Ezekiel is a priest during the period of the sealing of the one hundred and forty-four thousand. In chapter one Ezekiel is taken into the sanctuary.
Ê-xê-chi-ên là một thầy tế lễ trong thời kỳ niêm ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Trong đoạn một, Ê-xê-chi-ên được đem vào đền thánh.
Now it came to pass in the thirtieth year, in the fourth month, in the fifth day of the month, as I was among the captives by the river of Chebar, that the heavens were opened, and I saw visions of God. In the fifth day of the month, which was the fifth year of king Jehoiachin’s captivity, The word of the Lord came expressly unto Ezekiel the priest, the son of Buzi, in the land of the Chaldeans by the river Chebar; and the hand of the Lord was there upon him.
Vả, xảy đến vào năm thứ ba mươi, tháng tư, ngày mồng năm trong tháng, khi tôi đang ở giữa những kẻ bị phu tù bên sông Kê-ba, thì các tầng trời mở ra, và tôi thấy những khải tượng của Đức Chúa Trời. Ngày mồng năm trong tháng ấy, tức là năm thứ năm kể từ khi vua Giê-hô-gia-chin bị bắt làm phu tù, lời của Đức Giê-hô-va đã đến cách rõ ràng cùng Ê-xê-chi-ên, thầy tế lễ, con trai Bu-xi, tại xứ người Canh-đê bên sông Kê-ba; và tại đó tay của Đức Giê-hô-va ở trên người.
And I looked, and, behold, a whirlwind came out of the north, a great cloud, and a fire infolding itself, and a brightness was about it, and out of the midst thereof as the colour of amber, out of the midst of the fire. Also out of the midst thereof came the likeness of four living creatures. And this was their appearance; they had the likeness of a man. And every one had four faces, and every one had four wings. And their feet were straight feet; and the sole of their feet was like the sole of a calf's foot: and they sparkled like the colour of burnished brass. And they had the hands of a man under their wings on their four sides; and they four had their faces and their wings. Their wings were joined one to another; they turned not when they went; they went every one straight forward. As for the likeness of their faces, they four had the face of a man, and the face of a lion, on the right side: and they four had the face of an ox on the left side; they four also had the face of an eagle. Thus were their faces: and their wings were stretched upward; two wings of every one were joined one to another, and two covered their bodies.
Và tôi nhìn xem, kìa, một cơn gió lốc từ phương bắc kéo đến, một đám mây lớn, cùng ngọn lửa tự cuộn xoáy lấy mình, và chung quanh nó có sự rực sáng; từ giữa nó hiện ra như màu hổ phách, từ giữa ngọn lửa mà ra. Cũng từ giữa đó hiện ra hình dạng của bốn sinh vật sống. Diện mạo chúng như sau: chúng có hình dạng của loài người. Mỗi sinh vật có bốn mặt, và mỗi sinh vật có bốn cánh. Chân chúng là chân thẳng, và bàn chân chúng giống như bàn chân bê con; và chúng sáng lấp lánh như màu đồng đánh bóng. Dưới các cánh, ở bốn phía, chúng có tay người; cả bốn đều có các mặt và các cánh như vậy. Các cánh của chúng nối liền với nhau; khi di chuyển chúng không xoay trở; mỗi sinh vật cứ đi thẳng tới trước. Còn về hình dạng các mặt của chúng, cả bốn đều có mặt người, mặt sư tử ở phía bên phải; cả bốn đều có mặt bò đực ở phía bên trái; cả bốn cũng có mặt chim ưng. Các mặt của chúng là như vậy; các cánh chúng dang rộng lên trên; mỗi sinh vật có hai cánh nối liền với nhau, và hai cánh che thân mình.
And they went every one straight forward: whither the spirit was to go, they went; and they turned not when they went. As for the likeness of the living creatures, their appearance was like burning coals of fire, and like the appearance of lamps: it went up and down among the living creatures; and the fire was bright, and out of the fire went forth lightning. And the living creatures ran and returned as the appearance of a flash of lightning. Now as I beheld the living creatures, behold one wheel upon the earth by the living creatures, with his four faces. The appearance of the wheels and their work was like unto the colour of a beryl: and they four had one likeness: and their appearance and their work was as it were a wheel in the middle of a wheel. When they went, they went upon their four sides: and they turned not when they went. As for their rings, they were so high that they were dreadful; and their rings were full of eyes round about them four. And when the living creatures went, the wheels went by them: and when the living creatures were lifted up from the earth, the wheels were lifted up. Whithersoever the spirit was to go, they went, thither was their spirit to go; and the wheels were lifted up over against them: for the spirit of the living creature was in the wheels.
Và mỗi vật ấy cứ thẳng trước mặt mà đi: linh muốn đi đâu, chúng đi đó; khi đi, chúng không quay lại. Còn về hình dạng của các sinh vật, diện mạo chúng giống như than lửa hừng cháy, và như hình dạng của các ngọn đèn: nó qua lại giữa các sinh vật; lửa sáng rực, và từ lửa phát ra chớp nhoáng. Các sinh vật chạy tới lui như hình dạng của một luồng chớp. Bấy giờ, khi tôi ngắm xem các sinh vật, kìa, có một bánh xe ở trên đất bên cạnh các sinh vật, ứng với bốn mặt của mỗi sinh vật. Hình dạng các bánh xe và công việc của chúng giống như màu sắc của bích ngọc; cả bốn đều có cùng một dạng; và hình dạng cùng cấu tạo của chúng như thể một bánh xe ở trong một bánh xe. Khi chúng đi, chúng đi theo cả bốn phía; khi đi, chúng không quay lại. Còn vành bánh xe của chúng thì cao đến nỗi đáng sợ; và các vành của cả bốn đều đầy những mắt ở chung quanh. Khi các sinh vật đi, các bánh xe đi bên cạnh chúng; và khi các sinh vật được nhấc lên khỏi đất, các bánh xe cũng được nhấc lên. Linh muốn đi đâu, chúng đi đó, ấy là nơi linh hướng tới; và các bánh xe được nhấc lên đối diện với chúng; vì thần của sinh vật ở trong các bánh xe.
