“There are in the Scriptures some things which are hard to be understood and which, according to the language of Peter, the unlearned and unstable wrest unto their own destruction. We may not, in this life, be able to explain the meaning of every passage of Scripture; but there are no vital points of practical truth that will be clouded in mystery. When the time shall come, in the providence of God, for the world to be tested upon the truth for that time, minds will be exercised by His Spirit to search the Scriptures, even with fasting and with prayer, until link after link is searched out and united in a perfect chain. Every fact which immediately concerns the salvation of souls will be made so clear that none need err or walk in darkness.
Trong Kinh Thánh có những điều khó hiểu, và theo lời của Phi-e-rơ, những kẻ dốt nát và không vững vàng vặn vẹo chúng đến sự hủy diệt của chính mình. Trong đời này, có thể chúng ta không thể giải thích ý nghĩa của mọi đoạn Kinh Thánh; nhưng sẽ không có điểm cốt yếu nào của lẽ thật thực tiễn bị phủ mờ bởi điều bí ẩn. Khi đến thời điểm, theo sự quan phòng của Đức Chúa Trời, để thế gian được thử nghiệm về lẽ thật cho thì giờ ấy, tâm trí con người sẽ được Thánh Linh của Ngài thúc giục để tra xem Kinh Thánh, cả kiêng ăn lẫn cầu nguyện, cho đến khi hết mắt xích này đến mắt xích khác được tìm ra và liên kết thành một chuỗi trọn vẹn. Mọi sự thật liên quan trực tiếp đến sự cứu rỗi các linh hồn sẽ được làm rõ đến nỗi không ai cần phải lầm lạc hay bước đi trong bóng tối.
“As we have followed down the chain of prophecy, revealed truth for our time has been clearly seen and explained. We are accountable for the privileges that we enjoy and for the light that shines upon our pathway. Those who lived in past generations were accountable for the light which was permitted to shine upon them. Their minds were exercised in regard to different points of Scripture which tested them. But they did not understand the truths which we do. They were not responsible for the light which they did not have. They had the Bible, as we have; but the time for the unfolding of special truth in relation to the closing scenes of this earth’s history is during the last generations that shall live upon the earth.
Khi chúng ta lần theo chuỗi lời tiên tri, lẽ thật được bày tỏ cho thời đại của chúng ta đã hiện rõ và được giải thích. Chúng ta chịu trách nhiệm về những đặc ân mình hưởng và về ánh sáng soi trên nẻo đường của mình. Những người sống ở các thế hệ trước chịu trách nhiệm về ánh sáng được ban cho soi rọi trên họ. Tâm trí họ được rèn luyện đối với những điểm khác nhau trong Kinh Thánh, và những điểm ấy đã thử thách họ. Nhưng họ không hiểu những lẽ thật như chúng ta hiểu. Họ không chịu trách nhiệm về ánh sáng mà họ không có. Họ có Kinh Thánh, như chúng ta; nhưng thời kỳ các lẽ thật đặc biệt liên quan đến những cảnh kết thúc trong lịch sử của trái đất này được khai mở là trong các thế hệ cuối cùng sẽ sống trên đất.
“Special truths have been adapted to the conditions of the generations as they have existed. The present truth, which is a test to the people of this generation, was not a test to the people of generations far back. If the light which now shines upon us in regard to the Sabbath of the fourth commandment had been given to the generations in the past, God would have held them accountable for that light.” Testimonies, volume 2, 692, 693.
“Những lẽ thật đặc biệt đã được thích nghi với hoàn cảnh của các thế hệ trong từng thời kỳ. Lẽ thật hiện tại, vốn là một sự thử thách đối với những người trong thế hệ này, đã không phải là một sự thử thách đối với những người thuộc các thế hệ xa xưa. Nếu ánh sáng hiện đang chiếu trên chúng ta liên quan đến ngày Sa-bát của điều răn thứ tư đã được ban cho các thế hệ trong quá khứ, thì Đức Chúa Trời đã buộc họ chịu trách nhiệm về ánh sáng đó.” Testimonies, tập 2, 692, 693.
New and Old
Mới và cũ
“In every age there is a new development of truth, a message of God to the people of that generation. The old truths are all essential; new truth is not independent of the old, but an unfolding of it. It is only as the old truths are understood that we can comprehend the new. When Christ desired to open to His disciples the truth of His resurrection, He began ‘at Moses and all the prophets’ and ‘expounded unto them in all the scriptures the things concerning Himself.’ Luke 24:27. But it is the light which shines in the fresh unfolding of truth that glorifies the old. He who rejects or neglects the new does not really possess the old. For him it loses its vital power and becomes but a lifeless form.
Trong mỗi thời đại đều có một sự khai triển mới của lẽ thật, một sứ điệp của Đức Chúa Trời gửi đến mọi người của thế hệ ấy. Những lẽ thật cũ đều là thiết yếu; lẽ thật mới không tách rời lẽ thật cũ, mà là sự khai mở của lẽ thật ấy. Chỉ khi các lẽ thật cũ được hiểu thấu, chúng ta mới có thể lĩnh hội lẽ thật mới. Khi Đấng Christ muốn mở bày cho các môn đồ Ngài lẽ thật về sự phục sinh của Ngài, Ngài bắt đầu ‘từ Môi-se và hết thảy các đấng tiên tri’ và ‘giải nghĩa cho họ trong cả Kinh Thánh những điều chỉ về chính Ngài.’ Lu-ca 24:27. Nhưng chính ánh sáng chiếu trong sự khai mở mới mẻ của lẽ thật làm vinh hiển lẽ thật cũ. Ai khước từ hoặc lơ là lẽ thật mới thì không thật sự sở hữu lẽ thật cũ. Đối với người ấy, lẽ thật cũ đánh mất quyền năng sống động và chỉ còn là một hình thức vô hồn.
“There are those who profess to believe and to teach the truths of the Old Testament, while they reject the New. But in refusing to receive the teachings of Christ, they show that they do not believe that which patriarchs and prophets have spoken. ‘Had ye believed Moses,’ Christ said, ‘ye would have believed Me; for he wrote of Me.’ John 5:46. Hence there is no real power in their teaching of even the Old Testament.
Có những người xưng mình tin và giảng dạy các lẽ thật của Cựu Ước, nhưng lại khước từ Tân Ước. Nhưng khi từ chối tiếp nhận các lời dạy của Đấng Christ, họ cho thấy rằng họ không tin điều mà các tổ phụ và các nhà tiên tri đã nói. “Nếu các ngươi đã tin Môi-se,” Chúa Christ phán, “thì cũng đã tin Ta; vì người đã chép về Ta.” Giăng 5:46. Bởi vậy, ngay cả trong sự giảng dạy Cựu Ước của họ cũng không có quyền năng thực sự.
“Many who claim to believe and to teach the gospel are in a similar error. They set aside the Old Testament Scriptures, of which Christ declared, ‘They are they which testify of Me.’ John 5:39. In rejecting the Old, they virtually reject the New; for both are parts of an inseparable whole. No man can rightly present the law of God without the gospel, or the gospel without the law. The law is the gospel embodied, and the gospel is the law unfolded. The law is the root, the gospel is the fragrant blossom and fruit which it bears.
Nhiều người tự xưng tin và giảng dạy Tin Lành lại mắc cùng một sai lầm. Họ gạt bỏ Kinh Thánh Cựu Ước, về đó Đấng Christ đã phán: “Chính các Kinh Thánh ấy làm chứng về Ta.” Giăng 5:39. Khi gạt bỏ Cựu Ước, họ thực chất cũng gạt bỏ Tân Ước; vì cả hai đều là những phần của một toàn thể không thể tách rời. Không ai có thể trình bày đúng đắn luật pháp của Đức Chúa Trời mà không có Tin Lành, hoặc Tin Lành mà không có luật pháp. Luật pháp là Tin Lành được hiện thân, và Tin Lành là luật pháp được bày tỏ. Luật pháp là rễ; Tin Lành là bông hoa thơm và trái mà nó sinh ra.
