My apologies for so many words in advance of taking up the primary topic. I wish to place certain prophetic lines in place, that are important pieces of the logic I intend to employ when we directly consider the book of Joel. I have previously mentioned that the Hebrew word that is translated as “cut off” in the book of Joel, finds its roots in the sacrificial method of ratifying a covenant in the days of Abraham.
Xin lỗi vì quá nhiều lời trước khi đi vào chủ đề chính. Tôi muốn đặt trước một số đường hướng tiên tri nhất định, là những thành tố quan trọng của lập luận mà tôi dự định vận dụng khi chúng ta trực tiếp xem xét sách Giô-ên. Trước đây tôi đã đề cập rằng từ tiếng Hê-bơ-rơ được dịch là “cắt đứt” trong sách Giô-ên bắt nguồn từ phương thức tế lễ dùng để lập một giao ước vào thời Áp-ra-ham.
Awake, ye drunkards, and weep; and howl, all ye drinkers of wine, because of the new wine; for it is cut off from your mouth. Joel 1:5.
Hỡi những kẻ say rượu, hãy tỉnh dậy và khóc; hỡi hết thảy những kẻ uống rượu, hãy kêu la vì rượu mới; vì nó đã bị cất khỏi miệng các ngươi. Giô-ên 1:5.
The Hebrew word “cut off” is H3772, and it is a primitive root meaning ‘to cut (off, down or asunder); by implication to destroy or consume; specifically to covenant (that is, make an alliance or bargain, originally by cutting flesh and passing between the pieces).’
Từ "cắt đứt" trong tiếng Hê-bơ-rơ là H3772, và đó là một gốc từ nguyên thủy, có nghĩa là 'cắt (đứt, đốn hạ hoặc chẻ ra); theo hàm ý là phá hủy hoặc tiêu hao; cụ thể là lập giao ước (tức là lập liên minh hoặc giao kèo, nguyên thủy là bằng cách cắt thịt và đi qua giữa các phần)'.
I realize that the Strong’s definition of “cut off,” calls it a “primitive root,” in the grammatical sense. That being said, the cutting associated with the covenant and Abraham, identifies that the light of the covenant is attached to the word, and that light is set forth at its primitive historical root. “Cut” in terms of covenant history; is a prophetic symbol based upon its primitive roots, and it is also grammatically identified as a primitive root.
Tôi nhận ra rằng định nghĩa của Strong về “cut off” gọi nó là một “gốc từ nguyên thủy” theo nghĩa ngữ pháp. Nói như vậy, việc cắt gắn liền với giao ước và Abraham cho thấy ánh sáng của giao ước gắn với từ ấy, và ánh sáng ấy được bày tỏ ở gốc lịch sử nguyên thủy của nó. “Cut”, xét theo lịch sử giao ước, là một biểu tượng tiên tri dựa trên gốc rễ nguyên thủy của nó, và về mặt ngữ pháp, nó cũng được xác định là một gốc từ nguyên thủy.
The pronouncement in verse five, is not only identifying that they do not have the message of the latter rain, as represented by the “new wine,” but also that they are ‘then and there’ rejected as God’s covenant people, a covenant people who trace their “primitive roots” back to Abraham.
Lời tuyên bố ở câu 5 không chỉ xác định rằng họ không có sứ điệp về mưa muộn, được biểu trưng bởi “rượu mới”, mà còn rằng họ bị khước từ “ngay khi ấy, tại đó” với tư cách là dân giao ước của Đức Chúa Trời, một dân giao ước truy nguyên “cội rễ nguyên sơ” của mình về tận Áp-ra-ham.
The generation that died in the wilderness over forty years, traced their primitive roots back to Abraham, meaning the father of many nations. The generation who entered the Promised Land with Joshua, traced their primitive roots back to Abraham. The Jews who crucified Christ traced their primitive roots back to Abraham. The Protestants who came out of the Dark Ages, and who were then tested and passed by as God’s chosen covenant people in 1844, traced their primitive roots back to Abraham. The Millerite Philadelphian movement that entered into the Most Holy Place on October 22, 1844 traced their primitive roots back to Abraham. The Millerite Laodicean movement that rebuilt Jericho in 1863, traced their primitive roots back to Abraham. The Laodicean Seventh-day Adventist church that is spewed out of the mouth of the Lord at the soon-coming Sunday law traced their primitive roots back to Abraham. All of those generations have, or will fulfill the parable of the vineyard.
Thế hệ đã chết trong đồng vắng suốt bốn mươi năm, truy nguyên gốc rễ ban sơ của họ về đến Áp-ra-ham, nghĩa là cha của nhiều dân tộc. Thế hệ đã vào Đất Hứa cùng với Giô-suê, truy nguyên gốc rễ ban sơ của họ về đến Áp-ra-ham. Những người Do Thái đã đóng đinh Đấng Christ truy nguyên gốc rễ ban sơ của họ về đến Áp-ra-ham. Những người Tin Lành ra khỏi Thời kỳ Tăm Tối, và sau đó được thử luyện và được công nhận là dân giao ước được Đức Chúa Trời chọn vào năm 1844, truy nguyên gốc rễ ban sơ của họ về đến Áp-ra-ham. Phong trào Millerite Phi-la-đen-phi, vốn đã bước vào Nơi Chí Thánh vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, truy nguyên gốc rễ ban sơ của họ về đến Áp-ra-ham. Phong trào Millerite La-ô-đi-xê, đã xây lại Giê-ri-cô vào năm 1863, truy nguyên gốc rễ ban sơ của họ về đến Áp-ra-ham. Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy La-ô-đi-xê, sẽ bị nhổ ra khỏi miệng của Chúa khi luật ngày Chủ nhật sắp đến, truy nguyên gốc rễ ban sơ của họ về đến Áp-ra-ham. Tất cả những thế hệ ấy đã, hoặc sẽ, ứng nghiệm dụ ngôn về vườn nho.
The drunkards in Joel awake to find they have been rejected as God’s people, and that they do not have the message of the latter rain. The inverse is then true. Those who Joel identifies as wearing “crowns of glory,” then enter into covenant, are sealed and lifted up as an offering. The very first ratified covenant between God and a chosen people began with the same “cutting” that is represented at the final sacrifice of God’s people, which begins at the Sunday law. The cutting is the separation of wheat and tares. The tares are rejected and cast into the fire and the wheat is bundled together as the Pentecostal first fruit wheat offering, that is then lifted up, “as in former years.”
Những kẻ say rượu trong sách Giô-ên tỉnh dậy và nhận ra rằng họ đã bị khước từ với tư cách là dân của Đức Chúa Trời, và rằng họ không có sứ điệp về mưa muộn. Vậy thì điều ngược lại là đúng. Những người mà Giô-ên xác định là đội “vương miện vinh hiển” thì bước vào giao ước, được ấn chứng và được dâng lên như một của lễ. Giao ước đầu tiên được phê chuẩn giữa Đức Chúa Trời và một dân được chọn đã khởi đầu bằng cùng một “sự cắt” được biểu trưng trong sự hy sinh cuối cùng của dân Đức Chúa Trời, vốn bắt đầu tại đạo luật Chủ nhật. Sự cắt ấy là sự phân rẽ giữa lúa mì và cỏ lùng. Cỏ lùng bị khước từ và ném vào lửa, còn lúa mì được bó lại như của lễ đầu mùa lúa mì trong Lễ Ngũ Tuần, rồi được dâng lên, “như trong những năm trước kia.”
There are four places that are typically pointed out to represent Abraham’s covenant. In Genesis twelve Abraham is ‘called’ and given the promise to make him a great nation. This is not part of the covenant, but it is the calling of a promise. At that point his name is Abram, for one of the symbols of a covenant relationship is a name-change. Abram’s name is changed in the third of the four steps of the covenant.
Có bốn chỗ thường được chỉ ra để đại diện cho giao ước của Áp-ra-ham. Trong Sáng Thế Ký 12, Áp-ra-ham được “kêu gọi” và được ban lời hứa sẽ làm cho ông trở nên một dân lớn. Đây không phải là một phần của giao ước, nhưng đó là sự kêu gọi kèm theo lời hứa. Vào thời điểm đó, tên ông là Áp-ram, vì một trong những dấu hiệu của mối quan hệ giao ước là sự đổi tên. Tên Áp-ram được đổi ở bước thứ ba trong bốn bước của giao ước.
For when God made promise to Abraham, because he could swear by no greater, he sware by himself, Saying, Surely blessing I will bless thee, and multiplying I will multiply thee. And so, after he had patiently endured, he obtained the promise. For men verily swear by the greater: and an oath for confirmation is to them an end of all strife. Wherein God, willing more abundantly to shew unto the heirs of promise the immutability of his counsel, confirmed it by an oath: That by two immutable things, in which it was impossible for God to lie, we might have a strong consolation, who have fled for refuge to lay hold upon the hope set before us: Which hope we have as an anchor of the soul, both sure and stedfast, and which entereth into that within the veil; Whither the forerunner is for us entered, even Jesus, made an high priest for ever after the order of Melchisedec. Hebrews 6:13–20.
