As we take up the study of the hidden history we will consider both the internal and external lines of prophecy that are now understood as aligning with the history from the time of the end in verse forty unto the Sunday law of verse forty-one. The internal line of that prophetic history is marked by the book of Revelation in chapter eleven and verse eleven. The external line is marked by the book of Daniel in chapter eleven verse eleven. The external line of Daniel eleven—verse eleven arrived in history in 2014, and the internal line of Revelation eleven—verse eleven arrived in history on December 31, 2023. The external line represents the Republican horn of the earth beast and the internal line represents the Protestant horn of the earth beast.
Khi bắt đầu nghiên cứu lịch sử ẩn giấu, chúng ta sẽ xem xét cả hai tuyến tiên tri bên trong và bên ngoài, hiện nay được hiểu là tương ứng với lịch sử từ thời kỳ cuối cùng trong câu bốn mươi cho đến luật ngày Chúa nhật trong câu bốn mươi mốt. Tuyến bên trong của lịch sử tiên tri ấy được đánh dấu bởi sách Khải Huyền, chương mười một, câu mười một. Tuyến bên ngoài được đánh dấu bởi sách Đa-ni-ên, chương mười một, câu mười một. Tuyến bên ngoài của Đa-ni-ên 11—câu 11 đã đi vào lịch sử vào năm 2014, và tuyến bên trong của Khải Huyền 11—câu 11 đã đi vào lịch sử vào ngày 31 tháng 12 năm 2023. Tuyến bên ngoài tượng trưng cho sừng Cộng hòa của con thú từ đất lên, và tuyến bên trong tượng trưng cho sừng Tin Lành của con thú từ đất lên.
The United States
Hoa Kỳ
The book of Revelation identifies one primary nation as the subject of the latter days. That nation is the earth beast who forces the entire world to worship the papal sea beast. The book of Revelation identifies one primary nation, one confederacy of ten nations and one counterfeit church. The nation is the United States, the earth beast of chapter thirteen, the counterfeit church is the sea beast of chapter thirteen and the biblical ten-king confederacy of evil is the United Nations. Those three powers, represented as the dragon, the beast and the false prophet in Revelation sixteen, lead the world to Armageddon.
Sách Khải Huyền xác định một quốc gia chủ yếu là đối tượng của những ngày sau rốt. Quốc gia ấy là con thú từ đất lên, kẻ ép buộc cả thế gian thờ phượng con thú từ biển lên thuộc giáo hoàng. Sách Khải Huyền xác định một quốc gia chủ yếu, một liên minh mười quốc gia, và một hội thánh giả mạo. Quốc gia ấy là Hoa Kỳ, con thú từ đất lên trong chương mười ba; hội thánh giả mạo là con thú từ biển lên trong chương mười ba; và liên minh mười vua gian ác theo Kinh Thánh là Liên Hiệp Quốc. Ba quyền lực ấy, được tượng trưng là con rồng, con thú, và tiên tri giả trong Khải Huyền mười sáu, dẫn dắt thế giới đến Ha-ma-ghê-đôn.
They are each identified in Daniel eleven, verses forty to forty-five, where the counterfeit church comes to her end between the seas and the glorious holy mountain in verse forty-five, which geographically aligns with Revelation’s Armageddon. Verse forty begins in 1798 when the sea beast, that is the counterfeit church received a deadly wound and the passage ends with that resurrected sea beast, who is the whore of Revelation seventeen dying the second time, thus ending the passage right where it began. The primary nation in both the book of Revelation and Daniel, is the United States, the earth beast of Revelation thirteen’s chapter of rebellion. The earth beast is also the false prophet in chapter sixteen of Revelation, and in verse forty of Daniel eleven, it is the chariots, ships and horsemen.
Mỗi quyền lực ấy đều được xác định trong Đa-ni-ên 11, các câu 40 đến 45, nơi hội thánh giả mạo đi đến chỗ tận số của mình giữa hai biển và núi thánh vinh hiển ở câu 45, điều phù hợp về mặt địa lý với Ha-ma-ghê-đôn trong Khải Huyền. Câu 40 bắt đầu vào năm 1798, khi con thú từ biển, tức là hội thánh giả mạo, nhận lãnh một vết thương chí mạng; và phân đoạn này kết thúc với con thú từ biển đã được hồi sinh ấy, là con điếm của Khải Huyền 17, chết lần thứ hai, như vậy phân đoạn chấm dứt ngay tại chính nơi nó đã khởi đầu. Quốc gia chủ yếu trong cả sách Khải Huyền lẫn Đa-ni-ên là Hoa Kỳ, tức con thú từ đất trong chương phản nghịch là Khải Huyền 13. Con thú từ đất cũng là tiên tri giả trong Khải Huyền 16, và trong Đa-ni-ên 11:40, nó là các xe trận, tàu thuyền và kỵ binh.
Half Truths are No Truth at All
Nửa Sự Thật Hoàn Toàn Không Phải Là Chân Lý
The nation that is the subject of both Daniel and Revelation in the latter days is the United States and Daniel chapter eleven begins by specifically identifying that nation’s final president. This truth is an established biblical fact which Laodicean Seventh-day Adventists reject by hiding behind a half-truth. The half truth they hide behind on this subject is their agreement that it is the United States that is both the earth beast of Revelation thirteen and also the false prophet of chapter sixteen; yet they refuse to see that Donald Trump is a primary subject of biblical prophecy in the latter days. God never changes and when He interacted with Egypt, Pharoah was a primary subject of the prophetic history, then with Babylon, Nebuchadnezzar and Belshazzar are named. Cyrus was named. Darius was named. The Bible specifically identifies the last ruler of the earth beast, and it is not a casual reference. Adventism knows who the United States is, in end-time prophecy, but cannot see that God addresses both the nation and its leader in every prophetic scenario, and all of those previous sacred histories illustrate the latter days.
