“It is with an earnest longing that I look forward to the time when the events of the day of Pentecost shall be repeated with even greater power than on that occasion. John says, ‘I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory.’ Then, as at the Pentecostal season, the people will hear the truth spoken to them, every man in his own tongue.
Với niềm khao khát tha thiết, tôi trông đợi thời điểm khi những sự kiện trong ngày Lễ Ngũ Tuần sẽ được lặp lại với quyền năng còn lớn hơn cả khi ấy. Giăng nói: "Tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người ấy." Bấy giờ, như vào dịp Lễ Ngũ Tuần, dân chúng sẽ nghe lẽ thật được nói với họ, mỗi người bằng tiếng riêng của mình.
“God can breathe new life into every soul that sincerely desires to serve Him, and can touch the lips with a live coal from off the altar, and cause them to become eloquent with His praise. Thousands of voices will be imbued with the power to speak forth the wonderful truths of God’s Word. The stammering tongue will be unloosed, and the timid will be made strong to bear courageous testimony to the truth. May the Lord help His people to cleanse the soul temple from every defilement, and to maintain such a close connection with Him that they may be partakers of the latter rain when it shall be poured out.” Review and Herald, July 20, 1886.
"Đức Chúa Trời có thể thổi sự sống mới vào mọi linh hồn chân thành ước ao phục vụ Ngài, và có thể chạm đến đôi môi bằng một viên than hồng lấy từ trên bàn thờ, khiến môi miệng họ trở nên hùng hồn cất lời ngợi khen Ngài. Hàng ngàn tiếng nói sẽ được tràn đầy quyền năng để công bố những lẽ thật kỳ diệu của Lời Đức Chúa Trời. Lưỡi nói lắp sẽ được mở, và người rụt rè sẽ được làm cho mạnh mẽ để làm chứng cách can đảm cho lẽ thật. Nguyện Chúa giúp dân Ngài thanh tẩy đền thờ linh hồn khỏi mọi ô uế, và duy trì mối liên hệ mật thiết với Ngài đến nỗi họ có thể dự phần vào cơn mưa cuối mùa khi nó được tuôn đổ." Review and Herald, ngày 20 tháng 7, 1886.
Pentecost, when considered as a feast of the Lord cannot be separated from Passover, the feast of unleavened bread, the first fruit offering and the feast of weeks. Pentecost is a period of time, though it is also a point in time. This is why it is called “the Pentecostal season.” The season began with Christ’s death, burial and resurrection. After His ascension Christ began forty days of personal instruction that was followed by ten days in the upper room where unity was accomplished. 9/11 began a period that ends at the Sunday law in the United States. That Sunday law is represented by the day of Pentecost as a point in time; a point in time that has been preceded by a period of time which began at 9/11. From 9/11 unto the Sunday law the “Pentecostal season” is repeated.
Lễ Ngũ Tuần, khi được xem như một kỳ lễ của Chúa, không thể tách rời khỏi Lễ Vượt Qua, Lễ Bánh Không Men, lễ dâng trái đầu mùa và Lễ Các Tuần. Lễ Ngũ Tuần là một giai đoạn thời gian, dù nó cũng là một thời điểm. Vì vậy nó được gọi là "mùa Ngũ Tuần." Mùa này khởi đầu với sự chết, sự chôn và sự phục sinh của Đấng Christ. Sau khi thăng thiên, Đấng Christ bắt đầu bốn mươi ngày dạy dỗ riêng, rồi tiếp theo là mười ngày trong phòng cao, nơi sự hiệp một được hoàn tất. 9/11 khởi đầu một giai đoạn kết thúc tại luật ngày Chúa nhật ở Hoa Kỳ. Luật ngày Chúa nhật đó được tượng trưng bởi ngày Lễ Ngũ Tuần như một thời điểm; một thời điểm đã được đi trước bởi một giai đoạn bắt đầu từ 9/11. Từ 9/11 cho đến luật ngày Chúa nhật, "mùa Ngũ Tuần" được lặp lại.