Vì khi Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham, vì Ngài không thể thề bởi ai lớn hơn, nên Ngài đã thề bởi chính mình Ngài, rằng: Chắc chắn Ta sẽ ban phước cho ngươi, và sẽ khiến ngươi gia tăng bội phần. Như vậy, sau khi ông đã kiên nhẫn chịu đựng, ông đã nhận được lời hứa. Vì người ta thật lấy đấng lớn hơn mà thề; và lời thề để xác nhận trở thành sự kết thúc của mọi tranh cãi đối với họ. Bởi đó, Đức Chúa Trời, muốn bày tỏ cách dồi dào cho những người thừa hưởng lời hứa biết sự bất biến trong ý định của Ngài, đã xác nhận điều ấy bằng một lời thề, để bởi hai điều bất biến, trong đó Đức Chúa Trời không thể nói dối, chúng ta—là những người đã chạy đến nương náu để nắm lấy niềm hy vọng đặt trước mặt mình—được sự an ủi vững chắc. Niềm hy vọng ấy chúng ta có như cái neo của linh hồn, vừa chắc chắn vừa kiên cố, và nó đi vào bên trong bức màn; nơi đó Đấng đi trước đã vào vì chúng ta, tức là Giê-su, Đấng đã trở nên Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc. Hê-bơ-rơ 6:13-20.
The calling was God’s promise to Abram, and He provided a second witness with the “oath” that followed. The “oath” that followed was threefold. After the calling of a promise, which was the first step, the second, third and fourth steps are the actual threefold covenant, by God, with a chosen people. In Genesis fifteen God formally “cuts” (establishes) the covenant through a dramatic ritual where God alone passes between divided animals, unconditionally promising land to Abraham’s descendants. The Promised Land was represented as a land between two rivers; the river of Egypt and the river Euphrates. The first step of the threefold covenant includes a direct reference of the prophetic symbolism of two rivers, and all that is attached to that symbol. When inspiration points to the Ulai and Hiddekel rivers as events that are now in the process of fulfillment, those two rivers were typified in Abram’s prophecy. The setting is between Abram’s two rivers, which when brought together with Daniel’s two rivers makes four rivers, for the voice of Christ is the voice of many waters.
Sự kêu gọi là lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ram, và Ngài ban một lời chứng thứ hai bằng “lời thề” theo sau. “Lời thề” theo sau ấy có ba phần. Sau lời kêu gọi của một lời hứa, là bước thứ nhất, thì các bước thứ hai, thứ ba và thứ tư chính là giao ước ba phần mà Đức Chúa Trời lập với một dân được chọn. Trong Sáng-thế Ký mười lăm, Đức Chúa Trời chính thức “cắt” (thiết lập) giao ước qua một nghi thức đầy ấn tượng, trong đó chỉ một mình Ngài đi qua giữa các con vật bị xẻ đôi, vô điều kiện hứa ban đất cho dòng dõi Áp-ra-ham. Đất Hứa được mô tả là vùng đất giữa hai con sông: sông Ai Cập và sông Ơ-phơ-rát. Bước thứ nhất của giao ước ba phần bao hàm một sự quy chiếu trực tiếp đến biểu tượng tiên tri về hai con sông, và tất cả những gì gắn liền với biểu tượng ấy. Khi sự soi dẫn chỉ đến các sông Ulai và Hiddekel như những biến cố hiện đang trong tiến trình ứng nghiệm, thì hai con sông ấy đã được làm hình bóng trong lời tiên tri của Áp-ram. Bối cảnh là giữa hai con sông của Áp-ram; và khi kết hợp với hai con sông của Đa-ni-ên thì thành bốn con sông, vì tiếng của Đấng Christ là tiếng của nhiều dòng nước.
In the same day the Lord made a covenant with Abram, saying, Unto thy seed have I given this land, from the river of Egypt unto the great river, the river Euphrates: The Kenites, and the Kenizzites, and the Kadmonites, And the Hittites, and the Perizzites, and the Rephaims, And the Amorites, and the Canaanites, and the Girgashites, and the Jebusites. Genesis 15:18–21.
Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va lập giao ước với Áp-ram, phán rằng: Ta đã ban đất này cho dòng dõi ngươi, từ sông Ê-díp-tô đến sông lớn, tức sông Ơ-phơ-rát: người Kê-nít, người Kê-nít-sít, người Cát-môn, người Hê-tít, người Phê-rê-sít, người Rê-pha-im, người A-mô-rít, người Ca-na-an, người Ghi-rơ-ga-sít, và người Giê-bu-sít. Sáng Thế Ký 15:18-21.
The land promised to Abram was the entire world which is represented by ten kings in the last days, whereas in the first days of the covenant it was listed as ten tribes, not kings. The one hundred and forty-four thousand will be in conflict with the entire world. The world will then be involved with the testing process of Sunday worship enforcement by a one-world government under the direction of the scarlet-colored whore of Revelation seventeen, who reigns over the ten kings of the earth. With Abram the church and state symbol of the image of the beast is represented by the river of Egypt, a symbol of statecraft and the river of Babylon, a symbol of churchcraft.
Vùng đất hứa cho Áp-ram là toàn thế giới, được tượng trưng bởi mười vua trong những ngày sau rốt, còn trong những ngày đầu của giao ước thì được liệt kê là mười chi phái, chứ không phải các vua. Một trăm bốn mươi bốn nghìn người sẽ đối đầu với toàn thế giới. Sau đó, thế giới sẽ bị cuốn vào quá trình thử thách về việc áp đặt thờ phượng ngày Chủ nhật bởi một chính phủ thế giới duy nhất dưới sự chỉ đạo của dâm phụ màu đỏ tía trong Khải Huyền mười bảy, kẻ cai trị trên mười vua trên đất. Trong trường hợp của Áp-ram, biểu tượng giáo quyền và quốc quyền của hình tượng con thú được biểu trưng bởi sông Ai Cập, biểu tượng của quyền lực nhà nước, và sông Ba-by-lôn, biểu tượng của giáo quyền.
After these things the word of the Lord came unto Abram in a vision, saying,
Sau các việc này, lời của Đức Giê-hô-va đến với Áp-ram trong một khải tượng, phán rằng,
Fear not, Abram: I am thy shield, and thy exceeding great reward.
Đừng sợ, Abram: Ta là lá chắn của ngươi, và là phần thưởng vô cùng lớn của ngươi.
And Abram said, Lord God, what wilt thou give me, seeing I go childless, and the steward of my house is this Eliezer of Damascus? And Abram said, Behold, to me thou hast given no seed: and, lo, one born in my house is mine heir. And, behold, the word of the Lord came unto him, saying,
Áp-ram nói: Lạy Chúa Trời, Ngài sẽ ban cho con điều gì, vì con không có con, và người quản gia nhà con là Ê-li-ê-se, người Đa-mát? Áp-ram lại nói: Kìa, Ngài chưa ban cho con dòng dõi nào; và kìa, một người sinh trong nhà con là người thừa kế của con. Và kìa, lời của Chúa đến với ông, phán rằng,
This shall not be thine heir; but he that shall come forth out of thine own bowels shall be thine heir. And he brought him forth abroad, and said, Look now toward heaven, and tell the stars, if thou be able to number them: and he said unto him, So shall thy seed be.
Người này sẽ không phải là người thừa kế của ngươi; nhưng người do chính thân thể ngươi sinh ra sẽ là người thừa kế của ngươi. Rồi Ngài đưa ông ra ngoài và nói: Hãy ngước nhìn lên trời và đếm các vì sao, nếu ngươi có thể đếm được; rồi Ngài lại nói với ông: Dòng dõi ngươi sẽ như vậy.
And he believed in the Lord; and he counted it to him for righteousness. And he said unto him,
Và ông tin Đức Chúa Trời; và Ngài kể điều ấy cho ông là công chính. Và Ngài phán với ông rằng,
I am the Lord that brought thee out of Ur of the Chaldees, to give thee this land to inherit it.
Ta là Chúa đã đưa ngươi ra khỏi Ur của người Canh-đê, để ban cho ngươi đất này làm cơ nghiệp.
And he said, Lord God, whereby shall I know that I shall inherit it? And he said unto him,
Và ông thưa: Lạy Chúa là Đức Chúa Trời, bằng cớ nào để con biết rằng con sẽ thừa hưởng điều ấy? Và Ngài phán với ông rằng,
Take me an heifer of three years old, and a she goat of three years old, and a ram of three years old, and a turtledove, and a young pigeon.
Hãy lấy cho ta một con bò cái tơ ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con chim cu gáy, và một con chim bồ câu non.