“The Old Testament sheds light upon the New, and the New upon the Old. Each is a revelation of the glory of God in Christ. Both present truths that will continually reveal new depths of meaning to the earnest seeker.” Christ’s Object Lessons, 128.
“Cựu Ước soi sáng cho Tân Ước, và Tân Ước soi sáng cho Cựu Ước. Mỗi phần là một sự mạc khải về vinh hiển của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Cả hai trình bày những lẽ thật sẽ không ngừng mở ra những chiều sâu ý nghĩa mới cho người tìm kiếm chân thành.” Christ's Object Lessons, 128.
Present truth is by definition the “revealed truth” for a specific period of time that is “clearly seen and explained.” The generation living at the time when “present truth” is revealed are held “accountable” to accept that truth or die. The combined truths which make up the “present testing truth” for “this generation,” are represented in “the unfolding of special” truths “in relation to the closing scenes of this earth’s history.” Truth, and therefore “present truth” is typified by the New Testament in relation to the Old Testament. Truth is established upon two witnesses and truth has a beginning and an end, a literal and a spiritual, an ancient and a modern, an alpha and an omega, a first and a last.
Lẽ thật hiện tại, theo định nghĩa, là "lẽ thật được bày tỏ" cho một giai đoạn thời gian cụ thể, "được nhìn thấy và giải thích rõ ràng." Thế hệ đang sống vào thời điểm "lẽ thật hiện tại" được bày tỏ bị ràng buộc "chịu trách nhiệm" phải chấp nhận lẽ thật ấy hoặc chết. Những lẽ thật kết hợp lại tạo nên "lẽ thật thử luyện hiện tại" cho "thế hệ này" được thể hiện trong "sự khai mở những lẽ thật đặc biệt" "liên quan đến các cảnh kết thúc của lịch sử trái đất này." Lẽ thật, và do đó "lẽ thật hiện tại," được tiêu biểu qua Tân Ước trong mối liên hệ với Cựu Ước. Lẽ thật được thiết lập trên hai nhân chứng, và lẽ thật có khởi đầu và kết thúc, có phương diện chữ nghĩa và phương diện thuộc linh, có cổ xưa và hiện đại, có Alpha và Ômêga, có đầu và cuối.
The Millerite foundation of the first angel’s message is the “old” in relation to the “present truth” message of the third angel. Those who are “rejecting the Old,” “virtually reject the New” for both are parts of an inseparable whole.”
Nền tảng Millerite của sứ điệp thiên sứ thứ nhất là “điều cũ” so với sứ điệp “lẽ thật hiện tại” của thiên sứ thứ ba. Những ai “khước từ Điều Cũ” thì thực chất cũng “khước từ Điều Mới”, vì cả hai đều là những phần của một chỉnh thể không thể tách rời.
“I saw the necessity of the messengers, especially, watching and checking all fanaticism wherever they might see it rise. Satan is pressing in on every side, and unless we watch for him, and have our eyes open to his devices and snares, and have on the whole armor of God, the fiery darts of the wicked will hit us. There are many precious truths contained in the Word of God, but it is ‘present truth’ that the flock needs now. I have seen the danger of the messengers running off from the important points of present truth, to dwell upon subjects that are not calculated to unite the flock and sanctify the soul. Satan will here take every possible advantage to injure the cause.
Tôi thấy cần thiết là các sứ giả phải đặc biệt cảnh giác và ngăn chặn mọi khuynh hướng cuồng tín ở bất cứ nơi nào họ thấy nó trỗi dậy. Sa-tan đang dồn ép từ mọi phía, và nếu chúng ta không đề phòng hắn, không mở mắt trước những mưu kế và cạm bẫy của hắn, và không mặc lấy toàn bộ giáp trụ của Đức Chúa Trời, thì những mũi tên lửa của kẻ ác sẽ bắn trúng chúng ta. Có nhiều lẽ thật quý báu được chứa đựng trong Lời Đức Chúa Trời, nhưng điều bầy chiên cần lúc này là “lẽ thật hiện tại”. Tôi đã thấy mối nguy khi các sứ giả rời xa những điểm quan trọng của lẽ thật hiện tại để sa đà vào những đề tài không có tác dụng hiệp nhất bầy chiên và thánh hóa linh hồn. Trong việc này, Sa-tan sẽ tận dụng mọi cơ hội có thể để làm tổn hại cho công cuộc.
“But such subjects as the sanctuary, in connection with the 2300 days, the commandments of God and the faith of Jesus, are perfectly calculated to explain the past Advent movement and show what our present position is, establish the faith of the doubting, and give certainty to the glorious future. These, I have frequently seen, were the principal subjects on which the messengers should dwell.” Early Writings, 63.
"Nhưng những đề tài như đền thánh, liên hệ với 2300 ngày, các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Đức Chúa Giê-su, rất thích hợp để giải thích phong trào Tái Lâm trong quá khứ và cho thấy lập trường hiện tại của chúng ta là gì, củng cố đức tin của những người còn hoài nghi, và đem lại sự chắc chắn cho tương lai vinh hiển. Những điều này, tôi đã thường thấy, là những đề tài chủ yếu mà các sứ giả nên tập trung giảng giải." Early Writings, 63.
The “sanctuary, in connection with the 2300 days, the commandments of God and the faith of Jesus” are the key to explain the “past Advent movement” of the Millerites and in so doing, to explain “perfectly” “what our present position is.” Those who are “doubting” the “past Advent movement,” are “doubting” what gives “certainty to the glorious future.” What gives certainty to the future is the past.
"Đền thánh, trong mối liên hệ với 2300 ngày, các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin của Chúa Giê-su" là chìa khóa để giải thích "phong trào Advent trước kia" của những người theo Miller, và qua đó, giải thích "một cách hoàn hảo" "vị trí hiện tại của chúng ta là gì." Những người đang "nghi ngờ" "phong trào Advent trước kia" thì đang "nghi ngờ" điều mang lại "sự chắc chắn cho tương lai vinh hiển." Điều mang lại sự chắc chắn cho tương lai chính là quá khứ.
The book of Joel is a message of present testing truth. This is confirmed by multiple witnesses. Joel is identified as “present truth” by the Spirit of Prophecy, which according to John in the book of Revelation is the testimony of Jesus.
Sách Giô-ên là một thông điệp về chân lý thử thách cho hiện tại. Điều này được xác nhận bởi nhiều nhân chứng. Sách Giô-ên được Thần Linh của Lời Tiên Tri xác định là “chân lý hiện tại”, mà theo Giăng trong sách Khải Huyền là lời chứng của Chúa Giê-su.
The Revelation of Jesus Christ, which God gave unto him, to show unto his servants things which must shortly come to pass; and he sent and signified it by his angel unto his servant John: Who bare record of the word of God, and of the testimony of Jesus Christ, and of all things that he saw. Revelation 1:1, 2.
Khải Huyền của Đức Giê-su Kitô, điều Thiên Chúa đã ban cho Người, để tỏ cho các tôi tớ của Người biết những điều sẽ sớm xảy ra; và Người đã sai thiên thần của Người đến tỏ bày điều ấy cho tôi tớ của Người là Gioan: người đã làm chứng về Lời của Thiên Chúa, về lời chứng của Đức Giê-su Kitô, và về mọi điều ông đã thấy. Khải Huyền 1:1, 2.
The “testimony” of John (which he bore “record of”), was portrayed in three parts. He recorded the “word of God,” the “testimony of Jesus” and the “things that he saw.” In the first two verses of Revelation, John represents one who has been given the gift of the “spirit of prophecy.” That gift includes a special revelation of God’s Word, and it also includes special revelations conveyed to the prophet through the words of Christ; (either by Christ directly or through his angelic representatives) and the gift also includes truth presented through the medium of dreams and visions. The spirit of prophecy is the testimony of Christ which is conveyed to the prophet and it bears the same authority as if an angel or Christ spoke the words.