Peter explained that the miraculous phenomenon of “tongues of fire,” was not drunken folly, but a fulfillment of the book of Joel because a controversy was brought against the message. “Tongues” represent the presentation of a message, and the fire represents the Holy Spirit. The message of Pentecost represents a combination of divinity (God is a consuming fire) with the humanity of the tongue. Just as Peter represents the one hundred and forty-four thousand during the time of the latter rain, so too the quibbling Jews represent a former covenant people who are being passed by at the very point in time when the latter rain is falling.
Phê-rô giải thích rằng hiện tượng kỳ diệu về “những lưỡi lửa” không phải là sự ngớ ngẩn do say rượu, mà là sự ứng nghiệm của sách Giô-ên vì đã có sự tranh cãi chống lại sứ điệp. “Lưỡi” tượng trưng cho sự trình bày một sứ điệp, còn lửa tượng trưng cho Đức Thánh Linh. Sứ điệp của Lễ Ngũ Tuần tượng trưng cho sự kết hợp giữa thần tính (Đức Chúa Trời là lửa thiêu đốt) với nhân tính của lưỡi. Cũng như Phê-rô đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn trong thời kỳ mưa muộn, thì những người Do Thái hay bắt bẻ cũng đại diện cho một dân giao ước trước đây đang bị bỏ qua ngay khi mưa muộn đang đổ xuống.
And they were all filled with the Holy Ghost, and began to speak with other tongues, as the Spirit gave them utterance. And there were dwelling at Jerusalem Jews, devout men, out of every nation under heaven. Now when this was noised abroad, the multitude came together, and were confounded, because that every man heard them speak in his own language. And they were all amazed and marvelled, saying one to another, Behold, are not all these which speak Galilaeans? And how hear we every man in our own tongue, wherein we were born? Parthians, and Medes, and Elamites, and the dwellers in Mesopotamia, and in Judaea, and Cappadocia, in Pontus, and Asia, Phrygia, and Pamphylia, in Egypt, and in the parts of Libya about Cyrene, and strangers of Rome, Jews and proselytes, Cretes and Arabians, we do hear them speak in our tongues the wonderful works of God. And they were all amazed, and were in doubt, saying one to another, What meaneth this? Others mocking said, These men are full of new wine. But Peter, standing up with the eleven, lifted up his voice, and said unto them, Ye men of Judaea, and all ye that dwell at Jerusalem, be this known unto you, and hearken to my words: For these are not drunken, as ye suppose, seeing it is but the third hour of the day. Acts 2:4–15.
Và họ đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, bắt đầu nói bằng những thứ tiếng khác theo như Đức Thánh Linh ban cho họ nói. Lúc ấy, tại Giê-ru-sa-lem có những người Do Thái, là những người sùng kính, từ mọi dân tộc dưới trời cư ngụ. Khi việc ấy vang ra, đám đông tụ lại và bối rối, vì ai nấy đều nghe họ nói bằng tiếng của chính mình. Họ đều kinh ngạc và lấy làm lạ, nói với nhau: Kìa, những người đang nói đây há chẳng phải đều là người Ga-li-lê sao? Vậy thì sao mỗi chúng ta lại nghe họ nói bằng tiếng của quê hương nơi chúng ta sinh ra? Nào là người Ba-thi, Mê-đi, Ê-lam; cư dân Mê-sô-bô-ta-mi-a, Giu-đê, Cáp-pa-đô-xi-a, Pon-tơ và A-si-a, Phi-ghi-a và Pam-phi-li-a, Ai Cập và các miền Ly-bi gần Ky-rê-nê; khách trú ngụ từ Rô-ma, người Do Thái và người mới theo đạo; người Cơ-rết và người Ả Rập—chúng tôi đều nghe họ nói bằng các tiếng của chúng tôi về những công việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời. Họ đều kinh ngạc và phân vân, nói với nhau: Điều này có nghĩa gì? Còn những người khác thì chế giễu rằng: Những người này say rượu mới. Nhưng Phi-e-rơ đứng lên cùng với mười một sứ đồ, cất tiếng và nói với họ: Hỡi người Giu-đê, và tất cả những ai cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem, hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi: Vì những người này không say rượu như các ông tưởng, vì bây giờ mới giờ thứ ba trong ngày. Công vụ các sứ đồ 2:4–15.