Quốc gia là đối tượng của cả sách Đa-ni-ên lẫn Khải Huyền trong những ngày sau rốt là Hoa Kỳ, và Đa-ni-ên chương mười một bắt đầu bằng việc đích danh xác định vị tổng thống cuối cùng của quốc gia ấy. Lẽ thật này là một sự kiện Kinh Thánh đã được xác lập, điều mà những người Cơ Đốc Phục Lâm Lao-đi-xê từ chối bằng cách ẩn mình sau một nửa sự thật. Nửa sự thật mà họ ẩn mình sau trong vấn đề này là sự đồng ý của họ rằng chính Hoa Kỳ vừa là con thú từ đất trong Khải Huyền chương mười ba, vừa là tiên tri giả của chương mười sáu; tuy nhiên họ lại từ chối nhìn nhận rằng Donald Trump là một chủ đề trọng yếu của lời tiên tri Kinh Thánh trong những ngày sau rốt. Đức Chúa Trời không hề thay đổi, và khi Ngài tương tác với Ai Cập, Pha-ra-ôn là một chủ đề trọng yếu của lịch sử tiên tri; rồi đến Ba-by-lôn, Nê-bu-cát-nết-sa và Bên-xát-sa đều được nêu đích danh. Si-ru được nêu đích danh. Đa-ri-út được nêu đích danh. Kinh Thánh đích danh xác định nhà cai trị cuối cùng của con thú từ đất, và đó không phải là một lời nhắc đến cách tình cờ. Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm biết Hoa Kỳ là ai trong lời tiên tri thời kỳ cuối cùng, nhưng không thể thấy rằng Đức Chúa Trời đề cập đến cả quốc gia lẫn nhà lãnh đạo của quốc gia ấy trong mọi bối cảnh tiên tri, và tất cả những lịch sử thánh trước đó đều minh họa những ngày sau rốt.
Trump in the Final Vision
Kèn Trump trong Khải tượng Cuối cùng
Donald Trump is the first subject in Daniel’s final vision, which is the climax of all the prophetic visions, not simply in the book of Daniel, but the entire Bible.
Donald Trump là đối tượng đầu tiên trong khải tượng cuối cùng của Đa-ni-ên, là đỉnh điểm của mọi khải tượng tiên tri, không chỉ trong sách Đa-ni-ên, mà còn trong toàn bộ Kinh Thánh.
The theme of the last vision of prophetic history within God’s Word is Donald Trump. He is the symbol that identifies the footsteps of the external latter-day prophecy of the hidden history of verse forty. He is also the link that identifies and establishes the internal line of the one hundred and forty-four thousand. The one hundred and forty-four thousand are the Protestant horn upon the earth beast of Revelation thirteen, and Donald Trump represents the Republican horn of the same beast. The beast is the Constitution of the United States as represented by the constitutional republican government that initially placed a separation between the two horns, but ultimately unites the horns into an image of the papal sea beast.
Chủ đề của khải tượng cuối cùng trong lịch sử tiên tri bên trong Lời Đức Chúa Trời là Donald Trump. Ông là biểu tượng nhận diện những bước chân của lời tiên tri ngoại tại trong những ngày sau rốt về lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi. Ông cũng là mối liên kết nhận diện và thiết lập đường lối nội tại của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Một trăm bốn mươi bốn nghìn là cái sừng Tin Lành trên con thú từ đất của Khải Huyền 13, và Donald Trump tượng trưng cho cái sừng Cộng Hòa của chính con thú ấy. Con thú ấy là Hiến Pháp của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ như được thể hiện qua chính thể cộng hòa lập hiến, vốn ban đầu đặt ra sự phân cách giữa hai cái sừng, nhưng rốt cuộc hợp nhất hai cái sừng thành một ảnh tượng của con thú biển thuộc giáo hoàng.
Sister White repeatedly aligns Daniel chapter three’s golden image with the Sunday law of the latter days; so, who does Nebuchadnezzar represent? Adventism will inform you it is the United States, the earth beast of chapter thirteen of Revelation, which equates to identifying that it was Babylon that threw Shadrach, Meshak and Abednego into the fire. It was Nebuchadnezzar that the Bible identifies as the one who was responsible at the Sunday law, so who is Nebuchadnezzar, if it is not the president that rules when the soon coming Sunday law arrives?
Bà White nhiều lần đặt pho tượng vàng trong chương ba của sách Đa-ni-ên song song với luật ngày Chủ nhật trong những ngày sau rốt; vậy, Nê-bu-cát-nết-sa tiêu biểu cho ai? Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm sẽ cho bạn biết đó là Hoa Kỳ, con thú từ đất trong chương mười ba của sách Khải Huyền, điều này tương đương với việc xác định rằng chính Ba-by-lôn là thế lực đã ném Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô vào lửa. Kinh Thánh xác định chính Nê-bu-cát-nết-sa là người chịu trách nhiệm vào thời điểm luật ngày Chủ nhật được ban hành, vậy Nê-bu-cát-nết-sa là ai, nếu đó không phải là vị tổng thống cầm quyền khi luật ngày Chủ nhật sắp đến được thiết lập?
Three
Ba
Daniel’s last vision, which is the vision of the Hiddekel River is broken into three chapters that each align with the characteristics of the three angels of Revelation fourteen. The three chapters represent the first, second and third angels, but they also represent Daniel’s last message. His first message of chapter one also represents the three angels of Revelation fourteen, and in so doing the signature of Alpha and Omega is placed upon chapter one and the vision of the Hiddekel River.
Khải tượng cuối cùng của Daniel, tức khải tượng bên sông Hiddekel, được chia thành ba chương, và mỗi chương đều tương ứng với các đặc tính của ba thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười bốn. Ba chương ấy tượng trưng cho thiên sứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba, nhưng đồng thời cũng tượng trưng cho sứ điệp cuối cùng của Daniel. Sứ điệp đầu tiên của ông trong chương một cũng tượng trưng cho ba thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười bốn, và như vậy, dấu ấn của Alpha và Omega được đặt trên chương một và trên khải tượng bên sông Hiddekel.
Daniel’s last vision is set upon the framework of the Hebrew word “truth,” which is made up of the first, thirteenth and the last and twenty-second letter of the Hebrew alphabet. Chapter ten identifies Daniel as a student of prophecy who is transformed from a Laodicean unto a Philadelphian on the twenty-second day. Daniel is then empowered to understand the unsealed increase of knowledge represented in chapter twelve. The first and last chapters of the vision identify Daniel as a symbol of the one hundred and forty-four thousand, who are genuine students of prophecy.
Khải tượng cuối cùng của Đa-ni-ên được đặt trên khuôn khổ của từ Hê-bơ-rơ “lẽ thật,” là từ được cấu thành bởi chữ cái thứ nhất, thứ mười ba, và chữ cái cuối cùng, tức chữ cái thứ hai mươi hai, của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ. Chương mười xác định Đa-ni-ên là một môn sinh của lời tiên tri, người được biến đổi từ một kẻ Laodicea thành một người Philadenphia vào ngày thứ hai mươi hai. Sau đó, Đa-ni-ên được ban năng lực để hiểu sự gia tăng tri thức đã được mở ra, được tượng trưng trong chương mười hai. Các chương đầu và cuối của khải tượng xác định Đa-ni-ên là biểu tượng của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, là những môn sinh chân chính của lời tiên tri.
