sau rốt, khi các đặc điểm tiên tri của tai vạ thứ nhất và thứ hai được lặp lại trong tai vạ thứ ba. “Năm” là “năm được đẹp lòng của Chúa,” và cũng là “ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta.”
The “day,” is “the day of calamity,” a day of recompense, and vengeance, as set forth by Moses.
“Ngày” ấy là “ngày tai họa,” một ngày báo ứng và báo thù, như Môi-se đã trình bày.
To me belongeth vengeance, and recompense; their foot shall slide in due time: for the day of their calamity is at hand, and the things that shall come upon them make haste. Deuteronomy 32:35.
Sự báo thù và sự báo ứng thuộc về Ta; chân chúng nó sẽ trượt ngã trong thời điểm đã định; vì ngày tai họa của chúng nó đã gần, và những điều sẽ giáng trên chúng nó đang vội đến. Phục truyền luật lệ ký 32:35.
In Isaiah it is the “acceptable year” and the “day of vengeance,” and the day of vengeance is Moses’ “day of calamity” where Laodicea’s foot slides as they receive recompense and vengeance. The hour of the great earthquake, the day of calamity, the acceptable year and the first month all align with the Sunday law. The word “month” in Joel is an added word, but the added word is correct. The translators added the word “month” in agreement with the truth that the latter rain came in the first month.
Trong sách Ê-sai, đó là “năm đẹp lòng” và “ngày báo thù”; và ngày báo thù chính là “ngày tai họa” của Môi-se, khi chân của Laodicea trượt ngã lúc họ nhận lấy sự báo ứng và sự báo thù. Giờ của cơn động đất lớn, ngày tai họa, năm đẹp lòng và tháng thứ nhất đều trùng hợp với luật ngày Chủ nhật. Từ “tháng” trong Giô-ên là một từ được thêm vào, nhưng từ được thêm vào ấy là đúng. Các dịch giả đã thêm từ “tháng” phù hợp với lẽ thật rằng mưa cuối mùa đã đến trong tháng thứ nhất.
Be glad then, ye children of Zion, and rejoice in the Lord your God: for he hath given you the former rain moderately, and he will cause to come down for you the rain, the former rain, and the latter rain in the first month. Joel 2:23.
Hỡi con cái Si-ôn, hãy vui mừng và hớn hở trong Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; vì Ngài đã ban cho các ngươi mưa đầu mùa vừa phải, và Ngài sẽ khiến mưa giáng xuống cho các ngươi, tức là mưa đầu mùa và mưa cuối mùa, trong tháng thứ nhất. Giô-ên 2:23.
The word “month” is an interpretation, not part of the original inspired text. The Hebrew simply says the rains will come “in the first” or “as at the first”—meaning God will restore the rains in their proper season, just like in former times. Sister White repeatedly aligns the Millerite movement of 1840 to 1844 with Pentecost to describe the latter rain in the latter days. The latter rain comes “as at the first,” which was Pentecost, which Sister White repeatedly aligns with the Sunday law.
Từ “tháng” là một sự diễn giải, không thuộc về nguyên văn được soi dẫn. Bản tiếng Hê-bơ-rơ chỉ đơn giản nói rằng mưa sẽ đến “ban đầu” hoặc “như lúc ban đầu”—nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ phục hồi những cơn mưa đúng vào mùa của chúng, y như trong các thời trước. Bà White nhiều lần đặt phong trào Miller từ năm 1840 đến 1844 song song với Lễ Ngũ Tuần để mô tả mưa cuối mùa trong những ngày sau rốt. Mưa cuối mùa đến “như lúc ban đầu,” tức là Lễ Ngũ Tuần, điều mà Bà White nhiều lần đặt song song với luật ngày Chúa nhật.
“The angel who unites in the proclamation of the third angel’s message is to lighten the whole earth with his glory. A work of world-wide extent and unwonted power is here foretold. The advent movement of 1840–44 was a glorious manifestation of the power of God; the first angel’s message was carried to every missionary station in the world, and in some countries there was the greatest religious interest which has been witnessed in any land since the Reformation of the sixteenth century; but these are to be exceeded by the mighty movement under the last warning of the third angel.
“Thiên sứ hiệp cùng trong sự công bố sứ điệp của thiên sứ thứ ba sẽ làm cho khắp cả đất được sáng rực bởi vinh quang của mình. Ở đây đã được báo trước một công cuộc có tầm vóc hoàn vũ và quyền năng khác thường. Phong trào phục lâm những năm 1840–44 là một sự biểu hiện vinh hiển của quyền năng Đức Chúa Trời; sứ điệp của thiên sứ thứ nhất đã được truyền đến mọi trạm truyền giáo trên thế giới, và tại một số quốc gia đã có mối quan tâm tôn giáo lớn lao nhất từng được chứng kiến ở bất cứ xứ nào kể từ thời Cải Chánh của thế kỷ thứ mười sáu; nhưng tất cả những điều này sẽ còn bị vượt xa bởi phong trào hùng mạnh dưới lời cảnh báo cuối cùng của thiên sứ thứ ba.
“The work will be similar to that of the Day of Pentecost. As the ‘former rain’ was given, in the outpouring of the Holy Spirit at the opening of the gospel, to cause the upspringing of the precious seed, so the ‘latter rain’ will be given at its close for the ripening of the harvest. ‘Then shall we know, if we follow on to know the Lord: His going forth is prepared as the morning; and He shall come unto us as the rain, as the latter and former rain unto the earth.’ Hosea 6:3. ‘Be glad then, ye children of Zion, and rejoice in the Lord your God: for He hath given you the former rain moderately, and He will cause to come down for you the rain, the former rain, and the latter rain.’ Joel 2:23. ‘In the last days, saith God, I will pour out of My Spirit upon all flesh.’ ‘And it shall come to pass, that whosoever shall call on the name of the Lord shall be saved.’ Acts 2:17, 21.
“Công việc ấy sẽ tương tự như công việc trong Ngày Lễ Ngũ Tuần. Như ‘mưa đầu mùa’ đã được ban cho, trong sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh lúc khởi đầu thời kỳ Phúc Âm, để làm cho hạt giống quý báu nảy mầm, thì ‘mưa cuối mùa’ cũng sẽ được ban cho vào lúc kết thúc để làm chín mùa gặt. ‘Bấy giờ chúng ta sẽ biết, nếu chúng ta chuyên tâm nhận biết Đức Giê-hô-va; sự hiện đến của Ngài được sắm sẵn như rạng đông; Ngài sẽ đến cùng chúng ta như mưa, như mưa cuối mùa và mưa đầu mùa trên đất.’ Ô-sê 6:3. ‘Hỡi con cái Si-ôn, hãy vui mừng và hớn hở trong Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; vì Ngài đã ban cho các ngươi mưa đầu mùa cách vừa phải, và sẽ khiến mưa xuống cho các ngươi, mưa đầu mùa và mưa cuối mùa.’ Giô-ên 2:23. ‘Trong những ngày sau rốt, Đức Chúa Trời phán, Ta sẽ đổ Thần Ta trên mọi xác thịt.’ ‘Và hễ ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu.’ Công vụ các Sứ đồ 2:17, 21.”
“The great work of the gospel is not to close with less manifestation of the power of God than marked its opening. The prophecies which were fulfilled in the outpouring of the former rain at the opening of the gospel are again to be fulfilled in the latter rain at its close. Here are ‘the times of refreshing’ to which the apostle Peter looked forward when he said: ‘Repent ye therefore, and be converted, that your sins may be blotted out, when the times of refreshing shall come from the presence of the Lord; and He shall send Jesus.’ Acts 3:19, 20.” The Great Controversy, 611.
“Công cuộc vĩ đại của Phúc Âm sẽ không kết thúc với sự biểu hiện quyền năng của Đức Chúa Trời kém hơn điều đã đánh dấu lúc khai mở của nó. Những lời tiên tri đã được ứng nghiệm trong sự tuôn đổ của mưa đầu mùa vào lúc mở đầu thời kỳ Phúc Âm sẽ lại được ứng nghiệm trong mưa cuối mùa vào lúc kết thúc của nó. Đây là ‘những thời kỳ tươi tỉnh’ mà sứ đồ Phi-e-rơ đã hướng tới khi ông nói: ‘Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, hầu cho tội lỗi mình được xóa đi, đặng những thời kỳ tươi tỉnh đến từ sự hiện diện của Chúa; và Ngài sẽ sai Đức Chúa Jêsus.’ Công vụ 3:19, 20.” Thiện Ác Đấu Tranh, 611.
Pentecost was the "opening" or the "beginning" of the gospel work and the latter rain at the "close" is the "ending." The first represents the last. The first month is identifying the outpouring of the Holy Spirit at the Sunday law.