Peter is explaining Pentecost as a fulfillment of the book of Joel. He is doing so prophetically when the entire world is represented, for the passage states the audience came “out of every nation under heaven.” At 9/11 the earth was lightened with Christ’s glory and then again at the Sunday law the one hundred and forty-four thousand will perfectly reflect the glory of Christ as they are lifted up as an ensign before the entire world. The Pentecostal period began at 9/11 and it ends at the Sunday law.
Phi-e-rơ đang giải thích Lễ Ngũ Tuần như là sự ứng nghiệm của sách Giô-ên. Ông làm như vậy mang tính tiên tri khi cả thế giới đều được đại diện, vì đoạn ấy nói rằng thính giả đến "từ mọi dân tộc dưới gầm trời." Vào 9/11, trái đất đã được chiếu sáng bởi vinh quang của Đấng Christ, và rồi một lần nữa, tại luật ngày Chủ nhật, một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ phản chiếu trọn vẹn vinh quang của Đấng Christ khi họ được giương lên như một cờ hiệu trước toàn thế giới. Thời kỳ Ngũ Tuần bắt đầu từ 9/11 và kết thúc vào thời điểm luật ngày Chủ nhật.
“Not one of us will ever receive the seal of God while our characters have one spot or stain upon them. It is left with us to remedy the defects in our characters, to cleanse the soul temple of every defilement. Then the latter rain will fall upon us as the early rain fell upon the disciples on the Day of Pentecost.
Không một ai trong chúng ta sẽ bao giờ nhận được ấn của Đức Chúa Trời khi tính cách của chúng ta còn có một vết nhơ hay tì ố. Chính chúng ta phải sửa chữa những khuyết điểm trong tính cách, thanh tẩy đền thờ linh hồn khỏi mọi ô uế. Bấy giờ mưa cuối mùa sẽ đổ xuống trên chúng ta như mưa đầu mùa đã đổ xuống trên các môn đồ vào Ngày Lễ Ngũ Tuần.
“We are too easily satisfied with our attainments. We feel rich and increased with goods and know not that we are ‘wretched, and miserable, and poor, and blind, and naked.’ Now is the time to heed the admonition of the True Witness: ‘I counsel thee to buy of Me gold tried in the fire, that thou mayest be rich; and white raiment, that thou mayest be clothed, and that the shame of thy nakedness do not appear; and anoint thine eyes with eyesalve, that thou mayest see.’ …
"Chúng ta quá dễ bằng lòng với những gì mình đạt được. Chúng ta tưởng mình giàu có và dư dật, mà không biết rằng chúng ta 'khốn khổ, đáng thương, nghèo nàn, mù lòa và trần truồng.' Giờ là lúc lắng nghe lời khuyên răn của Đấng Chứng Nhân Chân Thật: 'Ta khuyên ngươi hãy mua nơi Ta vàng đã được thử luyện trong lửa, để ngươi được giàu có; và áo trắng để ngươi mặc, hầu cho sự xấu hổ vì sự trần truồng của ngươi không lộ ra; và xức mắt ngươi bằng thuốc xức mắt, để ngươi thấy.' ...