“Whatever may be man’s intellectual advancement, let him not for a moment think that there is no need of thorough and continuous searching of the Scriptures for greater light. As a people we are called individually to be students of prophecy.” Testimonies, volume 5, 708.
“Dù sự tiến bộ về trí tuệ của con người có thể đến mức nào đi nữa, chớ nên trong giây lát nào nghĩ rằng không cần phải tra cứu Kinh Thánh một cách kỹ lưỡng và liên tục để nhận được ánh sáng lớn hơn. Với tư cách là một dân sự, mỗi cá nhân chúng ta được kêu gọi phải là những người học hỏi lời tiên tri.” Testimonies, quyển 5, tr. 708.
Chapter one identifies the same truths of the Hiddekel River vision, and the Hiddekel River vision’s first chapter identifies the same truth as its third and last chapter. The book of Daniel bears the signature of Alpha and Omega for chapter one identifies the three step testing process of the everlasting gospel and so does chapter twelve. Then within the three chapters which make up Daniel’s final vision, the first chapter is the alpha and the third chapter is the omega. This aligns with Daniel’s first test of what food to eat and his third and final test when he was judged by Nebuchadnezzar after three years. Daniel one’s alpha test was over the methodology of Bible study as represented by eating either the Babylonian fare or the vegetarian fare.
Chương một xác định những lẽ thật giống như trong khải tượng bên sông Hiddekel, và chương thứ nhất của khải tượng bên sông Hiddekel xác định cùng một lẽ thật như chương thứ ba và là chương cuối của nó. Sách Đa-ni-ên mang ấn ký của Alpha và Omega, vì chương một xác định tiến trình thử luyện gồm ba bước của phúc âm đời đời, và chương mười hai cũng vậy. Rồi trong ba chương hợp thành khải tượng cuối cùng của Đa-ni-ên, chương thứ nhất là alpha và chương thứ ba là omega. Điều này phù hợp với sự thử luyện đầu tiên của Đa-ni-ên về thức ăn nào phải dùng, và sự thử luyện thứ ba và cuối cùng của ông khi ông bị Nê-bu-cát-nết-sa xét đoán sau ba năm. Sự thử luyện alpha trong Đa-ni-ên đoạn một liên quan đến phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh, như được tượng trưng bởi việc ăn thức ăn của Ba-by-lôn hoặc thức ăn chay.
Daniel’s faithfulness to the methodology of “line upon line” allowed him to be found “in all matters of wisdom and understanding, that the king enquired of them, he found them ten times better than all the magicians and astrologers that were in all his realm.” In the omega chapter twelve it is the wise who understand all matters of wisdom that are increased when the prophetic Word is unsealed. Chapter twelve is the omega to chapter one, and it is also the omega to chapter ten, the alpha of the Hiddekel vision. In that alpha chapter ten, Daniel settles into the spiritual experience aligning with the wise settling into the intellectual experience in chapter twelve. Chapter one underlines that it is the methodology of biblical study that allows the student of prophecy to settle into the truth both spiritually and intellectually in order to be sealed.
Sự trung tín của Đa-ni-ên đối với phương pháp luận “hàng chữ tiếp theo hàng chữ” đã khiến ông được thấy rằng “trong mọi việc khôn ngoan thông sáng mà vua hỏi đến họ, vua thấy họ hơn gấp mười các pháp sư và các nhà chiêm tinh ở trong khắp nước mình.” Trong chương mười hai omega, chính những người khôn ngoan là những người hiểu mọi việc khôn ngoan được gia tăng khi Lời tiên tri được mở niêm. Chương mười hai là omega của chương một, và cũng là omega của chương mười, tức alpha của khải tượng Hi-đê-ke. Trong chương alpha là chương mười ấy, Đa-ni-ên an định trong kinh nghiệm thuộc linh, tương ứng với việc những người khôn ngoan an định trong kinh nghiệm trí tuệ ở chương mười hai. Chương một nhấn mạnh rằng chính phương pháp luận nghiên cứu Kinh Thánh cho phép người học lời tiên tri an định trong lẽ thật cả về phương diện thuộc linh lẫn trí tuệ để được đóng ấn.
Representing the genuine students of prophecy in the latter days, Daniel and the three worthies are the wise who not only understand the increase of knowledge that is unsealed at the time of the end in 1989, but they also understand the increase of knowledge at 9/11. Ultimately, they understand the unsealed increase of knowledge on December 31, 2023.
Tượng trưng cho những người nghiên cứu lời tiên tri chân chính trong những ngày sau rốt, Đa-ni-ên và ba người ưu tú ấy là những kẻ khôn ngoan, là những người không những hiểu sự gia tăng của tri thức được mở ấn vào thời kỳ cuối cùng, vào năm 1989, mà còn hiểu sự gia tăng của tri thức vào ngày 11 tháng 9. Sau hết, họ hiểu sự gia tăng của tri thức đã được mở ấn vào ngày 31 tháng 12 năm 2023.
In their pursuit of God’s prophetic light, they are changed from the Laodicean Seventh-day Adventist movement of the one hundred and forty-four thousand unto the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand. When the change occurs, they are separated from those who fled from the vision of the looking glass.
Trong khi theo đuổi ánh sáng tiên tri của Đức Chúa Trời, họ được biến đổi từ phong trào Lao-đi-xê của Cơ Đốc Phục Lâm ngày thứ bảy gồm một trăm bốn mươi bốn nghìn người sang phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Khi sự thay đổi ấy xảy ra, họ được phân rẽ khỏi những kẻ đã trốn chạy khỏi khải tượng về tấm gương soi.
Message of Human Rebellion
Sứ Điệp về Sự Phản Loạn của Nhân Loại
Chapters ten and twelve address the one hundred and forty-four thousand, for they are the first and third steps in the framework of truth. Once empowered by the internal experience of the looking glass vision of chapter ten, along with being enlightened with the unsealed understanding of Daniel twelve, they are to proclaim the message of human rebellion. The message of human rebellion is represented by the books of Daniel and Revelation, and the message of rebellion is placed within the prophetic framework of the kingdoms of Bible prophecy set forth in Daniel. The prophetic symbolism of the testimony of human rebellion within the book of Daniel is fully represented in chapter eleven. Chapter eleven is a history beginning at the ending of Babylon and the beginning of the Medes and Persians. It is therefore beginning with the deadly wound of Babylon, which typifies the deadly wound of the papacy in 1798. When the papacies’ deadly wound is healed at the soon coming Sunday law, she becomes the head of the threefold union of the dragon, the beast and the false prophet. She then is the woman riding the beast in Revelation seventeen, and that woman has Babylon the Great written upon her forehead. At the soon coming Sunday law the deadly wound of both Babylon and the papacy is healed.