And he took unto him all these, and divided them in the midst, and laid each piece one against another: but the birds divided he not. And when the fowls came down upon the carcases, Abram drove them away. And when the sun was going down, a deep sleep fell upon Abram; and, lo, an horror of great darkness fell upon him. And he said unto Abram,
Ông lấy tất cả những thứ ấy, xẻ chúng ra làm đôi, và đặt từng phần đối nhau; còn các chim thì ông không xẻ đôi. Khi các chim trời sà xuống trên các xác, Abram xua đuổi chúng đi. Khi mặt trời sắp lặn, một giấc ngủ sâu ập xuống trên Abram; và kìa, một nỗi kinh hoàng của bóng tối dày đặc ập đến trên ông. Và người nói với Abram,
Know of a surety that thy seed shall be a stranger in a land that is not theirs, and shall serve them; and they shall afflict them four hundred years; And also that nation, whom they shall serve, will I judge: and afterward shall they come out with great substance.
Hãy biết chắc rằng dòng dõi ngươi sẽ làm khách lạ trong một xứ không thuộc về họ, và sẽ phục dịch dân ấy; dân ấy sẽ áp bức họ trong bốn trăm năm. Ta cũng sẽ xét đoán dân tộc ấy, là dân mà họ phục dịch; sau đó họ sẽ ra khỏi đó với nhiều của cải.
And thou shalt go to thy fathers in peace; thou shalt be buried in a good old age.
Ngươi sẽ về với tổ tiên trong bình an; ngươi sẽ được an táng lúc tuổi già tốt đẹp.
But in the fourth generation they shall come hither again: for the iniquity of the Amorites is not yet full.
Nhưng đến đời thứ tư, họ sẽ trở lại đây; vì tội ác của người Amorit chưa trọn.
And it came to pass, that, when the sun went down, and it was dark, behold a smoking furnace, and a burning lamp that passed between those pieces. Genesis 15:1–17.
Và đã xảy ra rằng, khi mặt trời đã lặn và trời tối, thì kìa một lò bốc khói và một ngọn đèn đang cháy đi qua giữa những miếng ấy. Sáng thế ký 15:1-17.
The One who would guide Moses and the children of Israel as a pillar of fire by night and a cloud by day passed between those “cut” pieces as a smoking furnace and burning lamp.
Đấng sẽ dẫn dắt Moses và con cái Israel như một cột lửa ban đêm và một đám mây ban ngày đã đi qua giữa những phần đã "cắt" ấy như một lò lửa bốc khói và một ngọn đèn cháy.
And the Lord went before them by day in a pillar of a cloud, to lead them the way; and by night in a pillar of fire, to give them light; to go by day and night: He took not away the pillar of the cloud by day, nor the pillar of fire by night, from before the people. Exodus 13:21, 22.
Đức Giê-hô-va đi trước họ ban ngày trong trụ mây để dẫn đường; và ban đêm trong trụ lửa để soi sáng, để họ đi cả ngày lẫn đêm. Ngài không cất trụ mây ban ngày, cũng không cất trụ lửa ban đêm, khỏi trước mặt dân. Xuất Hành 13:21, 22.
The burning lamp and smoking furnace typified the pillar of cloud or fire and represents an prophetic element of the first step, of the three steps involved with God establishing the covenant with Abram. The chapter begins with the words, “Fear not,” for the message of the first angel is fear God, and those who like Abram fear God, will not need to fear God. There are two types of fear, because there are two classes of people.
Đèn đang cháy và lò bốc khói là hình bóng của cột mây hay cột lửa và là một yếu tố tiên tri của bước thứ nhất trong ba bước liên quan đến việc Đức Chúa Trời thiết lập giao ước với Áp-ram. Chương này mở đầu bằng lời, "Đừng sợ," vì sứ điệp của thiên sứ thứ nhất là "hãy kính sợ Đức Chúa Trời," và những ai giống như Áp-ram kính sợ Đức Chúa Trời thì sẽ không cần phải sợ Đức Chúa Trời. Có hai loại sợ hãi, vì có hai hạng người.
Further into the covenant passage Abram believes God and it was counted unto him as righteousness. The three angels parallel the work of the Holy Spirit as set forth by John who teaches the Holy Spirit convicts of three things; sin, righteousness and judgment. Those characteristics align with the three angels, so after the fear of God is set forth in the covenant passage, then the second step of righteousness is identified, only to be followed by the pronouncement of judgment, which is the third work of the Holy Spirit, and the message of the third angel. The first step of the covenant typified the first angel’s message, which is always a fractal of all three messages. The three steps of the covenant process, represent the three angels of Revelation fourteen.
Xa hơn trong đoạn nói về giao ước, Abram tin Đức Chúa Trời và điều đó được kể cho ông là sự công bình. Ba thiên sứ song song với công tác của Đức Thánh Linh như được Giăng trình bày, người dạy rằng Đức Thánh Linh cáo trách về ba điều: tội lỗi, sự công bình và sự phán xét. Những đặc điểm đó tương ứng với ba thiên sứ, nên sau khi sự kính sợ Đức Chúa Trời được nêu ra trong đoạn giao ước, thì bước thứ hai là sự công bình được xác định, rồi tiếp theo là lời tuyên bố về sự phán xét, là công tác thứ ba của Đức Thánh Linh và là sứ điệp của thiên sứ thứ ba. Bước thứ nhất của giao ước tiêu biểu cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, vốn luôn luôn là một fractal của cả ba sứ điệp. Ba bước của tiến trình giao ước đại diện cho ba thiên sứ trong Khải Huyền mười bốn.
After Abram is counted as righteous marking the second angel, he prepares an offering, for the offering is prepared just before the third step of judgment. That offering represents the offering of the Levites of Malachi three that is lifted up as an ensign. Just as the three periods of forty years in the life of Moses represents the three angels’ messages, the first forty years of Moses has all three steps of the three angels’ message.
Sau khi Áp-ram được kể là công chính, đánh dấu thiên sứ thứ hai, ông chuẩn bị một của lễ, vì của lễ được chuẩn bị ngay trước bước thứ ba của sự phán xét. Của lễ ấy tượng trưng cho của lễ của người Lê-vi trong Ma-la-chi đoạn ba, được giương lên như một kỳ hiệu. Cũng như ba giai đoạn bốn mươi năm trong đời Môi-se tượng trưng cho các sứ điệp của ba thiên sứ, thì bốn mươi năm đầu tiên của Môi-se bao hàm cả ba bước của sứ điệp ba thiên sứ.
Where Moses’ testimony begins is with his parents fearing God, (the first step), followed by a visual test. The second step includes a visual test, as was the case in Daniel chapter one, when Daniel first fears God and refused to eat the Babylonian diet, and then is tested based upon his physical appearance. Then for Daniel it was the third test three years later by king Nebuchadnezzar, a symbol of the king of the north and the Sunday law, which is the third angels’ message.
Lời chứng của Môi-se bắt đầu với việc cha mẹ ông kính sợ Đức Chúa Trời (bước thứ nhất), tiếp theo là một phép thử trực quan. Bước thứ hai bao gồm một phép thử trực quan, như ở chương một sách Đa-ni-ên, khi Đa-ni-ên trước hết kính sợ Đức Chúa Trời và từ chối ăn chế độ của Ba-by-lôn, rồi được thử dựa trên vẻ bề ngoài của mình. Sau đó, đối với Đa-ni-ên, bài thử thứ ba diễn ra ba năm sau bởi vua Nê-bu-cát-nết-sa, một biểu tượng của vua phương bắc và luật ngày Chủ nhật, tức là sứ điệp của thiên sứ thứ ba.
Moses’ parents fear God, put him into an ark in the water and Pharaoh’s daughter was led to see the situation, and then passed judgment in favor of saving the child. The beginning of Moses life was an illustration of the covenant that God made with mankind, and then through Moses, God also made a covenant with a chosen nation selected from mankind. Noah’s covenant with mankind represents the great multitude and Moses covenant with a chosen people is the one-hundred and forty-four thousand. The offering that Abram was to make to ratify the covenant bore the emblem of the covenant of Noah, just as did Moses who fulfilled Abram’s prophecy centuries later.
Cha mẹ của Môi-se kính sợ Đức Chúa Trời, đặt ông vào một chiếc rương nhỏ thả xuống nước, và con gái Pha-ra-ôn được dẫn dắt đến để thấy tình cảnh ấy, rồi phán quyết cứu đứa trẻ. Khởi đầu cuộc đời của Môi-se là một minh họa cho giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với nhân loại, và rồi, qua Môi-se, Đức Chúa Trời cũng lập một giao ước với một dân tộc được chọn ra từ giữa loài người. Giao ước của Nô-ê với nhân loại tượng trưng cho đoàn dân đông vô số, còn giao ước của Môi-se với một dân được chọn là một trăm bốn mươi bốn nghìn. Lễ vật mà Áp-ram phải dâng để xác nhận giao ước mang dấu hiệu của giao ước Nô-ê, cũng như Môi-se, người đã ứng nghiệm lời tiên tri của Áp-ram nhiều thế kỷ sau.