When those went, these went; and when those stood, these stood; and when those were lifted up from the earth, the wheels were lifted up over against them: for the spirit of the living creature was in the wheels. And the likeness of the firmament upon the heads of the living creature was as the colour of the terrible crystal, stretched forth over their heads above. And under the firmament were their wings straight, the one toward the other: every one had two, which covered on this side, and every one had two, which covered on that side, their bodies. And when they went, I heard the noise of their wings, like the noise of great waters, as the voice of the Almighty, the voice of speech, as the noise of an host: when they stood, they let down their wings. And there was a voice from the firmament that was over their heads, when they stood, and had let down their wings. And above the firmament that was over their heads was the likeness of a throne, as the appearance of a sapphire stone: and upon the likeness of the throne was the likeness as the appearance of a man above upon it. And I saw as the colour of amber, as the appearance of fire round about within it, from the appearance of his loins even upward, and from the appearance of his loins even downward, I saw as it were the appearance of fire, and it had brightness round about. As the appearance of the bow that is in the cloud in the day of rain, so was the appearance of the brightness round about. This was the appearance of the likeness of the glory of the Lord. And when I saw it, I fell upon my face, and I heard a voice of one that spake. Ezekiel 1:1–28.
Khi những sinh vật ấy đi, thì các bánh xe cũng đi; khi những sinh vật ấy đứng, thì các bánh xe cũng đứng; và khi những sinh vật ấy được nhấc lên khỏi đất, thì các bánh xe cũng được nhấc lên theo bên cạnh chúng; vì thần của sinh vật sống ở trong các bánh xe. Trên đầu các sinh vật sống có hình dạng một vòm, trông như sắc của pha lê đáng kinh hãi, giăng ra phía trên đầu chúng. Dưới vòm ấy, các cánh của chúng duỗi thẳng ra, cánh nọ hướng về cánh kia; mỗi sinh vật có hai cánh che phía này, và mỗi sinh vật có hai cánh che phía kia thân mình. Khi chúng đi, tôi nghe tiếng cánh của chúng như tiếng nhiều nước lớn, như tiếng của Đấng Toàn Năng, như tiếng lời nói, như tiếng của một đạo binh; khi chúng đứng, thì hạ cánh xuống. Và có một tiếng phát ra từ vòm ở trên đầu chúng, khi chúng đứng và đã hạ cánh xuống. Phía trên vòm ở trên đầu chúng có hình dạng một ngai, trông như đá bích ngọc; và trên hình dạng của ngai có một hình dạng như hình dạng của một người ở phía trên đó. Tôi thấy như sắc hổ phách, như hình dạng của lửa ở bên trong và chung quanh; từ hình dạng thắt lưng Ngài trở lên, và từ hình dạng thắt lưng Ngài trở xuống, tôi thấy như hình dạng của lửa, và có sự sáng chói chung quanh. Như hình dạng của cầu vồng trong mây vào ngày mưa thể nào, thì hình dạng của sự sáng chói chung quanh cũng thể ấy. Ấy là hình dạng của sự tương tự của vinh quang Đức Giê-hô-va. Khi tôi thấy điều đó, tôi sấp mặt xuống, và tôi nghe tiếng của một Đấng đang phán. Ê-xê-chi-ên 1:1–28.
“Ezekiel, the mourning exile prophet, in the land of the Chaldeans, was given a vision teaching the same lesson of faith in the mighty God of Israel. As he was upon the banks of the river Chebar, a whirlwind seemed to come from the north, ‘a great cloud, and a fire infolding itself, and a brightness was about it, and out of the midst thereof as the color of amber.’ A number of wheels of strange appearance, intersecting one another, were moved by four living creatures. High above all these was ‘the likeness of a throne, as the appearance of a sapphire stone: and upon the likeness of the throne was the likeness as the appearance of a man above upon it.’ ‘As for the likeness of the living creatures, their appearance was like burning coals of fire, and like the appearance of lamps: it went up and down among the living creatures; and the fire was bright, and out of the fire went forth lightning.’ ‘And there appeared in the cherubims the form of a man’s hand under their wings.’
“Ê-xê-chi-ên, vị tiên tri lưu đày sầu thảm, tại xứ của người Canh-đê, đã được ban cho một khải tượng dạy cùng một bài học về đức tin nơi Đức Chúa Trời quyền năng của Y-sơ-ra-ên. Khi ông ở bên bờ sông Kê-ba, một cơn gió lốc dường như đến từ phương bắc, ‘một đám mây lớn, và lửa cuộn lấy chính nó, và sự sáng ở chung quanh nó, và từ giữa nó hiện ra như màu hổ phách.’ Có nhiều bánh xe mang hình dạng kỳ lạ, giao nhau với nhau, được chuyển động bởi bốn sinh vật hằng sống. Cao hơn tất cả những điều ấy là ‘hình dáng của một ngai, giống như hình thể của đá sa-phia: và trên hình dáng của ngai có hình dạng như hình thể của một người ở phía trên đó.’ ‘Còn về hình dáng của các sinh vật hằng sống, diện mạo của chúng như than lửa đang cháy, và như hình thể của đèn đuốc: nó đi lên đi xuống giữa các sinh vật hằng sống; và lửa thì sáng chói, và từ lửa phát ra chớp nhoáng.’ ‘Và nơi các chê-ru-bim hiện ra hình dạng của bàn tay người ở dưới các cánh của chúng.’”
“There were wheels within wheels in an arrangement so complicated that at first sight they appeared to Ezekiel to be all in confusion. But when they moved, it was with beautiful exactness and in perfect harmony. Heavenly beings were impelling these wheels, and, above all, upon the glorious sapphire throne, was the Eternal One; while round about the throne was the encircling rainbow, emblem of grace and love. Overpowered by the terrible glory of the scene, Ezekiel fell upon his face, when a voice bade him arise and hear the word of the Lord. Then there was given him a message of warning for Israel.” Testimonies, 751.
“Có những bánh xe ở trong những bánh xe, được sắp đặt phức tạp đến nỗi thoạt nhìn, chúng hiện ra trước Ê-xê-chi-ên như hoàn toàn rối loạn. Nhưng khi chúng chuyển động, ấy là với sự chính xác tuyệt mỹ và trong sự hòa hợp trọn vẹn. Các hữu thể thiên thượng thúc đẩy những bánh xe ấy, và trên hết, ở trên ngôi bằng bích ngọc huy hoàng, là Đấng Hằng Hữu; còn chung quanh ngôi là cầu vồng bao bọc, biểu tượng của ân điển và tình yêu thương. Bị choáng ngợp bởi vinh quang kinh khiếp của quang cảnh ấy, Ê-xê-chi-ên sấp mặt xuống, thì có tiếng phán bảo người hãy đứng dậy và nghe lời của Đức Giê-hô-va. Rồi người được ban cho một sứ điệp cảnh cáo dành cho Y-sơ-ra-ên.” Testimonies, 751.