Các chương mười và mười hai đề cập đến một trăm bốn mươi bốn ngàn người, vì đó là bước thứ nhất và thứ ba trong cấu trúc của lẽ thật. Sau khi được ban quyền năng bởi kinh nghiệm nội tâm của khải tượng chiếc gương trong chương mười, cùng với việc được soi sáng bởi sự hiểu biết đã được mở niêm của Đa-ni-ên mười hai, họ phải rao truyền sứ điệp về sự phản loạn của loài người. Sứ điệp về sự phản loạn của loài người được tiêu biểu bởi các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền, và sứ điệp phản loạn được đặt trong khuôn khổ tiên tri của các vương quốc trong lời tiên tri Kinh Thánh được trình bày trong Đa-ni-ên. Biểu tượng tiên tri về lời chứng của sự phản loạn của loài người trong sách Đa-ni-ên được trình bày đầy đủ trong chương mười một. Chương mười một là một lịch sử bắt đầu vào lúc Ba-by-lôn chấm dứt và Mê-đi và Ba Tư khởi đầu. Vì vậy, chương ấy bắt đầu với vết thương chí tử của Ba-by-lôn, là hình bóng của vết thương chí tử của giáo hoàng vào năm 1798. Khi vết thương chí tử của giáo hoàng được chữa lành vào đạo luật ngày Chủ nhật sắp đến, nó trở thành đầu của liên hiệp ba mặt gồm con rồng, con thú và tiên tri giả. Khi ấy, nó là người đàn bà cưỡi con thú trong Khải Huyền mười bảy, và người đàn bà ấy có hàng chữ Ba-by-lôn Lớn viết trên trán mình. Vào đạo luật ngày Chủ nhật sắp đến, vết thương chí tử của cả Ba-by-lôn lẫn giáo hoàng đều được chữa lành.
The human rebellion represented from the time of Babylon through to the end of the world is the framework of the book of Daniel, and chapter eleven is the external prophetic message that chronicles that rebellion of the last days. That testimony of rebellion found in chapter eleven aligns with and within the last six verses of the chapter. The last six verses are the message of human rebellion, and those last six verses are represented with and within the hidden history of verse forty. In so doing the book of Daniel is reduced to one chapter, which in turn is reduced to six verses of that very chapter, which is in turn reduced to the hidden history of the last half of one verse.
Sự phản nghịch của loài người, được biểu trưng từ thời Babylon cho đến tận thế, là khuôn khổ của sách Đa-ni-ên, và chương mười một là sứ điệp tiên tri bên ngoài ghi chép lại sự phản nghịch ấy của những ngày sau rốt. Chứng ngôn về sự phản nghịch được tìm thấy trong chương mười một ấy phù hợp với và nằm trong sáu câu cuối của chương. Sáu câu cuối là sứ điệp về sự phản nghịch của loài người, và sáu câu cuối ấy được biểu trưng với và nằm trong lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi. Làm như vậy, sách Đa-ni-ên được thu lại thành một chương, rồi chương ấy lại được thu lại thành sáu câu của chính chương đó, và tiếp nữa được thu lại thành lịch sử ẩn giấu của nửa sau của một câu.
Chapter eleven represents the thirteenth letter that is preceded by the first and followed by the last letters of the Hebrew alphabet, and the first and last are always the same. The first chapter identifies the wise being separated from the foolish at the looking glass vision and the last chapter identifies the wise being separated from the foolish at the unsealing. Inspiration informs us that the sealing of the one hundred and forty-four thousand is a “settling into the truth, both intellectually and spiritually.” Chapter ten identifies the sealing of the one hundred and forty-four thousand spiritually and chapter twelve shows the intellectual. Chapter ten identifies three touches and three interactions with heavenly beings. Chapter twelve identifies a three-step purification of the wise that is accomplished by the increase of the intellectual prophetic truth as “purified, made white and tried.” Just as chapter ten has two symbols of three, with the three touches and three heavenly encounters; chapter twelve has the three-step testing process, as well as, three time prophecies.
Chương mười một tượng trưng cho chữ cái thứ mười ba, được đặt trước bởi chữ cái đầu và theo sau bởi chữ cái cuối của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ, và chữ đầu cùng chữ cuối luôn luôn là như nhau. Chương thứ nhất xác định những người khôn ngoan được phân rẽ khỏi những kẻ dại dột tại khải tượng gương soi, và chương cuối xác định những người khôn ngoan được phân rẽ khỏi những kẻ dại dột tại sự mở ấn. Sự soi dẫn cho chúng ta biết rằng việc đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn người là một “sự định vững trong lẽ thật, cả về trí tuệ lẫn thuộc linh.” Chương mười xác định việc đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn ngàn người về phương diện thuộc linh, và chương mười hai trình bày phương diện trí tuệ. Chương mười xác định ba lần chạm đến và ba sự tương tác với các hữu thể trên trời. Chương mười hai xác định một sự thanh luyện ba bước của những người khôn ngoan, được hoàn thành bởi sự gia tăng của lẽ thật tiên tri về phương diện trí tuệ, là “được thanh sạch, được làm cho trắng, và được thử luyện.” Cũng như chương mười có hai biểu tượng về số ba, với ba lần chạm đến và ba cuộc gặp gỡ trên trời, thì chương mười hai có tiến trình thử luyện ba bước, cũng như ba lời tiên tri về thời gian.
Chapter ten’s three heavenly encounters bear the signature of truth for the first and last heavenly being to interact with Daniel was the angel Gabriel, and the middle being was Michael. Three angels, but Christ was the angel in the second step. The three touches represent a progressive three-step empowerment of Daniel. Within the passage Daniel identifies the looking glass vision three times, and in so doing he is placing the three looking glass visions within seven references of the mareh vision in chapter ten. Twice the Hebrew word mareh is translated as “appearance,” and twice as “vision,” and three other times it is translated as “vision.” The ‘three other times’ are not mareh, they are the feminine expression of mareh, which is marah. Chapter ten has three touches of progressive empowerment, three heavenly encounters that bear the signature of truth and three looking glass visions that are a part of seven references of the appearance of Christ.