The offering consisted of five various animals; a three-year-old heifer, a three-year-old she goat, a three-year-old ram, a turtledove and a young pigeon. The birds were left whole, and the heifer, ram and she goat were “cut” in halves. The offering typifies the lifting up of an ensign in the last days as a visual test for mankind. The visual sign for Pharaoh’s daughter was the baby Moses in the ark. The ark is symbolized by the eight souls on the ark. The number “eight” is established as one of the prophetic characteristics of the ensign of the one hundred and forty-four thousand. When you consider the five animal offerings and divide three in half, then your offering is made up of eight pieces, as typified by Noah, and then confirmed in Abram’s offering.
Của lễ gồm năm con vật khác nhau: một bò cái tơ ba tuổi, một dê cái ba tuổi, một cừu đực ba tuổi, một chim gáy và một chim bồ câu non. Các con chim được để nguyên con, còn bò cái tơ, cừu đực và dê cái bị “xẻ” làm đôi. Của lễ này tượng trưng cho việc giương cao một tiêu kỳ trong những ngày sau rốt như một phép thử trực quan cho nhân loại. Dấu hiệu trực quan cho con gái Pha-ra-ôn là hài nhi Môi-se trong chiếc thuyền. Con tàu được biểu trưng bằng tám người ở trên đó. Con số “tám” được xác lập như một trong những đặc tính tiên tri của tiêu kỳ của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Khi xét đến năm con vật dâng làm của lễ và chẻ ba con làm đôi, thì của lễ trở thành tám phần, như được tiêu biểu bởi Nô-ê, rồi được xác nhận trong của lễ của Áp-ram.
Those five animals, when divided as directed by God, represent the number “eight,” and in so doing, they represent those souls at the end of the world that were typified by the “eight” souls upon the ark. The sign of circumcision, which is the second step in Abram’s threefold covenant was to be carried out on the “eighth” day after birth, and the rite was replaced by baptism, which typifies the resurrection of Christ which took place on the “eighth” day. The number “eight” is an established characteristic of the covenants of both Noah and Moses, and they typify the one hundred and forty-four thousand who will be lifted up as an ensign offering, and who are the “eighth” that is of the seven.
Năm con vật ấy, khi được phân chia theo chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, tượng trưng cho con số "tám"; và qua đó, chúng tượng trưng cho những linh hồn vào thời tận thế, vốn đã được tiêu biểu bởi "tám" linh hồn trên con tàu. Dấu hiệu của phép cắt bì, vốn là bước thứ hai trong giao ước ba phần của Áp-ram, phải được thực hiện vào ngày "thứ tám" sau khi sinh; và nghi lễ ấy đã được thay thế bằng phép báp-têm, phép này tiêu biểu cho sự phục sinh của Đấng Christ diễn ra vào ngày "thứ tám". Con số "tám" là một đặc điểm đã được xác lập trong các giao ước của cả Nô-ê lẫn Môi-se, và các giao ước ấy tiêu biểu cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người sẽ được giương lên như một của lễ làm kỳ hiệu, và họ là "thứ tám", tức là thuộc về bảy.
Those five animals represent the five wise virgins, who are typified by the “eight” on the ark, will pass from an old world to a new world—without seeing death.
Năm con vật ấy tượng trưng cho năm trinh nữ khôn ngoan, những người được tiêu biểu bởi “tám” người trên con tàu, sẽ đi từ một thế giới cũ sang một thế giới mới — mà không thấy sự chết.
Abram’s offering was a pure offering, for all the animals in the offering were clean animals, and together they represent the primary animals used for whole burnt offerings. The first angel’s message includes the command to worship the Creator, and the primary sacrificial animals of the sanctuary service that was to be instituted when Abram’s prophecy was fulfilled in the time of Moses are set forth as the offerings of worship, while also typifying the first angel’s call to worship the Creator.
Lễ dâng của Áp-ram là một của lễ tinh sạch, vì mọi con vật trong lễ dâng ấy đều là những loài thanh sạch, và cùng nhau chúng đại diện cho những loài vật chủ yếu được dùng cho các của lễ toàn thiêu. Sứ điệp của thiên sứ thứ nhất bao gồm mệnh lệnh thờ phượng Đấng Tạo Hóa; và các loài sinh tế chủ yếu của nghi lễ đền thánh—nghi lễ sẽ được thiết lập khi lời tiên tri của Áp-ram được ứng nghiệm vào thời Môi-se—được nêu ra như những của lễ thờ phượng, đồng thời tiêu biểu cho lời kêu gọi của thiên sứ thứ nhất thờ phượng Đấng Tạo Hóa.
Verse eighteen explicitly states, “On that day the Lord made a covenant with Abram.” That marks the first of three steps that typify the three angels of Revelation fourteen. The covenant step in Genesis fifteen represents the first angel’s message of Revelation fourteen, which is followed by a second angel, who was typified by the second step of Abram’s covenant found in Genesis seventeen.
Câu mười tám nói rõ: “Trong ngày ấy, Đức Chúa Trời đã lập giao ước với Áp-ram.” Điều đó đánh dấu bước thứ nhất trong ba bước tiêu biểu cho ba thiên sứ của Khải Huyền mười bốn. Bước giao ước trong Sáng Thế Ký mười lăm tượng trưng cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất trong Khải Huyền mười bốn, kế đó là thiên sứ thứ hai, được tiêu biểu bởi bước thứ hai của giao ước Áp-ram, được ghi lại trong Sáng Thế Ký mười bảy.
In step number two, Abram’s name is changed to Abraham. Abram means ‘the father is exalted,’ and Abraham means ‘the father of many nations.’ In the calling of Abram, the promise of becoming a great nation was given, but the promise was not ratified until Abram’s name was changed. Then he became the first father of a chosen covenant people. The next step typified the third angel’s message as Abraham is tested upon sacrificing Isaac, which typified the cross, which typified October 22, 1844, which typifies the Sunday law—which is the third angel’s message. That third covenant step was fulfilled on the twenty-second of October in 1844, and it is set forth in Genesis twenty-two.
Ở bước thứ hai, tên Áp-ram được đổi thành Áp-ra-ham. Áp-ram nghĩa là “người cha được tôn cao,” còn Áp-ra-ham nghĩa là “cha của nhiều dân tộc.” Khi Áp-ram được kêu gọi, lời hứa sẽ trở thành một dân lớn đã được ban, nhưng lời hứa ấy chưa được xác nhận cho đến khi tên Áp-ram được đổi. Bấy giờ ông trở thành tổ phụ đầu tiên của một dân giao ước được chọn. Bước tiếp theo tiêu biểu cho sứ điệp của thiên sứ thứ ba khi Áp-ra-ham được thử thách qua việc dâng Y-sác làm tế lễ, điều đó tiêu biểu cho thập tự giá, điều đó lại tiêu biểu cho ngày 22 tháng 10 năm 1844, và điều này tiêu biểu cho luật Chủ nhật—chính là sứ điệp của thiên sứ thứ ba. Bước giao ước thứ ba ấy đã được ứng nghiệm vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, và được nêu ra trong Sáng-thế Ký 22.
In the second step, which is the second angel’s message, where Abram’s name is changed, the rite of circumcision is established as the “sign” of a covenant people and their relation to God. It is in the history of the second angel’s message, that God’s people are sealed. They are lifted up as an ensign at the third angel’s message represented by the Sunday law, but they are sealed in the period just before the Sunday law, which in Millerite history would be, just before the door closed on October 22, 1844.
Trong bước thứ hai, tức sứ điệp của thiên sứ thứ hai—khi tên của Abram được đổi—nghi thức cắt bì được thiết lập như “dấu hiệu” của một dân giao ước và mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời. Chính trong lịch sử của sứ điệp thiên sứ thứ hai mà dân sự của Đức Chúa Trời được ấn chứng. Họ được giương lên như một tiêu kỳ tại sứ điệp thiên sứ thứ ba, được biểu trưng bởi luật Chủ nhật, nhưng họ được ấn chứng trong thời kỳ ngay trước luật Chủ nhật, mà trong lịch sử Millerite sẽ là ngay trước khi cánh cửa đóng lại vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.
The same is true with the three decrees to come out of Babylon that started the 2300-year prophecy, which ended at the third angel’s arrival on October 22, 1844. The temple was finished during the history of the second decree, after the first, but before the third. The foundations were laid during the first decree and the temple building finished in the history of the second decree. The third decree in 457 BC started the 2300 years, while the decree itself returned national sovereignty to the Jews. At the third waymark a kingdom is set up, as represented by the restoration of national sovereignty at the third decree and the lifting up of the church triumphant as an ensign at the Sunday law.
Điều tương tự cũng đúng với ba sắc lệnh được ban ra từ Ba-by-lôn đã khởi đầu lời tiên tri 2300 năm, lời ấy kết thúc khi thiên sứ thứ ba đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Đền thờ được hoàn tất trong thời kỳ của sắc lệnh thứ hai, sau sắc lệnh thứ nhất nhưng trước sắc lệnh thứ ba. Nền móng được đặt trong thời của sắc lệnh thứ nhất, và việc xây dựng đền thờ được hoàn tất trong thời kỳ của sắc lệnh thứ hai. Sắc lệnh thứ ba vào năm 457 TCN khởi đầu 2300 năm, đồng thời chính sắc lệnh ấy trả lại chủ quyền quốc gia cho người Do Thái. Tại cột mốc thứ ba, một vương quốc được thiết lập, điều này được thể hiện qua việc khôi phục chủ quyền quốc gia tại sắc lệnh thứ ba và việc nâng Hội Thánh đắc thắng lên làm cờ hiệu tại đạo luật Chủ nhật.