Lễ Ngũ Tuần là sự “khai mở” hay “khởi đầu” của công cuộc Tin Lành, còn cơn mưa cuối mùa tại lúc “kết thúc” là sự “kết thúc.” Điều thứ nhất tượng trưng cho điều sau cùng. Tháng thứ nhất đang xác định sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh vào thời điểm luật ngày Chúa nhật.
“Not one of us will ever receive the seal of God while our characters have one spot or stain upon them. It is left with us to remedy the defects in our characters, to cleanse the soul temple of every defilement. Then the latter rain will fall upon us as the early rain fell upon the disciples on the Day of Pentecost. …
“Không một ai trong chúng ta sẽ từng nhận được ấn của Đức Chúa Trời khi tính cách của chúng ta còn có một đốm hay một vết nhơ nào. Phần việc còn lại cho chúng ta là phải sửa chữa những khuyết điểm trong tính cách mình, tẩy sạch đền thờ tâm hồn khỏi mọi sự ô uế. Bấy giờ mưa cuối mùa sẽ đổ xuống trên chúng ta như mưa đầu mùa đã đổ xuống trên các môn đồ trong Ngày Lễ Ngũ Tuần. …”
“What are you doing, brethren, in the great work of preparation? Those who are uniting with the world are receiving the worldly mold and preparing for the mark of the beast. Those who are distrustful of self, who are humbling themselves before God and purifying their souls by obeying the truth these are receiving the heavenly mold and preparing for the seal of God in their foreheads. When the decree goes forth and the stamp is impressed, their character will remain pure and spotless for eternity.” Testimonies, volume 5, 214, 216.
“Hỡi anh em, anh em đang làm gì trong công tác chuẩn bị trọng đại này? Những kẻ đang hiệp mình với thế gian thì đang tiếp nhận khuôn mẫu của thế gian và chuẩn bị để nhận dấu của con thú. Còn những người không tin cậy nơi chính mình, đang tự hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời và thanh tẩy linh hồn mình bằng sự vâng phục lẽ thật, thì đang tiếp nhận khuôn mẫu thiên thượng và chuẩn bị để nhận ấn của Đức Chúa Trời trên trán mình. Khi sắc lệnh được ban ra và dấu ấn được đóng vào, thì phẩm cách của họ sẽ vẫn tinh sạch và không tì vết cho đến đời đời.” Testimonies, quyển 5, tr. 214, 216.
The first “month” is the Sunday law, the “hour” of the great earthquake is the Sunday law, the “day” of calamity, recompense and vengeance is the Sunday law and the acceptable “year” is the Sunday law. The one hundred and fifty years of the prophecy of the first woe concludes at the Sunday law, where the three hundred and ninety-one years and fifteen days begins.
“Tháng” thứ nhất là luật ngày Chủ nhật, “giờ” của trận động đất lớn là luật ngày Chủ nhật, “ngày” của tai họa, báo ứng và báo thù là luật ngày Chủ nhật, và “năm” được chấp nhận là luật ngày Chủ nhật. Một trăm năm mươi năm của lời tiên tri về tai vạ thứ nhất chấm dứt tại luật ngày Chủ nhật, nơi ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày bắt đầu.
Saying to the sixth angel which had the trumpet, Loose the four angels which are bound in the great river Euphrates. And the four angels were loosed, which were prepared for an hour, and a day, and a month, and a year, for to slay the third part of men. Revelation 9:14, 15.
Phán cùng vị thiên sứ thứ sáu có ống loa rằng: Hãy thả bốn thiên sứ đang bị trói tại sông lớn Ơ-phơ-rát. Bốn thiên sứ ấy được thả ra, là những vị đã được chuẩn bị sẵn cho giờ, ngày, tháng, và năm ấy, để giết phần ba loài người. Khải Huyền 9:14, 15.
The “four angels” that were “bound in the great river Euphrates” are “loosed” at the hour of the Sunday law. They have been prophetically “prepared” for the hour, day, month and year of the second woe to slay the third part of men. The United States is slain as the sixth kingdom of Bible prophecy at the Sunday law, and the United States is one third of the three fold union that is established at the Sunday law. The second woe is repeated in the third woe, just as the second angel is repeated in the third angel.
Bốn “thiên sứ” đã bị “trói tại sông lớn Euphrates” được “thả ra” vào giờ ban hành luật ngày Chủ nhật. Theo lời tiên tri, họ đã được “chuẩn bị” cho giờ, ngày, tháng và năm của tai vạ thứ hai để giết một phần ba loài người. Hoa Kỳ bị tiêu diệt với tư cách là vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh vào lúc ban hành luật ngày Chủ nhật, và Hoa Kỳ là một phần ba của liên minh ba bên được thiết lập tại thời điểm ban hành luật ngày Chủ nhật. Tai vạ thứ hai được lặp lại trong tai vạ thứ ba, cũng như thiên sứ thứ hai được lặp lại trong thiên sứ thứ ba.
Those four winds were released at 9/11, marking the beginning of the sealing of the one hundred and forty-four thousand, and immediately thereafter restrained. When those represented in Isaiah sixty-one who mourn are comforted, they are comforted with the full out pouring of the Comforter at the Sunday law, which is also the “hour” of the great earthquake. Those who mourn in the acceptable year, are the very same who are mourning in Ezekiel nine who receive the seal of God. Jesus began His ministry by citing Isaiah sixty-one, and Sister White aligns His pronouncement with our work.
Bốn ngọn gió ấy đã được thả ra vào biến cố 11/9, đánh dấu sự khởi đầu của việc đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn ngàn người, và ngay sau đó lại bị ngăn giữ. Khi những người được tiêu biểu trong Ê-sai sáu mươi mốt là những kẻ than khóc được yên ủi, thì họ được yên ủi bằng sự tuôn đổ trọn vẹn của Đấng Yên Ủi vào lúc luật ngày Chủ nhật, cũng là “giờ” của trận động đất lớn. Những người than khóc trong năm được nhậm, chính là những người đang than khóc trong Ê-xê-chi-ên chín, là những người nhận lãnh ấn của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Jêsus đã bắt đầu chức vụ của Ngài bằng cách trích dẫn Ê-sai sáu mươi mốt, và Chị White đặt lời tuyên bố của Ngài song song với công việc của chúng ta.
“Christ announced his mission to the world when, in the synagogue at Nazareth, he read from the prophecy of Isaiah: ‘The Spirit of the Lord is upon me, because he hath anointed me to preach the Gospel to the poor; he hath sent me to heal the broken-hearted, to preach deliverance to the captives, and recovering of sight to the blind, to set at liberty them that are bruised, to preach the acceptable year of the Lord.’ What a work was before him!—To preach the acceptable year of the Lord. This period embraces age after age, extends from century to century, while probation shall last. God is waiting to hear the asking and knocking; watching to see humanity draw nigh unto him, who alone can help us. He longs to forgive their sins, to receive them as his own. He will receive every contrite soul who comes to him; for it was to do this work that God anointed his only-begotten Son.
“Đấng Christ đã công bố sứ mạng của Ngài cho thế gian khi, trong hội đường tại Na-xa-rét, Ngài đọc từ lời tiên tri của Ê-sai: ‘Thần của Chúa ngự trên ta, vì Ngài đã xức dầu cho ta để rao giảng Tin Lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta chữa lành những tấm lòng tan vỡ, công bố sự giải cứu cho kẻ bị cầm tù, và sự sáng mắt lại cho người mù, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, rao giảng năm đẹp lòng Chúa.’ Một công việc lớn lao biết bao ở trước mặt Ngài!—Rao giảng năm đẹp lòng Chúa. Thời kỳ này bao trùm hết đời này sang đời khác, kéo dài từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, chừng nào thời gian thử thách còn kéo dài. Đức Chúa Trời đang chờ đợi để nghe lời cầu xin và tiếng gõ cửa; chăm xem liệu loài người có đến gần Ngài, là Đấng duy nhất có thể giúp chúng ta, hay không. Ngài tha thiết muốn tha thứ tội lỗi của họ, tiếp nhận họ như thuộc riêng về Ngài. Ngài sẽ tiếp nhận mọi linh hồn ăn năn thống hối đến cùng Ngài; vì chính để làm công việc này mà Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Con độc sanh của Ngài.”
“But why did not Christ finish the statement recorded in Isaiah? Why did he omit the clause, ‘and the day of vengeance of our God’? The latter portion of this sentence was just as much truth as the first part; and Christ did not deny the truth by his silence, by withholding a portion of his own words given to his chosen prophet. But this last clause was that upon which his hearers delighted to dwell, and which they were inclined to practice, pronouncing judgment upon all who were not of their religious faith. Instead of giving to the people words of truth and righteousness and forgiveness, they had taught them that God hated all the heathen world. The paternal character of God had been misrepresented, and buried beneath human traditions. Signs of the Times, January 14, 1897.