Ba cuộc gặp gỡ trên trời trong chương mười mang dấu ấn của lẽ thật, vì hữu thể trên trời đầu tiên và cuối cùng tương tác với Đa-ni-ên là thiên sứ Gáp-ri-ên, còn hữu thể ở giữa là Mi-ca-ên. Ba thiên sứ, nhưng Đấng Christ là thiên sứ trong bước thứ hai. Ba lần chạm đến tượng trưng cho một sự ban năng lực tiệm tiến gồm ba bước cho Đa-ni-ên. Trong đoạn này, Đa-ni-ên nhận diện khải tượng như qua gương ba lần, và khi làm như vậy, ông đặt ba khải tượng như qua gương ấy vào trong bảy chỗ đề cập đến khải tượng mareh trong chương mười. Hai lần từ Hê-bơ-rơ mareh được dịch là “appearance,” và hai lần là “vision,” còn ba lần khác nữa cũng được dịch là “vision.” “Ba lần khác nữa” không phải là mareh; đó là hình thức giống cái của mareh, tức marah. Chương mười có ba lần chạm đến của sự ban năng lực tiệm tiến, ba cuộc gặp gỡ trên trời mang dấu ấn của lẽ thật, và ba khải tượng như qua gương là một phần của bảy chỗ đề cập đến sự hiện ra của Đấng Christ.
Appearance
Sự Xuất Hiện
The two times mareh is translated as appearance align with the two times it is translated as vision. Together they identify Christ as a symbol that appears as a waymark in prophetic history. In Revelation chapter ten, an angel descends and places one foot on the land and the other on the sea. Sister White informs us the angel was “no less a personage than Jesus Christ.” The angel of Revelation ten is the “appearance” of Christ in prophetic history. He appears in verse thirteen of Daniel chapter eight as Palmoni, and in Revelation chapter five onward He appears as the Lion of the tribe of Judah. Daniel is representing those of the last days who follow the prophetic appearances of Christ, wherever He might go. If they are faithful to do so, they are led to the looking glass vision where the unfaithful flee.
Hai lần mareh được dịch là “appearance” tương ứng với hai lần nó được dịch là “vision”. Cả hai cùng xác định Đấng Christ như một biểu tượng xuất hiện như một dấu mốc trên đường trong lịch sử tiên tri. Trong Khải Huyền chương mười, một thiên sứ ngự xuống và đặt một chân trên đất, chân kia trên biển. Chị White cho chúng ta biết rằng thiên sứ ấy “không phải ai khác hơn chính là Đức Chúa Giê-su Christ.” Thiên sứ của Khải Huyền mười là “sự xuất hiện” của Đấng Christ trong lịch sử tiên tri. Ngài xuất hiện trong câu mười ba của Đa-ni-ên chương tám với danh xưng Palmoni, và từ Khải Huyền chương năm trở đi, Ngài xuất hiện như Sư tử của chi phái Giu-đa. Đa-ni-ên đại diện cho những người trong thời kỳ cuối cùng là những người theo các sự xuất hiện mang tính tiên tri của Đấng Christ, bất cứ nơi nào Ngài có thể đi. Nếu họ trung tín làm như vậy, họ được dẫn đến khải tượng looking glass, là nơi những kẻ bất trung trốn chạy.
Chapter twelve’s three-step purification based upon understanding the knowledge that is increased when a prophecy is unsealed is accompanied by three ‘time prophecies,’ which represent three distinct fulfillments for each of the three verses. Verse seven’s twelve hundred and sixty years, verse eleven’s twelve hundred and ninety years and verse twelves thirteen hundred and thirty-five years identify three verses that each contain a time prophecy which was fulfilled in history, and thereafter recognized by the Millerites as historical confirmation of the message they proclaimed. The prediction in the verse, the historical fulfillment and the Millerite application of that history witness to the latter-day fulfillment of those three prophecies. But the Millerites application of time is no longer valid, so the time references in the verses are to be applied as symbols, not as time. The symbolism is established in the verses through applying the verse, the verse’s fulfillment in history and the Millerite presentation of the message.
Tiến trình thanh tẩy gồm ba bước của chương mười hai, dựa trên sự hiểu biết về tri thức được gia tăng khi một lời tiên tri được mở niêm, đi kèm với ba “lời tiên tri về thời gian”, là những điều tượng trưng cho ba sự ứng nghiệm riêng biệt cho mỗi trong ba câu. Một ngàn hai trăm sáu mươi năm của câu bảy, một ngàn hai trăm chín mươi năm của câu mười một, và một ngàn ba trăm ba mươi lăm năm của câu mười hai xác định ba câu, mỗi câu đều chứa một lời tiên tri về thời gian đã được ứng nghiệm trong lịch sử, và sau đó được những người Millerite nhìn nhận như sự xác nhận mang tính lịch sử cho sứ điệp mà họ công bố. Lời tiên đoán trong câu, sự ứng nghiệm trong lịch sử, và cách áp dụng lịch sử ấy của những người Millerite đều làm chứng cho sự ứng nghiệm trong thời kỳ cuối cùng của ba lời tiên tri ấy. Nhưng cách áp dụng thời gian của những người Millerite nay không còn hiệu lực nữa, vì vậy những chỗ nói đến thời gian trong các câu ấy phải được áp dụng như những biểu tượng, chứ không phải như thời gian. Tính biểu tượng được xác lập trong các câu ấy qua việc áp dụng chính câu ấy, sự ứng nghiệm của câu ấy trong lịch sử, và sự trình bày sứ điệp của những người Millerite.
Chapter eleven’s chronology of human rebellion is woven together by leagues, treaties and covenants. The human covenants that are represented within the history of chapter eleven are contrasted with the Divine covenant.
Dòng thời gian về sự phản nghịch của loài người trong chương mười một được dệt kết bởi những liên minh, hiệp ước và giao ước. Những giao ước của loài người được trình bày trong lịch sử của chương mười một được đặt trong sự tương phản với giao ước thiêng liêng.
“In the last days of this earth’s history, God’s covenant with his commandment-keeping people is to be renewed.” Review and Herald, February 26, 1914.
“Trong những ngày cuối cùng của lịch sử thế gian này, giao ước của Đức Chúa Trời với dân sự vâng giữ các điều răn của Ngài sẽ được lập lại.” Review and Herald, February 26, 1914.
