The Lion of the tribe of Judah is a name for Jesus, which emphasizes Christ’s work in sealing and then unsealing His prophetic Word. In chapter five of Revelation the Lion of the tribe of Judah, who is also the root of David prevailed to open the book. The “root” of David was Jessie, and the root of Jessie was Pharez, and his root was Judah, and his root was Jacob, and his root was Isaac, and his root was Abraham. The root of David or Jessie when mentioned in connection with the Lion of the tribe of Judah is emphasizing the principles of beginning and ending, which is Alpha and Omega. When the Revelation of Jesus Christ is unsealed in chapter one of Revelation the primary attribute of His character is that He is Alpha and Omega. Who He is, is also the principle that is employed to unseal the prophecies which the Lion of the tribe of Judah has sealed, when He determines that it is time.
"Sư tử của chi phái Giu-đa" là một danh xưng của Chúa Giê-xu, nhấn mạnh công việc của Đấng Christ trong việc đóng ấn rồi mở ấn Lời tiên tri của Ngài. Trong chương năm của sách Khải Huyền, Sư tử của chi phái Giu-đa, cũng là gốc của Đa-vít, đã thắng để mở cuốn sách. "Gốc" của Đa-vít là Gie-sê, gốc của Gie-sê là Phá-rết, gốc của ông là Giu-đa, gốc của ông là Gia-cốp, gốc của ông là Y-sác, và gốc của ông là Áp-ra-ham. Khi gốc của Đa-vít hay của Gie-sê được nhắc đến cùng với Sư tử của chi phái Giu-đa, điều đó nhấn mạnh các nguyên tắc về sự khởi đầu và sự kết thúc, tức là An-pha và Ô-mê-ga. Khi Khải Huyền của Chúa Giê-xu Christ được mở ấn trong chương một của sách Khải Huyền, thuộc tính chủ yếu trong bản tính của Ngài là Ngài chính là An-pha và Ô-mê-ga. Chính con người Ngài cũng là nguyên tắc được dùng để mở ấn những lời tiên tri mà Sư tử của chi phái Giu-đa đã đóng ấn, khi Ngài quyết định rằng đã đến lúc.
The unsealing of God’s prophetic Word is an element of God’s work of redemption as He employs the power of His Word to produce revival’s according to His will. Sister White says that when the books of Daniel and Revelation are better understood there will be seen among us a great revival. It is the light of God’s prophetic Word that produces revival and reformation according to His will.
Sự mở ấn Lời tiên tri của Đức Chúa Trời là một yếu tố trong công cuộc cứu chuộc của Ngài, khi Ngài dùng quyền năng Lời của Ngài để gây nên những cuộc phục hưng theo ý muốn Ngài. Bà White nói rằng khi các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền được hiểu rõ hơn, giữa chúng ta sẽ xuất hiện một cuộc phục hưng lớn. Chính ánh sáng của Lời tiên tri của Đức Chúa Trời tạo nên sự phục hưng và cải cách theo ý muốn Ngài.
Sister White looking at the last days refers to a great reformation that takes place among God’s people in the latter days. The revival and reformations of sacred history were all produced from God’s Word, and each of those sacred periods pointed to the last great revival and reformation that begins shortly before the Sunday law. Those revivals are produced by an unsealing of God’s Word. The seven thunders were sealed up, just as was the book of Daniel in chapter twelve.
Khi nhìn đến thời kỳ cuối cùng, Bà White nói đến một cuộc cải chánh lớn diễn ra giữa dân sự của Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt. Các cuộc phục hưng và cải chánh trong lịch sử thánh đều xuất phát từ Lời Đức Chúa Trời, và mỗi thời kỳ thánh ấy đều chỉ về cuộc phục hưng và cải chánh lớn sau cùng sẽ khởi đầu ít lâu trước khi có đạo luật ngày Chủ nhật. Những cuộc phục hưng ấy xảy ra do Lời Đức Chúa Trời được mở ấn. Bảy tiếng sấm đã được niêm phong, cũng như sách Đa-ni-ên đã được niêm phong trong chương mười hai.
When we apply the prophetic characteristics of a period of scattering that are associated with the symbol of 1260, we find that in Revelation eleven, Moses and Elijah are dead in the street for three and a half days. By verse eighteen the time of God’s wrath has arrived. Moses and Elijah represent God’s people just before the close of human probation. They are scattered for 1260 symbolic days in the streets of Sodom and Egypt, where Jesus was crucified.
Khi áp dụng những đặc điểm tiên tri của một thời kỳ tản lạc gắn liền với biểu tượng 1260, chúng ta thấy rằng trong Khải Huyền chương 11, Môi-se và Ê-li nằm chết trên đường phố suốt ba ngày rưỡi. Đến câu 18, thời điểm cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đã đến. Môi-se và Ê-li đại diện cho dân sự của Đức Chúa Trời ngay trước khi thời kỳ ân điển dành cho loài người khép lại. Họ bị tản lạc suốt 1260 ngày mang tính biểu tượng trên các đường phố của Sô-đôm và Ai Cập, nơi Chúa Giê-su đã bị đóng đinh.
Moses and Elijah were empowered to give their testimony from verse three on to verse seven where they are slain in the street. John finished measuring the temple in verse two, then Moses and Elijah are empowered to give their testimony, clothed in sackcloth. The message of Elijah and Moses were given to Philadelphian Millerite Adventism in 1844, and by 1863, their voices were buried under the customs and traditions that are handed down from generation to generation. They were empowered to give their testimony for three and a half years, clothed in “sackcloth,” a symbol of the escalating darkness from 1863 onward.
Môi-se và Ê-li-a được ban quyền để làm chứng từ câu ba cho đến câu bảy, nơi họ bị giết trên đường phố. Giăng đã đo xong đền thờ ở câu hai, rồi Môi-se và Ê-li-a được ban quyền để làm chứng, mặc bao gai. Thông điệp của Ê-li-a và Môi-se đã được trao cho Phục Lâm Millerite Philadelphian vào năm 1844, và đến năm 1863, tiếng nói của họ đã bị chôn vùi dưới những phong tục và truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác. Họ được ban quyền để làm chứng trong ba năm rưỡi, mặc "bao gai", biểu tượng của bóng tối ngày càng gia tăng kể từ năm 1863 trở đi.
When we apply Sister White’s definition of the seven thunders as representing the events of the first and second angels, in a line upon line fashion, we construct a history that begins with an angel descending with a message, but line upon line, the angel is both the first and second angel. One placed his foot upon the land and one foot upon the sea on August 11, 1840, and the other arrived at the disappointment of April 19, 1844.
Khi chúng ta áp dụng định nghĩa của Bà White về bảy tiếng sấm như đại diện cho các sự kiện của thiên sứ thứ nhất và thứ hai theo phương pháp dòng trên dòng, chúng ta xây dựng một lịch sử bắt đầu với một thiên sứ giáng xuống mang một sứ điệp; nhưng theo dòng trên dòng, thiên sứ ấy vừa là thiên sứ thứ nhất vừa là thiên sứ thứ hai. Một vị đặt một chân trên đất và một chân trên biển vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, và vị kia đến tại cuộc thất vọng ngày 19 tháng 4 năm 1844.
The next waymark in each parallel history is God’s hand, which is associated with Habakkuk’s tables. With the first angel, the 1843 chart was produced, but there was a mistake in some of the figures. With the second angel, God’s hand is a waymark of Habakkuk’s tables; represented when He removed His hand from the mistake. When he removed His hand, the message progressively developed until its climax at the Exeter camp meeting, just before the disappointment of October 22, 1844.
Cột mốc tiếp theo trong mỗi dòng lịch sử song song là bàn tay của Đức Chúa Trời, vốn gắn liền với các bảng của Ha-ba-cúc. Với thiên sứ thứ nhất, bảng 1843 được xuất bản, nhưng có một sai sót trong một số con số. Đến thiên sứ thứ hai, bàn tay của Đức Chúa Trời là một cột mốc của các bảng của Ha-ba-cúc; điều đó được bày tỏ khi Ngài cất tay khỏi chỗ sai lầm ấy. Khi Ngài cất tay, sứ điệp đã dần dần phát triển cho đến đỉnh điểm tại hội trại Exeter, ngay trước sự thất vọng ngày 22 tháng 10 năm 1844.
The two lines identify a worldwide message, for the angel who arrives places one foot on the land and one foot on the sea, and inspiration informs us this represents a worldwide message. The angel also identifies the beginning of the tarrying time in the parable of the ten virgins. At this first waymark we also see God’s hand producing a lie. On April 19, 1844, prophetically it appeared as if the vision had lied, but those who had patience, waited, and though the vision tarried, it did not lie. But when the line we are building begins, the lie of the first disappointment is marked as an attribute of the first waymark.