“Nhưng tại sao Đấng Christ đã không hoàn tất lời phán được chép trong Ê-sai? Tại sao Ngài đã bỏ qua mệnh đề, ‘và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta’? Phần sau của câu này cũng là lẽ thật chẳng kém gì phần đầu; và Đấng Christ đã không phủ nhận lẽ thật ấy bởi sự im lặng của Ngài, bởi việc giữ lại một phần chính những lời của Ngài đã ban cho vị tiên tri được Ngài chọn. Nhưng mệnh đề cuối này lại chính là điều mà những người nghe Ngài thích suy tưởng đến, và là điều họ có khuynh hướng thực hành, khi tuyên án phán xét trên tất cả những ai không cùng đức tin tôn giáo với họ. Thay vì ban cho dân sự những lời chân lý, công bình, và sự tha thứ, họ đã dạy dân sự rằng Đức Chúa Trời ghét toàn thể thế giới ngoại bang. Bản tính phụ tử của Đức Chúa Trời đã bị trình bày sai lạc, và bị chôn vùi dưới các truyền thống loài người. Signs of the Times, January 14, 1897.
“The mission of the people of God in this age is outlined in the words of inspiration that describe the work of the Messiah: ‘The spirit of the Lord God is upon me, because the Lord hath anointed me to preach good tidings unto the meek; he hath sent me to heal the brokenhearted, to proclaim liberty to the captives, and the opening of the prison to them that are bound; to proclaim the acceptable year of the Lord, and the day of vengeance of our God; to comfort all that mourn, to appoint unto them that mourn in Zion, to give unto them beauty for ashes, the oil of joy for mourning, the garment of praise for the spirit of heaviness; that they might be called trees of righteousness, the planting of the Lord, that he might be glorified.’
“Sứ mạng của dân sự Đức Chúa Trời trong thời đại này được vạch rõ trong những lời được soi dẫn mô tả công việc của Đấng Mê-si: ‘Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta, vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta để rao truyền tin lành cho những kẻ nhu mì; Ngài đã sai ta đến để chữa lành những tấm lòng tan vỡ, để công bố sự tự do cho những kẻ bị giam cầm, và sự mở cửa ngục cho những kẻ bị trói buộc; để rao báo năm đẹp lòng của Đức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta; để an ủi mọi kẻ than khóc, để định phần cho những kẻ than khóc tại Si-ôn, ban cho họ mão hoa thay tro bụi, dầu vui mừng thay sự than khóc, áo ngợi khen thay tâm thần nặng nề; hầu cho họ được gọi là cây công bình, là sự trồng của Đức Giê-hô-va, để Ngài được vinh hiển.’”
“‘And they shall build up the old wastes, they shall raise up the former desolations, and they shall repair the waste cities, the desolations of many generations.’” Lake Union Herald, November 11, 1908.
“‘Và họ sẽ xây dựng lại những nơi hoang tàn xưa cũ, họ sẽ dựng lại những cảnh điêu tàn thuở trước, và họ sẽ tu bổ các thành bị hoang phế, những nơi điêu tàn qua nhiều thế hệ.’” Lake Union Herald, ngày 11 tháng 11 năm 1908.
Before we proceed further into the repetition of the second woe in the third woe, we should remind ourselves that the message is to be understood by bringing “line upon line.” This identifies that every “hour,” “day,” “month” and “year” in the inspired word that fits the context of the Sunday law is also to be applied to the preparation of Islam striking at the Sunday law.
Trước khi chúng ta tiến xa hơn vào sự lặp lại của tai vạ thứ hai trong tai vạ thứ ba, chúng ta nên tự nhắc mình rằng sứ điệp ấy phải được hiểu bằng cách đem “dòng này thêm dòng kia.” Điều này xác định rằng mọi “giờ,” “ngày,” “tháng” và “năm” trong lời được soi dẫn, phù hợp với bối cảnh của luật ngày Chủ nhật, cũng phải được áp dụng cho sự chuẩn bị của Hồi giáo trong việc giáng đòn vào luật ngày Chủ nhật.
As an example: the word “hour” is only found in one book of the Old Testament, and that book is the book of Daniel. In Daniel “hour” is mentioned five times.
Lấy thí dụ: từ “giờ” chỉ được tìm thấy trong một sách duy nhất của Cựu Ước, và sách đó là sách Đa-ni-ên. Trong sách Đa-ni-ên, từ “giờ” được nhắc đến năm lần.
And whoso falleth not down and worshippeth shall the same hour be cast into the midst of a burning fiery furnace. … Now if ye be ready that at what time ye hear the sound of the cornet, flute, harp, sackbut, psaltery, and dulcimer, and all kinds of music, ye fall down and worship the image which I have made; well: but if ye worship not, ye shall be cast the same hour into the midst of a burning fiery furnace; and who is that God that shall deliver you out of my hands? Daniel 3:6, 15.
Và hễ ai không sấp mình xuống mà thờ lạy thì ngay trong giờ ấy sẽ bị quăng vào giữa lò lửa hực cháy. … Nay nếu các ngươi đã sẵn sàng, thì đến lúc các ngươi nghe tiếng kèn, sáo, đàn hạc, đàn tam thập lục, đàn tam giác, và đủ mọi thứ âm nhạc, các ngươi hãy sấp mình xuống mà thờ lạy pho tượng mà ta đã dựng nên; thì tốt: nhưng nếu các ngươi không thờ lạy, thì ngay trong giờ ấy các ngươi sẽ bị quăng vào giữa lò lửa hực cháy; và thần nào là thần có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta? Đa-ni-ên 3:6, 15.
Sister White repeatedly applies Daniel three, and therefore “the same hour” to the Sunday law. In Daniel chapter four, Daniel is perplexed for “one hour” as he struggles to explain the coming judgment upon Nebuchadnezzar.
Bà White nhiều lần áp dụng Đa-ni-ên chương ba, và vì vậy cả cụm từ “cùng một giờ ấy” nữa, cho luật ngày Chủ nhật. Trong Đa-ni-ên chương bốn, Đa-ni-ên bối rối trong “một giờ” khi ông vật lộn để giải thích sự phán xét sắp giáng xuống trên Nê-bu-cát-nết-sa.
Then Daniel, whose name was Belteshazzar, was astonied for one hour, and his thoughts troubled him. The king spake, and said, Belteshazzar, let not the dream, or the interpretation thereof, trouble thee. Belteshazzar answered and said, My lord, the dream be to them that hate thee, and the interpretation thereof to thine enemies. Daniel 4:19.
Bấy giờ Đa-ni-ên, tức là Bên-tơ-sát-sa, kinh hãi trong chốc lát, và những ý tưởng người làm cho người bối rối. Vua cất tiếng phán rằng: Hỡi Bên-tơ-sát-sa, chớ để giấc mộng hoặc lời giải nghĩa nó làm ngươi bối rối. Bên-tơ-sát-sa thưa rằng: Chúa tôi ôi, nguyện giấc mộng này ứng cho những kẻ ghét vua, và lời giải nghĩa nó ứng cho các kẻ thù của vua. Đa-ni-ên 4:19.
Daniel is astonished for “one hour” as he seeks to understand how to inform Nebuchadnezzar of his coming judgment. Daniel is representing the messenger of the first angel who announces the “hour” of judgment has come. His prediction is given to Nebuchadnezzar, and a year later the judgment upon Babylon is brought upon Nebuchadnezzar.
Đa-ni-ên kinh ngạc trong “một giờ” khi ông tìm cách hiểu làm thế nào để báo cho Nê-bu-cát-nết-sa biết về sự phán xét sắp đến trên vua. Đa-ni-ên tượng trưng cho sứ giả của vị thiên sứ thứ nhất, là vị công bố rằng “giờ” phán xét đã đến. Lời tiên báo của ông được ban cho Nê-bu-cát-nết-sa, và một năm sau, sự phán xét giáng trên Ba-by-lôn được giáng trên Nê-bu-cát-nết-sa.
The same hour was the thing fulfilled upon Nebuchadnezzar: and he was driven from men, and did eat grass as oxen, and his body was wet with the dew of heaven, till his hairs were grown like eagles’ feathers, and his nails like birds’ claws. Daniel 4:33.
Ngay trong giờ ấy, điều đó đã ứng nghiệm trên Nê-bu-cát-nết-sa: ông bị đuổi khỏi loài người, ăn cỏ như bò, thân thể bị sương trời thấm ướt, cho đến khi tóc ông mọc dài như lông chim ưng, và móng tay ông như vuốt chim. Đa-ni-ên 4:33.
Daniel is predicting the soon-coming Sunday law, and when it arrives it is the “hour” of judgment upon Babylon. Both “hours” are identifying the Sunday law, which is the hour of the great earthquake. Nebuchadnezzar is the alpha and Belshazzar is the omega of the story of Babylon, and Belshazzar is slain in the very night that the hand writing came upon the wall.