Rome establishes the entire vision, and when papal Rome is first addressed in chapter eleven, she is identified as “them that forsake the holy covenant.” The internal line in Daniel eleven, which is also the internal line within the hidden history of verse forty, represents those who enter into covenant with God in the latter days, and the external line identifies those who forsake that very covenant. In illustrating the class who will not be benefitted by the increase of knowledge in the latter days, their external history is woven upon the prophetic thread of broken human treaties.
Rô-ma thiết lập toàn bộ khải tượng, và khi Rô-ma Giáo hoàng lần đầu tiên được đề cập trong chương mười một, bà được nhận diện là “những kẻ lìa bỏ giao ước thánh.” Đường tuyến nội tại trong Đa-ni-ên mười một, cũng là đường tuyến nội tại trong lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi, tiêu biểu cho những người bước vào giao ước với Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, còn đường tuyến ngoại tại nhận diện những kẻ lìa bỏ chính giao ước ấy. Khi minh họa hạng người sẽ không được ích lợi bởi sự gia tăng tri thức trong những ngày sau rốt, lịch sử ngoại tại của họ được dệt vào sợi chỉ tiên tri của những hiệp ước loài người bị phá vỡ.
Woven into the internal line of the one hundred and forty-four thousand are multiple symbols and illustrations of the covenant relationship of God with His latter-day remnant people. The symbol of the number “eleven” is one of those truths, and the fact that the eleventh verse of chapter eleven identifies the external and internal vision of the latter days is emphasized by Isaiah identifying the purpose and work of God’s last day covenant people in chapter eleven, and verse eleven.
Được dệt vào đường nét nội tại của một trăm bốn mươi bốn ngàn người là nhiều biểu tượng và hình minh họa về mối quan hệ giao ước của Đức Chúa Trời với dân sót lại của Ngài trong những ngày sau rốt. Biểu tượng của con số “mười một” là một trong những lẽ thật ấy, và sự kiện câu mười một của chương mười một xác định khải tượng bên ngoài và bên trong của những ngày sau rốt được nhấn mạnh bởi việc Ê-sai, trong chương mười một, câu mười một, xác định mục đích và công việc của dân giao ước của Đức Chúa Trời trong ngày cuối cùng.
And it shall come to pass in that day, that the Lord shall set his hand again the second time to recover the remnant of his people, which shall be left, from Assyria, and from Egypt, and from Pathros, and from Cush, and from Elam, and from Shinar, and from Hamath, and from the islands of the sea. Isaiah 11:11.
Và sẽ xảy ra trong ngày ấy, rằng Chúa sẽ lại ra tay lần thứ hai để thu hồi phần dân sót lại của Ngài, là những kẻ sẽ còn lại, từ A-si-ri, từ Ai Cập, từ Pathros, từ Cút, từ Ê-lam, từ Si-nê-a, từ Ha-mát, và từ các hải đảo của biển cả. Ê-sai 11:11.
The Scattering
Sự Tản Lạc
In the last days the remnant people of God will have been twice scattered, needing to be gathered. Verse seven of Daniel twelve identifies a scattering of God’s people in the last days, thus representing the twelve hundred and sixty days as a symbol of a scattering.
Trong những ngày sau rốt, dân sót lại của Đức Chúa Trời sẽ đã bị tan tác hai lần, cần phải được quy tụ lại. Câu bảy của Đa-ni-ên mười hai xác định một sự tan tác của dân Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt, do đó biểu thị một ngàn hai trăm sáu mươi ngày như một biểu tượng của sự tan tác.
And I heard the man clothed in linen, which was upon the waters of the river, when he held up his right hand and his left hand unto heaven, and sware by him that liveth for ever that it shall be for a time, times, and an half; and when he shall have accomplished to scatter the power of the holy people, all these things shall be finished. Daniel 12:7.
Và tôi nghe người mặc vải gai mịn, là người ở trên nước sông, khi người giơ tay phải và tay trái lên trời, mà chỉ Đấng hằng sống đời đời thề rằng việc ấy sẽ kéo dài một kỳ, những kỳ, và nửa kỳ; và khi người đã hoàn tất việc làm tan tác quyền lực của dân thánh, thì mọi điều ấy sẽ được trọn. Đa-ni-ên 12:7.
The two witnesses were scattered in Revelation chapter eleven after they gave their testimony.
Hai người làm chứng đã bị tan tác trong chương mười một của sách Khải Huyền sau khi họ đã làm chứng.
And when they shall have finished their testimony, the beast that ascendeth out of the bottomless pit shall make war against them, and shall overcome them, and kill them. And their dead bodies shall lie in the street of the great city, which spiritually is called Sodom and Egypt, where also our Lord was crucified. And they of the people and kindreds and tongues and nations shall see their dead bodies three days and an half, and shall not suffer their dead bodies to be put in graves. And they that dwell upon the earth shall rejoice over them, and make merry, and shall send gifts one to another; because these two prophets tormented them that dwelt on the earth. Revelation 11:7–10.
Và khi họ đã làm xong lời chứng của mình, con thú từ vực sâu đi lên sẽ giao chiến với họ, sẽ thắng họ và giết họ. Và xác chết của họ sẽ nằm trên đường phố của thành lớn, về phương diện thiêng liêng được gọi là Sô-đôm và Ê-díp-tô, cũng là nơi Chúa chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Và những người thuộc các dân, các chi phái, các tiếng nói và các nước sẽ nhìn xem xác chết của họ trong ba ngày rưỡi, và không cho phép xác chết của họ được chôn cất trong mồ. Và những kẻ ở trên đất sẽ vui mừng vì họ, hân hoan, và sẽ gửi quà cho nhau; bởi vì hai đấng tiên tri này đã làm khổ những kẻ ở trên đất. Khải Huyền 11:7–10.
In the next verse, verse eleven, the two witnesses are resurrected from their death in the street of Sodom and Egypt. That same death is portrayed by Ezekiel as a valley of scattered, dead, dry bones. The two witnesses represent the Republican and Protestant horns that were slain in 2020. The Protestant horn died at its false prediction of July 18, 2020 and the Republican horn died at the stolen election of 2020. Isaiah identifies that when the witnesses are resurrected, which he identifies as being gathered a second time, those witnesses become the ensign that gathers the eleventh-hour workers.
