The latter rain message is a warning of the approaching close of probation in conjunction with a call for personal preparation. Those two concepts are represented in chapters ten and eleven of Isaiah’s vision, and they are done so in the context of the message of Daniel eleven which was unsealed in 1989, and whose hidden history is unsealed during the sealing time of the one hundred and forty-four thousand, who are represented in the vision by Isaiah and his sons. The two lines together represent a warning for Ahaz, representing Laodiceans who have no “understanding” of these two internal and external lines that pervade biblical prophecy.

Sứ điệp mưa rào cuối mùa là lời cảnh báo về sự cận kề của việc đóng cửa ân điển, đồng thời là lời kêu gọi chuẩn bị cá nhân. Hai khái niệm ấy được trình bày trong các chương 10 và 11 của khải tượng Ê-sai, và chúng được đặt trong bối cảnh sứ điệp của Đa-ni-ên chương 11, vốn đã được mở ấn vào năm 1989; lịch sử ẩn giấu của sứ điệp ấy được mở ấn trong thời kỳ niêm ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn, những người được Ê-sai và các con trai ông biểu trưng trong khải tượng. Hai đường lối ấy hợp lại thành lời cảnh báo dành cho A-cha, tượng trưng cho những người Lao-đi-xê không có “sự hiểu biết” về hai đường lối nội bộ và bên ngoài này vốn xuyên suốt lời tiên tri Kinh Thánh.

Daniel 11:11 and Revelation 11:11 present the same internal and external representation with Daniel representing the external and Revelation the internal. These two internal and external “chapter and verses” directly connect with the external and internal messages of chapters ten and eleven, and they do so in Isaiah 11:11.

Đa-ni-ên 11:11 và Khải Huyền 11:11 trình bày cùng một sự biểu hiện bên trong và bên ngoài, trong đó Đa-ni-ên đại diện cho phần bên ngoài còn Khải Huyền cho phần bên trong. Hai “chương và câu” bên trong và bên ngoài này liên hệ trực tiếp với các thông điệp bên ngoài và bên trong của chương mười và chương mười một, và điều đó diễn ra trong Ê-sai 11:11.

Isaiah six is 9/11 and identifies the purification and anointing of Isaiah as a messenger at 9/11. Chapter seven onward is an outline of the message which arrived at 9/11. Chapter ten is identifying the role of the last six verses of Daniel eleven, for it was the message unsealed at the time of the end in 1989.

Ê-sai 6 là 9/11 và xác định sự thanh tẩy và xức dầu của Ê-sai như một sứ giả vào 9/11. Từ chương 7 trở đi là dàn ý của sứ điệp đã đến vào 9/11. Chương 10 xác định vai trò của sáu câu cuối của Đa-ni-ên 11, vì đó là sứ điệp được mở ấn vào thời kỳ cuối cùng năm 1989.

Chapter eleven of Isaiah represents 9/11 and the anointing of Isaiah and his message. Verse one is tied together with verse ten by “Jessie” and verse ten says, “And in that day” and verse eleven continues by saying, “And it shall come to pass in that day that the Lord shall set his hand again the second time to recover the remnant of his people.”

Chương mười một của Ê-sai tượng trưng cho 9/11 và sự xức dầu của Ê-sai cùng sứ điệp của ông. Câu một được liên kết với câu mười bởi “Jessie”, và câu mười nói: “Và trong ngày ấy”, còn câu mười một tiếp tục: “Và sẽ xảy ra trong ngày ấy rằng Chúa sẽ lại giơ tay lần thứ hai để phục hồi phần còn sót lại của dân Ngài.”

That day was 1850.

Ngày đó là năm 1850.

And there shall come forth a rod out of the stem of Jesse, and a Branch shall grow out of his roots: And the spirit of the Lord shall rest upon him, the spirit of wisdom and understanding, the spirit of counsel and might, the spirit of knowledge and of the fear of the Lord; And shall make him of quick understanding in the fear of the Lord: and he shall not judge after the sight of his eyes, neither reprove after the hearing of his ears: But with righteousness shall he judge the poor, and reprove with equity for the meek of the earth: and he shall smite the earth with the rod of his mouth, and with the breath of his lips shall he slay the wicked. And righteousness shall be the girdle of his loins, and faithfulness the girdle of his reins. The wolf also shall dwell with the lamb, and the leopard shall lie down with the kid; and the calf and the young lion and the fatling together; and a little child shall lead them. And the cow and the bear shall feed; their young ones shall lie down together: and the lion shall eat straw like the ox. And the sucking child shall play on the hole of the asp, and the weaned child shall put his hand on the cockatrice’ den. They shall not hurt nor destroy in all my holy mountain: for the earth shall be full of the knowledge of the Lord, as the waters cover the sea.

Và sẽ nảy ra một chồi từ gốc Giesê, một nhánh sẽ mọc lên từ rễ của ông. Thần của Chúa sẽ ngự trên Người: thần khôn ngoan và hiểu biết, thần mưu lược và sức mạnh, thần tri thức và kính sợ Chúa. Người sẽ trở nên nhạy bén trong sự kính sợ Chúa; Người sẽ không xét xử theo điều mắt thấy, cũng không quyết định theo điều tai nghe. Nhưng với sự công chính, Người sẽ xét xử kẻ nghèo, và bằng lẽ công bằng, Người sẽ bênh vực những kẻ khiêm nhu trên đất; Người sẽ đánh đất bằng cây gậy của miệng mình, và bằng hơi môi mình sẽ giết kẻ ác. Sự công chính sẽ là dây thắt lưng của Người, và lòng thành tín sẽ là dây thắt nơi hông Người. Sói cũng sẽ ở với chiên con, và beo sẽ nằm bên dê con; bê con, sư tử tơ và con thú vỗ béo sẽ ở với nhau; và một đứa trẻ nhỏ sẽ dắt chúng. Bò cái và gấu sẽ cùng ăn; con của chúng sẽ nằm cùng nhau; và sư tử sẽ ăn rơm như bò. Đứa trẻ còn bú sẽ chơi trên lỗ hang rắn độc, và đứa trẻ đã thôi bú sẽ thò tay vào hang rắn hổ mang. Chúng sẽ không làm hại hay hủy diệt ở khắp núi thánh của Ta; vì đất sẽ đầy dẫy sự hiểu biết về Chúa, như nước che phủ biển.

11:10 And in that day there shall be a root of Jesse, which shall stand for an ensign of the people; to it shall the Gentiles seek: and his rest shall be glorious.

11:10 Và trong ngày ấy sẽ có một rễ của Jesse, đứng làm cờ hiệu cho các dân; các dân ngoại sẽ tìm đến người ấy: và chỗ an nghỉ của người ấy sẽ vinh hiển.