Đa-ni-ên đang tiên báo luật ngày Chủ nhật sắp đến, và khi nó đến thì đó là “giờ” phán xét trên Ba-by-lôn. Cả hai “giờ” đều xác định luật ngày Chủ nhật, tức là giờ của cơn động đất lớn. Nê-bu-cát-nết-sa là alpha và Bên-xát-sa là omega của câu chuyện về Ba-by-lôn, và Bên-xát-sa bị giết ngay trong chính đêm mà chữ viết bởi bàn tay hiện ra trên tường.
In the same hour came forth fingers of a man’s hand, and wrote over against the candlestick upon the plaster of the wall of the king’s palace: and the king saw the part of the hand that wrote. Daniel 5:5.
Ngay trong giờ ấy, những ngón tay của một bàn tay người hiện ra, và viết đối diện chân đèn trên lớp vữa của tường cung điện nhà vua; và vua thấy phần bàn tay đã viết. Đa-ni-ên 5:5.
The “same hour” the writing came upon the wall identifies when the written Sunday law destroys the “wall” of separation of church and state at the Sunday law, and then Babylon ended as does the United States as the sixth kingdom of Bible prophecy. As the sixth kingdom the United States is the power who reigns for seventy symbolic years in Isaiah twenty-three when the whore of Tyre is forgotten. The kingdom or king that Isaiah refers to are the days of seventy years and the kingdom that reigned for seventy years in Bible prophecy was Babylon. The fall of Belshazzar’s Babylon typifies the fall of the United States, at the Sunday law, where the handwriting upon the wall aligns with the speaking as a dragon of Revelation thirteen.
“Chính giờ ấy” khi hàng chữ hiện ra trên tường xác định thời điểm luật ngày Chủ nhật bằng văn tự phá hủy “bức tường” phân cách giữa hội thánh và nhà nước tại luật ngày Chủ nhật, và rồi Babylon chấm dứt, cũng như Hoa Kỳ chấm dứt với tư cách là vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh. Với tư cách là vương quốc thứ sáu, Hoa Kỳ là quyền lực cai trị trong bảy mươi năm biểu tượng trong Ê-sai hai mươi ba, khi gái điếm của Ty-rơ bị lãng quên. Vương quốc hay vua mà Ê-sai nói đến là những ngày của bảy mươi năm, và vương quốc đã cai trị trong bảy mươi năm trong lời tiên tri Kinh Thánh là Babylon. Sự sụp đổ của Babylon dưới thời Bên-xát-sa tiêu biểu cho sự sụp đổ của Hoa Kỳ, tại luật ngày Chủ nhật, nơi hàng chữ trên tường tương ứng với việc nói như con rồng trong Khải Huyền mười ba.
In Revelation eighteen the judgment upon Babylon begins at the Sunday law in verse four when the second voice identifies that her judgment comes in one hour and also in one day.
Trong Khải Huyền đoạn mười tám, sự phán xét trên Ba-by-lôn bắt đầu tại luật ngày Chủ nhật trong câu bốn, khi tiếng phán thứ hai xác định rằng sự phán xét của nó đến trong một giờ và cũng trong một ngày.
And I heard another voice from heaven, saying, Come out of her, my people, that ye be not partakers of her sins, and that ye receive not of her plagues. For her sins have reached unto heaven, and God hath remembered her iniquities. Reward her even as she rewarded you, and double unto her double according to her works: in the cup which she hath filled fill to her double. How much she hath glorified herself, and lived deliciously, so much torment and sorrow give her: for she saith in her heart, I sit a queen, and am no widow, and shall see no sorrow. Therefore shall her plagues come in one day, death, and mourning, and famine; and she shall be utterly burned with fire: for strong is the Lord God who judgeth her. And the kings of the earth, who have committed fornication and lived deliciously with her, shall bewail her, and lament for her, when they shall see the smoke of her burning, Standing afar off for the fear of her torment, saying, Alas, alas, that great city Babylon, that mighty city! for in one hour is thy judgment come. Revelation 18:4–10.
Và tôi nghe một tiếng khác từ trời phán rằng: Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, hầu cho các ngươi không dự phần vào tội lỗi nó, và hầu cho các ngươi không chịu các tai vạ của nó. Vì tội lỗi nó đã chất cao đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến những sự gian ác của nó. Hãy báo trả nó như chính nó đã báo trả các ngươi, và hãy báo trả cho nó gấp đôi theo các việc nó đã làm; trong chén mà nó đã rót, hãy rót cho nó gấp đôi. Nó đã tự tôn vinh mình và sống xa hoa chừng nào, thì hãy cho nó sự đau đớn và tang tóc chừng ấy; vì trong lòng nó nói rằng: Ta ngồi làm nữ vương, ta không phải là góa phụ, và sẽ chẳng bao giờ thấy sự đau buồn. Vậy nên, trong một ngày, các tai vạ nó sẽ đến, nào sự chết, sự than khóc, và nạn đói; và nó sẽ bị lửa thiêu hủy hoàn toàn; vì mạnh thay là Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng xét đoán nó. Các vua trên đất, là những kẻ đã phạm sự gian dâm và sống xa hoa với nó, sẽ khóc than và than vãn về nó, khi họ thấy khói của sự cháy nó, đứng xa xa vì sợ sự đau đớn của nó, mà rằng: Khốn thay, khốn thay, thành lớn Ba-by-lôn kia, thành quyền thế kia! Vì trong một giờ, sự đoán phạt ngươi đã đến. Khải Huyền 18:4–10.
Clearly the progressive judgment upon Babylon begins at the Sunday law of verse four when God’s other flock is called out of Babylon. John identifies the time of her judgment as both a “day” and “hour,” confirming that the symbols of time are to be understood symbolically.
Rõ ràng, sự phán xét tiến triển giáng trên Ba-by-lôn bắt đầu từ luật ngày Chủ nhật ở câu bốn, khi bầy chiên khác của Đức Chúa Trời được kêu gọi ra khỏi Ba-by-lôn. Giăng xác định thời điểm của sự phán xét nó vừa là một “ngày” vừa là một “giờ,” qua đó xác nhận rằng các biểu tượng về thời gian phải được hiểu theo ý nghĩa biểu tượng.
Passover was to be kept in the first month, and Passover aligns with the cross, which in turn aligns with the Sunday law.
Lễ Vượt Qua phải được cử hành vào tháng thứ nhất, và Lễ Vượt Qua tương ứng với thập tự giá, điều này đến lượt nó tương ứng với luật ngày Chủ nhật.
And the Lord spake unto Moses and Aaron in the land of Egypt, saying, This month shall be unto you the beginning of months: it shall be the first month of the year to you. Speak ye unto all the congregation of Israel, saying, In the tenth day of this month they shall take to them every man a lamb, according to the house of their fathers, a lamb for an house: And if the household be too little for the lamb, let him and his neighbour next unto his house take it according to the number of the souls; every man according to his eating shall make your count for the lamb. Your lamb shall be without blemish, a male of the first year: ye shall take it out from the sheep, or from the goats: And ye shall keep it up until the fourteenth day of the same month: and the whole assembly of the congregation of Israel shall kill it in the evening. Exodus 12:1–6.
Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn trong xứ Ê-díp-tô rằng: Tháng nầy sẽ là tháng khởi đầu các tháng cho các ngươi; nó sẽ là tháng thứ nhất trong năm cho các ngươi. Hãy nói cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Đến ngày mười tháng nầy, mỗi người phải bắt một chiên con, tùy theo nhà tổ phụ mình, một con cho mỗi nhà. Nếu nhà nào ít người quá, không đủ dùng một con chiên, thì người ấy và người lân cận gần nhà mình sẽ bắt chung một con, tùy theo số người; các ngươi sẽ tính cho con chiên theo sức ăn của mỗi người. Chiên con của các ngươi phải không tì vít, là con đực được một tuổi; các ngươi phải bắt nó từ bầy chiên hoặc bầy dê. Các ngươi phải giữ nó cho đến ngày mười bốn của tháng nầy; rồi cả hội chúng của dân Y-sơ-ra-ên sẽ giết nó vào lúc chiều tối. Xuất Ê-díp-tô Ký 12:1–6.
Passover was the beginning of the Pentecostal season, and it therefore typifies Pentecost, which in turn aligns with the Sunday law. The tabernacle was reared up on the first day of the first month, thus typifying the raising up of the church triumphant as an ensign at the Sunday law. The “hour,” “day,” “month” and “year” of the second woe is identifying the Sunday law, and line upon line each of those expressions of time align with the Sunday law when the context agrees. At the Sunday law, the second period of papal persecution begins, the first being the 1,260 years that brought about the martyrs of that period crying to the Lord in the fifth seal with the question of “how long,” until the papal power would be judged. In the second papal blood bath Jesus has informed His people that they need not worry about what they will say when persecuted.