In the year that king Uzziah died I saw also the Lord sitting upon a throne, high and lifted up, and his train filled the temple. Above it stood the seraphims: each one had six wings; with twain he covered his face, and with twain he covered his feet, and with twain he did fly. And one cried unto another, and said, Holy, holy, holy, is the Lord of hosts: the whole earth is full of his glory. And the posts of the door moved at the voice of him that cried, and the house was filled with smoke. Then said I, Woe is me! for I am undone; because I am a man of unclean lips, and I dwell in the midst of a people of unclean lips: for mine eyes have seen the King, the Lord of hosts. Then flew one of the seraphims unto me, having a live coal in his hand, which he had taken with the tongs from off the altar: And he laid it upon my mouth, and said, Lo, this hath touched thy lips; and thine iniquity is taken away, and thy sin purged. Also I heard the voice of the Lord, saying, Whom shall I send, and who will go for us? Then said I, Here am I; send me. Isaiah 6:1–8.
Vào năm vua U-xi-gia băng hà, tôi thấy Chúa ngự trên ngai, cao sang và được nhấc lên cao; vạt áo Ngài đầy dẫy đền thờ. Phía trên Ngài có các sê-ra-phim đứng chầu; mỗi vị có sáu cánh: dùng hai cánh che mặt, hai cánh che chân, và hai cánh để bay. Vị này kêu lên với vị kia rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân; khắp cả đất đầy dẫy vinh quang Ngài. Các nền ngạch cửa rung chuyển bởi tiếng của vị kêu ấy, và đền đầy khói. Bấy giờ tôi nói: Khốn cho tôi! vì tôi bị hủy diệt; bởi tôi là người có môi ô uế, lại ở giữa một dân có môi ô uế; vì mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân. Bấy giờ một trong các sê-ra-phim bay đến tôi, tay cầm một than hồng mà đã dùng kẹp lấy từ trên bàn thờ; vị ấy chạm than ấy vào miệng tôi, và nói rằng: Kìa, vật này đã chạm đến môi ngươi; sự gian ác ngươi đã được cất đi, và tội lỗi ngươi đã được tẩy sạch. Tôi lại nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi, ai sẽ đi cho chúng ta? Bấy giờ tôi thưa rằng: Có tôi đây; xin hãy sai tôi. Ê-sai 6:1–8.
“This vision was given to Ezekiel at a time when his mind was filled with gloomy forebodings. He saw the land of his fathers lying desolate. The city that was once full of people was no longer inhabited. The voice of mirth and the song of praise were no more heard within her walls. The prophet himself was a stranger in a strange land, where boundless ambition and savage cruelty reigned supreme. That which he saw and heard of human tyranny and wrong distressed his soul, and he mourned bitterly day and night. But the wonderful symbols presented before him beside the river Chebar revealed an overruling power mightier than that of earthly rulers. Above the proud and cruel monarchs of Assyria and Babylon the God of mercy and truth was enthroned.
“Khải tượng này đã được ban cho Ê-xê-chi-ên vào lúc tâm trí ông đầy những điềm báo u ám. Ông thấy xứ sở của tổ phụ mình đang nằm hoang tàn. Thành vốn một thời đông đúc dân cư nay không còn người ở. Tiếng vui mừng và bài ca ngợi khen không còn được nghe thấy trong các tường thành của nó nữa. Chính nhà tiên tri cũng là một kẻ lạ nơi xứ lạ, nơi tham vọng vô độ và sự tàn bạo hung dữ ngự trị tối cao. Những điều ông thấy và nghe về sự chuyên chế và bất công của loài người làm tâm hồn ông đau đớn, và ông than khóc đắng cay ngày đêm. Nhưng những biểu tượng kỳ diệu được bày ra trước mắt ông bên cạnh sông Kê-ba đã bày tỏ một quyền năng tể trị cao cả hơn quyền năng của các vua chúa thế gian. Ở trên các quân vương kiêu ngạo và tàn bạo của A-si-ri và Ba-by-lôn, Đức Chúa Trời của sự thương xót và lẽ thật ngự trên ngai.”
“The wheellike complications that appeared to the prophet to be involved in such confusion were under the guidance of an infinite hand. The Spirit of God, revealed to him as moving and directing these wheels, brought harmony out of confusion; so the whole world was under His control. Myriads of glorified beings were ready at His word to overrule the power and policy of evil men, and bring good to His faithful ones.
“Những sự phức tạp như bánh xe, thoạt hiện ra trước mắt nhà tiên tri như bị cuốn vào tình trạng hỗn loạn ấy, đều ở dưới sự hướng dẫn của một bàn tay vô hạn. Thần của Đức Chúa Trời, được bày tỏ cho người như đang vận hành và điều khiển các bánh xe ấy, đã đem sự hài hòa ra từ giữa sự hỗn loạn; cũng vậy, cả thế gian đều ở dưới quyền tể trị của Ngài. Muôn vàn hữu thể được vinh hiển luôn sẵn sàng theo lời phán của Ngài để chế ngự quyền lực và mưu sách của những kẻ ác, và đem điều lành đến cho những người trung tín của Ngài.”
“In like manner, when God was about to open to the beloved John the history of the church for future ages, He gave him an assurance of the Saviour’s interest and care for His people by revealing to him ‘One like unto the Son of man,’ walking among the candlesticks, which symbolized the seven churches. While John was shown the last great struggles of the church with earthly powers, he was also permitted to behold the final victory and deliverance of the faithful. He saw the church brought into deadly conflict with the beast and his image, and the worship of that beast enforced on pain of death. But looking beyond the smoke and din of the battle, he beheld a company upon Mount Zion with the Lamb, having, instead of the mark of the beast, the ‘Father’s name written in their foreheads.’ And again he saw ‘them that had gotten the victory over the beast, and over his image, and over his mark, and over the number of his name, stand on the sea of glass, having the harps of God’ and singing the song of Moses and the Lamb.