“Lời chứng” của Giăng (mà ông đã “làm chứng về”) được trình bày thành ba phần. Ông ghi lại “Lời Đức Chúa Trời”, “lời chứng của Chúa Giê-su” và “những điều ông đã thấy”. Trong hai câu đầu của sách Khải Huyền, Giăng được giới thiệu như một người đã nhận lãnh ân tứ “thần khí của lời tiên tri”. Ân tứ ấy bao gồm sự mặc khải đặc biệt về Lời Đức Chúa Trời; nó cũng bao gồm những sự mặc khải đặc biệt được truyền đạt cho nhà tiên tri qua lời của Chúa Giê-su (hoặc do chính Chúa Giê-su trực tiếp, hoặc qua các thiên sứ đại diện của Ngài); và ân tứ ấy cũng bao gồm lẽ thật được trình bày qua phương tiện của những giấc chiêm bao và các khải tượng. Thần khí của lời tiên tri là lời chứng của Chúa Giê-su được truyền đạt cho nhà tiên tri, và nó mang cùng thẩm quyền như thể một thiên sứ hoặc chính Chúa Giê-su phán ra những lời ấy.
And I fell at his feet to worship him. And he said unto me, See thou do it not: I am thy fellowservant, and of thy brethren that have the testimony of Jesus: worship God: for the testimony of Jesus is the spirit of prophecy. Revelation 19:10.
Tôi liền sấp mình dưới chân người để thờ lạy người. Nhưng người nói với tôi: Đừng làm thế! Ta là bạn đồng tôi tớ với ngươi và với các anh em của ngươi, những người có lời chứng của Giê-xu. Hãy thờ lạy Đức Chúa Trời, vì lời chứng của Giê-xu là tinh thần của lời tiên tri. Khải Huyền 19:10.
Gabriel identifies that he is a fellowservant with John, and he is not to be worshipped. Gabriel also identifies that the “brethren” that are represented by John “have the testimony of Jesus,” which is the “spirit of prophecy.” The “brethren” which John represents are the one hundred and forty-four thousand, and the brethren all have the “spirit of prophecy.”
Gabriel khẳng định rằng ông là bạn đồng tôi tớ với Giăng, và ông không được thờ phượng. Gabriel cũng khẳng định rằng "anh em" mà Giăng đại diện "có lời chứng của Chúa Giê-su", tức là "thần linh của lời tiên tri." "Anh em" mà Giăng đại diện chính là một trăm bốn mươi bốn ngàn, và tất cả anh em đều có "thần linh của lời tiên tri."
“And they rose early in the morning, and went forth into the wilderness of Tekoa: and as they went forth, Jehoshaphat stood and said, Hear me, O Judah, and ye inhabitants of Jerusalem; Believe in the Lord your God, so shall ye be established; believe his prophets, so shall ye prosper. 2 Chronicles 20:20.
"Và họ dậy sớm vào buổi sáng, đi ra hoang mạc Tekoa; và khi họ đi ra, Jehoshaphat đứng lên và nói: Hỡi Judah và dân cư Jerusalem, hãy nghe ta; Hãy tin nơi Chúa là Đức Chúa Trời của các ngươi, thì các ngươi sẽ đứng vững; hãy tin các tiên tri của Ngài, thì các ngươi sẽ được thịnh vượng. 2 Sử ký 20:20."
“‘Believe in the Lord your God, so shall ye be established; believe his prophets, so shall ye prosper.’
'Hãy tin nơi Chúa, Đức Chúa Trời của các ngươi, thì các ngươi sẽ đứng vững; hãy tin các tiên tri của Ngài, thì các ngươi sẽ được hưng thịnh.'
“Isaiah 8:20. ‘To the law and to the testimony; if they speak not according to this word, it is because there is no light in them.’ Two texts are here set before God’s people: two conditions for success. The law spoken by Jehovah himself, and the spirit of prophecy, are the two sources of wisdom to guide His people in every experience. Deuteronomy 4:6. ‘This is your wisdom and your understanding in the sight of the nations, who shall say, Surely this great nation is a wise and understanding people.’
Ê-sai 8:20. 'Hãy đến cùng luật pháp và lời chứng; nếu họ không nói theo lời này, ấy là vì chẳng có sự sáng trong họ.' Hai đoạn Kinh Thánh được đặt trước dân sự của Đức Chúa Trời: hai điều kiện để thành công. Luật pháp do chính Đức Giê-hô-va phán, và thần linh của lời tiên tri, là hai nguồn khôn ngoan để dẫn dắt dân Ngài trong mọi hoàn cảnh. Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:6. 'Đó là sự khôn ngoan và sự thông sáng của các ngươi trước mặt các dân tộc, họ sẽ nói: Chắc chắn dân tộc lớn này là một dân khôn ngoan và thông sáng.'
“The law of God and the Spirit of Prophecy go hand in hand to guide and counsel the church, and whenever the church has recognized this by obeying His law, the spirit of prophecy has been sent to guide her in the way of truth.
Luật pháp của Đức Chúa Trời và Thần Linh của Lời Tiên Tri đi đôi với nhau để hướng dẫn và khuyên dạy Hội Thánh; và mỗi khi Hội Thánh công nhận điều này bằng cách vâng giữ luật pháp của Ngài, thì Thần Linh của Lời Tiên Tri được sai đến để dẫn dắt Hội Thánh trong đường lối của lẽ thật.
“Revelation 12:17. ‘And the dragon was wroth with the woman, and went to make war with the remnant of her seed, which keep the commandments of God, and have the testimony of Jesus Christ.’ This prophecy points out clearly that the remnant church will acknowledge God in His law and will have the prophetic gift. Obedience to the law of God, and the spirit of prophecy has always distinguished the true people of God, and the test is usually given on present manifestations.
Khải Huyền 12:17. “Và con rồng nổi giận với người đàn bà, và đi giao chiến với phần còn lại của dòng dõi bà, là những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Đức Chúa Giê-su Christ.” Lời tiên tri này nêu rõ rằng Hội Thánh còn sót lại sẽ thừa nhận Đức Chúa Trời qua luật pháp của Ngài và sẽ có ân tứ tiên tri. Sự vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời và thần khí của lời tiên tri luôn phân biệt dân thật của Đức Chúa Trời, và sự thử nghiệm thường dựa trên những sự bày tỏ hiện tại.
“In Jeremiah’s day the people had no question about the message of Moses, Elijah, or Elisha, but they did question and put aside the message sent of God to Jeremiah until its force and power was wasted and there was no remedy but for God to carry them away into captivity.
Vào thời của Giê-rê-mi, dân chúng không hề thắc mắc gì về sứ điệp của Môi-se, Ê-li hay Ê-li-sê, nhưng họ lại nghi ngờ và gạt bỏ sứ điệp mà Đức Chúa Trời đã sai đến cho Giê-rê-mi, cho đến khi sức nặng và quyền năng của lời ấy bị tiêu tan, và không còn cách nào khác ngoài việc Đức Chúa Trời đem họ đi lưu đày.
“Likewise in the days of Christ the people had learned that Jeremiah’s message was true, and they persuaded themselves to believe that if they had lived in the days of their fathers they would have accepted his message, but at the same time they were rejecting Christ’s message, of whom all the prophets had written.
Cũng vậy, vào thời của Đấng Christ, dân chúng đã biết rằng sứ điệp của Giê-rê-mi là chân thật, và họ tự thuyết phục mình tin rằng nếu họ sống vào thời của cha ông họ thì họ đã chấp nhận sứ điệp ấy; nhưng đồng thời họ lại khước từ sứ điệp của Đấng Christ, về Ngài hết thảy các đấng tiên tri đều đã viết.