11:11 And it shall come to pass in that day, that the Lord shall set his hand again the second time to recover the remnant of his people, which shall be left, from Assyria, and from Egypt, and from Pathros, and from Cush, and from Elam, and from Shinar, and from Hamath, and from the islands of the sea.

11:11 Và sẽ xảy ra trong ngày ấy, Chúa sẽ lại đưa tay ra lần thứ hai để đem về số còn sót lại của dân Ngài, là những người còn lại, từ Assyria, từ Ai Cập, từ Pathros, từ Cush, từ Elam, từ Shinar, từ Hamath, và từ các hải đảo trên biển.

11:12 And he shall set up an ensign for the nations, and shall assemble the outcasts of Israel, and gather together the dispersed of Judah from the four corners of the earth.

11:12 Và Ngài sẽ dựng một cờ hiệu cho các dân tộc, tập hợp những người bị xua đuổi của Israel, và quy tụ những kẻ bị tản lạc của Giu-đa từ khắp bốn phương đất.

The envy also of Ephraim shall depart, and the adversaries of Judah shall be cut off: Ephraim shall not envy Judah, and Judah shall not vex Ephraim. But they shall fly upon the shoulders of the Philistines toward the west; they shall spoil them of the east together: they shall lay their hand upon Edom and Moab; and the children of Ammon shall obey them.

Sự ghen tị của Ephraim cũng sẽ dứt, và những kẻ thù nghịch của Judah sẽ bị diệt trừ; Ephraim sẽ không còn ghen tị với Judah, và Judah sẽ không còn ức hiếp Ephraim. Nhưng họ sẽ bay trên vai của người Philistines về phía tây; họ sẽ cùng nhau cướp bóc những kẻ ở phương đông; họ sẽ đặt tay mình trên Edom và Moab; và con cháu của Ammon sẽ vâng phục họ.

And the Lord shall utterly destroy the tongue of the Egyptian sea; and with his mighty wind shall he shake his hand over the river, and shall smite it in the seven streams, and make men go over dryshod. And there shall be an highway for the remnant of his people, which shall be left, from Assyria; like as it was to Israel in the day that he came up out of the land of Egypt. Isaiah 11:1–16.

Và Chúa sẽ hủy diệt hoàn toàn lưỡi của biển Ai Cập; bằng cơn gió mạnh mẽ của Ngài, Ngài sẽ vung tay mình trên con sông, đánh nó thành bảy nhánh, và khiến người ta đi qua mà không ướt chân. Và sẽ có một con đường lớn cho số sót của dân Ngài, những người còn lại, từ A-si-ri; như đã có cho Y-sơ-ra-ên trong ngày họ đi lên khỏi đất Ai Cập. Ê-sai 11:1-16.

Verse one states, “And there shall come forth a rod out of the stem of Jesse, and a Branch shall grow out of his roots: And the spirit of the Lord shall rest upon him.” The powerful description of Christ continues on, BUT the description applies more to the last days, than the days of Isaiah or even the days when Christ walked among men.

Câu một nói: "Và sẽ nảy ra một chồi từ gốc Jesse, và một nhánh sẽ mọc lên từ rễ của ông; và Thần của Chúa sẽ ngự trên người ấy." Sự mô tả đầy quyền năng về Đấng Christ tiếp tục, NHƯNG sự mô tả này áp dụng nhiều hơn cho những ngày sau rốt, hơn là cho thời của Isaiah, hay thậm chí thời khi Đấng Christ bước đi giữa loài người.

A careful reading identifies that verses one through nine are all identifying characteristics of Christ and in verse ten it states, “And there shall come forth a rod.” There is no break in the flow of thought from verse one on through verse ten. Verse ten says, “and in that day” which must happen in the same day as verse one. Both verse ten and one identify the “root,” and in so doing tie the two verses together line upon line.

Đọc kỹ cho thấy rằng các câu 1 đến 9 đều là những đặc điểm nhận dạng của Đấng Christ, và ở câu 10 có chép: "Và sẽ xuất hiện một cây gậy." Không có sự gián đoạn trong mạch tư tưởng từ câu 1 cho đến câu 10. Câu 10 nói: "và trong ngày ấy", điều này phải xảy ra trong cùng ngày với câu 1. Cả câu 10 lẫn câu 1 đều xác định "rễ", qua đó nối kết hai câu lại với nhau, dòng nối dòng.

Together verse one and ten state, “And there shall come forth a rod out of the stem of Jesse, and a Branch shall grow out of his roots: And in that day there shall be a root of Jesse, which shall stand for an ensign of the people; to it shall the Gentiles seek: and his rest shall be glorious.

Cả câu một và câu mười đều nói: “Sẽ đâm ra một chồi từ gốc Jesse, và một nhánh sẽ mọc ra từ rễ của ông; Và trong ngày ấy sẽ có một rễ của Jesse, đứng làm kỳ hiệu cho các dân; các dân ngoại sẽ tìm đến nó; và sự yên nghỉ của người ấy sẽ vinh hiển.”

A “rod” is a symbol of authority.

Một "cây gậy" là biểu tượng của quyền lực.

And she brought forth a man child, who was to rule all nations with a rod of iron: and her child was caught up unto God, and to his throne. Revelation 12:5.

Và bà sinh một con trai, là người sẽ cai trị muôn dân bằng cây gậy sắt; và con trẻ ấy được cất lên đến Đức Chúa Trời và đến ngôi Ngài. Khải Huyền 12:5.

A “rod” is a symbol of selection, division and separation.

“Cây gậy” là một biểu tượng của sự lựa chọn, phân chia và tách biệt.

And Moses laid up the rods before the Lord in the tabernacle of witness. And it came to pass, that on the morrow Moses went into the tabernacle of witness; and, behold, the rod of Aaron for the house of Levi was budded, and brought forth buds, and bloomed blossoms, and yielded almonds. And Moses brought out all the rods from before the Lord unto all the children of Israel: and they looked, and took every man his rod. And the Lord said unto Moses, Bring Aaron’s rod again before the testimony, to be kept for a token against the rebels; and thou shalt quite take away their murmurings from me, that they die not. And Moses did so: as the Lord commanded him, so did he. Numbers 17:7–11.