“Cũng theo thể ấy, khi Đức Chúa Trời sắp mở cho Giăng yêu dấu biết lịch sử của hội thánh trong các thời đại tương lai, Ngài đã ban cho ông một sự bảo đảm về mối quan tâm và sự chăm sóc của Đấng Cứu Thế đối với dân sự Ngài bằng cách bày tỏ cho ông thấy ‘Một Đấng giống như Con người,’ đi lại giữa các chân đèn, là những vật tượng trưng cho bảy hội thánh. Trong khi Giăng được cho thấy những cuộc tranh chiến lớn lao cuối cùng của hội thánh với các quyền lực thế gian, ông cũng được phép chiêm ngưỡng sự chiến thắng và giải cứu cuối cùng của những người trung tín. Ông thấy hội thánh bị cuốn vào cuộc xung đột sinh tử với con thú và tượng của nó, và sự thờ lạy con thú ấy bị cưỡng bách thi hành dưới án tử hình. Nhưng vượt lên trên khói lửa và tiếng huyên náo của trận chiến, ông nhìn thấy một đoàn người trên Núi Si-ôn cùng với Chiên Con, mang, thay vì dấu của con thú, ‘danh Cha được viết trên trán mình.’ Và một lần nữa, ông thấy ‘những kẻ đã thắng con thú, tượng nó, dấu nó, và số của tên nó, đứng trên biển pha lê, cầm đàn của Đức Chúa Trời’ và hát bài ca của Môi-se và Chiên Con.”
“These lessons are for our benefit. We need to stay our faith upon God, for there is just before us a time that will try men’s souls. Christ, upon the Mount of Olives, rehearsed the fearful judgments that were to precede His second coming: ‘Ye shall hear of wars and rumors of wars.’ ‘Nation shall rise against nation, and kingdom against kingdom: and there shall be famines, and pestilences, and earthquakes, in divers places. All these are the beginning of sorrows.’ While these prophecies received a partial fulfillment at the destruction of Jerusalem, they have a more direct application to the last days.
“Những bài học này là vì lợi ích của chúng ta. Chúng ta cần đặt đức tin mình nơi Đức Chúa Trời, vì ngay trước mặt chúng ta là một thời kỳ sẽ thử luyện linh hồn loài người. Đấng Christ, trên Núi Ô-li-ve, đã thuật lại những sự phán xét kinh khiếp sẽ xảy ra trước sự tái lâm của Ngài: ‘Các ngươi sẽ nghe tiếng giặc và tiếng đồn về giặc.’ ‘Dân này sẽ dấy lên nghịch cùng dân kia, nước nọ nghịch cùng nước kia; và sẽ có đói kém, dịch lệ, cùng động đất ở nhiều nơi. Song mọi điều ấy chỉ là đầu sự đau đớn mà thôi.’ Trong khi những lời tiên tri này đã được ứng nghiệm phần nào trong sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem, chúng có sự ứng dụng trực tiếp hơn đối với những ngày sau rốt.”
“We are standing on the threshold of great and solemn events. Prophecy is fast fulfilling. The Lord is at the door. There is soon to open before us a period of overwhelming interest to all living. The controversies of the past are to be revived; new controversies will arise. The scenes to be enacted in our world are not yet even dreamed of. Satan is at work through human agencies. Those who are making an effort to change the Constitution and secure a law enforcing Sunday observance little realize what will be the result. A crisis is just upon us.
“Chúng ta đang đứng trên ngưỡng cửa của những biến cố lớn lao và long trọng. Lời tiên tri đang mau chóng được ứng nghiệm. Chúa đang ở trước cửa. Chẳng bao lâu nữa, trước mắt chúng ta sẽ mở ra một thời kỳ có ý nghĩa vô cùng trọng đại đối với mọi người đang sống. Những cuộc tranh luận của quá khứ sẽ được khơi lại; những cuộc tranh luận mới sẽ phát sinh. Những cảnh tượng sẽ diễn ra trong thế gian chúng ta còn chưa hề được mơ tưởng đến. Sa-tan đang hành động qua các tác nhân loài người. Những kẻ đang nỗ lực thay đổi Hiến pháp và đạt được một đạo luật cưỡng bách việc tuân giữ ngày Chủ nhật hầu như không nhận thức được hậu quả sẽ ra sao. Một cơn khủng hoảng đang ở ngay trước mặt chúng ta.”
“But God’s servants are not to trust to themselves in this great emergency. In the visions given to Isaiah, to Ezekiel, and to John we see how closely heaven is connected with the events taking place upon the earth and how great is the care of God for those who are loyal to Him. The world is not without a ruler. The program of coming events is in the hands of the Lord. The Majesty of heaven has the destiny of nations, as well as the concerns of His church, in His own charge.
“Nhưng các tôi tớ của Đức Chúa Trời không được cậy nơi chính mình trong cơn khẩn cấp lớn lao này. Trong những sự hiện thấy đã được ban cho Ê-sai, Ê-xê-chi-ên, và Giăng, chúng ta thấy thiên đàng liên hệ mật thiết dường bao với các biến cố đang diễn ra trên đất, và sự chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với những kẻ trung thành với Ngài lớn lao dường nào. Thế gian không phải là không có Đấng cai trị. Chương trình của các biến cố sắp đến ở trong tay Chúa. Đấng Tôn Nghiêm của thiên đàng đích thân nắm giữ vận mệnh các quốc gia, cũng như mọi mối quan tâm của Hội Thánh Ngài.”
“We permit ourselves to feel altogether too much care, trouble, and perplexity in the Lord’s work. Finite men are not left to carry the burden of responsibility. We need to trust in God, believe in Him, and go forward. The tireless vigilance of the heavenly messengers, and their unceasing employment in their ministry in connection with the beings of earth, show us how God’s hand is guiding the wheel within a wheel. The divine Instructor is saying to every actor in His work, as He said to Cyrus of old: ‘I girded thee, though thou hast not known Me.’