The third decree typified the third angel’s arrival to the marriage on October 22, 1844. The bride makes herself ready, before the marriage, not at the marriage. The sealing of the one hundred and forty-four thousand is accomplished just before the Sunday law in the period of time prophetically represented as the image of the beast test. We are informed that the image of the beast test is the test we must pass before probation closes.
Sắc lệnh thứ ba là hình bóng về việc thiên sứ thứ ba đến dự hôn lễ vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Cô dâu tự chuẩn bị mình trước hôn lễ, chứ không phải ngay tại hôn lễ. Sự đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn được hoàn tất ngay trước luật ngày Chủ nhật, trong thời kỳ được trình bày theo lời tiên tri như là cuộc thử thách hình tượng con thú. Chúng ta được cho biết rằng cuộc thử thách hình tượng con thú là bài thử mà chúng ta phải vượt qua trước khi thời kỳ ân điển khép lại.
“The Lord has shown me clearly that the image of the beast will be formed before probation closes; for it is to be the great test for the people of God, by which their eternal destiny will be decided. Your position is such a jumble of inconsistencies that but few will be deceived.
Chúa đã tỏ cho tôi rõ ràng rằng hình tượng của con thú sẽ được hình thành trước khi kỳ ân điển kết thúc; vì đó sẽ là cuộc thử thách lớn đối với dân sự của Đức Chúa Trời, qua đó vận mệnh đời đời của họ sẽ được định đoạt. Lập trường của bạn là một mớ lộn xộn đầy mâu thuẫn đến nỗi chỉ có rất ít người bị lừa dối.
“In Revelation 13 this subject is plainly presented; [Revelation 13:11–17, quoted].
Trong sách Khải Huyền 13, vấn đề này được trình bày một cách rõ ràng; [Khải Huyền 13:11-17, trích dẫn].
“This is the test that the people of God must have before they are sealed. All who proved their loyalty to God by observing His law, and refusing to accept a spurious sabbath, will rank under the banner of the Lord God Jehovah, and will receive the seal of the living God. Those who yield the truth of heavenly origin and accept the Sunday sabbath, will receive the mark of the beast.” Manuscript Releases, volume 15, 15.
Đây là bài thử mà dân sự của Đức Chúa Trời phải trải qua trước khi họ được đóng ấn. Tất cả những ai chứng tỏ lòng trung thành với Đức Chúa Trời bằng cách tuân giữ luật pháp của Ngài và từ chối chấp nhận một ngày Sa-bát giả mạo, sẽ quy tụ dưới ngọn cờ của Chúa là Đức Chúa Trời Giê-hô-va, và sẽ nhận ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Những ai từ bỏ lẽ thật có nguồn gốc từ trời và chấp nhận ngày Sa-bát Chủ nhật sẽ nhận dấu của con thú. Manuscript Releases, quyển 15, 15.
The door closed on October 22, 1844, typifying the closed door at the Sunday law. Sister White states that the image of the beast test is the test we must pass “before” probation closes, and she also states that the test is where our eternal destiny is decided. Before the Sunday law, the bride makes herself ready, and this requires having the proper wedding garment, a garment that is to be purified by the refining fires of the Messenger of the Covenant. The seal is placed before the wedding, and then the wedding takes place at the Sunday law.
Cánh cửa đã đóng vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, tượng trưng cho cánh cửa đóng lại khi luật ngày Chủ nhật được ban hành. Bà White nói rằng thử nghiệm về ảnh tượng con thú là thử nghiệm mà chúng ta phải vượt qua “trước khi” thời kỳ ân điển chấm dứt, và bà cũng nói rằng chính thử nghiệm ấy là nơi số phận đời đời của chúng ta được quyết định. Trước khi luật ngày Chủ nhật được ban hành, cô dâu tự chuẩn bị mình, và điều này đòi hỏi phải có áo cưới thích hợp, một chiếc áo sẽ được thanh tẩy bởi lửa luyện lọc của Sứ giả Giao ước. Dấu ấn được đóng trước lễ cưới, rồi lễ cưới diễn ra khi luật ngày Chủ nhật được ban hành.
Sister White identifies that the sealing is a settling into the truth both intellectually and spiritually. She further identifies that ‘when’ God’s people are sealed, ‘then’ the shaking of God’s judgments will come. The shaking is the judgments that begin at the earthquake of Revelation eleven, which is the Sunday law in the United States.
Bà White xác định rằng việc đóng ấn là sự vững lập trong lẽ thật cả về trí tuệ lẫn thuộc linh. Bà còn cho biết rằng 'khi' dân của Đức Chúa Trời được đóng ấn, 'thì' sự rung chuyển do các phán xét của Đức Chúa Trời sẽ đến. Sự rung chuyển ấy chính là các phán xét khởi đầu từ trận động đất trong Khải Huyền chương 11, tức là luật Chủ nhật tại Hoa Kỳ.
The Millerite temple was finished at the Midnight Cry, identifying that the seal is placed before the third waymark of judgment. In Abraham’s covenant the third step of judgment was Isaac on Mount Moriah, typifying not only Christ upon the cross, but also the offering of the Levites in Malachi three.
Đền thờ của phái Millerite đã được hoàn tất vào thời điểm Tiếng kêu lúc nửa đêm, cho thấy rằng ấn được đóng trước mốc phán xét thứ ba. Trong giao ước của Áp-ra-ham, bước phán xét thứ ba là Y-sác trên núi Mô-ri-a, như một hình bóng không chỉ về Đấng Christ trên thập tự giá, mà còn về lễ dâng của người Lê-vi trong Ma-la-chi chương ba.
And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years.
Ngài sẽ ngồi như thợ luyện và tẩy luyện bạc; Ngài sẽ thanh luyện con cháu Lê-vi, gạn lọc họ như vàng và bạc, để họ dâng lên Đức Chúa Trời một của lễ trong sự công chính. Bấy giờ của lễ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Đức Chúa Trời, như trong những ngày xưa, như những năm trước kia.
And I will come near to you to judgment; and I will be a swift witness against the sorcerers, and against the adulterers, and against false swearers, and against those that oppress the hireling in his wages, the widow, and the fatherless, and that turn aside the stranger from his right, and fear not me, saith the Lord of hosts. Malachi 3:3–5.
Ta sẽ đến gần các ngươi để xét xử; Ta sẽ mau chóng làm chứng chống lại những kẻ phù thủy, những kẻ ngoại tình, những kẻ thề dối; chống lại những kẻ áp bức người làm thuê về tiền công, người góa bụa và kẻ mồ côi; những kẻ tước đoạt quyền lợi của người ngoại kiều và không kính sợ Ta, Đức Chúa các đạo quân phán. Ma-la-chi 3:3-5.
After the purification process, the offering will ‘then’ be as in days of old, and the offering is prepared during the final act of judgment, for it is then that the Levites who have been purified and prepared as an offering, are contrasted with the foolish virgins who Christ is to be a “swift witness against.” The “swift witness” is the “faithful witness to the Laodicean church,” who cast Shebna as a ball into a far field, and who projectile vomits the Laodiceans out of His mouth. The separation of the wheat and tares will be swift, for the final movements are rapid ones. That swift messenger is He who suddenly comes to His temple in Malachi three.
Sau quá trình thanh tẩy, của lễ sẽ 'bấy giờ' như thuở xưa, và của lễ được chuẩn bị trong giai đoạn phán xét cuối cùng, vì chính khi ấy, những người Lê-vi đã được thanh tẩy và được chuẩn bị như một của lễ sẽ được đối chiếu với những trinh nữ dại mà Đấng Christ sẽ làm một "chứng nhân mau lẹ" chống lại. "Chứng nhân mau lẹ" đó chính là "chứng nhân thành tín cho hội thánh Lao-đi-xê," Đấng ném Sép-na như một quả bóng vào một cánh đồng xa, và phun mửa những người Lao-đi-xê ra khỏi miệng Ngài. Sự phân rẽ giữa lúa mì và cỏ lùng sẽ diễn ra nhanh chóng, vì các diễn biến cuối cùng diễn ra rất nhanh. Vị sứ giả mau lẹ ấy chính là Đấng bỗng nhiên đến đền thờ Ngài trong Ma-la-chi đoạn ba.
The lifting up of the offering in Malachi “as in days of old,” is the lifting up of the ensign of the one hundred and forty-four thousand; it was the lifting up of the two Pentecostal wave loaves offering; it was the lifting up of the serpent on the pole in the wilderness; it was the lifting up of Christ on the cross and it was the lifting up of Shadrach, Meshack and Abednego in the fiery furnace with Christ while all the world marveled and wondered; it was the publication of the 1843 chart, and the intended purpose for the 1850 chart.