Và Môi-se đặt các cây gậy trước mặt Đức Giê-hô-va trong Đền tạm chứng ước. Rồi xảy ra, ngày hôm sau Môi-se vào Đền tạm chứng ước; kìa, cây gậy của A-rôn, thuộc nhà Lê-vi, đã đâm chồi, nẩy lộc, trổ bông, và kết trái hạnh nhân. Môi-se bèn đem tất cả các cây gậy từ trước mặt Đức Giê-hô-va ra cho con cái Y-sơ-ra-ên; họ nhìn xem, và mỗi người lấy lại cây gậy của mình. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đem cây gậy của A-rôn trở lại, đặt trước Hòm Chứng Ước, để giữ làm dấu nghịch lại những kẻ phản nghịch; như vậy ngươi sẽ dứt hẳn lời lằm bằm của họ khỏi ta, để họ khỏi chết. Môi-se bèn làm như vậy; Đức Giê-hô-va đã truyền dạy thể nào, ông làm thể ấy. Dân Số Ký 17:7-11.

Aaron’s rod that budded identifies a “rod” in the latter rain time period, for Aaron’s was the only “rod” that budded out of the thirteen “rods.” The budding out is a symbol of the latter rain time period when God will manifest a distinction between the twelve rebellious “rods” that claim to have the message of the latter rain, and as also illustrated with Elijah’s demonstration by fire marking the distinction between the true and the false. A “rod” is also a symbol of measurement and judgment.

Cây gậy của A-rôn đã nẩy chồi chỉ ra một "cây gậy" trong thời kỳ mưa cuối mùa, vì "cây gậy" của A-rôn là "cây gậy" duy nhất nẩy chồi trong số mười ba "cây gậy". Việc nẩy chồi là biểu tượng cho thời kỳ mưa cuối mùa, khi Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ sự phân biệt giữa mười hai "cây gậy" phản nghịch vốn tự nhận có sứ điệp của mưa cuối mùa; điều này cũng được minh họa qua sự bày tỏ bằng lửa của Ê-li, đánh dấu sự phân biệt giữa điều thật và điều giả. Một "cây gậy" cũng là biểu tượng của sự đo lường và sự phán xét.

And there was given me a reed like unto a rod: and the angel stood, saying, Rise, and measure the temple of God, and the altar, and them that worship therein. Revelation 11:1.

Và người ta ban cho tôi một cây sậy như một cây gậy; và thiên sứ đứng đó, nói rằng: Hãy đứng dậy, đo đền thờ của Đức Chúa Trời, và bàn thờ, cùng những kẻ thờ phượng ở trong đó. Khải Huyền 11:1.

The “rod” comes forth out of the stem of Jessie and “Jessie” means ‘to stand out’ as waymarks do in Bible prophecy. Pharez was the actual “root” of Jessie, and Pharez means “a breach, to break out or scatter.” Pharez is the root or beginning of Jessie’s blood line. The “root of Jessie” is therefore a symbol of the alpha Pharez and the omega is Jessie, the beginning and the ending. The root of Jessie begins with a scattering (Pharez) and ends at a waymark of a man standing. Men standing up prophetically marks a kingdom. In the Bible Pharez begins a blood line, with no linkage before his introduction and his name means a break, so the record of his genealogy and his name are identifying Pharez as the beginning, making Jessie the end. Melchizedek is also a biblical figure that is identified as having no prior lineage, as is the case with Pharez. The root of Pharez contains the truth that he represents a priesthood of Melchizedek, of whom Abraham paid tithes.

“Gậy” trồi ra từ thân của Jessie, và “Jessie” có nghĩa là “nổi bật” như các mốc chỉ đường trong lời tiên tri Kinh Thánh. Pharez là “rễ” thực sự của Jessie, và “Pharez” có nghĩa là “một sự rạn nứt; bùng vỡ ra hoặc tản lạc.” Pharez là gốc rễ hay khởi đầu của huyết thống của Jessie. Vì thế, “rễ của Jessie” là một biểu tượng: alpha là Pharez và omega là Jessie, khởi đầu và kết thúc. Gốc rễ của Jessie bắt đầu bằng sự tản lạc (Pharez) và kết thúc tại một mốc chỉ đường của một người đang đứng. Về mặt tiên tri, việc những người đàn ông đứng lên đánh dấu một vương quốc. Trong Kinh Thánh, Pharez khởi đầu một dòng dõi, không có sự liên kết nào trước khi ông được giới thiệu, và tên ông có nghĩa là một sự đứt đoạn; vì vậy, ghi chép về gia phả của ông và chính tên ông đều xác định Pharez là điểm khởi đầu, khiến Jessie trở thành điểm kết thúc. Melchizedek cũng là một nhân vật Kinh Thánh được xác định là không có gia phả trước đó, giống như trường hợp của Pharez. Gốc rễ của Pharez hàm chứa lẽ thật rằng ông đại diện cho chức tế lễ của Melchizedek, người mà Abraham đã dâng phần mười.

The order of Melchizedek is the priestly order of Christ.

Phẩm trật Mên-chi-xê-đéc là hàng tư tế của Đấng Christ.

Whither the forerunner is for us entered, even Jesus, made an high priest for ever after the order of Melchisedec. Hebrews 6:20.

Nơi đó, Đấng tiền phong vì chúng ta đã vào, tức là Đức Chúa Giê-su, đã trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đời đời theo phẩm trật Mên-chi-xê-đéc. Hê-bơ-rơ 6:20.

The root of Jessie was the priesthood of Melchizedek and the beginning must reflect the end. Jessie represents the last group of the priesthood of Melchizedek to stand up, who according to Isaiah are an ensign to the nations.

Cội rễ của Jessie là chức tư tế của Melchizedek và khởi đầu phải phản ánh kết thúc. Jessie đại diện cho nhóm cuối cùng của chức tư tế của Melchizedek sẽ đứng lên, mà theo Isaiah là kỳ hiệu cho các dân tộc.

The “stem” means ‘to cut down (trees); the trunk or stump of a tree (as felled or as planted),’ and the “stem” grows out of a kingdom that has been passed by as was Nebuchadnezzar in Daniel chapter four. A tree is a kingdom prophetically, and when a kingdom ends that tree has been cut down.

“Stem” có nghĩa là ‘đốn hạ (cây); thân hoặc gốc của một cây (khi bị đốn ngã hoặc khi được trồng)’, và “stem” mọc ra từ một vương quốc đã bị bỏ lại phía sau, như đã xảy ra với Nebuchadnezzar trong Daniel chương bốn. Một cái cây theo nghĩa tiên tri là một vương quốc, và khi một vương quốc chấm dứt thì cái cây đó đã bị đốn hạ.

The “stem” in the passage comes out of a stump—not an upper branch. Out of a former kingdom represented by the stump, a “rod” a symbol of authority comes forth, and that authority is based upon whether the “rod” bears the “buds and blossoms” of the latter rain message. That authority is derived from a previous kingdom, that has been cut down.