“As the third angel’s message arose in the world, which is to reveal the law of God to the church in its fullness and power, the prophetic gift was also immediately restored. This gift has acted a very prominent part in the development and carrying forward of this message.
Khi sứ điệp của thiên sứ thứ ba xuất hiện trên thế giới, tức là bày tỏ luật pháp của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh trong sự trọn vẹn và quyền năng của nó, thì ân tứ tiên tri cũng lập tức được phục hồi. Ân tứ này đã đóng một vai trò hết sức nổi bật trong việc phát triển và truyền bá sứ điệp ấy.
“As differences of opinion have arisen in reference to interpretations of Scriptures and methods of labor, calculated to unsettle the faith of believers in the message and lead to disunion in the work, the spirit of prophecy has always thrown light on the situation. It has always brought union of thought and harmony of action to the body of believers. In every crisis that has arisen in the development of the message and the growth of the work, those who have stood firmly by the law of God and the light of the Spirit of prophecy have triumphed and the work has prospered in their hands.” Loma Linda Messages, 33, 34.
"Khi nảy sinh những khác biệt quan điểm liên quan đến cách giải thích Kinh Thánh và các phương pháp công tác, những điều có thể làm lung lay đức tin của những người tin vào sứ điệp và dẫn đến chia rẽ trong công việc, thì Thần Linh của Lời Tiên Tri luôn soi sáng tình hình. Thần Linh ấy luôn đem lại sự hiệp nhất trong tư tưởng và sự hòa hợp trong hành động cho cộng đồng tín hữu. Trong mọi cơn khủng hoảng nảy sinh trong quá trình phát triển của sứ điệp và sự lớn mạnh của công việc, những người kiên định với luật pháp của Đức Chúa Trời và ánh sáng của Thần Linh của Lời Tiên Tri đã chiến thắng, và công việc đã thịnh vượng trong tay họ." Loma Linda Messages, 33, 34.
The book of Joel is directly identified as “present truth” within the Spirit of Prophecy, which according to John in the book of Revelation is the testimony of Jesus. It is also endorsed directly within the Word of God. Both the Bible and Spirit of Prophecy directly apply the book of Joel to the last days.
Sách Giô-ên được xác định trực tiếp là “lẽ thật hiện tại” trong Thần Linh của Lời Tiên Tri, mà theo Giăng trong sách Khải Huyền chính là lời chứng của Đức Chúa Giê-su. Điều này cũng được xác nhận trực tiếp trong Lời Đức Chúa Trời. Cả Kinh Thánh lẫn Thần Linh của Lời Tiên Tri đều áp dụng trực tiếp sách Giô-ên cho những ngày sau rốt.
“Each of the ancient prophets spoke less for their own time than for ours, so that their prophesying is in force for us. ‘Now all these things happened unto them for ensamples: and they are written for our admonition, upon whom the ends of the world are come.’ 1 Corinthians 10:11. ‘Not unto themselves, but unto us they did minister the things, which are now reported unto you by them that have preached the gospel unto you with the Holy Ghost sent down from heaven; which things the angels desire to look into.’ 1 Peter 1:12. …
Mỗi vị tiên tri thời xưa nói cho thời đại của chính họ ít hơn là cho chúng ta, nên lời tiên tri của họ vẫn có hiệu lực đối với chúng ta. 'Nay, tất cả những điều đó đã xảy đến cho họ làm gương; và chúng đã được chép để răn dạy chúng ta, là những người mà thời kỳ cuối cùng của thế gian đã đến.' 1 Cô-rinh-tô 10:11. 'Không phải cho chính họ, mà cho chúng ta, họ đã phục vụ những điều ấy, là những điều nay đã được thuật lại cho anh em bởi những người đã rao giảng Tin Lành cho anh em với Đức Thánh Linh từ trời sai xuống; những điều mà các thiên sứ cũng ao ước xem xét.' 1 Phi-e-rơ 1:12. ...
“The Bible has accumulated and bound up together its treasures for this last generation. All the great events and solemn transactions of Old Testament history have been, and are, repeating themselves in the church in these last days.” Selected Messages, book 3, 338, 339.
Kinh Thánh đã tích lũy và gom góp các kho tàng của mình lại cho thế hệ sau rốt này. Mọi biến cố trọng đại và những sự việc trang nghiêm trong lịch sử Cựu Ước đã và đang tái diễn trong hội thánh trong những ngày sau rốt này. Selected Messages, quyển 3, 338, 339.
The prophecy of Joel is “in force” “upon” those “whom the ends of the world are come.” “In force” is simply emphasizing that “present truth” is always a test, and those who fail the test are represented by such biblical characters as Judas.
Lời tiên tri của Giô-ên đang "có hiệu lực" "trên" những người "mà sự tận cùng của thế gian đã đến." "Có hiệu lực" chỉ đơn giản nhấn mạnh rằng "lẽ thật hiện tại" luôn luôn là một sự thử thách, và những ai không vượt qua thử thách ấy được tiêu biểu bởi các nhân vật Kinh Thánh như Giu-đa.
“Lesson after lesson fell unheeded on the ears of Judas. How many today follow in his steps. In the light of God’s law, selfish men see their evil characters, but fail to make the required reformation, and go on from one state of sin to another.
Hết bài học này đến bài học khác lọt vào tai Giu-đa mà không được để ý. Biết bao người ngày nay theo bước ông. Dưới ánh sáng luật pháp của Đức Chúa Trời, những kẻ ích kỷ nhận ra bản tính xấu xa của mình, nhưng không thực hiện sự cải đổi cần thiết, và cứ tiếp tục đi từ tình trạng tội lỗi này sang tình trạng khác.
“The lessons of Christ are applicable to our own time and generation. He said, ‘Neither pray I for these alone, but for them also which shall believe on me through their word.’ The same testimony is brought to us in these last days as was brought to Judas. The same lessons which he failed to make practical in his life come to men who hear, and yet make a like failure, because they do not put away their sin.” Review and Herald, March 17, 1891.
Những bài học của Đấng Christ có thể áp dụng cho thời đại và thế hệ của chính chúng ta. Ngài phán: “Ta không chỉ cầu nguyện cho những người này, mà còn cho những kẻ sẽ tin vào Ta nhờ lời của họ.” Cùng một lời chứng ấy được đem đến cho chúng ta trong những ngày sau rốt này như đã được đem đến cho Giu-đa. Những bài học giống như vậy mà ông đã không đem vào thực hành trong đời sống mình cũng đến với những người nghe, nhưng họ cũng thất bại tương tự, vì họ không từ bỏ tội lỗi của mình. Review and Herald, ngày 17 tháng 3, 1891.
John throughout the book of Revelation typifies God’s last day people, and in being banished to Patmos John represents those who are persecuted in the Sunday law crisis. He states why he was incarcerated.
Xuyên suốt sách Khải Huyền, Giăng tiêu biểu cho dân sự ngày sau rốt của Đức Chúa Trời; và khi bị đày ra đảo Patmos, Giăng đại diện cho những người bị bắt bớ trong cuộc khủng hoảng luật Chủ nhật. Ông cho biết lý do vì sao ông bị cầm tù.
I John, who also am your brother, and companion in tribulation, and in the kingdom and patience of Jesus Christ, was in the isle that is called Patmos, for the word of God, and for the testimony of Jesus Christ. Revelation 1:9.
Tôi, Giăng, là anh em và bạn đồng chịu hoạn nạn với anh em, cùng dự phần trong vương quốc và sự nhẫn nại của Đức Chúa Giê-xu Christ, đã ở trên đảo gọi là Pat-mô, vì lời của Đức Chúa Trời và vì lời chứng của Đức Chúa Giê-xu Christ. Khải Huyền 1:9.