Hai dòng chỉ ra một sứ điệp toàn cầu, vì thiên sứ đến đặt một chân trên đất và một chân trên biển, và sự soi dẫn cho chúng ta biết điều này biểu trưng cho một sứ điệp toàn cầu. Thiên sứ cũng cho biết sự khởi đầu của thời kỳ chậm trễ trong dụ ngôn mười trinh nữ. Ở cột mốc đầu tiên này, chúng ta cũng thấy bàn tay của Đức Chúa Trời làm nảy sinh một lời nói dối. Vào ngày 19 tháng 4 năm 1844, về mặt tiên tri, dường như khải tượng đã nói dối; nhưng những ai kiên nhẫn đã chờ đợi, và dẫu khải tượng chậm trễ, nó không nói dối. Nhưng khi dòng thời gian mà chúng ta đang xây dựng bắt đầu, lời nói dối của sự thất vọng lần thứ nhất được đánh dấu như một đặc trưng của cột mốc đầu tiên.
Then the waymark of God’s hand and Habakkuk’s tables shows God covering a mistake and then removing His hand from the mistake. In Millerite history, the mistake was allowed by God in May of 1842, when the chart was printed, and the mistake was thereafter manifested when the year 1843 ended, but it was some time after, that the Lord removed His hand from the mistake in the figures. The mistake was from May of 1842 until somewhere after the first disappointment. For the first angel, God’s hand and Habakkuk’s tables is marked in May of 1842, but the removal of His hand in the history of the second angel would be shortly after the first disappointment.
Như vậy, dấu mốc về bàn tay của Đức Chúa Trời và những tấm bảng của Ha-ba-cúc cho thấy Đức Chúa Trời che phủ một sai lầm rồi rút tay Ngài khỏi sai lầm đó. Trong lịch sử của phong trào Miller, sai lầm ấy đã được Đức Chúa Trời cho phép vào tháng 5 năm 1842, khi biểu đồ được in, và sau đó được bày tỏ khi năm 1843 kết thúc; nhưng một thời gian sau đó, Chúa mới rút tay Ngài khỏi sai lầm trong các con số. Sai lầm ấy kéo dài từ tháng 5 năm 1842 cho đến một thời điểm nào đó sau lần thất vọng thứ nhất. Đối với thiên sứ thứ nhất, bàn tay của Đức Chúa Trời và những tấm bảng của Ha-ba-cúc được đánh dấu vào tháng 5 năm 1842, nhưng việc Ngài rút tay trong lịch sử của thiên sứ thứ hai sẽ diễn ra không lâu sau lần thất vọng thứ nhất.
This identifies the waymark of the “hand” as a prophetic period. A period that begins with His hand covering a mistake, and then ending with His hand being removed from the mistake. This period of His hand covering and uncovering is an illustration of the work of the Lion of the tribe of Judah as He seals and then unseals prophetic light. He covered truth, then revealed the very same truth—in a different light that did not contradict the original light. He did it in order to produce the revival and reformation of the Millerite Midnight Cry.
Điều này xác định cột mốc “bàn tay” là một thời kỳ tiên tri. Một thời kỳ bắt đầu khi bàn tay Ngài che phủ một sai lầm, và kết thúc khi bàn tay Ngài được rút khỏi sai lầm ấy. Thời kỳ bàn tay Ngài che phủ rồi vén mở này là một minh họa về công việc của Sư Tử của chi phái Giu-đa khi Ngài đóng ấn rồi mở ấn ánh sáng tiên tri. Ngài đã che khuất lẽ thật, rồi bày tỏ chính lẽ thật ấy—dưới một ánh sáng khác không mâu thuẫn với ánh sáng ban đầu. Ngài làm như vậy để đem lại cuộc phục hưng và cải cách của Tiếng Kêu Nửa Đêm trong phong trào Miller.
The tarrying time, which began with the arrival of the angel ended when His hand was removed, thus unsealing prophetic light which began the “seventh-month movement” that led to the Midnight Cry message at the Exeter camp meeting, where the message turned into a tidal wave, until the closed door at the great disappointment. The manifestation of God’s power through the unsealing of His Word produced an escalating revival and reformation.
Thời kỳ trì hoãn, khởi đầu với sự xuất hiện của thiên sứ, đã kết thúc khi bàn tay của Ngài được rút lại, qua đó mở ấn ánh sáng tiên tri, khởi phát phong trào “tháng thứ bảy” dẫn đến sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm tại kỳ nhóm trại Exeter, nơi sứ điệp trở thành một làn sóng triều dâng, cho đến khi cánh cửa đóng lại trong kỳ Đại Thất Vọng. Sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời qua việc mở ấn Lời Ngài đã tạo nên một cuộc phục hưng và cải chánh ngày càng gia tăng.
In 1863, the Laodicean Millerite movement was forbidden to cross over the Jordan, and were assigned to the wilderness for stoning Elijah and Moses. The message of William Miller was the message of Elijah, and Miller’s foundational message was Moses’ “seven times.” To reject the “seven times” was to slay Moses, and to reject the foundational truth set forth by Miller, was to slay Elijah. In 1863 the messenger and the message were murdered in the street, and from that point on, the only way to find them was to search for their graves in Jeremiah’s old paths. They were dead in the street—that is until they are resurrected. They are resurrected when the “seven thunders’ future events” that will be “disclosed in their order” are repeated—in the history of the one hundred and forty-four thousand.
Năm 1863, phong trào Millerite Laodicê bị cấm vượt qua sông Giô-đanh và bị đày vào đồng vắng vì đã ném đá Ê-li và Môi-se. Thông điệp của William Miller là thông điệp của Ê-li, và thông điệp nền tảng của Miller là “bảy lần” của Môi-se. Khước từ “bảy lần” tức là giết Môi-se, và khước từ lẽ thật nền tảng do Miller trình bày tức là giết Ê-li. Năm 1863, sứ giả và thông điệp đã bị sát hại giữa đường phố, và từ đó trở đi, cách duy nhất để tìm họ là tìm mộ của họ trong những nẻo xưa của Giê-rê-mi. Họ đã chết giữa đường phố—tức là cho đến khi họ được sống lại. Họ được sống lại khi những “sự kiện tương lai của bảy tiếng sấm” sẽ được “tỏ ra theo thứ tự của chúng” được lặp lại—trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn.
When the history of the first angel is laid over the top of the history of the second angel, the prophetic structure produces a point of reference to follow Christ’s hand, which is the light upon the path of the Midnight Cry. The original light of the Midnight Cry lightens the path and it is the light of His “glorious right arm” that leads the way up the path.
Khi lịch sử của thiên sứ thứ nhất được đặt chồng lên lịch sử của thiên sứ thứ hai, cấu trúc tiên tri tạo ra một điểm tham chiếu để theo bàn tay của Đấng Christ, là ánh sáng trên con đường của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm. Ánh sáng ban đầu của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm soi sáng con đường, và chính ánh sáng từ “cánh tay phải vinh hiển” của Ngài dẫn dắt bước đi trên con đường ấy.
“I seemed to be surrounded with light, and to be rising higher and higher from the earth. I turned to look for the advent people in the world, but could not find them, when a voice said to me, ‘Look again, and look a little higher.’ At this, I raised my eyes, and saw a straight and narrow path, cast up high above the world. On this path the advent people were traveling to the city which was at the farther end of the path. They had a bright light set up behind them at the beginning of the path, which an angel told me was the ‘midnight cry.’ This light shone all along the path, and gave light for their feet, so that they might not stumble.
Tôi dường như được bao quanh bởi ánh sáng, và được nâng lên, ngày càng cao khỏi mặt đất. Tôi quay lại để tìm những người trông đợi sự tái lâm trên thế gian, nhưng không thấy họ; bấy giờ có một tiếng nói phán với tôi: 'Hãy nhìn lại, và nhìn lên cao hơn một chút.' Nghe vậy, tôi ngước mắt lên và thấy một con đường thẳng và hẹp, ở cao tít trên thế gian. Trên con đường ấy, những người trông đợi sự tái lâm đang đi đến thành ở tận cuối con đường. Họ có một ánh sáng rực rỡ được dựng lên phía sau họ, ở đầu con đường, và một thiên sứ cho tôi biết đó là 'tiếng kêu nửa đêm.' Ánh sáng ấy chiếu suốt dọc con đường và soi lối cho bước chân họ, để họ không vấp ngã.