Việc giương lên của lễ trong sách Ma-la-chi “như thuở xưa” chính là việc giương cờ hiệu của một trăm bốn mươi bốn ngàn; đó là việc giương lên hai ổ bánh của lễ vẫy trong Lễ Ngũ Tuần; đó là việc giương con rắn trên cây sào trong đồng vắng; đó là việc giương cao Đấng Christ trên thập tự giá, và đó là việc giương cao Shadrach, Meshack và Abednego trong lò lửa hừng cùng với Đấng Christ, trong khi cả thế gian đều kinh ngạc và lấy làm lạ; đó là sự xuất bản biểu đồ năm 1843, và là mục đích dự định cho biểu đồ năm 1850.
It was in the second step of Abraham’s covenant that the rite of circumcision was enacted and enforced, thus becoming the sign of the covenant. Abraham, unlike Moses, immediately circumcised Isaac, so when he lifted him up as an offering in the third step, Isaac would represent the sign. That sign would later be replaced by baptism, which together provide two witnesses to the sign of the cross.
Chính ở bước thứ hai của Giao ước Áp-ra-ham, nghi thức cắt bì được thiết lập và áp dụng, nhờ đó trở thành dấu hiệu của giao ước. Khác với Môi-se, Áp-ra-ham đã lập tức cắt bì cho Y-sác, để khi ông dâng con làm của lễ ở bước thứ ba, Y-sác sẽ mang lấy dấu ấy. Dấu hiệu đó về sau được thay thế bằng phép báp-têm; cả hai cùng nhau trở thành hai chứng nhân cho dấu của thập tự giá.
“What is the seal of the living God, which is placed in the foreheads of His people? It is a mark which angels, but not human eyes, can read; for the destroying angel must see this mark of redemption. The intelligent mind has seen the sign of the cross of Calvary in the Lord’s adopted sons and daughters. The sin of the transgression of the law of God is taken away. They have on the wedding garment, and are obedient and faithful to all God’s commands.” Manuscript Release, number 21, 51.
“Ấn của Đức Chúa Trời hằng sống, được đặt trên trán của dân Ngài, là gì? Đó là một dấu mà các thiên sứ có thể đọc, nhưng mắt loài người thì không; vì thiên sứ hủy diệt phải nhìn thấy dấu ấn cứu chuộc này. Tâm trí thông sáng đã thấy dấu hiệu của thập giá Canvê nơi các con trai và con gái được Chúa nhận làm con nuôi. Tội lỗi của sự vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời đã được cất bỏ. Họ mặc áo cưới và vâng phục, trung tín đối với mọi điều răn của Đức Chúa Trời.” Bản Phát Hành Bản Thảo, số 21, 51.
In the first step of the covenant in Genesis fifteen, a time prophecy of 400 years in bondage is identified, and Paul identifies the same period as 430 years. Paul’s calculation begins with the calling in Exodus twelve, for he includes Abram’s time of sojourning. When closely considered the four hundred years in relation to thirty years is one symbol set forth by Paul, and four hundred years set forth by Abram is another symbol. So, what does the four-hundred-year period represent, and what does the four-hundred and thirty year period represent, and what does the thirty years represent?
Trong bước đầu tiên của giao ước ở Sáng thế ký 15, một lời tiên tri về thời kỳ bốn trăm năm trong cảnh nô lệ được chỉ ra, và Paul xác định cùng thời kỳ đó là bốn trăm ba mươi năm. Cách tính của Paul bắt đầu từ sự kêu gọi trong Xuất Ê-díp-tô ký 12, vì ông bao gồm thời gian kiều ngụ của Abram. Khi xem xét kỹ, bốn trăm năm gắn với ba mươi năm là một biểu tượng do Paul nêu ra, còn bốn trăm năm do Abram nêu ra là một biểu tượng khác. Vậy, thời kỳ bốn trăm năm đại diện cho điều gì, thời kỳ bốn trăm ba mươi năm đại diện cho điều gì, và ba mươi năm đại diện cho điều gì?
The scholars have aptly demonstrated that the four hundred and thirty years can be divided into two periods of two hundred and fifteen years, the first period free of bondage and slavery, the second is slavery.
Các học giả đã chứng minh một cách thuyết phục rằng bốn trăm ba mươi năm có thể được chia thành hai giai đoạn, mỗi giai đoạn hai trăm mười lăm năm: giai đoạn thứ nhất không phải chịu xiềng xích và nô lệ, còn giai đoạn thứ hai là thời kỳ nô lệ.
Abraham entered Canaan at the age of 75, and Isaac was born when Abraham was 100 years old (25 years later). Jacob was born when Isaac was 60 years old, and Jacob entered Egypt when he was 130 years old. This totals 215 years in Canaan and 215 years in Egypt, for a total of 430 years. For a student of prophecy this provides two testimonies, from two covenant symbols, for Paul, as with Abram had his name changed. Paul identifies 430 and Abram 400. The line upon line fulfillment of two related time prophecies is associated with the first covenant period that led to the establishment of God’s chosen people.
Áp-ra-ham vào đất Ca-na-an khi 75 tuổi, và Y-sác được sinh ra khi Áp-ra-ham 100 tuổi (25 năm sau). Gia-cốp được sinh ra khi Y-sác 60 tuổi, và Gia-cốp vào Ai Cập khi ông 130 tuổi. Như vậy là 215 năm ở Ca-na-an và 215 năm ở Ai Cập, tổng cộng 430 năm. Đối với người học về lời tiên tri, điều này cung cấp hai lời chứng, từ hai biểu tượng giao ước, cho Phao-lô, cũng như Áp-ram đã được đổi tên. Phao-lô nêu 430 còn Áp-ram 400. Sự ứng nghiệm theo từng dòng của hai lời tiên tri về thời gian có liên hệ này gắn với thời kỳ của giao ước thứ nhất, dẫn đến việc thiết lập dân được Đức Chúa Trời chọn.
When Christ came into history to confirm the covenant with many for one week, that week represented two interrelated time prophecies. The four-hundred and thirty year prophecy of Paul can be divided into two equal parts, as with the week of Christ. 215 years in Canaan followed by the 215 years in Egypt, typifying the testimony of Christ in person for 1260 days, followed by 1260 days of Christ’s testimony in the person of His disciples. The 2520 days Christ confirmed the covenant also represents the seven times that are the “quarrel of His covenant.”
Khi Đấng Christ bước vào lịch sử để xác nhận giao ước với nhiều người trong một tuần lễ, tuần lễ ấy tượng trưng cho hai lời tiên tri về thời gian có liên hệ với nhau. Lời tiên tri 430 năm của Phao-lô có thể được chia thành hai phần bằng nhau, giống như tuần lễ của Đấng Christ: 215 năm tại Ca-na-an tiếp theo là 215 năm tại Ai Cập, tiêu biểu cho việc Đấng Christ đích thân làm chứng trong 1260 ngày, rồi tiếp theo là 1260 ngày Đấng Christ làm chứng qua con người các môn đồ của Ngài. 2520 ngày Đấng Christ xác nhận giao ước cũng tượng trưng cho “bảy lần”, tức là “sự tranh cãi của giao ước Ngài”.
From 723 BC unto 1798 is 2520 years, and those years are divided into two periods of 1260 years, representing paganism trampling down the sanctuary and host for 1260 years, followed by papalism trampling down the sanctuary and host for 1260 years. The middle of Christ’s week was the cross, and the middle of the week (538) produces 1260 years of pagan testimony followed by 1260 years of pagan testimony from the papal disciple of paganism. When Christ’s kingdom of grace was empowered at the cross it typified 538, when the antichrist’s kingdom was empowered. At the cross, literal Israel was passed by and spiritual Israel began. In 538, literal paganism was passed by, and spiritual paganism began.
Từ năm 723 TCN đến năm 1798 là 2520 năm, và khoảng thời gian ấy được chia thành hai thời kỳ, mỗi thời kỳ 1260 năm, tượng trưng cho việc ngoại giáo chà đạp đền thánh và đạo binh trong 1260 năm, rồi đến chủ nghĩa giáo hoàng chà đạp đền thánh và đạo binh trong 1260 năm. Điểm giữa của tuần lễ của Đấng Christ là thập tự giá, và điểm giữa của tuần lễ (538) đưa đến 1260 năm lời chứng của ngoại giáo, tiếp theo là 1260 năm lời chứng của ngoại giáo từ môn đồ của ngoại giáo là chủ nghĩa giáo hoàng. Khi vương quốc ân điển của Đấng Christ được trao quyền tại thập tự giá, điều đó là hình bóng cho năm 538, khi vương quốc của kẻ chống Đấng Christ được trao quyền. Tại thập tự giá, Y-sơ-ra-ên theo huyết thống bị bỏ qua và Y-sơ-ra-ên thuộc linh bắt đầu. Năm 538, ngoại giáo hữu hình bị bỏ qua, và ngoại giáo thuộc linh bắt đầu.