“It is now that we must keep ourselves and our children unspotted from the world. It is now that we must wash our robes of character and make them white in the blood of the Lamb. It is now that we must overcome pride, passion, and spiritual slothfulness. It is now that we must awake and make determined effort for symmetry of character. ‘Today if ye will hear His voice, harden not your hearts.’ We are in a most trying position, waiting, watching for our Lord’s appearing. The world is in darkness. ‘But ye, brethren,’ says Paul, ‘are not in darkness, that that day should overtake you as a thief.’ It is ever God’s purpose to bring light out of darkness, joy out of sorrow, and rest out of weariness for the waiting, longing soul.
Chính bây giờ chúng ta phải giữ mình và con cái mình không vết nhơ khỏi thế gian. Chính bây giờ chúng ta phải giặt sạch áo đức hạnh của mình và làm cho áo ấy trắng trong huyết Chiên Con. Chính bây giờ chúng ta phải chiến thắng sự kiêu ngạo, dục vọng, và sự lười biếng thuộc linh. Chính bây giờ chúng ta phải thức tỉnh và nỗ lực quyết tâm để đạt được sự hài hòa trong tính cách. ‘Ngày nay, nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, chớ cứng lòng.’ Chúng ta đang ở trong một hoàn cảnh hết sức thử thách, chờ đợi, canh thức sự xuất hiện của Chúa chúng ta. Thế gian đang ở trong bóng tối. ‘Nhưng, hỡi anh em,’ Phao-lô nói, ‘anh em chẳng ở trong sự tối tăm, để ngày ấy đến thình lình như kẻ trộm.’ Mục đích của Đức Chúa Trời luôn là đem ánh sáng ra từ tối tăm, niềm vui ra từ sầu não, và sự nghỉ ngơi ra từ mỏi mệt cho linh hồn đang chờ đợi, khao khát.
“What are you doing, brethren, in the great work of preparation? Those who are uniting with the world are receiving the worldly mold and preparing for the mark of the beast. Those who are distrustful of self, who are humbling themselves before God and purifying their souls by obeying the truth these are receiving the heavenly mold and preparing for the seal of God in their foreheads. When the decree goes forth and the stamp is impressed, their character will remain pure and spotless for eternity.
Hỡi anh em, trong công cuộc chuẩn bị trọng đại, anh em đang làm gì? Những ai đang hòa mình với thế gian thì nhận lấy khuôn mẫu của thế gian và chuẩn bị cho dấu của con thú. Còn những người không tin cậy nơi bản thân, hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời và thanh tẩy linh hồn bằng cách vâng theo lẽ thật, thì đang nhận lấy khuôn mẫu thiên thượng và chuẩn bị cho ấn của Đức Chúa Trời trên trán họ. Khi sắc lệnh được ban ra và ấn được đóng, tính cách của họ sẽ vẫn thanh khiết, không tì vết đến đời đời.
“Now is the time to prepare. The seal of God will never be placed upon the forehead of an impure man or woman. It will never be placed upon the forehead of the ambitious, world-loving man or woman. It will never be placed upon the forehead of men or women of false tongues or deceitful hearts. All who receive the seal must be without spot before God—candidates for heaven. Go forward, my brethren and sisters. I can only write briefly upon these points at this time, merely calling your attention to the necessity of preparation. Search the Scriptures for yourselves, that you may understand the fearful solemnity of the present hour.” Testimonies, volume 5, 214, 216.
"Bây giờ là lúc để chuẩn bị. Ấn của Đức Chúa Trời sẽ chẳng bao giờ được đặt trên trán của người nam hay nữ ô uế. Nó sẽ chẳng bao giờ được đặt trên trán của người nam hay nữ tham vọng, yêu mến thế gian. Nó sẽ chẳng bao giờ được đặt trên trán của người nam hay nữ có miệng lưỡi dối trá hoặc lòng gian tà. Tất cả những ai nhận ấn ấy phải không tì vết trước mặt Đức Chúa Trời—những người đủ tư cách vào thiên đàng. Hãy tiến lên, hỡi anh chị em. Lúc này tôi chỉ có thể viết vắn tắt về những điểm này, chỉ nhằm nhắc anh chị em về sự cần thiết phải chuẩn bị. Hãy tự mình tra xem Kinh Thánh, để anh chị em có thể hiểu được sự trang nghiêm đáng sợ của giờ phút hiện nay." Testimonies, quyển 5, 214, 216.