"Chồi" trong đoạn văn mọc lên từ một gốc cây - không phải từ một cành phía trên. Từ một vương quốc trước kia được biểu trưng bởi gốc cây ấy, một "cây gậy", biểu tượng của quyền bính, xuất hiện, và quyền bính ấy tùy thuộc vào việc "cây gậy" có mang "nụ và hoa" của sứ điệp mưa cuối mùa hay không. Quyền bính đó bắt nguồn từ một vương quốc trước đây đã bị chặt đốn.

The “root” is the “root of Jessie” and the “stem” that comes from “the stump” is coming from the “stump” whose roots are the root of Jessie. The stem that produces the authority comes from the stump, but the Branch comes from the root—and the root is the ensign. The root is the beginning and the ending is the branch.

"Rễ" là "rễ của Jessie" và "thân" xuất phát từ "gốc cây" thì đến từ "gốc cây" có rễ là rễ của Jessie. "Thân" tạo ra quyền bính thì đến từ gốc cây, nhưng Nhánh đến từ rễ - và rễ là cờ hiệu. Rễ là khởi đầu và kết thúc là nhánh.

The word “branch” means watchman or waymark. Isaiah informs us the Branch comes at the Sunday law.

Từ "branch" có nghĩa là người lính canh hoặc mốc chỉ đường. Ê-sai cho chúng ta biết Nhánh đến vào thời điểm luật ngày Chủ nhật.

And in that day seven women shall take hold of one man, saying, We will eat our own bread, and wear our own apparel: only let us be called by thy name, to take away our reproach. In that day shall the branch of the Lord be beautiful and glorious, and the fruit of the earth shall be excellent and comely for them that are escaped of Israel. And it shall come to pass, that he that is left in Zion, and he that remaineth in Jerusalem, shall be called holy, even every one that is written among the living in Jerusalem: When the Lord shall have washed away the filth of the daughters of Zion, and shall have purged the blood of Jerusalem from the midst thereof by the spirit of judgment, and by the spirit of burning. Isaiah 4:1–4.

Trong ngày ấy, bảy người nữ sẽ nắm lấy một người nam mà nói: Chúng tôi sẽ tự ăn bánh của mình và tự mặc y phục của mình; chỉ xin cho chúng tôi được gọi theo tên ông, để cất đi sự sỉ nhục của chúng tôi. Trong ngày đó, Chồi non của Đức Giê-hô-va sẽ đẹp đẽ và vinh hiển, và bông trái của đất sẽ tốt đẹp và duyên dáng cho những người thoát nạn của Y-sơ-ra-ên. Và sẽ xảy ra rằng ai còn sót lại ở Si-ôn và ai còn ở lại tại Giê-ru-sa-lem đều sẽ được gọi là thánh, tức là mọi người được ghi tên trong số những người sống tại Giê-ru-sa-lem; khi Đức Giê-hô-va đã rửa sạch sự ô uế của các con gái Si-ôn và đã tẩy sạch máu đổ của Giê-ru-sa-lem khỏi giữa nó bởi Thần của sự phán xét và bởi Thần của sự thiêu đốt. Ê-sai 4:1-4.

The “one man” that the seven women take hold of is the pope, who becomes the eighth that is of the seven at the Sunday law, counterfeiting the 8 souls upon the ark. At the Sunday law, “in that day” “the branch of the Lord be beautiful and glorious” “when the Lord shall have washed away the filth of the daughters of Zion, and shall have purged the blood of Jerusalem from the midst thereof by the spirit of judgment, and by the spirit of burning.” The purging with the spirit of judgment and burning is accomplished by the Messenger of the Covenant in Malachi three at the Sunday law. The “beautiful branch” is the one hundred and forty-four thousand who come not from the stump, but from the root of Jessie, which is the ensign.

“Một người đàn ông” mà bảy người nữ nắm lấy là giáo hoàng, người trở thành người thứ tám, vốn thuộc về bảy người, vào thời điểm luật Chủ nhật, giả mạo tám linh hồn trên con tàu. Vào thời điểm luật Chủ nhật, “trong ngày ấy” “nhánh của Chúa sẽ đẹp đẽ và vinh hiển” “khi Chúa đã rửa sạch sự ô uế của các con gái Si-ôn, và đã tẩy sạch máu của Giê-ru-sa-lem khỏi giữa nó bởi thần của sự phán xét, và bởi thần của sự thiêu đốt.” Sự thanh tẩy bằng thần của sự phán xét và của sự thiêu đốt được thực hiện bởi Sứ giả của Giao ước trong Ma-la-chi đoạn ba, vào thời điểm luật Chủ nhật. “Nhánh đẹp đẽ” là một trăm bốn mươi bốn nghìn người, những người không xuất phát từ gốc cây, nhưng từ rễ của Jessie, là cờ hiệu.

Their authority is represented by the rod that came from a branch of a fallen kingdom. The kingdom of Philadelphia fell from 1856 unto 1863, and the authority established in that fallen kingdom is re-established at the Sunday law. When the branch that is the ensign is lifted up, the Laodicean movement of the one hundred and forty-four thousand transitions unto the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand. It is then that the authority or rod that came from the Millerite or Philadelphian kingdom is represented by a key that is placed upon Eliakim in Isaiah 22:22.

Quyền bính của họ được biểu trưng bởi cây trượng đến từ một cành của một vương quốc đã sụp đổ. Vương quốc Phi-la-đen-phi suy sụp trong giai đoạn từ năm 1856 đến năm 1863, và quyền bính được thiết lập trong vương quốc đã sụp đổ ấy sẽ được tái lập khi có luật ngày Chủ nhật. Khi cành là tiêu kỳ được giương lên, phong trào La-ô-đi-xê của một trăm bốn mươi bốn ngàn chuyển sang phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Bấy giờ quyền bính, hay cây trượng, đến từ vương quốc Millerite hoặc Phi-la-đen-phi được biểu thị bằng một chiếc chìa khóa đặt trên Ê-li-a-kim trong Ê-sai 22:22.

And the key of the house of David will I lay upon his shoulder; so he shall open, and none shall shut; and he shall shut, and none shall open. Isaiah 22:22.

Ta sẽ đặt chìa khóa của nhà Đa-vít trên vai người; người mở thì không ai đóng được; người đóng thì không ai mở được. Ê-sai 22:22.

The verse marks October 22, 1844 and is identifying Eliakim as receiving a “key.” In the previous two verses the authority of Laodicea is taken from Shebna and given to Eliakim. At the Sunday law the authority once given to the chosen covenant people is taken from the kingdom of Laodicean Seventh-day Adventism and given to the kingdom of the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand—which is the kingdom of glory.