Trong câu tiếp theo, câu mười một, hai nhân chứng được sống lại từ cái chết của họ trên đường phố của Sô-đôm và Ai Cập. Chính cái chết ấy được Ê-xê-chi-ên mô tả như một thung lũng đầy những xương khô, chết, tản mác. Hai nhân chứng tượng trưng cho hai sừng Cộng hòa và Kháng Cách đã bị giết trong năm 2020. Sừng Kháng Cách đã chết tại lời tiên đoán giả dối của nó về ngày 18 tháng 7 năm 2020, và sừng Cộng hòa đã chết tại cuộc bầu cử bị đánh cắp năm 2020. Ê-sai xác định rằng khi các nhân chứng được sống lại, điều mà ông xác định là được tập họp lần thứ hai, thì những nhân chứng ấy trở thành ngọn cờ hiệu để tập họp những người thợ giờ thứ mười một.
And in that day there shall be a root of Jesse, which shall stand for an ensign of the people; to it shall the Gentiles seek: and his rest shall be glorious. And it shall come to pass in that day, that the Lord shall set his hand again the second time to recover the remnant of his people, which shall be left, from Assyria, and from Egypt, and from Pathros, and from Cush, and from Elam, and from Shinar, and from Hamath, and from the islands of the sea. And he shall set up an ensign for the nations, and shall assemble the outcasts of Israel, and gather together the dispersed of Judah from the four corners of the earth. Isaiah 11:10–12.
Và trong ngày đó sẽ có một chồi từ gốc Y-sai, là Đấng sẽ đứng lên như một cờ hiệu cho các dân; các dân ngoại sẽ tìm đến Ngài; và nơi an nghỉ của Ngài sẽ vinh hiển. Trong ngày đó sẽ xảy ra rằng Chúa sẽ lại giơ tay ra lần thứ hai để thu hồi dân sót của Ngài, là những kẻ còn lại, từ A-si-ri, từ Ai Cập, từ Pathros, từ Cút, từ Ê-lam, từ Si-nê-a, từ Ha-mát, và từ các hải đảo ngoài biển. Ngài sẽ dựng lên một cờ hiệu cho các dân tộc, sẽ nhóm họp những kẻ bị xua đuổi của Y-sơ-ra-ên, và tập hợp những kẻ bị tản lạc của Giu-đa từ bốn phương đất. Ê-sai 11:10–12.
When the Lord sets his hand the second time to gather, he assembles “the outcasts of Israel.” The “outcasts of Israel” become the ensign to the Gentiles, and for this reason they must be cast out before they are gathered. They were cast out into Ezekiel’s valley of dead bones and once slain, they laid in the street where also our Lord was crucified, while the other class rejoiced.
Khi Chúa giơ tay Ngài lần thứ hai để nhóm hiệp, Ngài quy tụ “những kẻ bị đuổi ra của Y-sơ-ra-ên.” “Những kẻ bị đuổi ra của Y-sơ-ra-ên” trở thành ngọn cờ cho các dân Ngoại, và vì lý do ấy họ phải bị đuổi ra trước khi được nhóm lại. Họ đã bị đuổi ra vào thung lũng xương khô của Ê-xê-chi-ên, và sau khi bị giết, họ nằm trên đường phố, là nơi Chúa chúng ta cũng đã bị đóng đinh, trong khi tầng lớp kia vui mừng.
Hear the word of the Lord, ye that tremble at his word; Your brethren that hated you, that cast you out for my name’s sake, said, Let the Lord be glorified: but he shall appear to your joy, and they shall be ashamed. Isaiah 66:5.
Hãy nghe lời Đức Giê-hô-va, hỡi những kẻ run sợ trước lời Ngài; anh em các ngươi, là những kẻ ghét các ngươi, đã đuổi các ngươi ra vì danh ta, đã nói rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va được vinh hiển; nhưng Ngài sẽ hiện ra khiến các ngươi vui mừng, còn chúng sẽ bị hổ thẹn. Ê-sai 66:5.
Those who tremble at God’s Word are cast out by their brethren which hated them. Jeremiah identifies what happens to the brethren that hated the ensign.
Những kẻ run sợ trước lời Đức Chúa Trời bị chính anh em mình—là những kẻ ghét họ—đuổi ra. Giê-rê-mi chỉ rõ điều xảy đến cho những anh em đã ghét bỏ cờ hiệu.
Therefore thus saith the Lord, Behold, I will bring evil upon them, which they shall not be able to escape; and though they shall cry unto me, I will not hearken unto them. Jeremiah 11:11.
Vậy nên Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, Ta sẽ giáng tai họa trên chúng, là điều chúng sẽ không thể nào thoát khỏi; và dầu chúng có kêu cầu cùng Ta, Ta cũng sẽ không nhậm lời chúng. Giê-rê-mi 11:11.
The context of verse eleven is God’s covenant, and all the prophets address the last days, so the covenant being discussed is the renewing of the covenant with the one hundred and forty-four thousand.
Bối cảnh của câu mười một là giao ước của Đức Chúa Trời, và tất cả các tiên tri đều đề cập đến những ngày sau rốt, vì vậy giao ước đang được nói đến là việc tái lập giao ước với một trăm bốn mươi bốn ngàn người.
The word that came to Jeremiah from the Lord, saying, Hear ye the words of this covenant, and speak unto the men of Judah, and to the inhabitants of Jerusalem; And say thou unto them, Thus saith the Lord God of Israel; Cursed be the man that obeyeth not the words of this covenant, Which I commanded your fathers in the day that I brought them forth out of the land of Egypt, from the iron furnace, saying, Obey my voice, and do them, according to all which I command you: so shall ye be my people, and I will be your God: That I may perform the oath which I have sworn unto your fathers, to give them a land flowing with milk and honey, as it is this day. Then answered I, and said, So be it, O Lord.
Lời đã đến với Giê-rê-mi từ Đức Giê-hô-va rằng: Hãy nghe những lời của giao ước này, và hãy nói với những người Giu-đa cùng dân cư Giê-ru-sa-lem; và hãy nói với họ rằng: Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Đáng rủa sả là kẻ không vâng theo những lời của giao ước này, là giao ước mà Ta đã truyền cho tổ phụ các ngươi trong ngày Ta đem họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, khỏi lò sắt, mà phán rằng: Hãy vâng theo tiếng Ta, và làm theo mọi điều Ta truyền cho các ngươi; thì các ngươi sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời các ngươi; để Ta làm trọn lời thề mà Ta đã thề với tổ phụ các ngươi, ban cho họ một xứ đượm sữa và mật, như hiện nay. Bấy giờ tôi thưa rằng: A-men, lạy Đức Giê-hô-va.