John was persecuted for the Bible and the Spirit of Prophecy. Why are the one hundred and forty-four thousand persecuted because of the Spirit of Prophecy? The first truth the prophet Joel identifies is the apostasy of the Seventh-day Adventist church. When the apostle Peter identified that Pentecost was a fulfillment of the book of Joel, Peter did so in response to the Jews attacking the manifestation of “tongues.” The Jews, who then typified Seventh-day Adventists in the last days, were arguing that Peter and those proclaiming the message were “drunk.” Seventh-day Adventists will fight against the message of the latter rain as did the Jews of Peter’s time. They do so for those who are proclaiming the “present truth” testing message of the latter rain have the “old” foundational truths, for new truth is always based upon old truth. Jeremiah called for God’s people in the time of the latter rain to walk in the old paths and hearken to the sound of the watchman’s trumpet, but they refuse. The foundational “old” truth message is symbolically represented by the “seven times” of Leviticus twenty-six, which sets forth the covenant relationship in terms of the Sabbath for the land.
Giăng bị bắt bớ vì Kinh Thánh và Thần Linh của Lời Tiên Tri. Tại sao một trăm bốn mươi bốn ngàn người bị bắt bớ vì Thần Linh của Lời Tiên Tri? Lẽ thật đầu tiên mà nhà tiên tri Giô-ên nêu ra là sự bội đạo của Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy. Khi sứ đồ Phi-e-rơ xác định rằng Lễ Ngũ Tuần là sự ứng nghiệm của sách Giô-ên, ông đã nói điều đó để đáp lại việc người Do Thái công kích sự bày tỏ “tiếng lạ”. Người Do Thái, những người khi ấy tượng trưng cho người Cơ Đốc Phục Lâm trong thời kỳ sau rốt, lý luận rằng Phi-e-rơ và những người rao báo sứ điệp là “say rượu”. Người Cơ Đốc Phục Lâm sẽ chống lại sứ điệp về mưa cuối mùa giống như người Do Thái thời Phi-e-rơ đã làm. Họ làm như vậy, vì những người đang rao truyền sứ điệp “lẽ thật hiện tại” mang tính thử thách của mưa cuối mùa nắm giữ các lẽ thật nền tảng “cũ”, bởi lẽ lẽ thật mới luôn dựa trên lẽ thật cũ. Giê-rê-mi kêu gọi dân Đức Chúa Trời trong thời mưa cuối mùa hãy bước đi trên các nẻo xưa và lắng nghe tiếng kèn của người lính canh, nhưng họ từ chối. Sứ điệp lẽ thật nền tảng “cũ” được biểu tượng bằng “bảy lần” trong Lê-vi Ký đoạn 26, điều này trình bày mối quan hệ giao ước qua luật Sa-bát dành cho đất đai.
“I saw the nominal church and nominal Adventists, like Judas, would betray us to the Catholics to obtain their influence to come against the truth. The saints then will be an obscure people, little known to the Catholics; but the churches and nominal Adventists who know of our faith and customs (for they hated us on account of the Sabbath, for they could not refute it) will betray the saints and report them to the Catholics as those who disregard the institutions of the people; that is, that they keep the Sabbath and disregard Sunday.
Tôi thấy giáo hội danh nghĩa và những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm danh nghĩa, giống như Giu-đa, sẽ phản bội chúng tôi, nộp chúng tôi cho người Công giáo để lợi dụng ảnh hưởng của họ mà chống lại lẽ thật. Bấy giờ các thánh sẽ là một dân sự vô danh, ít được người Công giáo biết đến; nhưng các giáo hội và những tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm danh nghĩa, là những người biết về đức tin và tập tục của chúng ta (vì họ ghét chúng ta vì ngày Sa-bát, bởi họ không thể bác bỏ nó), sẽ phản bội các thánh và tố cáo họ với người Công giáo như những kẻ coi thường các thiết chế của dân chúng; tức là họ giữ ngày Sa-bát và không giữ ngày Chủ nhật.
“Then the Catholics bid the Protestants to go forward, and issue a decree that all who will not observe the first day of the week, instead of the seventh day, shall be slain. And the Catholics, whose numbers are large, will stand by the Protestants. The Catholics will give their power to the image of the beast. And the Protestants will work as their mother worked before them to destroy the saints. But before their decree bring or bear fruit, the saints will be delivered by the Voice of God.” Spalding and Magan, 1, 2.
Rồi những người Công giáo bảo những người Tin Lành tiến lên và ban hành một sắc lệnh rằng tất cả ai không giữ ngày thứ nhất trong tuần thay vì ngày thứ bảy sẽ bị giết. Và những người Công giáo, vốn đông đảo, sẽ đứng về phía những người Tin Lành. Những người Công giáo sẽ trao quyền lực của họ cho ảnh tượng của con thú. Và những người Tin Lành sẽ hành động như mẹ họ đã từng làm trước họ để tiêu diệt các thánh đồ. Nhưng trước khi sắc lệnh của họ có hiệu quả, các thánh đồ sẽ được giải cứu bởi Tiếng Phán của Đức Chúa Trời. Spalding và Magan, 1, 2.
Twice Sister White identifies the “nominal church” and the “nominal Adventists,” while drawing a distinction between the two “nominal groups” and the “Catholics.” The “nominal church” and the “nominal Adventists,” “hated” those represented by Peter and John “on account of the Sabbath, for they could not refute it.” The nominal church and Catholics cannot “refute” the seventh-day Sabbath truth, and “nominal Adventists” cannot “refute” the “seven times” of Leviticus twenty-six, which is the Sabbath commandment of the land. The nominal church and Catholics cannot “refute” the fact that the seventh-day Sabbath is a “foundational” biblical truth, and “nominal Adventists” cannot “refute” the fact that the “seven times” of Leviticus twenty-six is a “foundational” Millerite truth.
Hai lần, bà White xác định "hội thánh danh nghĩa" và "những người Cơ Đốc Phục Lâm danh nghĩa", đồng thời phân biệt giữa hai "nhóm danh nghĩa" ấy và "những người Công giáo". "Hội thánh danh nghĩa" và "những người Cơ Đốc Phục Lâm danh nghĩa" "thù ghét" những người mà Phi-e-rơ và Giăng đại diện "vì vấn đề ngày Sa-bát, vì họ không thể phản bác lại điều ấy." Hội thánh danh nghĩa và những người Công giáo không thể "phản bác" lẽ thật về Sa-bát ngày thứ bảy, và "những người Cơ Đốc Phục Lâm danh nghĩa" không thể "phản bác" "bảy lần" của Lê-vi Ký hai mươi sáu, là điều răn Sa-bát của đất. Hội thánh danh nghĩa và những người Công giáo không thể "phản bác" thực tế rằng Sa-bát ngày thứ bảy là một lẽ thật Kinh Thánh "nền tảng", và "những người Cơ Đốc Phục Lâm danh nghĩa" không thể "phản bác" thực tế rằng "bảy lần" của Lê-vi Ký hai mươi sáu là một lẽ thật Millerite "nền tảng".
John’s captivity on Patmos represents the one hundred and forty-four thousand who uphold both the Bible and the Spirit of Prophecy, and who are especially persecuted from outside over the seventh-day Sabbath and persecuted from inside over the seventh-year Sabbath for the land. For this reason, John’s testimony of why he was being persecuted in verse nine is followed with verse ten’s Sabbath and the message from the past (“behind”) from the “great voice” as of a “trumpet.”
Sự giam cầm của Giăng tại Patmos đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người, những người giữ vững cả Kinh Thánh lẫn linh của lời tiên tri, và đặc biệt bị bách hại từ bên ngoài vì Sa-bát ngày thứ bảy và bị bách hại từ bên trong vì Sa-bát năm thứ bảy cho đất đai. Vì lý do này, lời chứng của Giăng về lý do ông bị bách hại ở câu chín được tiếp nối bằng Sa-bát ở câu mười và sứ điệp đến từ quá khứ ("đằng sau") từ "tiếng lớn" như tiếng "kèn".