Abram’s prophecy of four hundred years, is also four hundred and thirty years. It is the same prophecy, but set forth by two covenant symbols. Those two related time prophecies were identifying the bondage and deliverance of God’s people that would be fulfilled at the beginning of ancient Israel’s covenant history. At the end of ancient Israel’s covenant history, there is one time prophecy that aligns with another, in a day for a year relationship, thus identifying two time-prophecies emphasizing deliverance and bondage.
Lời tiên tri của Áp-ram về bốn trăm năm cũng được tính là bốn trăm ba mươi năm. Đó là cùng một lời tiên tri, nhưng được trình bày qua hai biểu tượng giao ước. Hai lời tiên tri về thời kỳ có liên hệ với nhau ấy xác định cảnh nô lệ và sự giải cứu của dân Đức Chúa Trời, điều sẽ được ứng nghiệm vào buổi đầu lịch sử giao ước của Y-sơ-ra-ên xưa. Vào cuối lịch sử giao ước của Y-sơ-ra-ên xưa, có một lời tiên tri về thời kỳ tương ứng với một lời khác theo nguyên tắc một ngày tính như một năm, qua đó xác định hai lời tiên tri về thời kỳ nhấn mạnh sự giải cứu và sự nô lệ.
In the middle history of the beginning and ending of ancient Israel we find Daniel in the captivity of Babylon. From that covenant history, which identifies bondage and a promise of delivery; the prophecy which ties ancient Israel covenant history together with modern Israel’s covenant history is set forth. In the book of Daniel, two time-prophecies are identified. The “oath” of Moses’ “seven times” of Leviticus twenty-six is identified in Daniel 9/11, as well as verse thirteen’s question in Daniel eight, that leads to the answer of verse fourteen, that identifies the prophecy of 2300 years. The “oath,” which if broken, is the “curse of Moses” in Daniel nine eleven, when carried out in 677 BC against the southern kingdom and it concluded on October 22, 1844, as did the 2300 years. Both 2520 scatterings are located in the question of verse thirteen, and verse fourteen’s answer is the 2300.
Ở giai đoạn giữa của lịch sử về sự khởi đầu và kết thúc của Israel cổ đại, chúng ta thấy Đa-ni-ên trong cảnh lưu đày tại Ba-by-lôn. Từ lịch sử giao ước ấy, vốn xác định cảnh nô lệ và lời hứa giải cứu, lời tiên tri gắn kết lịch sử giao ước của Israel cổ với lịch sử giao ước của Israel hiện đại được trình bày. Trong sách Đa-ni-ên, có hai lời tiên tri về thời kỳ được nêu ra. “Lời thề” về “bảy lần” của Môi-se trong Lê-vi Ký 26 được nhận diện trong Đa-ni-ên 9:11, cũng như câu hỏi ở câu 13 trong Đa-ni-ên 8, dẫn đến câu trả lời ở câu 14, xác định lời tiên tri 2300 năm. “Lời thề” ấy, nếu bị vi phạm, là “lời nguyền của Môi-se” trong Đa-ni-ên 9:11, đã được áp dụng vào năm 677 TCN đối với vương quốc miền nam và kết thúc vào ngày 22 tháng 10 năm 1844, cũng như kỳ 2300 năm. Cả hai cuộc tản lạc 2520 đều nằm trong câu hỏi ở câu 13, và câu trả lời của câu 14 là 2300.
As with Moses, the alpha of ancient Israel’s covenant history, and as with Christ, the omega of ancient Israel’s covenant history, the beginning alpha history of modern Israel included two interrelated time prophecies. One represented bondage and slavery and the other deliverance. The division of 430 years into two equal periods in the alpha history of ancient Israel typified, the prophetic division that was repeated in the week Christ confirmed the covenant, and the interrelated period of judgment for breaking the covenant which was divided into two equal periods, sets forth two witnesses; that the alpha history of modern Israel would have a similar prophetic anchor. The 2520 years and 2300 years ending together provide the third witness of two interrelated time-prophecies, which possess a prophecy that is divided equally in the middle.
Cũng như Môi-se, Anpha của lịch sử giao ước Israel cổ đại, và cũng như Đấng Christ, Ômêga của lịch sử giao ước ấy, lịch sử Anpha của Israel hiện đại bao gồm hai lời tiên tri thời gian có liên hệ với nhau. Một lời tượng trưng cho cảnh nô lệ, còn lời kia cho sự giải phóng. Việc phân chia 430 năm thành hai thời kỳ bằng nhau trong lịch sử Anpha của Israel cổ đại tiêu biểu cho sự phân chia mang tính tiên tri được lặp lại trong tuần lễ khi Đấng Christ xác nhận giao ước, và cho giai đoạn xét đoán có liên hệ vì sự bội ước, vốn cũng được chia thành hai phần bằng nhau; những điều ấy đưa ra hai bằng chứng rằng lịch sử Anpha của Israel hiện đại sẽ có một nền tảng tiên tri tương tự. Việc 2520 năm và 2300 năm cùng kết thúc cung cấp bằng chứng thứ ba về hai lời tiên tri thời gian có liên hệ với nhau, trong đó có một lời tiên tri được chia đều ở chính giữa.
Three witnesses would lead a soul to expect that when the Lord enters into covenant with the one hundred and forty-four thousand in the omega history of modern Israel, that there would be two related prophecies of prophetic time, and a period connected that is divided into two equal parts, but this cannot be so, for when the Lord entered into covenant with modern Israel, He raised His hand to heaven and proclaimed that time would be no longer.
Ba nhân chứng sẽ khiến một linh hồn kỳ vọng rằng, khi Chúa lập giao ước với một trăm bốn mươi bốn nghìn trong lịch sử Ômega của Israel hiện đại, sẽ có hai lời tiên tri về thời kỳ tiên tri, có liên hệ với nhau, và một thời kỳ liên hệ được chia thành hai phần bằng nhau; nhưng điều đó không thể như thế được, vì khi Chúa lập giao ước với Israel hiện đại, Ngài giơ tay lên trời và tuyên bố rằng thời gian sẽ không còn nữa.
The covenant of the one hundred and forty-four thousand is represented by two wave loaves of the first fruit wheat offering. The prophetic structure of three witnesses, followed by a twofold witness that lacks the distinction of prophetic time, is found in Abram’s offering of a heifer (that was divided equally), a she goat (that was divided equally), and a ram (that was divided equally), followed by a turtledove and a pigeon.
Giao ước của một trăm bốn mươi bốn nghìn người được biểu trưng bằng hai ổ bánh dâng vẫy của lễ dâng đầu mùa bằng lúa mì. Cấu trúc tiên tri gồm ba chứng nhân, tiếp theo là một cặp chứng nhân không có sự phân định về thời gian tiên tri, được thấy trong lễ dâng của Áp-ram: một bò cái tơ (được chẻ làm đôi), một dê cái (được chẻ làm đôi), và một chiên đực (được chẻ làm đôi), rồi đến một chim gáy và một chim bồ câu.
The first three offerings all had three years attached to their symbolism, identifying they represent three offerings which possessed prophetic time. Not only did the three offerings all possess prophetic time, they each had prophetic time that was equally divided into two periods. The turtledove and the pigeon have no age attached, they simply needed to be young, for they represent the last generation of covenant people, who is represented by two birds, or two flocks.
Ba của lễ đầu tiên đều có ba năm gắn liền với ý nghĩa biểu tượng của chúng, cho thấy chúng đại diện cho ba của lễ mang thời kỳ tiên tri. Không chỉ cả ba của lễ đều mang thời kỳ tiên tri, mà mỗi của lễ còn có thời kỳ ấy được chia đều thành hai giai đoạn. Chim cu gáy và chim bồ câu thì không gắn tuổi; chúng chỉ cần còn non, vì chúng tượng trưng cho thế hệ cuối cùng của dân giao ước, được biểu trưng bằng hai con chim, hoặc hai bầy.
The two flocks represent the great multitude and the one hundred and forty-four thousand, but the two birds hold a secondary meaning. The pigeon is one of the offerings for the sanctuary, and when you look up the identification of the pigeon as an offering, more times than not it means a type of dove; whereas the pigeon in Abram’s offering is identifying a bird that is so young it has no feathers, or worse yet, a bird whose feathers have been plucked off. At this prophetic level the two birds are the wheat and tares.
Hai bầy biểu trưng cho đoàn dân đông vô kể và một trăm bốn mươi bốn ngàn, nhưng hai con chim lại mang một ý nghĩa phụ. Chim bồ câu là một trong những lễ vật dâng cho đền thánh, và khi bạn tra xem cách xác định chim bồ câu như một lễ vật, thì thường nó chỉ một loài chim cu gáy; trong khi chim bồ câu trong lễ dâng của Áp-ram lại chỉ một con chim non đến mức chưa có lông, hoặc tệ hơn là một con chim đã bị vặt hết lông. Ở cấp độ tiên tri này, hai con chim ấy là lúa mì và cỏ lùng.