Câu này đánh dấu ngày 22 tháng 10 năm 1844 và xác định Eliakim là người nhận một “chìa khóa”. Trong hai câu trước, thẩm quyền của Laodicea bị lấy khỏi Shebna và được trao cho Eliakim. Vào thời điểm luật Chủ nhật, thẩm quyền từng được ban cho dân giao ước được chọn bị lấy khỏi vương quốc của Cơ Đốc Phục Lâm Laodicea và được trao cho vương quốc của phong trào Philadelphia của một trăm bốn mươi bốn nghìn—tức là vương quốc vinh hiển.

He saith unto them, But whom say ye that I am? And Simon Peter answered and said, Thou art the Christ, the Son of the living God. And Jesus answered and said unto him, Blessed art thou, Simon Barjona: for flesh and blood hath not revealed it unto thee, but my Father which is in heaven. And I say also unto thee, That thou art Peter, and upon this rock I will build my church; and the gates of hell shall not prevail against it. And I will give unto thee the keys of the kingdom of heaven: and whatsoever thou shalt bind on earth shall be bound in heaven: and whatsoever thou shalt loose on earth shall be loosed in heaven. Matthew 16:16–19.

Ngài phán với họ: Còn các ngươi thì nói Ta là ai? Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống. Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: Hỡi Si-môn, con của Giô-na, ngươi có phước; vì chẳng phải thịt và huyết bày tỏ điều ấy cho ngươi, nhưng là Cha Ta ở trên trời. Ta lại nói cùng ngươi: Ngươi là Phi-e-rơ, và trên đá này Ta sẽ xây dựng Hội Thánh Ta; các cửa âm phủ sẽ không thắng nổi nó. Ta sẽ trao cho ngươi những chìa khóa của Nước Trời; điều gì ngươi buộc ở dưới đất cũng sẽ được buộc ở trên trời; và điều gì ngươi cởi ở dưới đất cũng sẽ được cởi ở trên trời. Ma-thi-ơ 16:16–19.

The rod of authority, represented as a key given to Peter, is placed upon Eliakim’s shoulder in Isaiah 22:22. Peter represents the branch of the one hundred and forty-four thousand who enter into covenant with Christ just before the Sunday law. In the passage Peter is in Caesarea Philippi, which is Panium of verses thirteen to fifteen of Daniel eleven. His name is changed, representing a covenant relationship, and the name Peter when approached with multiplying the numbered positions of each letter, equates to 144,000. The authority, or rod, or key that is placed upon Eliakim when Shebna is cast into a field like a ball, and is the “rod” which comes from the stump of Philadelphian Millerite Adventism that was cut down from 1856 unto 1863.

Cây gậy quyền bính, được biểu thị như chiếc chìa khóa ban cho Phi-e-rơ, được đặt trên vai Ê-li-a-kim trong Ê-sai 22:22. Phi-e-rơ tượng trưng cho nhánh của một trăm bốn mươi bốn ngàn, là những người bước vào giao ước với Đấng Christ ngay trước luật ngày Chúa nhật. Trong đoạn ấy, Phi-e-rơ ở Sê-sa-rê Phi-líp, tức là Pa-ni-um của các câu mười ba đến mười lăm của Đa-ni-ên đoạn mười một. Tên ông được đổi, tượng trưng cho một mối quan hệ giao ước; và danh “Peter”, khi áp dụng phép nhân các vị trí được đánh số của từng chữ cái, thì bằng 144.000. Quyền bính—hay cây gậy, hay chìa khóa—được đặt trên Ê-li-a-kim khi Sép-na bị quăng vào một cánh đồng như một trái bóng, chính là “cây gậy” phát xuất từ gốc của Phong trào Phục Lâm Millerite thuộc thời kỳ Phi-la-đen-phi, vốn đã bị đốn ngã từ năm 1856 đến 1863.

Peter is receiving the authority of God’s covenant people at the separation of the wheat and tares, for the wheat is to be lifted up as the wave loaf offering of Pentecost. The tares first are separated, as represented by the leaven in the Pentecostal wave loaves being removed through the baking process. The authority of the rod or key comes from the stump of a fallen kingdom and the branch that is the ensign comes from the root of Jessie and is the root of Jessie, for Jesus illustrates the end of a thing with the beginning of a thing. The root is the beginning and the branch the end. This prophetic application cannot be understood by the quibbling Jews of Christ time or today, for it is the primary principle of the methodology of the latter rain, and it is also represented as the key of the house of David. The key opens the door to the house of David which has been shut. The key opens the door unto the heavenly sanctuary, the house of David. The alpha of October 22, 1844 repeats in the omega of the Sunday law.

Peter đang nhận lãnh thẩm quyền của dân giao ước của Đức Chúa Trời khi diễn ra sự phân tách giữa lúa mì và cỏ lùng, vì lúa mì sẽ được nâng lên như lễ dâng bánh sóng của Lễ Ngũ Tuần. Cỏ lùng trước hết được tách ra, như được tượng trưng bởi men trong những ổ bánh sóng của Lễ Ngũ Tuần bị loại bỏ qua quá trình nướng. Thẩm quyền của cây gậy hay chìa khóa đến từ gốc của một vương quốc đã sụp đổ, và nhánh là cờ hiệu thì đến từ rễ của Jessie và chính là rễ của Jessie, vì Jesus minh họa phần kết của một điều bằng phần khởi đầu của điều đó. Rễ là khởi đầu và nhánh là kết thúc. Sự áp dụng tiên tri này không thể được hiểu bởi những người Do Thái hay bắt bẻ ở thời của Đấng Christ hay ngày nay, vì đó là nguyên tắc chủ đạo của phương pháp mưa cuối mùa, và nó cũng được biểu thị như chìa khóa của nhà David. Chìa khóa mở cánh cửa vào nhà David vốn đã bị đóng. Chìa khóa mở cánh cửa vào đền thánh trên trời, nhà David. Alpha của ngày 22 tháng 10, 1844 lặp lại trong omega của luật Chủ nhật.

David, the son of Jessie records an enigma that marked the end of any further discussion with the quibbling Jews in the days of Christ, thus marking the end of His testimony to the Jews.

David, con trai của Jessie, ghi lại một ẩn đố đã đánh dấu sự chấm dứt mọi cuộc tranh luận thêm với những người Do Thái hay bắt bẻ vào thời của Đấng Christ, qua đó đánh dấu sự kết thúc lời chứng của Ngài đối với người Do Thái.