Lễ Vượt Qua là sự khởi đầu của mùa Ngũ Tuần, vì vậy nó là hình bóng của Lễ Ngũ Tuần, và đến lượt mình, điều này tương ứng với luật ngày Chúa nhật. Đền tạm được dựng lên vào ngày thứ nhất của tháng thứ nhất, do đó tượng trưng cho sự dấy lên của hội thánh đắc thắng như một cờ hiệu tại luật ngày Chúa nhật. “Giờ”, “ngày”, “tháng” và “năm” của tai vạ thứ hai đang xác định luật ngày Chúa nhật, và từng hàng một, mỗi cách diễn đạt thời gian ấy đều tương ứng với luật ngày Chúa nhật khi văn mạch phù hợp. Tại luật ngày Chúa nhật, giai đoạn thứ hai của sự bắt bớ do giáo hoàng khởi sự bắt đầu; giai đoạn thứ nhất là 1.260 năm đã dẫn đến việc các vị tử đạo của thời kỳ ấy kêu cầu cùng Chúa trong ấn thứ năm với câu hỏi “cho đến chừng nào”, cho tới khi quyền lực giáo hoàng bị phán xét. Trong cuộc tắm máu thứ hai do giáo hoàng gây ra, Đức Chúa Jêsus đã phán bảo dân sự Ngài rằng họ không cần phải lo lắng về điều mình sẽ nói khi bị bắt bớ.
But when they shall lead you, and deliver you up, take no thought beforehand what ye shall speak, neither do ye premeditate: but whatsoever shall be given you in that hour, that speak ye: for it is not ye that speak, but the Holy Ghost. Mark 13:11.
Nhưng khi người ta điệu các ngươi đi và nộp các ngươi, thì chớ lo trước về điều mình sẽ nói, cũng đừng suy tính trước; song trong giờ đó, hễ điều gì được ban cho các ngươi, thì hãy nói điều ấy: vì chẳng phải chính các ngươi nói, mà là Đức Thánh Linh. Mác 13:11.
In the first woe men were tormented for one hundred and fifty years. Those years began on July 27, 1299 and ended on July 27, 1449 when the four angels released the four winds that had been prepared for the hour, day, month, and year, for to slay a third part of men. The period of torment represents the period of the setting up of the image of the beast in the United States. That period is the fifteen days represented in Leviticus twenty-three from the feast of trumpets to Pentecost. The period of the formation of the image of the beast is from 9/11 unto the Sunday law, but the period of the proclamation of the message of the midnight cry is a fractal of the image of the beast formation from 9/11 unto the Sunday law.
Trong tai nạn thứ nhất, loài người đã bị hành hạ trong một trăm năm mươi năm. Những năm ấy bắt đầu vào ngày 27 tháng 7 năm 1299 và chấm dứt vào ngày 27 tháng 7 năm 1449, khi bốn thiên sứ thả ra bốn luồng gió đã được chuẩn bị cho giờ, ngày, tháng và năm, để giết một phần ba loài người. Thời kỳ bị hành hạ ấy tiêu biểu cho thời kỳ dựng lên hình tượng của con thú tại Hoa Kỳ. Thời kỳ đó là mười lăm ngày được trình bày trong Lê-vi Ký hai mươi ba, từ lễ thổi kèn đến Ngũ Tuần. Thời kỳ hình thành hình tượng của con thú là từ 9/11 cho đến luật ngày Chủ nhật, nhưng thời kỳ công bố sứ điệp của tiếng kêu lúc nửa đêm là một phân dạng của sự hình thành hình tượng của con thú từ 9/11 cho đến luật ngày Chủ nhật.
The beginning and ending of the sealing are also the alpha and omega of the image of the beast formation. One class is forming a character for the seal of God; the other is forming an image of the beast. That period in the United States aligns with the same period in the world that begins at the Sunday law. The “month” is a symbol of the torment that forces the setting up of the image, so the month at the Sunday law as represented by verse fifteen in Revelation nine also represents the Islamic torment during the setting up of the image of the beast in the world.
Sự khởi đầu và kết thúc của công việc đóng ấn cũng là alpha và omega của sự hình thành hình tượng con thú. Một hạng người đang hình thành phẩm tính để nhận lấy ấn của Đức Chúa Trời; hạng kia đang hình thành hình tượng con thú. Khoảng thời gian ấy tại Hoa Kỳ tương ứng với cùng một khoảng thời gian trong thế giới, bắt đầu từ luật Chủ nhật. “Tháng” là một biểu tượng của sự hành hạ buộc phải dựng nên hình tượng ấy; vì vậy, tháng tại luật Chủ nhật, như được trình bày bởi câu mười lăm trong Khải Huyền 9, cũng tượng trưng cho sự hành hạ của Hồi giáo trong khi hình tượng con thú đang được dựng nên trong thế giới.
There are other prophetic applications of how the prophecy of the second woe, and its hour, day, month and year represent the Sunday law and the release of Islam to strike the United States, but we must proceed on to other points.
Có những sự ứng nghiệm tiên tri khác về cách lời tiên tri của tai vạ thứ hai, cùng giờ, ngày, tháng và năm của nó, tượng trưng cho luật ngày Chúa nhật và việc Hồi giáo được phóng thích để đánh vào Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, nhưng chúng ta phải tiếp tục sang những điểm khác.
In the recent period of time, over the last six months or so I have been emphasizing that Islam of the three woes is prophetically connected with the three angels. From Jacob’s latter day prediction of Judah being the “vine” that is attached to the “ass,” to Christ releasing the ass in advance of His triumphal entry and other lines of Islam of the first and second woe represents the prophetic message that empowered the first and second angel’s messages, and Islam of the third woe represents the prophetic message of the third angel.
Trong thời kỳ gần đây, trong khoảng sáu tháng vừa qua, tôi đã nhấn mạnh rằng Hồi giáo của ba tai họa được kết nối theo tính chất tiên tri với ba thiên sứ. Từ lời tiên đoán về ngày sau rốt của Gia-cốp rằng Giu-đa là “cây nho” được buộc với “con lừa,” cho đến việc Đấng Christ cởi con lừa ra trước cuộc khải hoàn nhập thành của Ngài, cùng những tuyến bằng chứng khác, Hồi giáo của tai họa thứ nhất và thứ hai tượng trưng cho sứ điệp tiên tri đã trao quyền cho các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai, và Hồi giáo của tai họa thứ ba tượng trưng cho sứ điệp tiên tri của thiên sứ thứ ba.
Recently a chapter from a book written by A. T. Jones was referenced and it identifies the same fact, but from a different approach. Jones uses the grammar and the structure of Revelation to show how it is impossible to separate the last three woe trumpets from the three angels’ messages. He is emphasizing that the first angel cannot be separated from the second, and that the third cannot be separated from the previous two. Jones’ focus is on the three angels and while he makes his case about the inseparable relationship of the three angels, he proves by the very same logic that neither can the trumpets of Revelation nine be separated from the three angels of Revelation fourteen. We will close this article with Jones’ chapter.
Gần đây, một chương trong cuốn sách do A. T. Jones viết đã được trích dẫn, và chương ấy xác nhận cùng một sự kiện đó, nhưng từ một cách tiếp cận khác. Jones sử dụng ngữ pháp và cấu trúc của sách Khải Huyền để cho thấy rằng không thể tách riêng ba tiếng kèn khốn nạn cuối cùng khỏi sứ điệp của ba thiên sứ. Ông nhấn mạnh rằng thiên sứ thứ nhất không thể bị tách khỏi thiên sứ thứ hai, và thiên sứ thứ ba không thể bị tách khỏi hai thiên sứ trước. Trọng tâm của Jones là ba thiên sứ, và trong khi ông biện luận về mối quan hệ không thể phân ly của ba thiên sứ, thì chính bằng cùng một lô-gic ấy, ông chứng minh rằng những tiếng kèn trong Khải Huyền đoạn chín cũng không thể bị tách khỏi ba thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười bốn. Chúng ta sẽ kết thúc bài viết này bằng chương của Jones.
CHAPTER XI. THE THIRD ANGEL'S MESSAGE
CHƯƠNG XI. SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN SỨ THỨ BA
“THE answer to that important question for today, ‘What shall we do?’ can be given with certainty upon the basis of the Seven Trumpets and the place of the great nations of today; because the answer is given by the word of God, upon this very basis.
“Câu trả lời cho câu hỏi quan trọng của thời nay, ‘Chúng ta phải làm gì?’ có thể được đưa ra cách chắc chắn trên cơ sở Bảy Tiếng Kèn và vị trí của các cường quốc lớn ngày nay; vì câu trả lời ấy được ban cho bởi lời Đức Chúa Trời, chính trên nền tảng này.
“We have seen that inseparably connected with the last three of the Seven Trumpets, are the Three Woes. In the very midst of the Seven Trumpets—after the ending of the Fourth Trumpet, and before the beginning of the Fifth Trumpet—it is written: ‘And I beheld, and heard an angel flying through the midst of heaven, saying with a loud voice, Woe, woe, woe, to the inhabiters of the earth by reason of the other voices of the trumpet of the three angels which are yet to sound.’ Revelation 8:13.