In the last days the ensign will be lifted up to the heavens as a bird, and it will do so at the very time that two unclean birds are going to lift up wickedness and place her on her throne in Shinar.
Trong những ngày sau rốt, ngọn cờ sẽ được giương lên đến các tầng trời như một con chim, và điều đó sẽ xảy ra đúng vào lúc hai con chim ô uế sắp nâng Sự Gian Ác lên và đặt bà trên ngai của bà tại Shinar.
Then the angel that talked with me went forth, and said unto me, Lift up now thine eyes, and see what is this that goeth forth. And I said, What is it? And he said, This is an ephah that goeth forth. He said moreover, This is their resemblance through all the earth. And, behold, there was lifted up a talent of lead: and this is a woman that sitteth in the midst of the ephah.
Bấy giờ vị thiên sứ đã nói chuyện với tôi đi ra và bảo tôi: Hãy ngước mắt lên, và xem điều gì đang đi ra. Tôi nói: Ấy là gì? Người đáp: Đây là một ê-pha đang đi ra. Người lại nói thêm: Đây là diện mạo của họ khắp trên mặt đất. Và kìa, có một ta-lâng chì được nhấc lên; và đây là một người đàn bà ngồi ở giữa ê-pha.
And he said, This is wickedness. And he cast it into the midst of the ephah; and he cast the weight of lead upon the mouth thereof.
Người nói: Đây là sự gian ác. Người ném nó vào giữa cái ê-pha; và người ném cục chì nặng lên miệng nó.
Then lifted I up mine eyes, and looked, and, behold, there came out two women, and the wind was in their wings; for they had wings like the wings of a stork: and they lifted up the ephah between the earth and the heaven. Then said I to the angel that talked with me, Whither do these bear the ephah? And he said unto me, To build it an house in the land of Shinar: and it shall be established, and set there upon her own base. Zechariah 5:5–11.
Bấy giờ tôi ngước mắt lên, nhìn, và kìa, có hai người đàn bà bước ra; gió ở trong cánh của họ, vì họ có cánh như cánh cò; và họ nâng cái ê-pha lên giữa trời và đất. Bấy giờ tôi hỏi thiên sứ đang nói với tôi: “Họ mang cái ê-pha ấy đi đâu?” Ngài đáp với tôi: “Để xây cho nó một ngôi nhà trong xứ Shinar; và nó sẽ được lập nên, đặt ở đó trên nền riêng của nó.” Xa-cha-ri 5:5-11.
The papacy, represented as “wickedness,” or by Paul as “that wicked,” received its deadly wound in 1798, when a talent of lead was placed over the basket she sits in. Thereafter spiritualism and apostate Protestantism are going lift her up and build her a house in Shinar, at the same point that God has finished building the house that He is going to lift up as an ensign. In Zechariah the counterfeit ensign is the woman of wickedness and the ensign are represented as doves. The world with then be choosing between Rome, which is the cage of every unclean and hateful bird, or the dove, a symbol of God’s covenant with mankind.
Giáo hoàng quyền, được mô tả là “sự gian ác”, hoặc bởi Phao-lô là “kẻ gian ác”, đã nhận vết thương chí tử vào năm 1798, khi một ta-lâng chì được đặt lên trên cái giỏ mà người đàn bà ấy ngồi trong đó. Sau đó, thuyết cầu hồn và chủ nghĩa Tin Lành bội đạo sẽ nâng bà ta lên và xây cho bà ta một ngôi nhà tại Si-na-a, đúng vào lúc Đức Chúa Trời hoàn tất việc xây dựng ngôi nhà mà Ngài sẽ giương lên như một cờ hiệu. Trong sách Xa-cha-ri, cờ hiệu giả mạo là người đàn bà của sự gian ác, còn cờ hiệu thì được biểu trưng bằng những con bồ câu. Bấy giờ thế gian sẽ phải lựa chọn giữa Rôma, là lồng giam của mọi loài chim ô uế và đáng ghét, hoặc con bồ câu, biểu tượng của giao ước của Đức Chúa Trời với loài người.
And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird. Revelation 18:2.
Người kêu lớn tiếng, rằng: Ba-by-lôn lớn đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ, nhà giam của mọi tà linh ô uế, và lồng của mọi loài chim dơ bẩn và đáng ghét. Khải Huyền 18:2.
Christ stated in connection with His death and resurrection, ‘destroy this temple, and I will raise it up in three days.’ Those three days represent a prophetic period when a temple is raised up, as was the case with Moses, with Christ and with the Millerites. The three-year-old requirement for Abram’s offering of a heifer, she goat and ram represent that within each of the three covenant histories we are now considering, a temple would be erected. The final covenant temple of the one hundred and forty-four thousand is the ensign is to be lifted up as a crown unto heaven. For this reason; the heifer, she goat and ram are earth beasts, thus making the distinction with the birds that fly in the heavens. The covenant temple that is erected in the last days is when Jerusalem is lifted up above all the hills and mountains.
Liên hệ đến sự chết và sự phục sinh của Ngài, Đấng Christ đã phán: ‘Hãy phá đền thờ này đi, Ta sẽ dựng lại nó trong ba ngày.’ Ba ngày ấy tượng trưng cho một thời kỳ tiên tri khi một đền thờ được dựng lên, như đã xảy ra với Môi-se, với Đấng Christ và với phái Millerite. Yêu cầu “ba tuổi” cho của lễ của Áp-ram gồm một bò cái tơ, một dê cái và một chiên đực biểu thị rằng trong mỗi một trong ba lịch sử giao ước mà chúng ta đang xem xét, sẽ có một đền thờ được dựng lên. Đền thờ giao ước cuối cùng của một trăm bốn mươi bốn ngàn là cờ hiệu được giương lên như một mão miện hướng lên trời. Vì lý do này; bò cái tơ, dê cái và chiên đực là những thú thuộc về đất, qua đó phân biệt với các loài chim bay trên trời. Đền thờ giao ước được dựng lên trong những ngày sau rốt là khi Giê-ru-sa-lem được nâng lên cao hơn mọi núi đồi.
Though I have not yet identified every element of Abram’s first of three covenant steps, so far, every element we have considered has a counterpart in the beginning and ending of ancient literal Israel, and in the beginning of modern Israel. We have shown the three steps of the angels of Revelation fourteen in Abram’s first covenant step. The fractal of the three angels that is in the first covenant step of Abram, will be even more clearly upheld when we consider Abram’s second and third covenant steps.
Mặc dù tôi chưa xác định hết mọi yếu tố của bước thứ nhất trong ba bước của giao ước Áp-ram, nhưng cho đến nay, mọi yếu tố chúng ta đã xem xét đều có một yếu tố tương ứng trong phần khởi đầu và phần kết thúc của Y-sơ-ra-ên xưa theo nghĩa đen, cũng như trong phần khởi đầu của Y-sơ-ra-ên hiện đại. Chúng ta đã cho thấy ba bước của các thiên sứ trong Khải Huyền chương mười bốn trong bước giao ước thứ nhất của Áp-ram. Mẫu hình fractal của ba thiên sứ hiện diện trong bước giao ước thứ nhất của Áp-ram sẽ càng được củng cố rõ ràng hơn khi chúng ta xem xét các bước giao ước thứ hai và thứ ba của Áp-ram.
Abram’s “eight” offerings represent not only offerings that would become part of Moses’ sanctuary rituals, but they identify and confirm the role of prophetic time in the story of God’s covenant people. They confirm the beginning and endings of Israel as God’s chosen people, whether literal or spiritual.
Tám của lễ mà Áp-ram dâng không chỉ tượng trưng cho những của lễ sau này trở thành một phần của các nghi lễ trong đền tạm do Môi-se thiết lập, mà còn xác định và xác nhận vai trò của thời kỳ tiên tri trong câu chuyện về dân giao ước của Đức Chúa Trời. Chúng xác nhận điểm khởi đầu và các điểm kết thúc của Israel như dân được Đức Chúa Trời chọn, dù theo nghĩa đen hay nghĩa thuộc linh.
Paul’s 430 years, is a prophetic period that cannot be logically separated from Abram’s 400 years. When laid over the top of one another they produce a thirty-year period, followed by four hundred years. This is where we will continue the next article.
430 năm của Phao-lô là một thời kỳ tiên tri không thể tách biệt về mặt logic khỏi 400 năm của Áp-ram. Khi chồng lên nhau, chúng tạo ra một giai đoạn ba mươi năm, tiếp theo là bốn trăm năm. Chúng ta sẽ tiếp tục từ đây trong bài viết tiếp theo.
“The prophecies recorded in the Old Testament are the word of the Lord for the last days, and will be fulfilled as surely as we have seen the desolation of San Francisco.” Letter 154, May 26, 1906.
"Những lời tiên tri được ghi chép trong Cựu Ước là lời của Chúa dành cho những ngày sau rốt, và sẽ được ứng nghiệm chắc chắn như chúng ta đã chứng kiến cảnh hoang tàn của San Francisco." Thư 154, ngày 26 tháng 5 năm 1906.