A Psalm of David. The Lord said unto my Lord, Sit thou at my right hand, until I make thine enemies thy footstool. The Lord shall send the rod of thy strength out of Zion: rule thou in the midst of thine enemies. Thy people shall be willing in the day of thy power, in the beauties of holiness from the womb of the morning: thou hast the dew of thy youth. The Lord hath sworn, and will not repent, Thou art a priest for ever after the order of Melchizedek. Psalms 110:1–4.

Thi thiên của Đa-vít. Đức Giê-hô-va phán cùng Chúa tôi: Hãy ngồi bên hữu Ta, cho đến khi Ta đặt các kẻ thù ngươi làm bệ chân ngươi. Đức Giê-hô-va sẽ sai cây trượng quyền năng của ngươi từ Si-ôn: Hãy cai trị giữa vòng các kẻ thù nghịch ngươi. Dân ngươi sẽ tình nguyện trong ngày quyền năng của ngươi, trong vẻ đẹp thánh khiết, từ lòng rạng đông: ngươi có sương mai của tuổi thanh xuân. Đức Giê-hô-va đã thề, và sẽ chẳng đổi ý: Ngươi là thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc. Thi thiên 110:1-4.

Palmoni determined to place this passage in Psalm 110, which is of course another number in the world of mathematics that is recognized as a special number. Half of “220” and ten times “11” would lead a soul to expect the number “110” holds some significance, and it does—as does the passage itself. It is a song of David, and David is a symbol of the one hundred and forty-four thousand, so it is a verse from the song of the vineyard, which is the song of Moses and the Lamb. It identifies when the former husbandmen of the vineyard are passed by and the vineyard is given to the one hundred and forty-four thousand. When that happens, it is the “day of thy power” aligning with the power of Pentecost at the climax of the Pentecostal season.

Palmoni đã quyết định đặt đoạn này trong Thi thiên 110, dĩ nhiên đây cũng là một con số trong thế giới toán học được nhìn nhận là đặc biệt. Một nửa của "220" và mười lần "11" sẽ khiến người ta kỳ vọng rằng con số "110" mang ý nghĩa nào đó, và quả thật là vậy, cũng như chính đoạn ấy. Đó là một bài ca của Đa-vít, và Đa-vít là biểu tượng của một trăm bốn mươi bốn nghìn, vậy nên đó là một câu trong bài ca vườn nho, tức bài ca của Môi-se và Chiên Con. Nó xác định khi nào các tá điền trước kia của vườn nho bị bỏ qua và vườn nho được giao cho một trăm bốn mươi bốn nghìn. Khi điều đó xảy ra, ấy là "ngày quyền năng của Ngài", trùng khớp với quyền năng của Lễ Ngũ Tuần vào cao trào của mùa Ngũ Tuần.

God’s people will be “willing” in the day they come from “the womb of the morning,” with the “dew of thy youth.” New birth is an illustration of conversion and life. The one hundred and forty-four thousand were taken from the womb in July of 2023, and they were born with the dew of their youth, for they were born into the message of the Midnight Cry, which also occurred with the Millerites in the beginning, or their “youth.” It is the same dew, for it is a repetition of the alpha history within the history of the omega. In the “day of their” ‘empowerment,’ when Shebna is driven “from” his “station, and from” his “state” and pulled “down” Eliakim, the one hundred and forty-four thousand are made omega priests, for they are made after the order of Melchizedek, for the one hundred and forty-four thousand shall not taste death, or as with Melchizedek they are priests forever.

Dân của Đức Chúa Trời sẽ "sẵn lòng" trong ngày họ đi ra từ "dạ con của buổi sáng," với "sương của tuổi xuân ngươi." Sự tái sinh là một minh họa về sự hoán cải và sự sống. Một trăm bốn mươi bốn nghìn đã được đưa ra khỏi dạ con vào tháng Bảy năm 2023, và họ được sinh ra với sương của tuổi xuân mình, vì họ được sinh vào thông điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, điều cũng đã xảy ra với những người theo Miller lúc ban đầu, tức "tuổi trẻ" của họ. Ấy là cùng một làn sương, vì đó là sự lặp lại của lịch sử alpha trong lịch sử omega. Trong "ngày" 'được trao quyền' của họ, khi Shebna bị đuổi "khỏi" "chức vụ," và "khỏi" "địa vị" của mình và bị kéo "xuống" Eliakim, một trăm bốn mươi bốn nghìn được lập làm các tư tế omega, vì họ được lập theo phẩm trật của Melchizedek, vì một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ không nếm sự chết, hoặc như với Melchizedek, họ là tư tế đời đời.

In the “day of his power” the Lord will send the “rod of His strength out of Zion.” The authority of His kingdoms both grace (justification) and glory (sanctification) has been placed upon those who wear His crown of glory, for they represent His kingdom. The are sent out of Zion, for Zion’s meaning represents the ensign of the one hundred and forty-four thousand.

Trong "ngày quyền năng của Ngài" Chúa sẽ sai "cây trượng quyền năng của Ngài ra từ Si-ôn." Thẩm quyền của các vương quốc của Ngài — cả ân điển (xưng công chính) và vinh hiển (thánh hóa) — đã được đặt trên những người đội mão triều thiên vinh hiển của Ngài, vì họ đại diện cho vương quốc của Ngài. Họ được sai ra từ Si-ôn, vì ý nghĩa của Si-ôn tượng trưng cho biểu kỳ của một trăm bốn mươi bốn nghìn.

While the Pharisees were gathered together, Jesus asked them, Saying, What think ye of Christ? whose son is he? They say unto him, The son of David.

Khi những người Pha-ri-si họp nhau lại, Đức Chúa Giê-su hỏi họ: Các ngươi nghĩ gì về Đấng Christ? Ngài là con của ai? Họ thưa với Ngài: Con của Đa-vít.

He saith unto them, How then doth David in spirit call him Lord, saying, The Lord said unto my Lord, Sit thou on my right hand, till I make thine enemies thy footstool? If David then call him Lord, how is he his son?

Ngài phán cùng họ: Vậy thì làm sao Đa-vít, bởi Thần Linh, gọi Người là Chúa, mà rằng: Chúa phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu Ta, cho đến khi Ta đặt các kẻ thù của ngươi làm bệ chân cho ngươi? Vậy nếu Đa-vít gọi Người là Chúa, thì làm sao Người lại là con của Đa-vít?

And no man was able to answer him a word, neither durst any man from that day forth ask him any more questions. Matthew 24:41–46.

Và không ai có thể trả lời Ngài điều gì; từ ngày đó về sau, cũng không ai dám hỏi Ngài thêm điều gì nữa. Ma-thi-ơ 24:41-46.