“Chúng ta đã thấy rằng gắn bó không thể tách rời với ba chiếc Kèn cuối cùng trong Bảy Kèn, là Ba Tai Họa. Ngay chính giữa Bảy Kèn—sau khi Kèn Thứ Tư chấm dứt, và trước khi Kèn Thứ Năm bắt đầu—có chép rằng: ‘Tôi nhìn xem, và nghe một thiên sứ bay giữa trời, lớn tiếng nói rằng: Khốn, khốn, khốn cho những kẻ ở trên đất, vì những tiếng kèn còn lại của ba thiên sứ sắp thổi.’ Khải Huyền 8:13.”
“That the Three Woes are inseparably connected with the last three of the Seven Trumpets, one with each, is put beyond all question by the fact that, when the Fifth Angel’s sounding is ended, it is written: ‘One woe is past; and, behold, there come two woes more hereafter.’ Revelation 9:12. And when the Sixth trumpet is ended, it is written: ‘The second woe is past; and, behold, the third woe cometh quickly. And the seventh angel sounded.’ Revelation 11:15.
“Rằng Ba Khốn Thay gắn liền không thể tách rời với ba tiếng cuối trong Bảy Tiếng Kèn, mỗi khốn thay ứng với một tiếng, là điều vượt quá mọi sự nghi ngờ bởi thực tế rằng, khi việc thổi kèn của Thiên sứ thứ Năm chấm dứt, có chép rằng: ‘Một khốn thay đã qua; và, này, còn hai khốn thay nữa sẽ đến sau đây.’ Khải Huyền 9:12. Và khi tiếng kèn thứ Sáu chấm dứt, có chép rằng: ‘Khốn thay thứ hai đã qua; và, này, khốn thay thứ ba đến mau chóng. Rồi vị thiên sứ thứ bảy thổi kèn.’ Khải Huyền 11:15.”
“Now, inseparably connected with this angel which proclaims the coming of the Three Woes, which are inseparably connected with the last three of the Seven Trumpets, is the ‘Third Angel’ of Revelation 14.
“Giờ đây, gắn bó không thể tách rời với thiên sứ này—đấng công bố sự giáng đến của Ba Sự Khốn, là những điều gắn liền không thể tách rời với ba tiếng kèn cuối cùng trong Bảy Tiếng Kèn—chính là ‘Thiên Sứ Thứ Ba’ trong Khải Huyền 14.
“That this may be seen as also certain beyond all question, let us begin with the Third Angel’s Message of Revelation 14, and trace backward its direct connections to their beginning.
“Để điều này cũng có thể được thấy là chắc chắn, vượt khỏi mọi nghi vấn, chúng ta hãy bắt đầu với sứ điệp của Thiên sứ thứ ba trong Khải Huyền 14, và lần ngược trở lại những mối liên hệ trực tiếp của nó đến tận điểm khởi đầu.
“The first words in the record concerning ‘the Third Angel’ are: ‘And the third angel followed them.’ Revelation 14:9. This shows that some have gone before, whom the Third Angel ‘followed.’
“Những lời đầu tiên trong bản ký thuật liên quan đến ‘Thiên sứ thứ ba’ là: ‘Và vị thiên sứ thứ ba tiếp theo sau họ.’ Khải Huyền 14:9. Điều này cho thấy đã có những vị đi trước, và Thiên sứ thứ ba đã ‘theo sau’ họ.”
“Take, then, the preceding verse: ‘And there followed another angel.’ This shows that an angel has also preceded this one, which, when this one follows, makes it ‘another.’
“Vậy, hãy lấy câu trước đó: ‘Và có một thiên sứ khác theo sau.’ Điều này cho thấy rằng cũng đã có một thiên sứ đi trước thiên sứ này; và khi thiên sứ này theo sau, thì nó trở thành ‘một thiên sứ khác.’”
“Go back now to the sixth verse: ‘And I saw another angel.’ This also certifies that an angel has gone before, which causes this one, as he flies in the midst of heaven, to be ‘another.’
“Hãy trở lại câu thứ sáu: ‘Và tôi thấy một thiên sứ khác.’ Điều này cũng xác chứng rằng đã có một thiên sứ đi trước, khiến vị này, khi bay giữa trời, trở thành ‘một thiên sứ khác.’”
“Following back further in the book of Revelation, we find no angel, except the Seventh Trumpet angel, until we come to the first verse of chapter ten; and there we read: ‘And I saw another mighty angel.’ This expression, as before, certifies that, before this one, there is an angel, which, when this one comes forth, causes him to be spoken of as ‘another.’
“Lần ngược trở lại xa hơn trong sách Khải Huyền, chúng ta không thấy thiên sứ nào, ngoại trừ thiên sứ của Kèn thứ Bảy, cho đến khi đến câu thứ nhất của chương mười; và tại đó chúng ta đọc: ‘Và tôi thấy một thiên sứ mạnh sức khác.’ Cách diễn đạt này, như trước đây, xác nhận rằng trước vị này có một thiên sứ, và khi vị này xuất hiện, điều đó khiến người được nói đến như là ‘một vị khác.’”
“Following yet further back, we find no angels, except the Sixth and the Fifth Trumpet angels, until we reach the last verse of chapter eight; and there we reach the primal, for we read: ‘And I beheld, and heard an angel’—not ‘another angel,’ but, primarily, ‘an angel.’
“Lần theo ngược xa hơn nữa, chúng ta không thấy thiên sứ nào, ngoại trừ các thiên sứ của Kèn thứ Sáu và Kèn thứ Năm, cho đến khi đến câu cuối của chương tám; và tại đó chúng ta chạm đến điểm khởi nguyên, vì chúng ta đọc rằng: ‘Và tôi nhìn xem, và nghe một thiên sứ’—không phải ‘một thiên sứ khác,’ nhưng, theo nghĩa nguyên thủy, là ‘một thiên sứ.’”
“Thus, beginning with Revelation 8:13, there is an unbroken series of angels connected by the word ‘another,’ straight through to the Third Angel of Revelation 14, with his message. Thus:
“Vì vậy, bắt đầu từ Khải Huyền 8:13, có một chuỗi không gián đoạn các thiên sứ được nối kết với nhau bởi từ ‘một vị khác,’ kéo dài liên tục cho đến Thiên sứ Thứ Ba trong Khải Huyền 14, cùng với sứ điệp của vị ấy. Như sau:”
“‘I beheld, and heard an angel." Revelation 8:13.
“‘Tôi nhìn xem, và nghe một thiên sứ.’ Khải Huyền 8:13.
“‘And I saw another mighty angel.’ Revelation 10:1.
“‘Và tôi thấy một thiên sứ mạnh mẽ khác.’ Khải Huyền 10:1.”
“‘And I saw another angel.’ Revelation 14:6.
“‘Và tôi thấy một thiên sứ khác.’ Khải Huyền 14:6.
“‘And there followed another angel.’ Verse 8.
“‘Và có một vị thiên sứ khác tiếp theo.’ Câu 8.
“‘And the third angel followed them.’ Verse 9.
“‘Và vị thiên sứ thứ ba theo sau họ.’ Câu 9.
“Perhaps the following simple diagram will aid in making plain the connection between the angel that announces the Three Woes of the last three of the Seven Trumpets, and the Third Angel’s Message of Revelation 14:
“Có lẽ sơ đồ đơn giản sau đây sẽ giúp làm sáng tỏ mối liên hệ giữa thiên sứ công bố Ba Khốn Nạn của ba tiếng Kèn cuối cùng trong Bảy Tiếng Kèn, và Sứ Điệp của Thiên Sứ Thứ Ba trong Khải-huyền 14:
“1st Trumpet Revelation 8:7
“Kèn thứ nhất Khải Huyền 8:7”
“2nd Trumpet Revelation 8:8
“Kèn thứ hai Khải Huyền 8:8”
“3rd Trumpet Revelation 8:10
“Kèn Thứ Ba Khải Huyền 8:10”
“4th Trumpet Revelation 8:12 ‘An angel’—Woe, woe, woe. Revelation 8:13.
“Kèn Thứ Tư Khải Huyền 8:12 ‘một thiên sứ’—Khốn thay, khốn thay, khốn thay. Khải Huyền 8:13.
“5th Trumpet Revelation 9:1–11/ First Woe
“Kèn Thứ Năm Khải Huyền 9:1–11 / Tai Họa Thứ Nhất”
“6th Trumpet Revelation 9:13 to 11:13 Second Woe ‘Another mighty angel.’ Revelation 10:1
“Kèn thứ sáu Khải Huyền 9:13 đến 11:13 Tai họa thứ hai ‘Một thiên sứ mạnh mẽ khác.’ Khải Huyền 10:1”
“7th Trumpet Revelation 11:13–19 Third Woe ‘Another angel. Revelation 14:6
“Kèn Thứ Bảy Khải Huyền 11:13–19 Tai Nạn Thứ Ba ‘Một thiên sứ khác. Khải Huyền 14:6”
“‘There followed another.’ Revelation 14:6
“‘Rồi có một vị khác tiếp theo.’ Khải Huyền 14:6”
“‘The third angel followed them.’ Revelation 14:9.