“If they kept their eyes fixed on Jesus, who was just before them, leading them to the city, they were safe. But soon some grew weary, and said the city was a great way off, and they expected to have entered it before. Then Jesus would encourage them by raising His glorious right arm, and from His arm came a light which waved over the advent band, and they shouted ‘Alleluia!’ Others rashly denied the light behind them, and said that it was not God that had led them out so far. The light behind them went out, leaving their feet in perfect darkness, and they stumbled and lost sight of the mark and of Jesus, and fell off the path down into the dark and wicked world below.” Christian Experience and Teachings of Ellen G. White, 57.
Nếu họ giữ mắt chăm chú nhìn vào Chúa Giê-su, Đấng ở ngay trước mặt họ, dẫn họ đến thành, thì họ được an toàn. Nhưng chẳng bao lâu, một số người trở nên mệt mỏi và nói rằng thành còn rất xa, và họ mong rằng lẽ ra đã vào đó từ trước. Bấy giờ Chúa Giê-su khích lệ họ bằng cách giơ cao cánh tay phải vinh hiển của Ngài, và từ cánh tay ấy phát ra một luồng sáng chiếu rọi trên đoàn người trông đợi, và họ reo lên: “Ha-lê-lu-gia!” Những người khác thì hấp tấp chối bỏ ánh sáng phía sau họ, và nói rằng chẳng phải Đức Chúa Trời đã dẫn họ ra xa đến thế. Ánh sáng phía sau họ tắt mất, bỏ mặc bước chân họ trong bóng tối hoàn toàn; họ vấp ngã, mất dấu mục tiêu và mất Chúa Giê-su khỏi tầm mắt, rồi rơi khỏi con đường, lao xuống thế gian tối tăm và gian ác bên dưới. Kinh nghiệm và giáo huấn Cơ Đốc của Ellen G. White, 57.
When Christ raises His glorious arm, He is using His “hand” as a symbol of His work of leading His people. When we bring together the arrival of the second angel with the first angel who descended on August 11, 1840, we find both angels had a message in their hands.
Khi Đấng Christ giơ cánh tay vinh hiển của Ngài, Ngài dùng "bàn tay" của mình như một biểu tượng cho công việc dẫn dắt dân sự của Ngài. Khi chúng ta kết hợp sự xuất hiện của thiên sứ thứ hai với thiên sứ thứ nhất, Đấng đã giáng xuống vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, chúng ta thấy cả hai thiên sứ đều có một sứ điệp trong tay.
“I was shown the interest which all heaven had taken in the work going on upon the earth. Jesus commissioned a mighty angel to descend and warn the inhabitants of the earth to prepare for His second appearing. As the angel left the presence of Jesus in heaven, an exceedingly bright and glorious light went before him. I was told that his mission was to lighten the earth with his glory and warn man of the coming wrath of God. …
Tôi được cho thấy mối quan tâm mà toàn thể thiên đàng đã dành cho công việc đang diễn ra trên đất. Chúa Giê-su sai một thiên sứ quyền năng giáng xuống để cảnh báo dân cư trên đất hãy chuẩn bị cho sự tái lâm của Ngài. Khi thiên sứ rời khỏi sự hiện diện của Chúa Giê-su trên trời, một luồng ánh sáng vô cùng rực rỡ và vinh hiển đi trước ngài. Tôi được cho biết rằng sứ mạng của ngài là soi sáng khắp đất bằng vinh quang của ngài và cảnh báo loài người về cơn thịnh nộ sắp đến của Đức Chúa Trời. ...
“Another mighty angel was commissioned to descend to earth. Jesus placed in his hand a writing, and as he came to the earth, he cried, ‘Babylon is fallen, is fallen.’ Then I saw the disappointed ones again raise their eyes to heaven, looking with faith and hope for their Lord’s appearing. But many seemed to remain in a stupid state, as if asleep; yet I could see the trace of deep sorrow upon their countenances. The disappointed ones saw from the Scriptures that they were in the tarrying time, and that they must patiently wait the fulfillment of the vision. The same evidence which led them to look for their Lord in 1843, led them to expect Him in 1844. Yet I saw that the majority did not possess that energy which marked their faith in 1843. Their disappointment had dampened their faith.” Early Writings, 246, 247.
Một thiên sứ quyền năng khác được ủy nhiệm giáng xuống trần gian. Đức Chúa Giê-xu đặt vào tay ngài một văn bản, và khi ngài đến trần gian, ngài kêu lớn: 'Ba-by-lôn đã đổ, đã đổ.' Bấy giờ tôi thấy những người thất vọng lại ngước mắt lên trời, nhìn với đức tin và hy vọng sự hiện đến của Chúa họ. Nhưng nhiều người dường như vẫn ở trong một trạng thái đờ đẫn, như thể đang ngủ; tuy vậy tôi vẫn thấy dấu vết của nỗi buồn sâu thẳm trên gương mặt họ. Những người thất vọng thấy từ Kinh Thánh rằng họ đang ở trong thời kỳ trì hoãn, và rằng họ phải kiên nhẫn chờ đợi sự ứng nghiệm của khải tượng. Chính những bằng chứng đã dẫn họ trông đợi Chúa mình vào năm 1843 cũng dẫn họ trông mong Ngài vào năm 1844. Tuy nhiên, tôi thấy rằng phần đông không còn có nhiệt huyết đã đặc trưng cho đức tin của họ vào năm 1843. Sự thất vọng đã làm nguội lạnh đức tin của họ. Early Writings, 246, 247.
Both angels are one of three angels that together are one symbol, so they align in terms of the message they represent, though they each represent their own unique message. Both angels have a “writing” in their hands, representing a test. The “first and second angels are to run parallel” to the third angel.
Cả hai vị thiên sứ là hai trong ba thiên sứ hợp lại thành một biểu tượng, vì vậy họ hài hòa về thông điệp mà họ đại diện, dù mỗi vị vẫn đại diện cho thông điệp riêng biệt của mình. Cả hai vị thiên sứ đều cầm một "văn bản" trong tay, tượng trưng cho một phép thử. "Thiên sứ thứ nhất và thứ hai phải chạy song song" với thiên sứ thứ ba.
“God has given the messages of Revelation 14 their place in the line of prophecy, and their work is not to cease till the close of this earth’s history. The first and second angel’s messages are still truth for this time, and are to run parallel with this which follows. The third angel proclaims his warning with a loud voice. ‘After these things,’ said John, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power, and the earth was lightened with his glory.’ In this illumination, the light of all the three messages is combined.” The 1888 Materials, 803, 804.
Đức Chúa Trời đã dành cho các sứ điệp trong Khải Huyền 14 chỗ đứng trong dòng tiên tri, và công việc của chúng sẽ không chấm dứt cho đến khi lịch sử của trái đất này kết thúc. Các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai vẫn là lẽ thật cho thời này, và sẽ song hành với sứ điệp theo sau. Thiên sứ thứ ba công bố lời cảnh báo của mình bằng tiếng lớn. "Sau những điều ấy," Giăng nói, "tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn, và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của ngài." Trong sự chiếu sáng này, ánh sáng của cả ba sứ điệp được kết hợp lại. Các Tài liệu 1888, 803, 804.
Sister White identifies the third angel, as the angel of Revelation eighteen, and identifies that the first and second angels are to run parallel with the prophetic history represented by the third angel of Revelation eighteen. Thus, she is aligning the descent of the first angel on August 11, 1840, with 9/11, and identifying that the angel of Revelation eighteen is “the third angel.” The third angel is the last of the three, and is typified by the first, and for this reason Sister White informs us the mission of the first angel was identical to the mission of the angel of Revelation eighteen, for the mission of both angels was to “lighten the earth with its glory.”
Bà White xác định rằng thiên sứ thứ ba chính là thiên sứ trong Khải Huyền mười tám, và cũng xác định rằng thiên sứ thứ nhất và thứ hai sẽ song hành với lịch sử tiên tri mà thiên sứ thứ ba trong Khải Huyền mười tám đại diện. Vì vậy, bà đang đặt sự giáng xuống của thiên sứ thứ nhất vào ngày 11 tháng 8 năm 1840 tương ứng với 9/11, và xác định rằng thiên sứ của Khải Huyền mười tám là “thiên sứ thứ ba.” Thiên sứ thứ ba là vị cuối cùng trong ba vị và được tiêu biểu bởi vị thứ nhất; vì lý do này, Bà White cho biết sứ mạng của thiên sứ thứ nhất giống hệt sứ mạng của thiên sứ trong Khải Huyền mười tám, vì sứ mạng của cả hai thiên sứ là “làm sáng trái đất bằng vinh quang của mình.”