“Chúng ta tự cho phép mình cảm thấy quá nhiều sự lo toan, phiền muộn và bối rối trong công việc của Chúa. Những con người hữu hạn không bị bỏ mặc để gánh lấy gánh nặng trách nhiệm. Chúng ta cần tin cậy Đức Chúa Trời, tin nơi Ngài, và cứ tiến bước. Sự tỉnh thức không biết mệt mỏi của các sứ giả thiên đàng, cùng sự phục vụ không ngừng nghỉ của họ trong chức vụ liên hệ với các loài trên đất, cho chúng ta thấy tay Đức Chúa Trời đang điều khiển bánh xe ở trong bánh xe như thế nào. Đấng Chỉ Dạy thiên thượng đang phán với mọi người cộng tác trong công việc của Ngài, như Ngài đã phán với Cyrus thuở xưa: ‘Ta đã thắt lưng cho ngươi, dù ngươi chẳng biết Ta.’”
“In Ezekiel’s vision God had His hand beneath the wings of the cherubim. This is to teach His servants that it is divine power that gives them success. He will work with them if they will put away iniquity and become pure in heart and life.
“Trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên, Đức Chúa Trời có tay Ngài ở dưới cánh các chê-ru-bim. Điều này nhằm dạy các tôi tớ Ngài rằng chính quyền năng thiêng liêng ban cho họ sự thành công. Ngài sẽ cùng làm việc với họ nếu họ từ bỏ tội ác và trở nên thanh sạch trong lòng và trong đời sống.”
“The bright light going among the living creatures with the swiftness of lightning represents the speed with which this work will finally go forward to completion. He who slumbers not, who is continually at work for the accomplishment of His designs, can carry forward His great work harmoniously. That which appears to finite minds entangled and complicated, the Lord’s hand can keep in perfect order. He can devise ways and means to thwart the purposes of wicked men, and He will bring to confusion the counsels of them that plot mischief against His people.
“Ánh sáng chói lọi đi qua lại giữa các sinh vật hằng sống với sự mau lẹ như chớp tượng trưng cho tốc độ mà công việc này cuối cùng sẽ tiến triển đến chỗ hoàn tất. Đấng không hề ngủ, Đấng không ngừng hành động để thực hiện các ý định của Ngài, có thể tiếp tục công việc lớn lao của Ngài một cách hài hòa. Điều gì đối với trí óc hữu hạn, vốn bị rối vướng và phức tạp, dường như là rối ren và khó giải, thì bàn tay của Chúa có thể giữ trong trật tự trọn vẹn. Ngài có thể định ra những đường lối và phương cách để ngăn trở các mưu đồ của những kẻ gian ác, và Ngài sẽ làm rối loạn những mưu kế của kẻ âm mưu gây hại cho dân sự Ngài.”
“Brethren, it is no time now for mourning and despair, no time to yield to doubt and unbelief. Christ is not now a Saviour in Joseph’s new tomb, closed with a great stone and sealed with the Roman seal; we have a risen Saviour. He is the King, the Lord of hosts; He sitteth between the cherubim; and amid the strife and tumult of nations He guards His people still. He who ruleth in the heavens is our Saviour. He measures every trial. He watches the furnace fire that must test every soul. When the strongholds of kings shall be overthrown, when the arrows of God’s wrath shall strike through the hearts of His enemies, His people will be safe in His hands.” Testimonies, volume 5, 752–754.
“Hỡi anh em, nay không phải là lúc than khóc và tuyệt vọng, không phải là lúc đầu hàng trước sự nghi ngờ và vô tín. Đấng Christ hiện nay không phải là một Cứu Chúa ở trong ngôi mộ mới của Giô-sép, bị một tảng đá lớn đóng kín và niêm phong bằng ấn của La Mã; chúng ta có một Cứu Chúa đã phục sinh. Ngài là Vua, là Chúa của muôn đạo binh; Ngài ngự giữa các chê-ru-bim; và giữa cơn xung đột và náo động của các dân tộc, Ngài vẫn gìn giữ dân sự Ngài. Đấng cai trị trên các từng trời là Cứu Chúa của chúng ta. Ngài định lượng mọi thử thách. Ngài dõi theo lò lửa phải thử luyện mọi linh hồn. Khi các thành lũy của các vua sẽ bị lật đổ, khi những mũi tên thịnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ xuyên thấu lòng những kẻ thù của Ngài, dân sự Ngài sẽ được an toàn trong tay Ngài.” Chứng ngôn, quyển 5, 752–754.
Ezekiel represents the candidates to be among the one hundred and forty-four thousand, and line upon line his experience in the sanctuary aligns with Isaiah’s and John’s experience within the sanctuary. We are now in the temple test, the second of the three tests that seals the one hundred and forty-four thousand. That period is the purification accomplished by the Messenger of the Covenant in fulfillment of Malachi three. The purification process of three tests, is Malachi’s fiery “furnace” “that must test every soul.” When the third angel arrived on October 22, 1844 the Messenger of the Covenant suddenly came to His temple and led the wise virgins of that history into the Most Holy Place, in order to seal His faithful, but the virgins of that history rebelled, and by 1856 the Philadelphian Millerite movement had changed unto the Laodicean Millerite movement and in 1863 became the Laodicean Seventh-day Adventist church.
Ê-xê-chi-ên tượng trưng cho những ứng viên thuộc vào một trăm bốn mươi bốn ngàn, và từng hàng nối tiếp từng hàng, kinh nghiệm của ông trong đền thánh tương ứng với kinh nghiệm của Ê-sai và Giăng ở trong đền thánh. Hiện nay chúng ta đang ở trong sự thử nghiệm nơi đền thờ, là sự thử nghiệm thứ hai trong ba sự thử nghiệm đóng ấn một trăm bốn mươi bốn ngàn. Giai đoạn ấy là sự thanh tẩy do Sứ Giả của Giao Ước thực hiện để ứng nghiệm Ma-la-chi đoạn ba. Tiến trình thanh tẩy gồm ba sự thử nghiệm ấy chính là “lò lửa” rực cháy của Ma-la-chi, “phải thử luyện mọi linh hồn”. Khi thiên sứ thứ ba đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, Sứ Giả của Giao Ước thình lình đến trong đền thờ của Ngài và dẫn các trinh nữ khôn ngoan của thời kỳ ấy vào Nơi Chí Thánh, để đóng ấn những người trung tín của Ngài; nhưng các trinh nữ của thời kỳ ấy đã phản nghịch, và đến năm 1856, phong trào Millerite Phi-la-đen-phi đã biến đổi thành phong trào Millerite Lao-đi-xê, và đến năm 1863 trở thành hội thánh Cơ Đốc Phục Lâm ngày thứ bảy Lao-đi-xê.