David’s prophetic relationship to Christ in terms of alpha and omega—the beginning and ending, is the primary rule of the “line upon line” methodology, and that rule could not be fathomed by the quibbling Jews anymore than a Laodicean Seventh-day Adventist can understand that the history of the Millerites during the message of the Midnight Cry was where the dew of heaven was poured out during the youth of Adventism. The “dew” of thy youth is upon the one hundred and forty-four thousand, and it began to sprinkle at 9/11, and the Sunday law is the “day of power,” when the remnant is anointed as priests after the order of Melchizedek.

Mối quan hệ tiên tri của Đa-vít với Đấng Christ xét theo alpha và omega—khởi đầu và kết thúc—là quy tắc nền tảng của phương pháp “dòng trên dòng”, và quy tắc ấy những người Do Thái hay bắt bẻ đã chẳng thể thấu hiểu, cũng như một tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm ngày thứ bảy theo tinh thần Laodicê không thể hiểu rằng lịch sử của những người Millerite trong thời kỳ của sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm là nơi sương móc từ trời đã được đổ xuống trong thời kỳ tuổi trẻ của Phong trào Cơ Đốc Phục Lâm. “Sương” của tuổi trẻ ấy ở trên một trăm bốn mươi bốn nghìn, và nó bắt đầu rơi lất phất từ 9/11; và luật Chủ nhật là “ngày quyền năng”, khi nhóm còn sót lại được xức dầu làm thầy tế lễ theo ban của Melchizedek.

Out of the stump of Laodicean Seventh-day Adventism (the church militant) comes the branch (the church triumphant), while out of the root of Jessie, the one hundred and forty-four thousand—are the branch of glorious fruit lifted up as a wave offering in the day of his power.

Từ gốc cây bị đốn của Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy thời Laodixê (Hội thánh chiến đấu) mọc lên nhánh (Hội thánh khải hoàn), còn từ rễ của Jessie, một trăm bốn mươi bốn nghìn là nhánh của hoa trái vinh hiển được dâng lên như của lễ vẫy trong ngày quyền năng của Ngài.

We will continue these thoughts in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục mạch suy nghĩ này trong bài viết tiếp theo.

Proverbs One

Châm Ngôn Một

“April 1, 1850 To the ‘Little Flock.’

Ngày 1 tháng 4 năm 1850 Gửi đến 'Bầy Nhỏ'.

“Dear Brethren.—The Lord gave me a view, January 26, which I will relate. I saw that some of the people of God were stupid and dormant; and were but half awake, and did not realize the time we were now living in; and that the ‘man’ with the ‘dirt-brush’ had entered, and that some were in danger of being swept away. I begged of Jesus to save them, to spare them a little longer, and let them see their awful danger, that they might get ready before it should be forever too late. The angel said, ‘Destruction is coming like a mighty whirlwind.’ I begged of the angel to pity and to save those who loved this world, and were attached to their possessions, and were not willing to cut loose from them, and sacrifice them to speed the messengers on their way to feed the hungry sheep, who were perishing for want of spiritual food.

Anh em thân mến.—Chúa đã cho tôi một khải tượng vào ngày 26 tháng Giêng, mà tôi sẽ thuật lại. Tôi thấy rằng một số dân sự của Đức Chúa Trời ngu muội và mê ngủ; chỉ tỉnh một nửa, và không nhận ra thời kỳ chúng ta đang sống; và rằng “người” với “cây chổi quét rác” đã bước vào, và có kẻ đang lâm nguy bị quét đi. Tôi nài xin Chúa Giê-xu cứu họ, xin khoan dung họ thêm ít lâu, và cho họ thấy mối nguy khủng khiếp của mình, để họ kịp sẵn sàng trước khi vĩnh viễn quá muộn. Thiên sứ nói: “Sự hủy diệt đang đến như một cơn lốc xoáy mạnh mẽ.” Tôi nài xin thiên sứ thương xót và cứu những kẻ yêu thế gian này, quyến luyến của cải của mình, không muốn dứt bỏ chúng, và dâng hiến chúng để thúc giục các sứ giả lên đường nuôi bầy chiên đói khát, đang hư mất vì thiếu lương thực thuộc linh.

“As I viewed poor souls dying for want of the present truth, and some who professed to believe the truth were letting them die, by withholding the necessary means to carry forward the work of God, the sight was too painful, and I begged of the angel to remove it from me. I saw that when the cause of God called for some of their property, like the young man who came to Jesus, [Matthew 19:16–22.] they went away sorrowful; and that soon the overflowing scourge would pass over and sweep their possessions all away, and then it would be too late to sacrifice earthly goods, and lay up a treasure in heaven.

Khi tôi nhìn thấy những linh hồn tội nghiệp đang chết vì thiếu lẽ thật hiện tại, và một số người xưng mình tin lẽ thật lại để mặc họ chết, vì giữ lại các phương tiện cần thiết để tiến hành công việc của Đức Chúa Trời, cảnh tượng ấy quá đau lòng, và tôi nài xin thiên sứ cất cảnh tượng ấy khỏi mắt tôi. Tôi thấy rằng khi sự nghiệp của Đức Chúa Trời kêu gọi họ dâng một phần tài sản, họ giống như người thanh niên đến cùng Chúa Giê-su [Matthew 19:16-22.], buồn bã bỏ đi; và rằng chẳng bao lâu tai vạ tràn lan sẽ đi qua và cuốn sạch mọi của cải của họ, và bấy giờ sẽ quá muộn để hy sinh của cải trần gian và tích trữ kho báu trên trời.

“I then saw the glorious Redeemer, beautiful and lovely, that he left the realms of glory, and came to this dark and lonely world, to give his precious life and die, the just for the unjust. He bore the cruel mocking and scourging, and wore the platted crown of thorns, and sweat great drops of blood in the garden; while the burden of the sins of the whole world were upon him. The angel asked, ‘What for?’ O, I saw and knew that it was for us; for our sins he suffered all this, that by his precious blood he might redeem us unto God.

Bấy giờ tôi thấy Đấng Cứu Chuộc vinh hiển, đẹp đẽ và đáng yêu, Ngài đã rời bỏ cõi vinh quang và đến thế gian tăm tối cô đơn này, để hiến dâng mạng sống quý báu của mình và chịu chết, người công chính thay cho kẻ bất chính. Ngài chịu những lời nhạo báng và đòn roi tàn nhẫn, đội mão gai đan, và đổ mồ hôi như những giọt máu lớn trong vườn; trong khi gánh nặng tội lỗi của cả thế gian đè trên Ngài. Thiên sứ hỏi: “Vì cớ gì?” Ôi, tôi thấy và biết rằng ấy là vì chúng ta; vì tội lỗi chúng ta mà Ngài đã chịu tất cả điều này, để bởi huyết báu của Ngài, Ngài có thể chuộc chúng ta về cho Đức Chúa Trời.