“‘Vị thiên sứ thứ ba tiếp theo họ.’ Khải Huyền 14:9.
“The bearing of all this may now be more fully seen through a consideration of what the Third Angel’s Message really is in itself: On its face the expression ‘the Third Angel,’ clearly has reference to the third in a series of three angels. As already signified, this series of three angels, each one bearing a message, is found in the fourteenth chapter of Revelation, verses 6–12. The messages of these three angels blend and culminate in the third, which does not cease to sound until the harvest of the earth is ripe, and made ready for the coming of the Lord to reap it.
“Ý nghĩa của toàn bộ điều này giờ đây có thể được thấy đầy đủ hơn qua việc xem xét sứ điệp của Thiên sứ thứ Ba thật sự là gì tự thân nó: Xét ngay trên bề mặt, cách diễn đạt ‘Thiên sứ thứ Ba’ rõ ràng ám chỉ vị thứ ba trong một chuỗi gồm ba thiên sứ. Như đã được chỉ ra, chuỗi ba thiên sứ này, mỗi vị đều mang một sứ điệp, được tìm thấy trong chương mười bốn của Khải Huyền, các câu 6–12. Những sứ điệp của ba thiên sứ này hòa quyện với nhau và đạt đến đỉnh điểm trong sứ điệp của vị thứ ba, sứ điệp ấy không ngừng vang lên cho đến khi mùa gặt của đất đã chín muồi, và được chuẩn bị sẵn sàng cho sự đến của Chúa để gặt lấy.”
“The Third Angel's Message itself, as it is announced in the words of the Third Angel, is as follows: ‘And the third angel followed them, saying with a loud voice, If any man worship the beast and his image, and receive his mark in his forehead, or in his hand, the same shall drink of the wine of the wrath of God, which is poured out without mixture into the cup of his indignation; and he shall be tormented with fire and brimstone in the presence of the holy angels, and in the presence of the Lamb: and the smoke of their torment ascendeth up forever and ever: and they have no rest day nor night, who worship the beast and his image, and whosoever receiveth the mark of his name. Here is the patience of the saints: here are they that keep the commandments of God, and the faith of Jesus.’
“Sứ điệp của Thiên sứ thứ ba, chính như được công bố trong lời của Thiên sứ thứ ba, như sau: ‘Và vị thiên sứ thứ ba tiếp theo họ mà cất tiếng lớn nói rằng: Nếu ai thờ lạy con thú và tượng nó, và nhận dấu của nó trên trán mình hoặc trên tay mình, thì chính người ấy sẽ uống rượu thịnh nộ của Đức Chúa Trời, là thứ đã được rót nguyên chất vào chén thịnh nộ của Ngài; và người ấy sẽ bị hành hạ bằng lửa và diêm sinh trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con; và khói của sự đau đớn họ cứ bốc lên đời đời: những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng bất cứ ai nhận dấu của tên nó, đều không có sự yên nghỉ ngày cũng như đêm. Đây là sự nhịn nhục của các thánh đồ: đây là những người vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Đức Chúa Jêsus.’”
“This is the Third Angel’s Message as it stands, separated from the other two. But, in fact, it can not be regarded as separate; and cannot be made to stand apart as if it alone were a single, separate message to the world; for the very first words concerning it are: ‘The Third Angel followed THEM.’ Thus, by the very first words of the message itself we are referred not only to the one, but to the two, which preceded it. And the Greek word translated ‘followed’ signifies not following apart, nor only following, but ‘following with,’ as soldiers follow their captain, or servants their master; therefore, ‘to follow one in a thing; to let one’s self be led.’ When spoken of things, it signifies to follow as a result; to follow ‘as a consequence of something which had gone before.’ Thus, as to persons, the Third Angel follows with the two which have preceded; and his message, as a thing, follows as a result, or consequence, of the which have gone before.
“Đây là sứ điệp của Thiên sứ thứ ba, như khi nó được đặt riêng ra, tách khỏi hai sứ điệp kia. Nhưng, trên thực tế, không thể xem nó là tách biệt; và cũng không thể làm cho nó đứng riêng ra như thể chỉ một mình nó là một sứ điệp đơn lẻ, biệt lập gửi đến thế gian; vì chính những lời đầu tiên nói về nó là: ‘Thiên sứ thứ ba tiếp theo HAI vị ấy.’ Như vậy, ngay bởi những lời đầu tiên của chính sứ điệp này, chúng ta được dẫn chiếu không chỉ đến một, mà đến cả hai vị đã đi trước nó. Và từ Hy Lạp được dịch là ‘tiếp theo’ không có nghĩa là đi theo cách tách rời, cũng không chỉ đơn thuần là đi theo, nhưng là ‘đi theo cùng với,’ như binh lính đi theo vị chỉ huy của mình, hay đầy tớ đi theo chủ mình; bởi đó, là ‘đi theo một người trong một việc; để chính mình được dẫn dắt.’ Khi được dùng về sự vật, từ ấy có nghĩa là đi theo như một kết quả; đi theo ‘như một hệ quả của điều gì đó đã xảy ra trước đó.’ Vì vậy, về phương diện nhân vị, Thiên sứ thứ ba đi theo cùng với hai vị đã đi trước; và sứ điệp của vị ấy, như một sự việc, đi theo như một kết quả, hay hệ quả, của những điều đã đi trước.”
“But of the Second one also it is written: ‘And there followed another angel.’ As with the Third Angel following the Second, so it is with the Second Angel following the First. And of the First one it is written: ‘And I saw another angel fly,’ etc. This is the first in this series of three. There follows with him another; and the Third Angel follows with them. There is a succession in the order of their rise; but, when the three have in succession risen, then they go on together as one. The First one sounds forth his message; the Second one follows and joins with the First; the Third follows them, and joins with them; so that, when the three are joined, and go on together in their united power, they form a mighty, threefold, loud-voiced message. It takes all to make the Third Angel's Message complete; and the Third Angel’s Message cannot be truly given without the giving of all.
“Song cũng có chép về vị thứ Hai rằng: ‘Rồi một vị thiên sứ khác theo sau.’ Cũng như vị Thiên sứ thứ Ba theo sau vị thứ Hai, thì vị Thiên sứ thứ Hai cũng theo sau vị thứ Nhất như vậy. Và về vị thứ Nhất có chép rằng: ‘Và tôi thấy một vị thiên sứ khác bay,’ v.v. Đây là vị thứ nhất trong chuỗi ba vị này. Có một vị khác theo sau người; và vị Thiên sứ thứ Ba theo sau họ. Có một sự tiếp nối theo thứ tự trong sự xuất hiện của họ; nhưng khi cả ba đã lần lượt xuất hiện, thì họ cùng tiến bước như một. Vị thứ Nhất cất lên sứ điệp của mình; vị thứ Hai theo sau và hiệp với vị thứ Nhất; vị thứ Ba theo sau họ, và hiệp với họ; đến nỗi, khi cả ba được hiệp lại và cùng tiến bước trong quyền năng hiệp nhất của mình, họ hợp thành một sứ điệp mạnh mẽ, gấp ba, với tiếng lớn. Cần có tất cả mới làm cho Sứ điệp của Thiên sứ thứ Ba được trọn vẹn; và Sứ điệp của Thiên sứ thứ Ba không thể được rao truyền cách chân thật nếu không rao truyền toàn bộ.”
“What, then, is the threefold message in its respective parts?—Here is the First: ‘And I saw another angel fly in the midst of heaven, having the everlasting gospel to preach unto them that dwell on the earth, and to every nation, and kindred, and tongue, and people, saying with a loud voice, Fear God, and give glory to Him; for the hour of His judgment is come: and worship Him that made heaven, and earth, and the sea, and the fountains of waters.’
“Vậy thì, sứ điệp ba phần ấy là gì trong từng phần tương ứng của nó?—Đây là phần Thứ Nhất: ‘Và tôi thấy một thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời để rao truyền cho những kẻ ở trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi thứ tiếng, và mọi dân tộc, mà rằng lớn tiếng rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến: và hãy thờ phượng Đấng đã dựng nên trời, đất, biển, và các nguồn nước.’”
“Here is the Second: ‘And there followed another angel, saying, Babylon is fallen, is fallen, that great city, because the made all nations drink of the wine of the wrath of her fornication.’
“Đây là Sứ điệp thứ hai: ‘Lại có một thiên sứ khác tiếp theo, nói rằng: Ba-by-lôn đã sụp đổ, đã sụp đổ rồi, thành lớn kia, vì đã làm cho mọi dân tộc uống rượu của cơn thạnh nộ về sự gian dâm của nó.’”