Here Sister White identifies Pentecost as a point in time, aligning with the Sunday law in the United States, “when the decree goes forth.” Yet, though she marks the Sunday law and Pentecost as a point in time, her message calling for preparation identifies a period that precedes the Sunday law as typified by the Pentecostal season. The Sunday law is the seventh-day Sabbath test, and the period from 9/11 unto the Sunday law can be identified as the symbolic “day of the Lord’s preparation.” Preparation precedes the test.
Ở đây bà White xác định Lễ Ngũ Tuần như một thời điểm, trùng với luật Chủ nhật tại Hoa Kỳ, "khi sắc lệnh được ban ra." Tuy vậy, dù bà đánh dấu luật Chủ nhật và Lễ Ngũ Tuần như một thời điểm, sứ điệp của bà kêu gọi sự chuẩn bị lại xác định một giai đoạn đi trước luật Chủ nhật, được tiêu biểu bởi mùa Lễ Ngũ Tuần. Luật Chủ nhật là thử thách về ngày Sa-bát ngày thứ bảy, và giai đoạn từ 9/11 đến luật Chủ nhật có thể được xác định là "ngày chuẩn bị của Chúa" mang tính biểu tượng. Sự chuẩn bị đi trước kỳ thử thách.
The “latter rain will fall upon” the one hundred and forty-four thousand just “as the early rain fell upon the disciples on the Day of Pentecost.” The period represented as the Pentecostal season began with a sprinkling when Christ returned from His ascension.
“Mưa cuối mùa sẽ đổ xuống” trên một trăm bốn mươi bốn ngàn y như “mưa đầu mùa đã đổ xuống trên các môn đồ vào ngày Lễ Ngũ Tuần.” Thời kỳ được ví như mùa Ngũ Tuần đã bắt đầu bằng một cơn mưa lất phất khi Đấng Christ trở về sau sự thăng thiên của Ngài.
And when he had said this, he breathed on them, and saith unto them, Receive ye the Holy Ghost. John 20:22.
Nói điều ấy xong, Ngài hà hơi trên họ và phán với họ: "Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh." Giăng 20:22.
His breath conveys the Holy Spirit and breath is what produces the sound of words. Jesus is the Word and His breath conveys the Holy Spirit through the impartation of His word. The breath is what brought the body of Adam to life, and the breath is what brings Ezekiel’s army of resurrected dead dry bones to life.
Hơi thở của Ngài truyền Đức Thánh Linh, và chính hơi thở tạo ra âm thanh của lời nói. Chúa Giê-xu là Ngôi Lời, và hơi thở của Ngài truyền Đức Thánh Linh qua sự truyền ban lời Ngài. Chính hơi thở đã làm cho thân thể của A-đam sống động, và chính hơi thở làm cho đạo quân những xương khô được sống lại trong sách Ê-xê-chi-ên.
“The act of Christ in breathing upon his disciples the Holy Ghost, and in imparting his peace to them, was as a few drops before the plentiful shower to be given on the day of Pentecost.” Spirit of Prophecy, volume 3, 243.
"Hành động của Đấng Christ khi thổi hơi trên các môn đồ Ngài, ban cho họ Đức Thánh Linh, và truyền cho họ sự bình an của Ngài, đã giống như vài giọt mưa trước trận mưa rào dồi dào sẽ tuôn đổ vào ngày Lễ Ngũ Tuần." Spirit of Prophecy, tập 3, 243.
At the beginning of the Pentecostal season Christ’s “breath” imparted the Holy Spirit to the disciples, but some doubted.