The “seven thunders” represent a delineation of events within the history of the first and second angels that will be repeated in the history of the third angel. Inspiration has directed that when we align these histories “line upon line”, the first angel’s descent in 1840 aligns with His descent at 9/11. It identifies a testing message that must be eaten with two witnesses, and aligns a disappointment with the first waymark.
“Bảy tiếng sấm” biểu thị một sự phác họa các sự kiện trong lịch sử của thiên sứ thứ nhất và thứ hai, những điều sẽ được lặp lại trong lịch sử của thiên sứ thứ ba. Sự linh hứng đã chỉ dẫn rằng khi chúng ta sắp đặt các lịch sử này “dòng trên dòng”, sự giáng xuống của thiên sứ thứ nhất vào năm 1840 tương ứng với sự giáng xuống của Ngài vào 9/11. Điều đó xác định một sứ điệp thử thách phải được ăn cùng với hai nhân chứng, và liên hệ một sự thất vọng với cột mốc đầu tiên.
The “seven thunders” represent the prophetic period that begins with a disappointment and ends with a greater disappointment.
"Bảy tiếng sấm" tượng trưng cho thời kỳ tiên tri mở đầu bằng một sự thất vọng và kết thúc bằng một sự thất vọng lớn hơn.
When the prophetic line of the descent of the first angel is aligned with the arrival of the second angel, it produces “a structure of truth.” Truth is defined as three steps, with the first and last being the same and the middle step representing rebellion. Aligning the first two angels with this design, produces a structure made up of the first and second angels, that illustrates the third angel of Revelation eighteen, and the third angel of Revelation eighteen is a combination of both the first and second angels.
Khi dòng tiên tri về sự giáng xuống của thiên sứ thứ nhất được căn chỉnh với sự đến của thiên sứ thứ hai, nó tạo ra “một cấu trúc của lẽ thật.” Lẽ thật được định nghĩa như ba bước, trong đó bước thứ nhất và bước cuối cùng giống nhau, còn bước ở giữa đại diện cho sự phản nghịch. Căn chỉnh hai thiên sứ đầu tiên theo thiết kế này tạo ra một cấu trúc gồm thiên sứ thứ nhất và thiên sứ thứ hai, cấu trúc ấy minh họa thiên sứ thứ ba của Khải Huyền mười tám, và thiên sứ thứ ba của Khải Huyền mười tám là sự kết hợp của cả thiên sứ thứ nhất và thiên sứ thứ hai.
The third angel of Revelation eighteen is made up of two voices. The first voice was fulfilled when the buildings of New York came down at 9/11 and the second voice of verse four is the Sunday law. Within the period from 9/11 unto the Sunday law the third angel of Revelation eighteen represents a combination of the first and second angels. This being the fact, using those two angels’ history “line upon line,” to represent the history of the third angel of Revelation eighteen—is to align the first and second angel, with the first and second angel.
Thiên sứ thứ ba của Khải Huyền đoạn 18 gồm hai tiếng. Tiếng thứ nhất được ứng nghiệm khi các tòa nhà ở New York sụp đổ vào 9/11 và tiếng thứ hai của câu 4 là luật ngày Chủ nhật. Trong khoảng thời gian từ 9/11 đến luật ngày Chủ nhật, thiên sứ thứ ba của Khải Huyền đoạn 18 đại diện cho sự kết hợp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai. Vì thực tế này, việc dùng lịch sử của hai thiên sứ ấy theo nguyên tắc “dòng trên dòng” để trình bày lịch sử của thiên sứ thứ ba trong Khải Huyền đoạn 18 — là đặt thiên sứ thứ nhất và thứ hai song song với thiên sứ thứ nhất và thứ hai.
Two angels arrive at the first disappointment, and both angels are prophetically related, and both have a testing message that is in the angel’s hand. The waymark next represented in the line is Habakkuk’s tables, which is directly associated with the hand of God. In the line of the first angel, the 1843 chart is produced in May of 1842, and in the line of the second angel, there was no chart. The chart had ended at the arrival of the second angel. The waymark of Habakkuk’s table in the line of the second angel is the removing of God’s hand from a mistake in the figures of the 1843 chart.
Hai thiên sứ đến vào thời điểm của sự thất vọng thứ nhất, và cả hai thiên sứ đều có liên hệ mang tính tiên tri, và cả hai đều có một sứ điệp thử thách ở trong tay thiên sứ. Dấu mốc kế tiếp được thể hiện trong dòng là các bảng của Ha-ba-cúc, vốn liên hệ trực tiếp với bàn tay của Đức Chúa Trời. Trong dòng của thiên sứ thứ nhất, biểu đồ năm 1843 được phát hành vào tháng Năm năm 1842, còn trong dòng của thiên sứ thứ hai thì không có biểu đồ. Biểu đồ ấy đã chấm dứt khi thiên sứ thứ hai đến. Dấu mốc về bảng của Ha-ba-cúc trong dòng của thiên sứ thứ hai là việc Đức Chúa Trời rút bàn tay Ngài khỏi một sai lầm trong các con số của biểu đồ 1843.
His hand covered a mistake in the waymark of the first angel, and His hand was removed at that very same waymark, in the line of the second angel. Thus; the waymark of Habakkuk’s tables in the parallel lines of the first and second angel represents two steps. In the first step His hand covers a mistake, and at the end of the period of the waymark of Habakkuk’s tables, He removes His hand. The tarrying time began with the arrival of the second angel and the tarrying time ends progressively, beginning with the removal of His hand. The waymark of Habakkuk’s tables represents a period of time that is marked by Christ’s hand at the beginning and His hand at the ending.
Tay Ngài đã che đậy một sai lầm tại dấu mốc của thiên sứ thứ nhất, và tại chính dấu mốc ấy, trên dòng tiên tri của thiên sứ thứ hai, Ngài đã rút tay lại. Vì vậy, dấu mốc của các bảng của Ha-ba-cúc trên các dòng song song của thiên sứ thứ nhất và thứ hai tượng trưng cho hai bước. Trong bước thứ nhất, tay Ngài che đậy một sai lầm; và vào cuối thời kỳ của dấu mốc các bảng của Ha-ba-cúc, Ngài rút tay lại. Thời kỳ trì hoãn bắt đầu với sự đến của thiên sứ thứ hai, và thời kỳ trì hoãn kết thúc dần dần, khởi đầu bằng việc Ngài rút tay lại. Dấu mốc các bảng của Ha-ba-cúc tượng trưng cho một giai đoạn thời gian được đánh dấu bởi tay của Đấng Christ ở lúc khởi đầu và bởi tay Ngài ở lúc kết thúc.
Two hands are marked at the first disappointment, and both have a testing message that must be taken and eaten. Then a period of prophetic time, representing the foundational truths, begins with God’s hand covering and ending with His hand uncovering. The next waymark is the Exeter camp meeting where the cry at midnight separates and purifies those who would follow Christ’s hand into the Most Holy Place.
Hai bàn tay được ghi dấu tại nỗi thất vọng đầu tiên, và cả hai đều mang một sứ điệp thử thách phải được nhận lấy và ăn. Rồi một khoảng thời gian tiên tri, đại diện cho những lẽ thật nền tảng, bắt đầu với bàn tay của Đức Chúa Trời che phủ và kết thúc khi bàn tay Ngài cất sự che phủ. Dấu mốc tiếp theo là hội trại Exeter, nơi tiếng kêu lúc nửa đêm phân rẽ và thanh luyện những ai sẽ theo bàn tay của Đấng Christ vào Nơi Chí Thánh.
When Christ moved into the Most Holy Place, He lifted up His hand to heaven and swore that time would be no longer. He had just sealed up the “seven thunders” which represent the history of the first two angels, repeating in the history of the third. He sealed up the “seven thunders” as He had sealed up the prophecies of Daniel in chapter twelve. In chapter twelve of Daniel, at the first of three symbolic periods of time, Christ raises both hands to heaven and proclaims that when the scattering of God’s people is finished, those who become “men wondered at” would be purified and lifted up as an offering. The structure of the first and second angels which we are currently considering, symbolically manifests God’s hand at every step.