I John, who also am your brother, and companion in tribulation, and in the kingdom and patience of Jesus Christ, was in the isle that is called Patmos, for the word of God, and for the testimony of Jesus Christ. I was in the Spirit on the Lord’s day, and heard behind me a great voice, as of a trumpet. Revelation 1:9, 10.
Tôi, Giăng, là anh em của anh em, cùng chia sẻ hoạn nạn và cùng dự phần trong nước và sự nhẫn nại của Đức Chúa Giê-xu Christ, đã ở trên hòn đảo gọi là Pat-mô, vì lời của Đức Chúa Trời và vì lời chứng của Đức Chúa Giê-xu Christ. Tôi ở trong Thánh Linh vào ngày của Chúa, và nghe đằng sau tôi có một tiếng lớn như tiếng kèn. Khải Huyền 1:9, 10.
John represents those who at 9/11 heard the trumpet voice of the angel of Revelation eighteen calling for God’s people to return to Jeremiah’s “old paths.” That great voice was also the warning of the seventh trumpet, which is also the third woe.
Giăng đại diện cho những người đã nghe, vào ngày 11/9, tiếng kèn của thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười tám kêu gọi dân của Đức Chúa Trời trở về với “những nẻo xưa” của Giê-rê-mi. Tiếng lớn ấy cũng là lời cảnh báo của kèn thứ bảy, cũng là tai vạ thứ ba.
Sister White recorded that the “Bible has accumulated and bound up together its treasures for this last generation.” The book of Joel is one of the biblical “treasures” that is present truth in the “last days.” At the time of Pentecost Peter identified that it was the book of Joel that was then being fulfilled. Peter, as with Joel, “spoke less for” the time period of Pentecost than for our “time.” The time period of Pentecost was the early rain for the Christian Dispensation. Pentecost marks the beginning of the Christian Dispensation, and in so doing it illustrates the end of the Christian Dispensation. The end of the Christian Dispensation is the time of the latter rain as typified by Pentecost. Peter is therefore a symbol of God’s people in the end of the Christian Dispensation who identify the fulfillment of the outpouring of the Holy Spirit by employing the book of Joel to do so.
Bà White ghi chép rằng: "Kinh Thánh đã tích lũy và buộc lại với nhau các kho tàng của mình cho thế hệ cuối cùng này." Sách Giô-ên là một trong những "kho tàng" của Kinh Thánh, là lẽ thật hiện tại trong "những ngày sau rốt." Vào dịp Lễ Ngũ Tuần, Phi-e-rơ đã chỉ ra rằng chính sách Giô-ên khi ấy đang được ứng nghiệm. Phi-e-rơ, cũng như Giô-ên, đã "nói ít hơn cho" thời kỳ Lễ Ngũ Tuần hơn là cho "thời" của chúng ta. Thời kỳ Lễ Ngũ Tuần là mưa đầu mùa cho Thời kỳ Cơ Đốc. Lễ Ngũ Tuần đánh dấu sự khởi đầu của Thời kỳ Cơ Đốc, và qua đó nó minh họa sự kết thúc của Thời kỳ Cơ Đốc. Sự kết thúc của Thời kỳ Cơ Đốc là thời điểm của mưa cuối mùa, như được tiêu biểu bởi Lễ Ngũ Tuần. Vì vậy, Phi-e-rơ là một biểu tượng của dân sự Đức Chúa Trời vào cuối Thời kỳ Cơ Đốc, những người nhận ra sự ứng nghiệm của sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh bằng cách sử dụng sách Giô-ên để làm như vậy.
But Peter, standing up with the eleven, lifted up his voice, and said unto them, Ye men of Judaea, and all ye that dwell at Jerusalem, be this known unto you, and hearken to my words: For these are not drunken, as ye suppose, seeing it is but the third hour of the day. But this is that which was spoken by the prophet Joel; And it shall come to pass in the last days, saith God, I will pour out of my Spirit upon all flesh: and your sons and your daughters shall prophesy, and your young men shall see visions, and your old men shall dream dreams: And on my servants and on my handmaidens I will pour out in those days of my Spirit; and they shall prophesy: And I will shew wonders in heaven above, and signs in the earth beneath; blood, and fire, and vapour of smoke: The sun shall be turned into darkness, and the moon into blood, before that great and notable day of the Lord come: And it shall come to pass, that whosoever shall call on the name of the Lord shall be saved. Acts 2:14–21.
Nhưng Phi-e-rơ đứng lên với mười một người, cất tiếng nói cùng họ: Hỡi người Giu-đê và hết thảy những kẻ cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem, hãy biết điều này và lắng nghe lời ta: Vì những người này không say rượu như các ông tưởng, vì bây giờ chỉ mới giờ thứ ba trong ngày. Nhưng đây là điều đã được nói bởi tiên tri Giô-ên: Trong những ngày sau rốt, Đức Chúa Trời phán: Ta sẽ đổ Thánh Linh Ta trên mọi xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri, thanh niên các ngươi sẽ thấy khải tượng, và người già cả các ngươi sẽ thấy chiêm bao; Cả trên tôi tớ nam và tôi tớ nữ của Ta, trong những ngày ấy, Ta sẽ đổ Thánh Linh Ta, và họ sẽ nói tiên tri. Ta sẽ tỏ ra những điềm lạ trên trời cao, và những dấu lạ dưới đất thấp: máu, lửa, và hơi khói; Mặt trời sẽ trở nên tối tăm, và mặt trăng biến thành máu, trước khi ngày lớn và vinh hiển của Chúa đến; Và sẽ xảy ra rằng hễ ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Công vụ các Sứ đồ 2:14-21.
To be a successful student of prophecy requires a settled understanding that the end of the world is illustrated “line upon line” within the historical narrative of Scripture. Connected with this truth is that the prophets themselves represent God’s people in the last days. Joel places his book in the last days for it announces the approach of the “day of the Lord.”
Để trở thành một người nghiên cứu lời tiên tri thành công, cần có một nhận thức vững chắc rằng sự tận cùng của thế gian được minh họa “dòng nối dòng” trong trình thuật lịch sử của Kinh Thánh. Gắn liền với lẽ thật này là rằng chính các tiên tri đại diện cho dân Đức Chúa Trời trong những ngày sau rốt. Giô-ên đặt sách của mình trong bối cảnh những ngày sau rốt, vì sách ấy loan báo sự gần kề của “Ngày của Chúa.”
Blow ye the trumpet in Zion, and sound an alarm in my holy mountain: let all the inhabitants of the land tremble: for the day of the Lord cometh, for it is nigh at hand. Joel 2:1.
Hãy thổi kèn tại Si-ôn, và thổi tiếng báo động trên núi thánh của ta; mọi cư dân trong xứ hãy run rẩy, vì ngày của Đức Giê-hô-va đang đến, vì ngày ấy đã gần kề. Giô-ên 2:1.
A “trumpet” as a symbol, among other meanings, represents a warning message. As a symbol a trumpet may represent a period of time or a point in time, or both—based upon context. A trumpet also represents judgment. The feast of trumpets, ten days before the Day of Atonement was a warning of approaching judgment.
Một "kèn", với tư cách là biểu tượng, bên cạnh các ý nghĩa khác, còn tượng trưng cho một thông điệp cảnh báo. Là một biểu tượng, kèn có thể đại diện cho một khoảng thời gian hoặc một thời điểm, hoặc cả hai, tùy theo ngữ cảnh. Kèn cũng tượng trưng cho sự phán xét. Lễ Kèn, mười ngày trước Ngày Chuộc Tội, là một lời cảnh báo về sự phán xét sắp đến.
The “day of the Lord” represents either a point in time or a period of time, based upon the context of the passage where the “day of the Lord” is employed. The “day of the Lord” can be a symbol of the executive judgment represented as the seven last plagues, or it can be the executive judgment at the end of the thousand-year millennium. In either case, the trumpet is identifying God’s executive judgment. The “day of the Lord” therefore can represent the point where God’s punishment is delivered or the period of time when God’s punishments are delivered.