The third angel who arrived suddenly on October 22, 1844 withdrew his presence in 1863, and then returned on September 11, 2001. Twenty-five years later the temple test that was typified by October 22, 1844 is now being repeated. Twenty-five is symbolically a prophetic tithe of two hundred and fifty, and two hundred and fifty is a symbol of the history represented in verses eleven to fifteen of Daniel eleven. Two hundred and fifty, and twenty-five is a wheel within the sanctuary vision of Ezekiel. Twenty-five is a symbol of the separation of the wise and the wicked in fulfillment of the three-step testing process that is represented in the work of purification that is accomplished by the Messenger of the Covenant.
Vị thiên sứ thứ ba, Đấng đã bất ngờ đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, đã rút khỏi sự hiện diện của Ngài vào năm 1863, rồi trở lại vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Hai mươi lăm năm sau, phép thử nơi đền thờ vốn được dự biểu bởi ngày 22 tháng 10 năm 1844 nay đang được lặp lại. Hai mươi lăm, theo ý nghĩa biểu tượng, là một phần mười tiên tri của hai trăm năm mươi, và hai trăm năm mươi là biểu tượng của lịch sử được trình bày trong các câu mười một đến mười lăm của Đa-ni-ên mười một. Hai trăm năm mươi, và hai mươi lăm, là một bánh xe trong khải tượng về đền thánh của Ê-xê-chi-ên. Hai mươi lăm là biểu tượng của sự phân rẽ giữa người khôn ngoan và kẻ gian ác trong sự ứng nghiệm của tiến trình thử nghiệm gồm ba bước, tiến trình được tiêu biểu trong công việc thanh tẩy do Sứ Giả của Giao Ước hoàn tất.
Matthew twenty-five contains three parables, and each parable identifies the separation of the wise and wicked in the sealing time of the one hundred and forty-four thousand. The hope of God’s people represented in the chapter is that they might be a wise virgin in possession of the oil of the message of the midnight cry. Their hope is that they are judged a faithful servant in their stewardship of employing the special talents that were given them to manage in their personal probationary period. Their hope is that they are judged as a sheep of God’s pasture, seated upon His right side, and not a goat on his left. Twenty-five is a symbol of the separation of the wise and wicked in the sealing time of the one hundred and forty-four thousand. Twenty-five is one of Ezekiel’s wheels.
Ma-thi-ơ chương hai mươi lăm chứa đựng ba ẩn dụ, và mỗi ẩn dụ đều xác định sự phân rẽ giữa người khôn ngoan và kẻ gian ác trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn người. Niềm hy vọng của dân sự Đức Chúa Trời được tiêu biểu trong chương này là họ có thể là một nữ đồng trinh khôn ngoan đang sở hữu dầu của sứ điệp tiếng kêu lúc nửa đêm. Niềm hy vọng của họ là được xét là một đầy tớ trung tín trong sự quản trị của mình, qua việc sử dụng những ta-lâng đặc biệt đã được ban cho họ để quản lý trong thời kỳ thử thách cá nhân của mình. Niềm hy vọng của họ là được xét là chiên của đồng cỏ Đức Chúa Trời, được ngồi bên hữu Ngài, chứ không phải là dê ở bên tả Ngài. Hai mươi lăm là một biểu tượng của sự phân rẽ giữa người khôn ngoan và kẻ gian ác trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn người. Hai mươi lăm là một trong những bánh xe của Ê-xê-chi-ên.
In the five and twentieth year of our captivity, in the beginning of the year, in the tenth day of the month, in the fourteenth year after that the city was smitten, in the selfsame day the hand of the Lord was upon me, and brought me thither. Ezekiel 40:1.
Vào năm thứ hai mươi lăm kể từ khi chúng tôi bị lưu đày, vào đầu năm, ngày mồng mười của tháng, tức năm thứ mười bốn sau khi thành bị đánh hạ, chính trong ngày ấy tay của Đức Giê-hô-va ở trên tôi, và Ngài đem tôi đến đó. Ê-xê-chi-ên 40:1.
The twenty-fifth year of captivity is represented by October 22, which is represented by the closing of a dispensational door. On October 22, 1844 a door was opened and a door was closed as two classes were separated.
Năm thứ hai mươi lăm của thời kỳ lưu đày được tượng trưng bởi ngày 22 tháng Mười, là ngày được tượng trưng bởi sự đóng lại của một cánh cửa thời kỳ phân phát. Vào ngày 22 tháng Mười năm 1844, một cánh cửa đã được mở ra và một cánh cửa đã được đóng lại khi hai hạng người bị phân chia.
And to the angel of the church in Philadelphia write; These things saith he that is holy, he that is true, he that hath the key of David, he that openeth, and no man shutteth; and shutteth, and no man openeth; I know thy works: behold, I have set before thee an open door, and no man can shut it: for thou hast a little strength, and hast kept my word, and hast not denied my name. Revelation 3:7, 8.
Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh tại Philadelphia rằng: Đây là lời phán của Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, Đấng cầm chìa khóa của Đa-vít, Đấng mở thì không ai đóng được, và đóng thì không ai mở được: Ta biết các công việc ngươi; này, Ta đã đặt trước mặt ngươi một cánh cửa mở, không ai có thể đóng lại được; vì ngươi có chút ít sức lực, đã giữ lời Ta, và không chối danh Ta. Khải Huyền 3:7, 8.
Christ tells the angel of Philadelphia that He knows their work, that He has set before the church of Philadelphia, an open door. That door is opened by “the key of David,” the key that is placed upon Eliakim.
Đấng Christ phán cùng thiên sứ của Hội thánh Phi-la-đen-phi rằng Ngài biết công việc của họ, rằng Ngài đã đặt trước mặt Hội thánh Phi-la-đen-phi một cánh cửa rộng mở. Cánh cửa ấy được mở bởi “chìa khóa của Đa-vít,” là chìa khóa được đặt trên Ê-li-a-kim.
And it shall come to pass in that day, that I will call my servant Eliakim the son of Hilkiah: And I will clothe him with thy robe, and strengthen him with thy girdle, and I will commit thy government into his hand: and he shall be a father to the inhabitants of Jerusalem, and to the house of Judah. And the key of the house of David will I lay upon his shoulder; so he shall open, and none shall shut; and he shall shut, and none shall open. Isaiah 22:20–22.