Khi Đấng Christ bước vào Nơi Chí Thánh, Ngài giơ tay lên trời và thề rằng sẽ không còn thời gian nữa. Ngài vừa niêm phong "bảy tiếng sấm" vốn đại diện cho lịch sử của hai thiên sứ đầu tiên, được lặp lại trong lịch sử của thiên sứ thứ ba. Ngài đã niêm phong "bảy tiếng sấm" như Ngài đã niêm phong các lời tiên tri của Đa-ni-ên trong chương mười hai. Trong chương mười hai của sách Đa-ni-ên, vào thời kỳ tượng trưng thứ nhất trong ba thời kỳ, Đấng Christ giơ cả hai tay lên trời và tuyên bố rằng khi sự tan lạc của dân Đức Chúa Trời kết thúc, những người trở thành "những người khiến người ta kinh ngạc" sẽ được thanh tẩy và được nâng lên như một của lễ. Cấu trúc của thiên sứ thứ nhất và thứ hai mà chúng ta hiện đang xem xét, bày tỏ một cách tượng trưng bàn tay của Đức Chúa Trời trong từng bước.
When He covers truth, it produces a disappointment, and when He removes His hand, light is produced, and the light is the light of the message of the Midnight Cry. The first disappointment to the great disappointment bears the signature of alpha and omega and is set forth within the structure of truth. The beginning represents the end, and the waymark between the two disappointments portray the effect of the sealing and unsealing of Habakkuk’s tables, which is an unsealing of Jeremiah’s old paths, and represents the foundation upon which the temple is erected in advance of the Sunday law when the finished temple is lifted up above all the mountains. The middle waymark in the word of truth, represents rebellion, and in the history represented by the final separation of the wheat and tares manifests the rebellion of the foolish virgins.
Khi Ngài che khuất lẽ thật, điều đó gây nên một nỗi thất vọng; và khi Ngài rút tay Ngài ra, ánh sáng xuất hiện, và ánh sáng ấy là ánh sáng của sứ điệp Tiếng Kêu Nửa Đêm. Từ nỗi thất vọng thứ nhất đến nỗi thất vọng lớn mang dấu ấn của Anpha và Ômêga và được bày tỏ trong cấu trúc của lẽ thật. Khởi đầu tượng trưng cho kết thúc, và mốc ở giữa hai nỗi thất vọng mô tả hiệu quả của việc niêm phong và mở ấn các bảng của Ha-ba-cúc, vốn là sự mở ấn các nẻo xưa của Giê-rê-mi, và đại diện cho nền tảng mà trên đó đền thờ được dựng lên trước luật ngày Chủ nhật, khi đền thờ đã hoàn tất được nâng lên trên hết thảy các núi. Mốc ở giữa trong lời của lẽ thật tượng trưng cho sự phản loạn, và trong lịch sử được biểu thị bởi sự phân rẽ cuối cùng giữa lúa mì và cỏ lùng, bày tỏ sự phản loạn của các trinh nữ dại.
The rebellion represented by the waymark of Habakkuk’s tables is represented as progressive, for it is not a single waymark, but a period with a defined beginning and ending, as represented by God’s hand. God’s hand is twice at the first disappointment, for there are two angels which both have a message in their hands. The next waymark of rebellion has a beginning and ending hand, so it also has two hands within its prophetic characteristics. The third waymark of the greater disappointment identifies Christ raising His hand and swearing to heaven, in the very passage where the seven thunders are sealed up, as was Daniel chapter twelve. At the very point the angel marks the end of the prophetic structure of the first two angels we are now considering, He ends the application of prophetic time, and places Himself in a parallel passage in the book of Daniel, where He is not raising His hand, but raising both His hands.
Cuộc phản loạn được biểu thị qua cột mốc về các bảng của Ha-ba-cúc được mô tả là mang tính tiến trình, vì đó không phải là một cột mốc đơn lẻ, mà là một giai đoạn có điểm khởi đầu và kết thúc được xác định, như được biểu thị bởi bàn tay của Đức Chúa Trời. Bàn tay của Đức Chúa Trời xuất hiện hai lần tại sự thất vọng thứ nhất, vì có hai thiên sứ, và cả hai đều có một thông điệp trong tay mình. Cột mốc tiếp theo của sự phản loạn có một bàn tay mở đầu và một bàn tay kết thúc, nên nó cũng có hai bàn tay trong các đặc tính tiên tri của nó. Cột mốc thứ ba của sự thất vọng lớn hơn xác định Đấng Christ giơ tay Ngài lên và thề hướng lên trời, ngay trong đoạn văn nơi bảy tiếng sấm được niêm phong, giống như chương mười hai của Đa-ni-ên. Ngay tại điểm thiên sứ đánh dấu sự kết thúc của cấu trúc tiên tri của hai thiên sứ đầu tiên mà chúng ta đang xem xét, Ngài chấm dứt việc áp dụng thời gian tiên tri và đặt chính Ngài vào một đoạn song song trong sách Đa-ni-ên, nơi Ngài không giơ một tay, nhưng giơ cả hai tay.
In Daniel twelve there are three prophetic periods that are unsealed in the latter days, for this is what befalls God’s people in the latter days. The first thing mentioned in Daniel’s final climactic vision was that Daniel, who represents the remnant people of God, had understanding of both of the thing and of the vision. The last thing recorded by Daniel is how the increase of knowledge was employed by the Lion of the tribe of Judah to produce the final revival and reformation among God’s people who are distinguished as those who understand. He accomplishes the sealing of His people by unsealing the “seven thunders” of Revelation in connection with the unsealing of the “three periods” of Daniel twelve.
Trong Đa-ni-ên chương mười hai có ba thời kỳ tiên tri được mở ấn trong những ngày sau rốt, vì đó là điều xảy đến cho dân Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt. Điều đầu tiên được nhắc đến trong khải tượng cao trào cuối cùng của Đa-ni-ên là việc Đa-ni-ên, người đại diện cho dân sót của Đức Chúa Trời, đã hiểu cả sự việc lẫn khải tượng. Điều cuối cùng Đa-ni-ên ghi lại là cách sự gia tăng của tri thức được Sư Tử của chi phái Giu-đa sử dụng để tạo nên cuộc phục hưng và cải cách cuối cùng giữa dân Đức Chúa Trời, những người được phân biệt là những người hiểu biết. Ngài hoàn tất việc đóng ấn dân Ngài bằng cách mở ấn “bảy tiếng sấm” trong Khải Huyền, gắn liền với việc mở ấn “ba thời kỳ” của Đa-ni-ên chương mười hai.
When Jesus identifies that at the end of the three and a half prophetic days of scattering the power of God’s people, all the “marvels” would be finished—He is identifying July 2023, when the three and a half days of death in the streets of Revelation eleven was finished. Now the marvels would be finished in advance of the Sunday law. He marked July 2023, by raising not one, but both hands. In so doing He was marking the end of the tarrying time, as when He removed His hand from the mistake in Millerite history. The first disappointment occurred on July 18, 2020, as typified by the Millerite’s first disappointment, and the tarrying time began and continued until He stretched forth His hand a second time to gather His remnant people in July of 2023.
Khi Đức Chúa Jêsus xác định rằng vào cuối ba ngày rưỡi mang tính tiên tri về việc làm tan tác quyền lực của dân của Đức Chúa Trời, mọi “điều lạ lùng” sẽ được hoàn tất - Ngài đang chỉ ra tháng Bảy năm 2023, khi ba ngày rưỡi chết trên đường phố trong Khải Huyền mười một đã kết thúc. Giờ đây, các “điều lạ lùng” sẽ được hoàn tất trước luật ngày Chủ nhật. Ngài đã đánh dấu tháng Bảy năm 2023 bằng cách giơ không chỉ một mà là cả hai tay. Qua đó, Ngài đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ trì hoãn, như khi Ngài rút tay khỏi chỗ sai lầm trong lịch sử Millerite. Sự thất vọng đầu tiên xảy ra vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, theo kiểu mẫu của sự thất vọng đầu tiên của phong trào Millerite, và thời kỳ trì hoãn bắt đầu và kéo dài cho đến khi Ngài giơ tay lần thứ hai để nhóm hiệp dân sót lại của Ngài vào tháng Bảy năm 2023.
The first disappointment is represented by God’s hand covering a mistake, that for the Millerites was identifying the year 1843, instead of October 22, 1844. That disappointment is represented in verse twelve of chapter twelve. The first disappointment is represented by His hand covering the mistake, and was typified by the Millerites who came to the first disappointment. The word in verse twelve is “cometh.” Blessed is he who waiteth, and who “cometh” to the 1335; blessed is he who “cometh” to the disappointment of April 19, 1844. The word translated as “cometh” means “to touch.” The Millerites experienced their first disappointment when the year 1843 touched the year 1844. Verse twelve of Daniel twelve identifies the first disappointment of both April 19, 1844, but more directly the first disappointment of July 18, 2020.