“Ngày của Chúa” có thể chỉ một thời điểm hoặc một khoảng thời gian, tùy theo ngữ cảnh của đoạn văn nơi “ngày của Chúa” được dùng. “Ngày của Chúa” có thể là biểu tượng của sự phán xét thi hành được thể hiện qua bảy tai vạ sau cùng, hoặc có thể là sự phán xét thi hành vào cuối thiên niên kỷ. Trong cả hai trường hợp, tiếng kèn chỉ ra sự phán xét thi hành của Đức Chúa Trời. Vì vậy, “ngày của Chúa” có thể đại diện cho thời điểm khi sự trừng phạt của Đức Chúa Trời được thi hành, hoặc cho khoảng thời gian khi những sự trừng phạt của Ngài được thi hành.
A “trumpet” as with the “day of the Lord” can represent a point and a period of time as witnessed to in the historical points and periods represented by the seven trumpets of Revelation eight and nine. The “day of the Lord” that Joel is representing with the “trumpet” that is to be blown—is both a point in time and also a period of time which begins when the judgment of the dead ended and the judgment of the living began. On 9/11, a trumpet was blown marking the arrival of the judgment of the living as a point in time, and also marking 9/11 as the beginning of the period of the judgment of the living.
Một "tiếng kèn", cũng như "ngày của Chúa", có thể đại diện cho một điểm và một giai đoạn thời gian, như được làm chứng qua các điểm và giai đoạn lịch sử được biểu thị bởi bảy tiếng kèn trong Khải Huyền chương tám và chín. "Ngày của Chúa" mà Joel trình bày bằng "tiếng kèn" sẽ được thổi, vừa là một điểm thời gian, vừa là một giai đoạn thời gian, bắt đầu khi sự phán xét kẻ chết kết thúc và sự phán xét kẻ sống bắt đầu. Vào ngày 11/9, một tiếng kèn đã được thổi, đánh dấu sự đến của sự phán xét kẻ sống như một điểm thời gian, đồng thời đánh dấu 11/9 là khởi đầu của giai đoạn phán xét kẻ sống.
Therefore also now, saith the Lord, turn ye even to me with all your heart, and with fasting, and with weeping, and with mourning: And rend your heart, and not your garments, and turn unto the Lord your God: for he is gracious and merciful, slow to anger, and of great kindness, and repenteth him of the evil. Who knoweth if he will return and repent, and leave a blessing behind him; even a meat offering and a drink offering unto the Lord your God? Blow the trumpet in Zion, sanctify a fast, call a solemn assembly. Joel 2:12–15.
Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Hãy hết lòng trở về cùng ta, với sự kiêng ăn, với khóc lóc và than van; hãy xé lòng mình, chớ xé áo; và hãy trở về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; vì Ngài là Đấng nhân từ và hay thương xót, chậm giận và đầy lòng nhân ái, lại đổi ý về tai họa. Ai biết được Ngài có trở lại và đổi ý, để lại một phước lành phía sau chăng, tức là của lễ chay và của lễ quán dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi? Hãy thổi kèn tại Si-ôn, thánh hóa một kỳ kiêng ăn, triệu tập một đại hội trọng thể. Giô-ên 2:12-15.
This is the second time Joel commands that a trumpet be blown. The “trumpets” in Joel are both warnings of the approaching executive judgment of the seven last plagues, and are set within the context of the Laodicean call for repentance and the imminent close of probation.
Đây là lần thứ hai Giô-ên truyền thổi kèn. Những “tiếng kèn” trong sách Giô-ên vừa là những lời cảnh báo về sự phán xét thi hành của bảy tai vạ sau cùng đang đến gần, vừa được đặt trong bối cảnh lời kêu gọi ăn năn của La-ô-đi-xê và sự kết thúc thời kỳ ân điển đang cận kề.
Cry aloud, spare not, lift up thy voice like a trumpet, and show my people their transgression, and the house of Jacob their sins. Isaiah 58:1.
Hãy kêu to, đừng nín lặng; hãy cất tiếng ngươi lên như kèn, tỏ cho dân Ta biết sự vi phạm của họ, và cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi của họ. Ê-sai 58:1.
Isaiah, Joel, John and Peter are all representing the one hundred and forty-four thousand of the last days, as does Jeremiah who identifies when the trumpet is to be sounded.
Ê-sai, Giô-ên, Giăng và Phi-e-rơ đều đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người trong những ngày sau rốt; Giê-rê-mi cũng vậy, ông xác định khi nào tiếng kèn sẽ được thổi.
Thus saith the Lord, Stand ye in the ways, and see, and ask for the old paths, where is the good way, and walk therein, and ye shall find rest for your souls. But they said, We will not walk therein. Also I set watchmen over you, saying, Hearken to the sound of the trumpet. But they said, We will not hearken. Jeremiah 6:16, 17.
Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng nơi các nẻo đường mà xem, và hỏi về các lối xưa, đâu là con đường tốt, hãy bước đi trong đó, thì các ngươi sẽ tìm được sự an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng họ nói: Chúng tôi chẳng bước đi trong đó. Ta cũng đặt những kẻ canh giữ trên các ngươi, mà rằng: Hãy lắng nghe tiếng kèn. Nhưng họ nói: Chúng tôi chẳng lắng nghe. Giê-rê-mi 6:16, 17.
The trumpet sounded in these last days at 9/11, and the latter rain then began to fall upon those who chose the good way and walked therein. It is then that the angel of Revelation eighteen descended.
Tiếng kèn đã vang lên trong những ngày sau rốt này vào ngày 11/9, và bấy giờ mưa muộn bắt đầu đổ xuống trên những ai đã chọn đường lối tốt lành và bước đi trong đó. Chính khi ấy thiên sứ của Khải Huyền đoạn mười tám đã giáng xuống.
“The latter rain is to fall upon the people of God. A mighty angel is to come down from heaven, and the whole earth is to be lighted with his glory.” Review and Herald, April 21, 1891.
“Mưa cuối mùa sẽ đổ xuống trên dân sự của Đức Chúa Trời. Một thiên sứ quyền năng sẽ từ trời giáng xuống, và cả trái đất sẽ được chiếu sáng bởi vinh quang của thiên sứ ấy.” Review and Herald, ngày 21 tháng 4 năm 1891.
When the great buildings of New York were brought down on 9/11, the mighty angel descended and the latter rain began to fall.
Khi những tòa nhà lớn ở New York bị đánh sập vào ngày 11/9, vị thiên sứ quyền năng đã giáng xuống và mưa cuối mùa bắt đầu đổ xuống.
“Now comes the word that I have declared that New York is to be swept away by a tidal wave? This I have never said. I have said, as I looked at the great buildings going up there, story after story, ‘What terrible scenes will take place when the Lord shall arise to shake terribly the earth! Then the words of Revelation 18:1–3 will be fulfilled.’ The whole of the eighteenth chapter of Revelation is a warning of what is coming on the earth. But I have no light in particular in regard to what is coming on New York, only that I know that one day the great buildings there will be thrown down by the turning and overturning of God’s power. From the light given me, I know that destruction is in the world. One word from the Lord, one touch of his mighty power, and these massive structures will fall. Scenes will take place the fearfulness of which we cannot imagine.” Review and Herald, July 5, 1906.