Vào đầu mùa Lễ Ngũ Tuần, "hơi thở" của Chúa Kitô đã ban Thánh Thần cho các môn đệ, nhưng một số người đã nghi ngờ.
But Thomas, one of the twelve, called Didymus, was not with them when Jesus came. The other disciples therefore said unto him, We have seen the Lord. But he said unto them, Except I shall see in his hands the print of the nails, and put my finger into the print of the nails, and thrust my hand into his side, I will not believe. John 2:24, 25.
Nhưng Tôma, một trong mười hai môn đồ, gọi là Điđimô, đã không ở với họ khi Chúa Giê-su đến. Vì vậy các môn đồ khác nói với ông: Chúng tôi đã thấy Chúa. Nhưng ông nói với họ: Nếu tôi không thấy dấu đinh trên tay Ngài, không đưa ngón tay tôi vào chỗ dấu đinh, và không đặt tay tôi vào cạnh sườn Ngài, thì tôi sẽ không tin. Giăng 2:24, 25.
The Pentecostal period began a period of “testing,” starting with the breath of Christ and Thomas’ controversy of doubt. Thomas’ controversy at the beginning typifies the controversy of the Jews at the ending of the Pentecostal season. Christ imparted His word and the Holy Spirit to the disciples at the beginning, and the disciples imparted the word and the Holy Spirit to the world at the end of the Pentecostal season.
Thời kỳ Ngũ Tuần mở ra một giai đoạn "thử thách", khởi đầu với hơi thở của Đấng Christ và cuộc tranh luận về sự nghi ngờ của Tôma. Cuộc tranh luận của Tôma lúc ban đầu tiêu biểu cho cuộc tranh luận của người Do Thái vào cuối thời kỳ Ngũ Tuần. Lúc ban đầu, Đấng Christ đã truyền ban lời Ngài và Đức Thánh Linh cho các môn đồ, và vào cuối thời kỳ Ngũ Tuần, các môn đồ đã truyền ban lời và Đức Thánh Linh cho thế gian.
The work that Christ accomplished when He breathed upon the disciples was a second witness to the same work He had just accomplished with the disciples on the road to Emmaus.
Công việc mà Chúa Kitô đã hoàn tất khi Ngài thổi hơi trên các môn đồ là một lời chứng thứ hai cho cùng một công việc mà Ngài vừa mới hoàn tất với các môn đồ trên đường đến Emmaus.
And it came to pass, that, while they communed together and reasoned, Jesus himself drew near, and went with them. But their eyes were holden that they should not know him. …
Và xảy ra rằng, khi họ cùng trò chuyện và bàn luận, chính Chúa Giê-su đến gần và đi cùng họ. Nhưng mắt họ bị che khuất nên họ không nhận ra Ngài. ...
Then he said unto them, O fools, and slow of heart to believe all that the prophets have spoken: Ought not Christ to have suffered these things, and to enter into his glory? And beginning at Moses and all the prophets, he expounded unto them in all the scriptures the things concerning himself. And they drew nigh unto the village, whither they went: and he made as though he would have gone further. But they constrained him, saying, Abide with us: for it is toward evening, and the day is far spent. And he went in to tarry with them. And it came to pass, as he sat at meat with them, he took bread, and blessed it, and brake, and gave to them. And their eyes were opened, and they knew him; and he vanished out of their sight. And they said one to another, Did not our heart burn within us, while he talked with us by the way, and while he opened to us the scriptures? Luke 24:15, 16, 25–32.