Then the Lord said unto me, Proclaim all these words in the cities of Judah, and in the streets of Jerusalem, saying, Hear ye the words of this covenant, and do them. For I earnestly protested unto your fathers in the day that I brought them up out of the land of Egypt, even unto this day, rising early and protesting, saying, Obey my voice. Yet they obeyed not, nor inclined their ear, but walked every one in the imagination of their evil heart: therefore I will bring upon them all the words of this covenant, which I commanded them to do; but they did them not.
Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy rao truyền mọi lời nầy trong các thành của Giu-đa và trên các đường phố của Giê-ru-sa-lem, mà rằng: Hãy nghe những lời của giao ước nầy và làm theo. Vì từ ngày Ta đem tổ phụ các ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến ngày nay, Ta đã nghiêm thiết cảnh cáo họ, dậy sớm mà cảnh cáo, rằng: Hãy vâng theo tiếng Ta. Nhưng họ chẳng vâng theo, cũng không nghiêng tai nghe, song ai nấy bước đi theo sự ngoan cố của lòng ác mình; vì vậy, Ta sẽ giáng trên họ mọi lời của giao ước nầy, là điều Ta đã truyền cho họ phải làm, nhưng họ đã không làm.
And the Lord said unto me, A conspiracy is found among the men of Judah, and among the inhabitants of Jerusalem. They are turned back to the iniquities of their forefathers, which refused to hear my words; and they went after other gods to serve them: the house of Israel and the house of Judah have broken my covenant which I made with their fathers. Therefore thus saith the Lord, Behold, I will bring evil upon them, which they shall not be able to escape; and though they shall cry unto me, I will not hearken unto them. Jeremiah 11:1–11.
Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Một âm mưu phản nghịch đã được phát hiện giữa những người Giu-đa và giữa các cư dân Giê-ru-sa-lem. Chúng đã quay trở lại những gian ác của tổ phụ mình, là những kẻ đã từ chối nghe lời Ta; chúng cũng đã đi theo các thần khác để hầu việc chúng. Nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa đã bội ước giao ước của Ta, là giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ chúng. Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán thế nầy: Nầy, Ta sẽ giáng tai họa trên chúng, mà chúng sẽ không thể nào thoát khỏi; và dầu chúng có kêu cầu cùng Ta, Ta cũng sẽ không nghe chúng. Giê-rê-mi 11:1–11.
The subject of the judgment of Laodicean Seventh-day Adventism that Jeremiah identifies is repeated by Ezekiel in chapter eleven, verse eleven.
Chủ đề về sự phán xét đối với Cơ Đốc Phục Lâm Laodice được Giê-rê-mi xác định cũng được Ê-xê-chi-ên lặp lại trong chương mười một, câu mười một.
This city shall not be your caldron, neither shall ye be the flesh in the midst thereof; but I will judge you in the border of Israel. Ezekiel 11:11.
Thành này sẽ chẳng phải là vạc của các ngươi, và các ngươi cũng sẽ chẳng phải là thịt ở giữa nó; nhưng Ta sẽ xét đoán các ngươi tại bờ cõi Y-sơ-ra-ên. Ê-xê-chi-ên 11:11.
Inspiration directly identifies the sealing of Ezekiel chapter nine as the very same sealing of the one hundred and forty-four thousand in Revelation seven. Verse eleven of chapter eleven is simply the continuation of Ezekiel’s running narrative of the judgment upon the Seventh-day Adventist church, which Sister White identifies as Jerusalem of Ezekiel chapter nine. Those who did not receive the seal are judged and destroyed in the vision of chapter nine through eleven.
Thần Cảm trực tiếp xác định việc đóng ấn trong Ê-xê-chi-ên chương chín chính là cùng một việc đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn người trong Khải Huyền đoạn bảy. Câu mười một của chương mười một chỉ đơn thuần là sự tiếp nối của lời tường thuật liên tục trong Ê-xê-chi-ên về sự phán xét giáng trên Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm, mà Bà White xác định là Giê-ru-sa-lem của Ê-xê-chi-ên chương chín. Những kẻ không nhận được ấn được phán xét và bị hủy diệt trong khải tượng từ chương chín đến chương mười một.
The vision of 9/11 in Ezekiel identifies the unfaithful as being taken outside of Jerusalem to be judged, thus identifying the final separation of those who profess to be the final church illustrated in the book of Revelation. The symbol of “eleven, eleven” is a symbol of the covenant which the one hundred and forty-four thousand enter into with God. When added together the numbers represent twenty-two, which is a tenth of two hundred and twenty, one of the symbols of the combination of Divinity with humanity.
Khải tượng về 9/11 trong Ê-xê-chi-ên xác định những kẻ bất trung là những người bị đem ra ngoài Giê-ru-sa-lem để chịu phán xét, qua đó cho thấy sự phân rẽ cuối cùng của những kẻ xưng mình là hội thánh cuối cùng, như được minh họa trong sách Khải Huyền. Biểu tượng của “mười một, mười một” là biểu tượng của giao ước mà một trăm bốn mươi bốn ngàn người bước vào với Đức Chúa Trời. Khi cộng lại với nhau, các con số ấy biểu thị số hai mươi hai, là một phần mười của hai trăm hai mươi, một trong những biểu tượng của sự kết hợp giữa Thần tính với nhân tính.
Two hundred and twenty years between 677 and 457 BC connect Daniel’s prophecy of twenty-three hundred days, with Moses’ time prophecy of seven times. Much can be identified of the two hundred and twenty years as a symbol of the work of the atonement which began when those two prophecies arrived together in 1844. Much can be set forth of what is symbolically represented by the number twenty-two as a tithe of two hundred and twenty, as is the case with the number eleven. What I wish to identify here is the relation between eleven and twenty-two.
Hai trăm hai mươi năm giữa năm 677 và 457 TCN kết nối lời tiên tri của Đa-ni-ên về hai nghìn ba trăm ngày với lời tiên tri thời gian của Môi-se về bảy kỳ. Nhiều điều nơi hai trăm hai mươi năm ấy có thể được nhận diện như một biểu tượng của công việc chuộc tội đã bắt đầu khi hai lời tiên tri ấy cùng hội tụ vào năm 1844. Nhiều điều cũng có thể được trình bày về những gì được tượng trưng bởi con số hai mươi hai như một phần mười của hai trăm hai mươi, cũng như trường hợp của con số mười một. Điều tôi muốn xác định ở đây là mối liên hệ giữa mười một và hai mươi hai.
We will continue these thoughts in the next article.
Chúng tôi sẽ tiếp tục những tư tưởng này trong bài viết kế tiếp.