Sự thất vọng thứ nhất được biểu tượng bởi bàn tay của Đức Chúa Trời che phủ một sai lầm, mà đối với những người theo phái Miller là việc xác định năm 1843, thay vì ngày 22 tháng 10 năm 1844. Sự thất vọng ấy được biểu trưng trong câu mười hai của chương mười hai. Sự thất vọng thứ nhất được biểu thị bởi bàn tay Ngài che phủ sai lầm ấy, và được tiêu biểu qua những người theo phái Miller đã trải qua sự thất vọng thứ nhất. Từ trong câu mười hai là “đến”. Phước cho ai chờ đợi, và ai “đến” 1335; phước cho ai “đến” với sự thất vọng ngày 19 tháng 4, 1844. Từ được dịch là “đến” có nghĩa là “chạm”. Những người theo phái Miller đã trải qua sự thất vọng thứ nhất khi năm 1843 chạm vào năm 1844. Câu mười hai của chương mười hai sách Đa-ni-ên xác định sự thất vọng thứ nhất của ngày 19 tháng 4, 1844, nhưng trực tiếp hơn là sự thất vọng thứ nhất của ngày 18 tháng 7, 2020.
The first prophetic period and the last prophetic period of the three periods that are unsealed at the time of the end, when knowledge is increased and accomplishes the final separation of the wheat and tares, thus identifying the unsealing of the prophetic light that seals the one hundred and forty-four thousand are the same prophetic period.
Thời kỳ tiên tri thứ nhất và thời kỳ tiên tri cuối cùng trong ba thời kỳ được mở ấn vào thời kỳ cuối, khi sự hiểu biết được gia tăng và hoàn tất sự phân rẽ cuối cùng giữa lúa mì và cỏ lùng, qua đó xác định sự mở ấn của ánh sáng tiên tri vốn đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn, là cùng một thời kỳ tiên tri.
The first period of verse seven, is the ending of the scattering of Revelation eleven’s three and a half days in July of 2023, and the period in verse twelve is the beginning of that same scattering on July 18, 2020. Alpha and Omega had marked the history of the seven thunders in Daniel twelve, as the history that begins at the disappointment of July 18, 2020 and ends three and a half symbolic days later in July of 2023. Just as important is that when Alpha and Omega marked the beginning and ending of the final tarrying time, He raised not one, but both of His hands to heaven and swore by Him that liveth forever and ever.
Dấu chấm thứ nhất của câu bảy là sự kết thúc của sự tản lạc của ba ngày rưỡi trong Khải Huyền 11 vào tháng 7 năm 2023, và dấu chấm ở câu mười hai là sự khởi đầu của cùng sự tản lạc đó vào ngày 18 tháng 7 năm 2020. Alpha và Omega đã đánh dấu lịch sử của bảy tiếng sấm trong Đa-ni-ên 12 là lịch sử bắt đầu từ sự thất vọng ngày 18 tháng 7 năm 2020 và kết thúc ba ngày rưỡi mang tính biểu tượng sau đó vào tháng 7 năm 2023. Cũng quan trọng không kém là khi Alpha và Omega đánh dấu sự khởi đầu và kết thúc của thời kỳ trì hoãn cuối cùng, Ngài không chỉ giơ một tay mà giơ cả hai tay lên trời và thề bởi Đấng hằng sống đời đời.
The Son of God who is the son of man is making an oath with the Father, right where the climax of the story of the covenant people of God began, when Christ first called Abram with a promise, and then confirmed the promise, with an oath. Take off your shoes, you are on holy ground!
Con Thiên Chúa, cũng chính là Con Người, đang lập lời thề với Chúa Cha, ngay tại nơi khởi đầu của cao trào trong câu chuyện về dân giao ước của Thiên Chúa, khi Đức Kitô trước hết đã gọi Áp-ram bằng một lời hứa, rồi xác nhận lời hứa ấy bằng một lời thề. Hãy cởi dép ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh!
The middle letter of the three prophetic periods is nothing less than the omega fulfillment of Abram and Paul’s covenant time prophecy of 430 years as represented in the 1290 years of verse eleven. The verse approached with Millerite understanding identified a thirty-year period of preparation for the papacy, then 1260 years of papal persecution that follows. Abram’s 430 years represents bondage and deliverance in a specific nation, in conjunction with the first thirty years representing the Lord entering into covenant with Abram. The thirty years preparation for the priests began in 1989 at the time of the end, and the thirty years end at the Sunday law, when the verse identifies the abomination of desolation would be placed, and would then persecute God’s people for 1260 symbolic years aligning with John’s 42 symbolic months in Revelation thirteen.
Chữ cái ở giữa của ba thời kỳ tiên tri chẳng gì khác hơn là sự ứng nghiệm omega của lời tiên tri về thời kỳ giao ước 430 năm của Áp-ram và Phao-lô, như được biểu thị trong 1290 năm của câu mười một. Được tiếp cận theo quan điểm Millerite, câu ấy xác định một giai đoạn ba mươi năm chuẩn bị cho quyền giáo hoàng, rồi tiếp theo là 1260 năm bách hại của quyền giáo hoàng. 430 năm của Áp-ram tượng trưng cho cảnh nô lệ và sự giải cứu trong một dân tộc cụ thể, cùng với ba mươi năm đầu tiên tượng trưng cho việc Chúa bước vào giao ước với Áp-ram. Ba mươi năm chuẩn bị cho các thầy tế lễ bắt đầu vào năm 1989, vào thời kỳ cuối cùng, và ba mươi năm ấy kết thúc tại thời điểm luật Chủ nhật, khi câu ấy cho biết sự gớm ghiếc tàn phá sẽ được đặt ra, và rồi sẽ bách hại dân của Đức Chúa Trời trong 1260 năm biểu tượng, phù hợp với 42 tháng biểu tượng của Giăng trong Khải Huyền mười ba.
The reformatory movement of the one hundred and forty-four thousand began in 1989, as the Lord began His work of preparing a priesthood to serve during the crisis at midnight, that begins at the Sunday law. The Alpha and Omega stood upon the water of the Hiddekel and raised both His hands to heaven, swearing that when the scattering of July 18, 2020 unto July 2023 was fulfilled, the marvels associated with Christ’s work of combining His Divinity with humanity would be finished.
Phong trào cải cách của một trăm bốn mươi bốn ngàn bắt đầu vào năm 1989, khi Chúa khởi sự công việc chuẩn bị một hàng tư tế để phục vụ trong cuộc khủng hoảng lúc nửa đêm, bắt đầu từ luật ngày Chủ nhật. Đấng Alpha và Omega đứng trên mặt nước sông Hiddekel và giơ cả hai tay lên trời, thề rằng khi sự tản lạc từ ngày 18 tháng 7 năm 2020 đến tháng 7 năm 2023 được hoàn tất, những điều kỳ diệu gắn liền với công việc của Đấng Christ kết hợp Thần tính của Ngài với nhân tính sẽ được hoàn tất.
This is the same pronouncement of chapter ten, in the line of the seven thunders, for He not only there ended the prophetic application of time, but he also identified that in the days of the sounding of the seventh trumpet the mystery of God would be finished. The parallel passage in Daniel twelve identifies that when the scattering ended in July of 2023, the finishing of the sealing of God’s people would be finished, as represented by the sounding of the seventh trumpet that coincided with Christ raising His hand and swearing in both parallel passages.
Đây là cùng một lời phán của đoạn mười, trong chuỗi bảy tiếng sấm, vì ở đó Ngài không chỉ chấm dứt việc áp dụng thời gian theo tiên tri, mà còn xác định rằng trong những ngày tiếng kèn thứ bảy vang lên, mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn tất. Đoạn song song trong Đa-ni-ên đoạn mười hai xác định rằng khi sự tản lạc chấm dứt vào tháng Bảy năm 2023, việc đóng ấn cho dân của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn tất, điều này được biểu thị bởi tiếng kèn thứ bảy vang lên, trùng khớp với việc Đấng Christ giơ tay và thề trong cả hai đoạn song song.
The first prophetic period and the last prophetic period of the threefold message of Daniel twelve possesses an alpha and omega signature. The first period of verse seven identifies the end of the very same period, that verse twelve marks the beginning of. In the middle of verses seven and twelve, the history of the time of the end in 1989 unto the close of probation is represented. In the middle of the alpha period of verse seven and the omega history of verse twelve, the final rebellion of mankind from the Sunday law until Michael stands up is represented, and it is represented in the very chapter where Michael stands up.