“And here is the Third: ‘And the Third Angel followed them, saying with a loud voice, If any man worship the beast and his image, and receive his mark in his forehead, or in his hand, the same shall drink of the wine of the wrath of God, which is poured out without mixture into the cup of his indignation; and he shall be tormented with fire and brimstone in the presence of the holy angels, and in the presence of the Lamb: and the smoke of their torment ascendeth up forever and ever: and they have no rest day nor night, who worship the Beast and his Image, and whosoever receiveth the mark of his name. Here is the patience of the saints: here are they that keep the commandments of God, and the faith of Jesus.’
“Và đây là Sứ điệp Thứ Ba: ‘Vị Thiên sứ thứ ba theo sau họ mà lớn tiếng rằng: Nếu ai thờ lạy con thú cùng tượng nó, và nhận dấu của nó trên trán mình hoặc trên tay mình, thì kẻ ấy cũng sẽ uống rượu của cơn thịnh nộ Đức Chúa Trời, là thứ đã được rót nguyên chất vào chén phẫn nộ của Ngài; và người ấy sẽ bị hành hạ bằng lửa và diêm sinh trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con; khói của sự hành hạ họ bốc lên đời đời vô cùng; những kẻ thờ lạy Con thú và tượng nó, cùng bất cứ ai nhận dấu tên nó, thì ngày đêm không được yên nghỉ. Đây là sự nhẫn nại của các thánh đồ: đây là những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Đức Chúa Jêsus.’”
“A glance at the wording of each of these messages will discover that thought in the Greek word ‘followed,’ which signifies ‘following as a consequence.’ The First bears the everlasting gospel, to preach to every creature, calling upon all to fear God and give glory to Him, and to worship Him; because the hour of His judgment is come. the rejection of this message produces a condition of things which, as the consequence of such rejection, is described in the words of the Second Angel, which follows. And because of the rejection of the First Message; and because of the consequences of that rejection, as announced in the Second; a condition of things is produced, as a further consequence, which requires that the Third Angel shall follow them, proclaiming with a loud voice his dreadful warning against the terrible evils that have been produced as the double consequence of the rejection of the First Message.
“Chỉ cần nhìn lướt qua cách diễn đạt của từng sứ điệp này cũng sẽ nhận ra ý tưởng nằm trong từ Hy Lạp được dịch là ‘theo sau,’ tức là ‘theo sau như một hệ quả.’ Vị Thứ Nhất mang Tin Lành đời đời để rao giảng cho mọi loài thọ tạo, kêu gọi hết thảy hãy kính sợ Đức Chúa Trời, tôn vinh Ngài, và thờ phượng Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến. Sự khước từ sứ điệp này tạo ra một tình trạng sự việc mà, như hệ quả của sự khước từ ấy, được mô tả trong lời của Vị Thiên Sứ Thứ Hai, là vị theo sau. Và vì sự khước từ Sứ Điệp Thứ Nhất; và vì những hệ quả của sự khước từ ấy, như đã được công bố trong sứ điệp thứ hai; một tình trạng sự việc lại được tạo ra, như một hệ quả tiếp theo, khiến cho Vị Thiên Sứ Thứ Ba phải theo sau họ, lớn tiếng công bố lời cảnh báo ghê gớm của mình chống lại những sự dữ khủng khiếp đã được sản sinh ra như hậu quả kép của việc khước từ Sứ Điệp Thứ Nhất.”
“And that the voice and work of the Third Angel blend with that of the First, is plain from his closing words: ‘Here are they that keep the commandments of God, and the faith of Jesus;’ because this is ever the object of the preaching of the everlasting gospel. It is the substance of fearing God and giving glory to him, and of worshiping ‘him that made heaven, and earth, and the sea, and the fountains of waters.’ The keeping of the commandments of God and the faith of Jesus is the only thing that will enable any soul to stand in the hour of his judgment, which the first angel declares ‘is come.’
“Và rằng tiếng phán và công việc của Thiên sứ thứ ba hòa quyện với tiếng phán và công việc của Thiên sứ thứ nhất, điều ấy được thấy rõ từ những lời kết thúc của vị ấy: ‘Đây là những kẻ giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Đức Chúa Jêsus;’ vì đó luôn luôn là mục tiêu của sự rao giảng Tin Lành đời đời. Ấy là thực chất của việc kính sợ Đức Chúa Trời và dâng vinh hiển cho Ngài, và của việc thờ phượng ‘Đấng đã dựng nên trời, đất, biển và các nguồn nước.’ Việc giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Đức Chúa Jêsus là điều duy nhất sẽ khiến bất cứ linh hồn nào có thể đứng vững trong giờ phán xét của Ngài, mà thiên sứ thứ nhất công bố rằng ‘đã đến.’”
“Immediately following the closing words of the Third Angel is ‘heard a voice from heaven saying unto me, Write, Blessed are the dead which die in the Lord from henceforth’—from this time forward. Revelation 14:13. And immediately following this are the words, ‘And I looked, and behold a white cloud, and upon the cloud one sat like unto the Son of man, having on his head a golden crown, and in his hand a sharp sickle. And another angel came out of the temple, crying with a loud voice to him that sat on the cloud, Thrust in thy sickle, and reap: for the time is come for thee to reap; for the harvest of earth is ripe. And he that sat on the cloud thrust in his sickle on the earth; and the earth was reaped.’ Revelation 14:14–16. And ‘the harvest is the end of the world.’ Matthew 13:39.
“Ngay sau những lời kết thúc của Sứ điệp Thiên sứ thứ ba là lời này: ‘Tôi nghe có tiếng từ trời phán cùng tôi rằng: Hãy chép lấy: Phước cho những kẻ chết trong Chúa từ nay về sau’—tức là từ thời điểm này trở đi. Khải Huyền 14:13. Và ngay tiếp theo đó là những lời: ‘Đoạn tôi nhìn xem, kìa, có một đám mây trắng, và trên đám mây có một Đấng ngồi giống như Con người, đầu đội mão triều thiên vàng, tay cầm lưỡi hái bén. Lại có một thiên sứ khác từ trong đền thờ đi ra, lớn tiếng kêu với Đấng ngồi trên đám mây rằng: Hãy tra lưỡi hái Ngài vào mà gặt đi; vì đã đến giờ gặt, bởi mùa gặt trên đất đã chín rồi. Đấng ngồi trên đám mây bèn tra lưỡi hái mình xuống đất, và đất bị gặt rồi.’ Khải Huyền 14:14–16. Và ‘mùa gặt là ngày tận thế.’ Ma-thi-ơ 13:39.”
“Again: the Third Angel particularly warns all people against the worship of the beast and his image, whatever these may be; and, from Revelation 19:11–21, we find that the beast and his image are ‘alive’ when the Lord comes in the clouds of heaven, and are ‘both’ destroyed with the brightness of his coming.
“Lại nữa: thiên sứ thứ ba đặc biệt cảnh báo mọi người chống lại sự thờ phượng con thú và hình tượng của nó, bất kể chúng có thể là gì; và, từ Khải Huyền 19:11–21, chúng ta thấy rằng con thú và hình tượng của nó vẫn còn ‘sống’ khi Chúa đến trong các đám mây trên trời, và cả ‘hai’ đều bị hủy diệt bởi sự chói sáng của sự hiện đến của Ngài.
“These facts show that the Third Angel’s Message is a mighty, threefold, loud-voiced message, which goes forth to every nation and kindred and tongue and people, just before the second coming of the Lord; and which ripens the harvest of the earth, and makes ready a people prepared for the Lord, just as the message of John the Baptist prepared the way for the first coming of the Lord. And so it is the last, the closing, message of God to the world.
“Những sự kiện này cho thấy rằng Sứ điệp của Thiên sứ Thứ Ba là một sứ điệp hùng mạnh, ba phần, được cất lên bằng tiếng lớn, truyền ra đến mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng và mọi dân, ngay trước sự tái lâm của Chúa; và sứ điệp ấy làm cho mùa gặt của đất chín muồi, đồng thời chuẩn bị một dân sẵn sàng cho Chúa, cũng như sứ điệp của Giăng Báp-tít đã dọn đường cho sự đến lần thứ nhất của Chúa. Vì vậy, đó là sứ điệp cuối cùng, sứ điệp kết thúc, của Đức Chúa Trời gửi đến thế gian.”
“And now, having thus an understanding of what the Third Angel’s Message is in itself, the relation of that message to the great nations of today can be better discerned by a consideration of The Time of the Third Angel’s Message.” A. T. Jones, The Great Nations of Today, 114.
“Và giờ đây, khi đã có được sự hiểu biết như thế về chính sứ điệp của Thiên sứ Thứ Ba là gì, mối liên hệ của sứ điệp ấy với các cường quốc lớn của thời nay có thể được nhận thấy rõ hơn qua việc xem xét Thời Kỳ của Sứ Điệp Thiên sứ Thứ Ba.” A. T. Jones, The Great Nations of Today, 114.