"Giờ đây lại có tin rằng tôi đã tuyên bố New York sẽ bị quét sạch bởi một cơn sóng thần? Điều đó tôi chưa hề nói. Tôi đã nói rằng, khi nhìn những tòa nhà lớn mọc lên ở đó, tầng này chồng tầng kia, ‘Những cảnh tượng kinh hoàng nào sẽ diễn ra khi Chúa trỗi dậy để làm rung chuyển dữ dội trái đất! Bấy giờ những lời trong Khải Huyền 18:1–3 sẽ được ứng nghiệm.’ Toàn bộ chương mười tám của sách Khải Huyền là một lời cảnh báo về những điều sắp đến trên đất. Nhưng tôi không có ánh sáng cụ thể nào về điều gì sẽ xảy ra cho New York, chỉ biết rằng một ngày nào đó những tòa nhà lớn ở đó sẽ bị lật đổ bởi sự xoay chuyển và đảo lộn của quyền năng Đức Chúa Trời. Từ ánh sáng đã được ban cho tôi, tôi biết rằng sự hủy diệt hiện diện trong thế gian. Chỉ một lời từ Chúa, một chạm của quyền năng vĩ đại của Ngài, là những công trình đồ sộ này sẽ đổ sụp. Những cảnh tượng sẽ diễn ra, sự kinh khiếp của chúng vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng ta." Review and Herald, ngày 5 tháng 7, 1906.
On 9/11 the latter rain began to sprinkle in advance of its full outpouring at the Sunday law.
Vào ngày 11/9, mưa muộn bắt đầu rơi lất phất, trước khi nó tuôn đổ trọn vẹn vào thời điểm luật ngày Chủ nhật.
“The great work of the gospel is not to close with less manifestation of the power of God than marked its opening. The prophecies which were fulfilled in the outpouring of the former rain at the opening of the gospel are again to be fulfilled in the latter rain at its close. Here are ‘the times of refreshing’ to which the apostle Peter looked forward when he said: ‘Repent ye therefore, and be converted, that your sins may be blotted out, when the times of refreshing shall come from the presence of the Lord; and He shall send Jesus.’ Acts 3:19, 20.” The Great Controversy, 611, 612.
"Công cuộc vĩ đại của Tin Lành sẽ không kết thúc với sự bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời kém hơn điều đã ghi dấu thời kỳ mở đầu của nó. Những lời tiên tri đã được ứng nghiệm trong sự tuôn đổ của mưa đầu mùa vào buổi khai mở của Tin Lành sẽ lại được ứng nghiệm trong mưa cuối mùa vào lúc kết thúc của nó. Đây là 'những thì kỳ làm tươi mới' mà sứ đồ Phi-e-rơ đã hướng tới khi ông nói: 'Vậy hãy ăn năn và trở lại, để tội lỗi các ngươi được xóa bỏ, hầu cho khi thì kỳ làm tươi mới đến từ sự hiện diện của Chúa; và Ngài sẽ sai Đức Chúa Giê-xu.' Công vụ 3:19, 20." Cuộc Đại Tranh Chiến, 611, 612.
The perfect fulfillment of the “times of refreshing” occurs when you are living, for the warning is to “repent,” which is impossible to do if you are dead. The “times of refreshing” arrives when the “sins” of living souls might still be “blotted out”. The “times of refreshing” began on 9/11, thus identifying the beginning of the judgment of the living. Pentecost is repeated at the close of the gospel dispensation. When the “times of refreshing” arrived, the events typified at Pentecost began to repeat.
Sự ứng nghiệm trọn vẹn của "thời kỳ tươi mới" xảy ra khi bạn đang sống, vì lời cảnh báo là "hãy ăn năn", điều đó là không thể thực hiện nếu bạn đã chết. "Thời kỳ tươi mới" đến khi "tội lỗi" của những người còn sống vẫn còn có thể được "xóa sạch". "Thời kỳ tươi mới" bắt đầu vào ngày 11/9, qua đó xác định sự khởi đầu của cuộc phán xét những người đang sống. Lễ Ngũ Tuần được lặp lại vào lúc kết thúc thời kỳ Phúc Âm. Khi "thời kỳ tươi mới" đến, các sự kiện đã được làm hình bóng tại Lễ Ngũ Tuần bắt đầu lặp lại.
“It is with an earnest longing that I look forward to the time when the events of the day of Pentecost shall be repeated with even greater power than on that occasion. John says, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory.’ Then, as at the Pentecostal season, the people will hear the truth spoken to them, every man in his own tongue.
Với niềm khao khát tha thiết, tôi trông đợi thời điểm khi những sự kiện trong ngày Lễ Ngũ Tuần sẽ được lặp lại với quyền năng còn lớn hơn cả khi ấy. Giăng nói: "Tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người ấy." Bấy giờ, như vào dịp Lễ Ngũ Tuần, dân chúng sẽ nghe lẽ thật được nói với họ, mỗi người bằng tiếng riêng của mình.
“God can breathe new life into every soul that sincerely desires to serve Him, and can touch the lips with a live coal from off the altar, and cause them to become eloquent with His praise. Thousands of voices will be imbued with the power to speak forth the wonderful truths of God’s Word. The stammering tongue will be unloosed, and the timid will be made strong to bear courageous testimony to the truth. May the Lord help His people to cleanse the soul temple from every defilement, and to maintain such a close connection with Him that they may be partakers of the latter rain when it shall be poured out.” Review and Herald, July 20, 1886.
"Đức Chúa Trời có thể thổi sự sống mới vào mọi linh hồn chân thành ước ao phục vụ Ngài, và có thể chạm đến đôi môi bằng một viên than hồng lấy từ trên bàn thờ, khiến môi miệng họ trở nên hùng hồn cất lời ngợi khen Ngài. Hàng ngàn tiếng nói sẽ được tràn đầy quyền năng để công bố những lẽ thật kỳ diệu của Lời Đức Chúa Trời. Lưỡi nói lắp sẽ được mở, và người rụt rè sẽ được làm cho mạnh mẽ để làm chứng cách can đảm cho lẽ thật. Nguyện Chúa giúp dân Ngài thanh tẩy đền thờ linh hồn khỏi mọi ô uế, và duy trì mối liên hệ mật thiết với Ngài đến nỗi họ có thể dự phần vào cơn mưa cuối mùa khi nó được tuôn đổ." Review and Herald, ngày 20 tháng 7, 1886.
We will continue in the next article.
Chúng ta sẽ tiếp tục trong bài viết tiếp theo.
And the angel that talked with me came again, and waked me, as a man that is wakened out of his sleep, And said unto me, What seest thou? And I said, I have looked, and behold a candlestick all of gold, with a bowl upon the top of it, and his seven lamps thereon, and seven pipes to the seven lamps, which are upon the top thereof: And two olive trees by it, one upon the right side of the bowl, and the other upon the left side thereof.
Rồi thiên sứ đã nói chuyện với tôi lại đến và đánh thức tôi, như người ta đánh thức một người khỏi giấc ngủ, và nói với tôi: Con thấy gì? Tôi đáp: Tôi đã nhìn, và kìa, một chân đèn toàn bằng vàng, trên đỉnh có một cái bát; trên đó có bảy ngọn đèn, và bảy ống dẫn tới bảy ngọn đèn ở trên đỉnh ấy. Và có hai cây ô-liu ở bên cạnh nó, một cây ở bên phải cái bát, và cây kia ở bên trái.
So I answered and spake to the angel that talked with me, saying, What are these, my lord? Then the angel that talked with me answered and said unto me, Knowest thou not what these be? And I said, No, my lord.
Vậy tôi đáp và nói với thiên sứ đang nói chuyện với tôi rằng: Thưa chúa tôi, những điều này là gì? Bấy giờ thiên sứ đang nói chuyện với tôi đáp và nói với tôi: Ngươi không biết những điều này là gì sao? Tôi thưa: Không, thưa chúa tôi.
Then he answered and spake unto me, saying, This is the word of the Lord unto Zerubbabel, saying, Not by might, nor by power, but by my spirit, saith the Lord of hosts. Zechariah 4:1–6.
Bấy giờ người trả lời và nói với tôi rằng: Đây là lời của Đức Giê-hô-va gửi cho Xô-rô-ba-bên: Chẳng phải bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực, nhưng bởi Thần Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Xa-cha-ri 4:1-6.