Giai đoạn tiên tri đầu tiên và giai đoạn tiên tri cuối cùng của sứ điệp ba phần trong Đa-ni-ên 12 mang dấu ấn Anpha và Ômêga. Giai đoạn tiên tri thứ nhất trong câu 7 xác định phần kết thúc của chính giai đoạn mà câu 12 đánh dấu phần khởi đầu. Ở giữa hai câu 7 và 12, lịch sử của thời kỳ cuối cùng từ năm 1989 cho đến lúc kết thúc thời kỳ ân điển được trình bày. Ở giữa giai đoạn Anpha của câu 7 và lịch sử Ômêga của câu 12, cuộc phản loạn cuối cùng của nhân loại từ luật ngày Chủ nhật cho đến khi Mi-ca-ên đứng dậy được trình bày, và điều đó được trình bày ngay trong chính chương mà Mi-ca-ên đứng dậy.
The rebellion of the middle period, is primarily the external history of rebellion, but the first thirty years is the internal history of the preparation of the priests who are in direct confrontation with the external forces represented in the following 1260 period.
Cuộc nổi dậy của giai đoạn giữa chủ yếu là lịch sử bên ngoài của cuộc nổi dậy, nhưng ba mươi năm đầu là lịch sử nội bộ về sự chuẩn bị của các giáo sĩ, những người trực tiếp đối đầu với các lực lượng bên ngoài được biểu hiện trong giai đoạn 1260 tiếp theo.
The middle period represents the rebellion of the thirteenth letter of the Hebrew alphabet, and it combines with the internal as it portrays the final battle of the great controversy upon planet earth, while probation lingers. Its combination of external and internal is also the message of Daniel’s last vision, represented by the river Hiddekel and the three chapters which also bear the signature of Alpha and Omega, and are built upon the structure of truth. The first and last chapter address the sealing of God’s people who are portrayed as the stars that shine forever. The middle chapter of rebellion identifies the same history represented in verse eleven with the 1290 years, which is the middle verse in the very same structure.
Thời kỳ ở giữa tượng trưng cho sự phản loạn của chữ cái thứ mười ba trong bảng chữ cái Hê-bơ-rơ, và nó kết hợp với phần nội tại khi khắc họa trận chiến cuối cùng của đại tranh chiến trên địa cầu, trong khi thời kỳ ân điển còn kéo dài. Sự kết hợp giữa bên ngoài và bên trong ấy cũng là sứ điệp của khải tượng sau cùng của Đa-ni-ên, được biểu trưng bởi sông Hiddekel và bởi ba chương cũng mang dấu ấn của Alpha và Omega, đồng thời được xây dựng trên cấu trúc của lẽ thật. Chương thứ nhất và chương cuối cùng đề cập đến việc đóng ấn dân của Đức Chúa Trời, những người được mô tả như các ngôi sao chiếu sáng đời đời. Chương giữa về sự phản loạn xác định cùng một lịch sử được trình bày trong câu mười một với 1.290 năm, vốn là câu ở giữa trong chính cấu trúc ấy.
When Christ employs His hand within the prophetic structure it represents many truths, but it also represents the path He is leading His people upon. The revelation of Jesus Christ began to be unsealed in July of 2023. That unsealing includes the unsealing of the seven thunders and the message of Daniel as represented within chapter twelve. The unsealing takes place within the hidden history of verse forty, which began in 1989 and concludes at the Sunday law. In that history God’s people will be sealed, and they are sealed by the outpouring of the Holy Spirit. The final outpouring of the Holy Spirit is identified in the eighth chapter of Revelation, where it is represented as the seventh, and therefore the final seal. The Lion of the tribe of Judah prevailed in chapter five to open the book sealed with seven seals.
Khi Đấng Christ vận dụng bàn tay Ngài trong khuôn khổ tiên tri, điều đó tượng trưng cho nhiều lẽ thật, nhưng nó cũng tượng trưng cho con đường mà Ngài đang dẫn dắt dân Ngài đi. Sự khải thị về Đức Chúa Giê-su Christ bắt đầu được mở ấn vào tháng 7 năm 2023. Việc mở ấn đó bao gồm việc mở ấn bảy tiếng sấm và sứ điệp của Đa-ni-ên như được trình bày trong chương mười hai. Việc mở ấn diễn ra trong lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi, bắt đầu từ năm 1989 và kết thúc với Đạo luật Chủ nhật. Trong lịch sử ấy, dân Đức Chúa Trời sẽ được đóng ấn, và họ được đóng ấn bởi sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh. Sự tuôn đổ cuối cùng của Đức Thánh Linh được xác định trong chương tám của Khải Huyền, nơi nó được trình bày như ấn thứ bảy, và do đó là ấn cuối cùng. Sư tử của chi phái Giu-đa đã đắc thắng trong chương năm để mở sách được đóng bảy ấn.
The sixth seal raised the question at the end of chapter six, asking who would be able to stand during the period when there is no longer mediation for sin.
Ấn thứ sáu đã đặt ra câu hỏi ở cuối chương sáu, hỏi rằng ai sẽ có thể đứng vững trong thời kỳ khi không còn sự trung gian cho tội lỗi nữa.
For the great day of his wrath is come; and who shall be able to stand? Revelation 6:17.
Vì ngày thịnh nộ lớn của Ngài đã đến; ai có thể đứng nổi? Khải Huyền 6:17.
The next chapter, or you can say the next verse, introduces the sealing of the one-hundred and forty-four thousand and the great multitude who are gathered into God’s kingdom during the Sunday law crisis. The one-hundred and forty-four thousand are the answer of the sixth seal’s question. After they are represented in chapter seven, then, chapter eight identifies the seventh and final seal being removed.
Chương kế tiếp, hay cũng có thể nói là câu kế tiếp, giới thiệu việc ấn chứng cho một trăm bốn mươi bốn nghìn và đoàn dân rất đông được quy tụ vào Nước Đức Chúa Trời trong cuộc khủng hoảng về luật ngày Chủ nhật. Một trăm bốn mươi bốn nghìn chính là câu trả lời cho câu hỏi của ấn thứ sáu. Sau khi họ được trình bày trong chương bảy, thì chương tám chỉ ra rằng ấn thứ bảy, ấn cuối cùng, được tháo bỏ.
And when he had opened the seventh seal, there was silence in heaven about the space of half an hour. And I saw the seven angels which stood before God; and to them were given seven trumpets. And another angel came and stood at the altar, having a golden censer; and there was given unto him much incense, that he should offer it with the prayers of all saints upon the golden altar which was before the throne. And the smoke of the incense, which came with the prayers of the saints, ascended up before God out of the angel’s hand.
Khi Ngài mở ấn thứ bảy, có sự im lặng trên trời khoảng nửa giờ. Tôi thấy bảy thiên sứ đứng trước Đức Chúa Trời; họ được ban cho bảy chiếc kèn. Một thiên sứ khác đến và đứng tại bàn thờ, tay cầm lư hương bằng vàng; người ta ban cho người ấy rất nhiều hương để dâng cùng với những lời cầu nguyện của hết thảy các thánh đồ trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngai. Khói của hương, cùng với những lời cầu nguyện của các thánh đồ, bốc lên trước mặt Đức Chúa Trời từ tay thiên sứ.
And the angel took the censer, and filled it with fire of the altar, and cast it into the earth: and there were voices, and thunderings, and lightnings, and an earthquake. Revelation 8:1–5.
Và thiên sứ lấy lư hương, đổ đầy lửa từ bàn thờ, rồi ném nó xuống đất: và có những tiếng, sấm, chớp, và một trận động đất. Khải Huyền 8:1-5.
The “fire,” represented in Isaiah chapter six as a “coal,” which Sister White identifies as a symbol of purification, are taken from the altar and cast to the earth. The “fire” from heaven at Pentecost was represented as tongues of “fire.” “Fire” is what the Messenger of the Covenant uses to purify the sons of Levi.
“Lửa,” được mô tả trong Ê-sai đoạn sáu như một “than hồng,” mà Bà White xác định là biểu tượng của sự thanh luyện, được lấy từ bàn thờ và ném xuống đất. “Lửa” từ trời tại Lễ Ngũ Tuần đã hiện ra như những lưỡi “lửa.” “Lửa” là điều mà Sứ giả của Giao ước dùng để thanh luyện con cái Lê-vi.