Và sẽ xảy ra trong ngày ấy rằng, Ta sẽ gọi đầy tớ Ta là Ê-li-a-kim, con trai Hinh-ki-gia; và Ta sẽ mặc cho người áo choàng của ngươi, thắt cho người đai lưng của ngươi, và Ta sẽ giao quyền cai trị của ngươi vào tay người; người sẽ làm cha cho dân cư Giê-ru-sa-lem và cho nhà Giu-đa. Ta sẽ đặt chìa khóa của nhà Đa-vít trên vai người; người sẽ mở ra thì không ai đóng được; người sẽ đóng lại thì không ai mở được. Ê-sai 22:20–22.
The day that Eliakim is called, he is separated from wicked Shebna.
Trong ngày Ê-li-a-kim được kêu gọi, ông được biệt riêng khỏi Sép-na gian ác.
Thus saith the Lord God of hosts, Go, get thee unto this treasurer, even unto Shebna, which is over the house, and say, What hast thou here? and whom hast thou here, that thou hast hewed thee out a sepulchre here, as he that heweth him out a sepulchre on high, and that graveth an habitation for himself in a rock? Behold, the Lord will carry thee away with a mighty captivity, and will surely cover thee. He will surely violently turn and toss thee like a ball into a large country: there shalt thou die, and there the chariots of thy glory shall be the shame of thy lord’s house. Isaiah 22:15–18.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Hãy đi, đến gặp viên quản khố này, tức Sếp-na, là kẻ cai quản cung thất, và nói rằng: Ngươi có gì ở đây? Và ngươi có ai ở đây, mà ngươi đã đục cho mình một ngôi mộ tại đây, như kẻ đục cho mình một ngôi mộ trên nơi cao, và khoét cho mình một chỗ ở trong vầng đá? Kìa, Đức Giê-hô-va sẽ quăng ngươi đi trong một cuộc lưu đày dữ dội, và chắc chắn sẽ bọc trùm ngươi. Ngài chắc chắn sẽ cuốn ngươi lại, quăng ngươi như quả bóng vào một xứ rộng lớn; tại đó ngươi sẽ chết, và tại đó những xe ngựa vinh hiển của ngươi sẽ trở thành sự sỉ nhục cho nhà của chủ ngươi. Ê-sai 22:15–18.
The separation of the wise and foolish virgins that fulfilled the illustration of Shebna and Eliakim was fulfilled on October 22, 1844, and also in the twenty-fifth year of captivity of Jehoiachin which was October 22, 573 BC. In Ezekiel chapter eight the wicked within Adventism, represented by Jerusalem, are represented by twenty-five men bowing to the sun. The destruction of Jerusalem represents the Sunday law, which is also the waymark which ends the sealing time of the one hundred and forty-four thousand. That sealing time began on September 11, 2001, and Jesus is both the Alpha and Omega, so September 11, 2001 as the beginning of the sealing illustrates the end, at the Sunday law.
Sự phân rẽ giữa các trinh nữ khôn ngoan và dại dột, ứng nghiệm hình bóng minh họa về Sép-na và Ê-li-a-kim, đã được ứng nghiệm vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, và cũng trong năm thứ hai mươi lăm của thời kỳ lưu đày của Giê-hô-gia-kinh, tức ngày 22 tháng 10 năm 573 TCN. Trong Ê-xê-chi-ên đoạn tám, những kẻ gian ác trong vòng Cơ Đốc Phục Lâm, được tượng trưng bởi Giê-ru-sa-lem, được tiêu biểu bởi hai mươi lăm người đang cúi lạy mặt trời. Sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho luật ngày Chủ nhật, cũng là cột mốc chấm dứt thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Thời kỳ đóng ấn ấy bắt đầu vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, và Đức Chúa Jêsus vừa là Alpha vừa là Omega, vì vậy ngày 11 tháng 9 năm 2001, với tư cách là sự khởi đầu của việc đóng ấn, minh họa cho sự kết thúc, tại luật ngày Chủ nhật.
September 11, 2001 was typified by the Minneapolis meetings of 1888, for Sister White identifies that when the great buildings of New York came down at 9/11, Revelation 18:1–3 was fulfilled. At that time, as in 1888 she identified the angel of Revelation eighteen descended to lighten the earth with His glory. The rebellion of 1888 she aligned with the rebellion of Korah, Dathan and Abiram, who also had two hundred and fifty men of renown join in their apostasy. Two hundred and fifty rebels in the rebellion of Korah and his cohorts in the beginning history of ancient Israel typified the twenty-five men who were bowing to the sun at the ending of ancient Israel.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã được tiền biểu bởi các cuộc họp tại Minneapolis năm 1888, vì Chị White xác định rằng khi các tòa nhà lớn của New York sụp đổ vào ngày 11/9, thì Khải Huyền 18:1–3 đã được ứng nghiệm. Vào thời điểm ấy, cũng như vào năm 1888, bà xác định rằng thiên sứ trong Khải Huyền mười tám đã ngự xuống để soi sáng đất bằng vinh quang của Ngài. Bà đối chiếu sự phản nghịch năm 1888 với sự phản nghịch của Kô-ra, Đa-than và A-bi-ram, những kẻ mà trong sự bội đạo của họ cũng có hai trăm năm mươi người danh tiếng cùng tham gia. Hai trăm năm mươi kẻ phản nghịch trong cuộc phản nghịch của Kô-ra và những kẻ đồng đảng của ông trong lịch sử buổi đầu của Y-sơ-ra-ên cổ đại là hình bóng chỉ về hai mươi lăm người đang quỳ lạy mặt trời vào thời kỳ cuối của Y-sơ-ra-ên cổ đại.
Twenty-five leaders of Laodicean Adventism bowing at the Sunday law and two hundred and fifty at 9/11 sets forth the sealing time with the symbolism of twenty-five, (the symbol of the separation of the wise and wicked) to mark the beginning and ending of the sealing time. Whether it’s the two hundred and fifty rebels in the time of Moses, or the twenty-five men in Ezekiel chapter eight, or of Matthew chapter twenty-five’s three witnesses of the separation, or the twenty-fifth year of the captivity in Ezekiel forty; all the manifestations of the symbol of twenty-five, align with the three two hundred- and fifty-year periods that reached their conclusion in 207 BC, 313 and 2026 respectively.