Then again was held up before me those who were not willing to dispose of this world’s goods to save perishing souls, by sending them the truth, while Jesus stands before the Father, pleading his blood, his sufferings and his death for them; and while God’s messengers were waiting, ready to carry them the saving truth that they might be sealed with the seal of the living God. It was hard for some who professed to believe the present truth, to even do so little as to hand the messengers God’s own money, that he had lent them to be stewards over.

Rồi tôi lại được cho thấy những người không sẵn lòng bỏ ra của cải đời này để cứu những linh hồn đang hư mất bằng cách gửi cho họ lẽ thật, trong khi Chúa Giê-su đứng trước Đức Cha, cầu thay nại cớ huyết Ngài, những đau khổ và sự chết của Ngài vì họ; và trong khi các sứ giả của Đức Chúa Trời đang chờ đợi, sẵn sàng đem đến cho họ lẽ thật cứu rỗi để họ có thể được đóng ấn bằng ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Đối với một số người xưng mình tin vào lẽ thật hiện nay, thì ngay cả việc nhỏ là trao cho các sứ giả số tiền thuộc về chính Đức Chúa Trời, mà Ngài đã cho họ mượn để làm quản gia, cũng là điều khó khăn.

“Then the suffering Jesus, his sacrifice and love so deep, as to give his life for them, was again held up before me; and then the lives of those who professed to be his followers, who had this world’s goods, and considered it so great a thing to help the cause of salvation. The angel said, ‘Can such enter heaven?’ Another angel answered, ‘No, never, never, never. Those who are not interested in the cause of God on earth, can never sing the song of redeeming love above.’

Rồi hình ảnh Chúa Giê-su đau khổ, sự hy sinh của Ngài và tình yêu sâu thẳm đến nỗi hiến mạng sống vì họ, lại được nêu lên trước mắt tôi; rồi đến đời sống của những kẻ xưng là môn đồ của Ngài, những người có của cải đời này, nhưng xem việc giúp đỡ cho sự nghiệp cứu rỗi là điều quá to tát. Thiên sứ nói: 'Những kẻ như thế có thể vào thiên đàng không?' Một thiên sứ khác đáp: 'Không, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ. Những ai không quan tâm đến sự nghiệp của Đức Chúa Trời trên đất, sẽ chẳng bao giờ hát được bài ca tình yêu cứu chuộc trên trời.'

“I saw that the quick work that God was doing on earth would soon be cut short in righteousness, and that the swift messengers must speed on their way to search out the scattered flock. An angel said, ‘Are all messengers? No, no, God’s messengers have a message.’

Tôi thấy rằng công việc mau lẹ mà Đức Chúa Trời đang làm trên đất sẽ sớm được rút ngắn trong sự công bình, và rằng các sứ giả mau lẹ phải vội vã lên đường để tìm kiếm bầy chiên tản lạc. Một thiên sứ nói: "Có phải ai cũng là sứ giả không? Không, không, sứ giả của Đức Chúa Trời mang một sứ điệp."

“I saw that the cause of God had been hindered, and dishonored by some travelling who had no message from God. Such will have to give an account to God for every dollar they have used in travelling where it was not their duty to go; for that money might have helped on the cause of God, and for the lack of it, souls have starved and died for the want of spiritual food, that might have been given them by God’s called and chosen messengers if they had had the means.

Tôi thấy rằng công cuộc của Đức Chúa Trời đã bị cản trở và bị làm ô danh bởi một số người đi đây đi đó mà không có sứ điệp từ Đức Chúa Trời. Những người như vậy sẽ phải chịu trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời về từng đô la họ đã dùng cho việc đi lại đến những nơi họ không có bổn phận phải đi; vì số tiền ấy lẽ ra có thể giúp đỡ cho công cuộc của Đức Chúa Trời, và vì thiếu nó, các linh hồn đã bị đói khát và chết vì thiếu lương thực thuộc linh, lẽ ra đã có thể được ban cho họ bởi những sứ giả được Đức Chúa Trời kêu gọi và chọn lựa, nếu họ có đủ phương tiện.

The mighty shaking has commenced, and will go on, and all will be shaken out who are not willing to take a hold and unyielding stand for the truth, and sacrifice for God and his cause. The angel said, ‘Think ye that any will be compelled to sacrifice. No. no. It must be a free-will offering. It will take all to buy the field.’—I cried to God to spare his people, some of whom were fainting and dying.

Sự rúng chuyển mạnh mẽ đã bắt đầu và sẽ còn tiếp diễn; mọi kẻ không sẵn lòng nắm chắc và kiên quyết đứng về lẽ thật, và hy sinh vì Đức Chúa Trời và sự nghiệp của Ngài, sẽ bị sàng lọc ra. Thiên sứ nói: “Các ngươi tưởng sẽ có ai bị buộc phải hy sinh sao? Không, không. Đó phải là một của lễ tự nguyện. Sẽ cần tất cả để mua cánh đồng.” Tôi kêu khóc cùng Đức Chúa Trời, nài xin Ngài tha cho dân Ngài, trong số họ có người đang lả đi và chết.

“I saw that those who have strength to labor with their hands, and help sustain the cause, were as accountable for that strength, as others were for their property.

Tôi thấy rằng những người có sức để lao động chân tay và góp phần duy trì sự nghiệp, phải chịu trách nhiệm về sức lực ấy cũng như những người khác phải chịu trách nhiệm về tài sản của họ.

“Then I saw that the judgments of Almighty God were speedily coming. I begged of the angel to speak in his language to the people. Said he, ‘All the thunders and lightnings of Mount Sinai would not move those who will not be moved by the plain truths of the word of God; neither would an angel’s message awake them.’” Review and Herald, April 1, 1850.

Rồi tôi thấy rằng các sự phán xét của Đức Chúa Trời Toàn Năng đang mau chóng đến. Tôi nài xin thiên sứ hãy nói bằng tiếng của mình với dân chúng. Thiên sứ nói: “Mọi sấm sét và chớp nhoáng của núi Si-nai cũng không làm lay chuyển được những kẻ không chịu bị lay chuyển bởi những lẽ thật rõ ràng của Lời Đức Chúa Trời; cũng chẳng một sứ điệp của thiên sứ nào khiến họ thức tỉnh.” Review and Herald, ngày 1 tháng 4 năm 1850.