“‘Whose fan is in His hand, and He will throughly purge His floor, and gather His wheat into the garner.’ Matthew 3:12. This was one of the times of purging. By the words of truth, the chaff was being separated from the wheat. Because they were too vain and self-righteous to receive reproof, too world-loving to accept a life of humility, many turned away from Jesus. Many are still doing the same thing. Souls are tested today as were those disciples in the synagogue at Capernaum. When truth is brought home to the heart, they see that their lives are not in accordance with the will of God. They see the need of an entire change in themselves; but they are not willing to take up the self-denying work. Therefore they are angry when their sins are discovered. They go away offended, even as the disciples left Jesus, murmuring, ‘This is an hard saying; who can hear it?’” The Desire of Ages, 392.
"'Cái nia ở trong tay Ngài, Ngài sẽ dọn sạch sân lúa Ngài, và thu lúa mình vào lẫm.' Ma-thi-ơ 3:12. Đây là một trong những thời kỳ sàng sảy. Qua lời của lẽ thật, trấu đang được tách khỏi lúa. Vì họ quá phù phiếm và tự cho mình là công chính để nhận lời quở trách, quá yêu thế gian để chấp nhận một đời sống khiêm nhường, nhiều người đã quay lưng khỏi Chúa Giê-su. Nhiều người vẫn đang làm như thế. Các linh hồn hôm nay cũng được thử thách như các môn đồ trong hội đường tại Capernaum. Khi lẽ thật chạm đến tấm lòng, họ thấy đời sống mình không phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ thấy cần có một sự thay đổi toàn diện nơi chính mình; nhưng họ không sẵn lòng chấp nhận đời sống tự bỏ mình. Bởi vậy họ giận dữ khi tội lỗi mình bị phơi bày. Họ phật ý bỏ đi, cũng như các môn đồ đã lìa bỏ Chúa Giê-su, lẩm bẩm: 'Lời này thật khó; ai nghe được?'" Khát vọng của các thời đại, 392.
Fire is what came down on Elijah’s offering, as it did with Gideon’s offering to the angel. The “fire” of purification is God’s Word, for to be made holy, is to be sanctified by His Word. The “fire” that is cast down to earth when the seventh seal is removed identifies the empowerment of the prophetic message that is unsealed in the latter days, during the sounding of the seventh trumpet, during the final and perfect fulfillment of the events represented by the seven thunders and confirmed by the three prophetic periods of Daniel twelve that were sealed up until the latter days.
Chính lửa đã giáng xuống trên lễ dâng của Ê-li, cũng như trên lễ dâng của Ghê-đê-ôn dâng cho thiên sứ. "Lửa" của sự thanh tẩy là Lời Đức Chúa Trời, vì được nên thánh là được thánh hóa bởi Lời Ngài. "Lửa" được ném xuống đất khi ấn thứ bảy được mở chỉ ra sự ban quyền năng cho sứ điệp tiên tri được mở ấn trong thời kỳ sau rốt, trong khi kèn thứ bảy vang lên, trong sự ứng nghiệm cuối cùng và trọn vẹn của các biến cố được biểu trưng bởi bảy tiếng sấm và được xác nhận bởi ba thời kỳ tiên tri của Đa-ni-ên đoạn mười hai, vốn đã bị niêm phong cho đến thời kỳ sau rốt.
The Revelation of Jesus Christ that is unsealed just before the close of human probation—includes the unsealing of the seven thunders, the removal of the seventh seal, the unsealing of Daniel twelve, and the unsealing of the hidden history of verse forty of Daniel eleven, the very history where the angel asked the Man in linen what would be the end of these wonders.
Sự mạc khải của Đức Chúa Giê-su Christ được mở ấn ngay trước khi kết thúc thời kỳ ân điển của loài người — bao gồm sự mở ấn của bảy tiếng sấm, việc tháo bỏ ấn thứ bảy, sự mở ấn của Đa-ni-ên đoạn mười hai, và sự mở ấn lịch sử ẩn giấu của câu bốn mươi trong Đa-ni-ên đoạn mười một, chính lịch sử nơi thiên sứ đã hỏi Người mặc áo vải gai rằng kết cuộc của những điều kỳ diệu này sẽ là gì.
The Man in linen responded and said—When you get to the conclusion of the tarrying time in July of 2023, you have reached the history of the sealing of the one hundred and forty-four thousand.
Người mặc vải lanh đáp và nói: Khi bạn đến đoạn kết của thời kỳ chờ đợi vào tháng Bảy năm 2023, bạn đã bước vào lịch sử về sự đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn.
He also said—at the end of the three and a half symbolic days of Revelation eleven, a prophetic message from the book of Daniel would be unsealed, as typified by the time of the end in 1798. The truth that would then be unsealed, at the end of three and a half symbolic days, would be located in the very nine verses from the book of Daniel that identifies and defines the sealing and unsealing of the book of Daniel.
Ông cũng nói rằng—vào cuối ba ngày rưỡi mang tính tượng trưng của Khải Huyền đoạn mười một, một sứ điệp tiên tri từ sách Đa-ni-ên sẽ được mở ấn, như được tiêu biểu bởi thời kỳ cuối cùng vào năm 1798. Lẽ thật khi ấy sẽ được mở ấn, vào cuối ba ngày rưỡi mang tính tượng trưng, sẽ được tìm thấy trong chính chín câu của sách Đa-ni-ên, những câu xác định và định nghĩa việc đóng ấn và mở ấn của sách Đa-ni-ên.
We will continue these things in the next article.
Chúng ta sẽ tiếp tục những nội dung này trong bài viết tiếp theo.
“When Christ came to this earth, the traditions that had been handed down from generation to generation, and the human interpretation of the Scriptures, hid from men the truth as it is in Jesus. The truth was buried beneath a mass of tradition. The spiritual import of the sacred volumes was lost; for in their unbelief men locked the door of the heavenly treasure. Darkness covered the earth, and gross darkness the people. Truth looked down from heaven to earth; but nowhere was revealed the divine impress. A gloom like the pall of death overspread the earth.
Khi Đấng Christ đến trần gian, những truyền thống truyền từ đời này sang đời khác, và sự giải nghĩa Kinh Thánh theo ý người, đã che khuất lẽ thật như vốn có trong Chúa Giê-su khỏi loài người. Lẽ thật bị chôn vùi dưới lớp truyền thống chồng chất. Ý nghĩa thuộc linh của các sách thánh đã bị đánh mất; vì bởi sự vô tín của mình, loài người đã khóa chặt cánh cửa của kho tàng trên trời. Bóng tối bao phủ khắp đất, và sự u tối dày đặc bao trùm dân chúng. Lẽ thật từ trời nhìn xuống đất; nhưng dấu ấn của Đức Chúa Trời chẳng được bày tỏ nơi đâu. Một màn u ám như tấm khăn tang của sự chết bao trùm khắp đất.
“But the Lion of the tribe of Judah prevailed. He opened the seal that closed the book of divine instruction. The world was permitted to gaze upon pure, unadulterated truth. Truth itself descended to roll back the darkness and counteract error. A Teacher was sent from heaven with the light that was to light every man that comes into the world. There were men and women who were eagerly seeking for knowledge, the sure word of prophecy, and when it came, it was as a light shining in a dark place.” Spalding Magan, 58.
"Nhưng Sư Tử của chi phái Giu-đa đã đắc thắng. Ngài đã mở ấn đóng kín cuốn sách của giáo huấn thiêng liêng. Thế gian được phép chiêm ngưỡng lẽ thật thuần khiết, không pha tạp. Chính lẽ thật đã giáng xuống để xua tan bóng tối và chống lại sai lầm. Một Vị Thầy đã được sai từ thiên đàng, mang theo ánh sáng sẽ soi sáng mọi người khi đến thế gian. Có những người nam và nữ đang khao khát tìm kiếm tri thức, lời tiên tri chắc chắn, và khi điều đó đến, nó như ánh sáng chiếu rọi nơi tối tăm." Spalding Magan, 58.
“The scribes and Pharisees professed to explain the Scriptures, but they explained them in accordance with their own ideas and traditions. Their customs and maxims became more and more exacting. In its spiritual sense, the sacred Word became to the people as a sealed book, closed to their comprehension.” Signs of the Times, May 17, 1905.
Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tự nhận là giải thích Kinh Thánh, nhưng họ giải thích theo quan niệm và truyền thống của chính mình. Tập tục và luật lệ của họ trở nên ngày càng khắt khe. Trong ý nghĩa thuộc linh, Lời thánh đã trở nên đối với dân chúng như một cuốn sách được niêm phong, khép kín trước sự hiểu biết của họ. Signs of the Times, 17 tháng 5, 1905.