Hai mươi lăm nhà lãnh đạo của Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea cúi mình trước luật ngày Chủ nhật và hai trăm năm mươi người tại 9/11 nêu ra thời kỳ đóng ấn với biểu tượng hai mươi lăm, (biểu tượng của sự phân rẽ giữa người khôn ngoan và kẻ gian ác) để đánh dấu sự khởi đầu và sự kết thúc của thời kỳ đóng ấn. Dù là hai trăm năm mươi kẻ phản loạn trong thời Môi-se, hay hai mươi lăm người trong Ê-xê-chi-ên chương tám, hay ba nhân chứng về sự phân rẽ trong Ma-thi-ơ chương hai mươi lăm, hay năm thứ hai mươi lăm của cuộc lưu đày trong Ê-xê-chi-ên bốn mươi; mọi sự bày tỏ của biểu tượng hai mươi lăm đều phù hợp với ba giai đoạn hai trăm năm mươi năm, đã đi đến chỗ kết thúc của chúng lần lượt vào năm 207 TCN, 313 và 2026.
Twenty-five is an axle, so to speak, of twenty-five that brings all the lines of twenty-five into perfection. It becomes one of the prophetic keys of the kingdom given to Peter to bring clarity into the hidden history of verse forty. It has been repeatedly established on more than three witnesses that verses ten to fifteen of Daniel eleven represent a line that covers the history from 1989 unto the Sunday law, which is the hidden history of verse forty. The lion of the tribe of Judah is now unsealing the wheels of Ezekiel as He opens the hidden history that will finalize the message of the Midnight Cry of the latter days.
Hai mươi lăm, nói theo cách ví von, là một trục của hai mươi lăm, trục ấy đưa mọi tuyến của hai mươi lăm vào chỗ trọn vẹn. Nó trở thành một trong những chìa khóa tiên tri của vương quốc được ban cho Phi-e-rơ để đem sự sáng tỏ vào lịch sử ẩn kín của câu bốn mươi. Đã nhiều lần được xác lập trên hơn ba nhân chứng rằng các câu mười đến mười lăm của Đa-ni-ên mười một tiêu biểu cho một tuyến bao quát lịch sử từ năm 1989 cho đến luật Chủ nhật, là lịch sử ẩn kín của câu bốn mươi. Sư tử của chi phái Giu-đa hiện đang tháo ấn các bánh xe của Ê-xê-chi-ên khi Ngài mở ra lịch sử ẩn kín sẽ hoàn tất sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm trong những ngày sau rốt.
In the following articles we will continue to identify Ezekiel’s wheels that represent the complex interplay of men in the latter days. Ezekiel chapter one at the beginning of this article and the accompanying passage from Testimonies volume five set forth will be our continued point of reference as we proceed in the articles. When the wheels are set forth in their proper place, and with their proper intersections with the other wheels of prophetic history we will demonstrate that the three hundred and ninety-one years and fifteen days that empowered the first angel on August 11, 1840 is also represented by Ezekiel as three hundred and ninety years, connected with the one and a half years of the siege of Jerusalem; and that the arrival of this prophetic light identifies the lifting up of the ensign of the one hundred and forty-four thousand.
Trong các bài viết sau đây, chúng ta sẽ tiếp tục nhận diện các bánh xe của Ê-xê-chi-ên, là hình tượng tiêu biểu cho sự tương tác phức hợp của loài người trong những ngày sau rốt. Chương một của sách Ê-xê-chi-ên, được nêu ở phần đầu của bài viết này, cùng với đoạn trích đi kèm từ Testimonies, quyển năm, sẽ tiếp tục là điểm tham chiếu của chúng ta khi tiến hành các bài viết. Khi các bánh xe được đặt vào đúng vị trí của chúng, và với những điểm giao cắt thích đáng của chúng với các bánh xe khác trong lịch sử tiên tri, chúng tôi sẽ chứng minh rằng ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày, là điều đã ban quyền năng cho thiên sứ thứ nhất vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, cũng được Ê-xê-chi-ên trình bày như ba trăm chín mươi năm, gắn liền với một năm rưỡi của cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem; và rằng sự xuất hiện của ánh sáng tiên tri này xác định việc phất cao ngọn cờ hiệu của một trăm bốn mươi bốn ngàn người.
July 27, 1299 unto 1337 represents thirty-eight years at the beginning of the one hundred and fifty years (five months) of Revelation nine, verse ten. That one hundred and fifty years connects with the three hundred and ninety-one years and fifteen days of verse fifteen. Thus, the beginning of the two periods, make up one line of prophecy which concluded in the fulfillment of the 1838 and 1840 prediction of Josiah Litch and marked the rising up and empowerment of the Millerite movement. That history at the beginning of Adventism, marks the rising up of the one hundred and forty-four thousand as an ensign in advance of the Sunday law. Thus, Ezekiel’s three hundred and ninety years, and one point five years (1.5) of Jerusalem’s siege marks the end of the line of prophecy that began in 1299.
Ngày 27 tháng 7 năm 1299 cho đến năm 1337 tượng trưng cho ba mươi tám năm vào lúc khởi đầu của một trăm năm mươi năm (năm tháng) trong Khải-huyền đoạn chín, câu mười. Một trăm năm mươi năm ấy liên kết với ba trăm chín mươi mốt năm và mười lăm ngày của câu mười lăm. Như vậy, sự khởi đầu của hai thời kỳ ấy hợp thành một tuyến lời tiên tri, đã kết thúc trong sự ứng nghiệm của lời dự ngôn năm 1838 và 1840 của Josiah Litch, và đánh dấu sự trỗi dậy cùng sự được trao quyền của phong trào Millerite. Lịch sử ấy vào lúc khởi đầu của phong trào Cơ Đốc Phục Lâm đánh dấu sự trỗi dậy của một trăm bốn mươi bốn nghìn như một cờ hiệu đi trước luật ngày Chủ nhật. Vì thế, ba trăm chín mươi năm của Ê-xê-chi-ên, và một phẩy năm năm (1.5) của cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem, đánh dấu phần kết của tuyến lời tiên tri đã bắt đầu vào năm 1299.
It would be worthwhile to consider the passage from Testimonies, volume five in advance of the next article.
Sẽ là điều đáng để suy ngẫm trước đoạn trích trong Testimonies, quyển năm, trước khi đọc bài tiếp theo.