Bấy giờ Ngài nói với họ: Hỡi kẻ dại dột và chậm lòng tin mọi điều các đấng tiên tri đã nói! Há chẳng phải Đấng Christ phải chịu những điều này rồi bước vào vinh hiển của Ngài sao? Rồi, bắt đầu từ Môi-se và tất cả các đấng tiên tri, Ngài giải nghĩa cho họ trong toàn bộ Kinh Thánh những điều liên quan đến chính Ngài. Khi họ đến gần ngôi làng mà họ định đến, Ngài làm như muốn đi xa hơn. Nhưng họ nài ép Ngài, nói rằng: Xin ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, ngày đã gần tàn. Và Ngài vào để ở lại với họ. Khi Ngài ngồi ăn với họ, Ngài lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra và trao cho họ. Mắt họ được mở ra, họ nhận biết Ngài; rồi Ngài biến mất khỏi mắt họ. Họ nói với nhau: Lòng chúng ta há chẳng bừng cháy khi Ngài trò chuyện với chúng ta dọc đường và khi Ngài mở Kinh Thánh cho chúng ta sao? Lu-ca 24:15, 16, 25-32.
Just as Jesus “sat with meat” in Emmaus, He thereafter ate with the disciples. In both instances eating is represented. Together they identify that the beginning of the Pentecostal period is marked by the breath of the Holy Spirit and also by eating. The opening events produces a controversy between a class who believes and a class who doubts. The eating, the impartation of the Holy Spirit and the opening of the Scriptures include that Christ began His instruction with “Moses and all the prophets.” Christ’s teaching was conveyed by taking the prophetic line of Moses and aligning it with the lines of all the prophets, here a little and there a little.
Cũng như Chúa Giê-xu “ngồi dùng bữa” tại Em-ma-út, sau đó Ngài ăn cùng các môn đồ. Trong cả hai trường hợp, việc ăn uống được nêu ra. Hai điều đó cho thấy rằng khởi đầu thời kỳ Lễ Ngũ Tuần được đánh dấu bởi hơi thở của Đức Thánh Linh và cũng bởi việc ăn uống. Những sự kiện mở đầu gây ra một cuộc tranh cãi giữa một nhóm tin và một nhóm hoài nghi. Việc ăn uống, sự ban cho Đức Thánh Linh và việc mở Kinh Thánh bao gồm việc Đấng Christ bắt đầu sự dạy dỗ của Ngài với “Môi-se và tất cả các nhà tiên tri.” Sự dạy dỗ của Đấng Christ được truyền đạt bằng cách lấy đường lối tiên tri của Môi-se và đối chiếu với các đường lối của mọi nhà tiên tri, chỗ này một chút, chỗ kia một chút.
On 9/11 the breath of the four winds of Ezekiel blew upon the dead dry bones of chapter thirty-seven. At that time, as typified by the angel who descended on August 11, 1840 and empowered the first angel’s message, the angel of Revelation eighteen descended with a message that must be eaten, as did the disciples eat at the beginning of the Pentecostal period. The unwillingness of Thomas to believe identifies that when the message is introduced a shaking is marked.
Vào ngày 11/9, hơi thở từ bốn phương gió trong sách Ê-xê-chi-ên đã thổi trên những bộ xương khô chết trong chương ba mươi bảy. Vào thời điểm đó, như được tiêu biểu bởi thiên sứ đã giáng xuống vào ngày 11 tháng 8 năm 1840 và làm mạnh mẽ sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thiên sứ của Khải Huyền mười tám đã giáng xuống với một sứ điệp phải được ăn lấy, như các môn đồ đã ăn vào lúc khởi đầu thời kỳ Ngũ Tuần. Sự miễn cưỡng của Tô-ma trong việc tin cho thấy rằng việc giới thiệu sứ điệp đánh dấu một cuộc sàng sảy.
Speaking of the fall of the Twin Towers on 9/11 we are told that the Lord arose to “shake terribly the nations.” It is important to remember that a “shaking” among God’s people is accomplished by those who are fighting against a message of truth. There are “shakings” that are external, but internal shakings within the church occur in the environment of a message being presented.
Nói về sự sụp đổ của Tháp Đôi vào ngày 11/9, người ta nói rằng Chúa đã trỗi dậy để “làm các dân tộc rúng động dữ dội.” Điều quan trọng cần nhớ là một sự “rung chuyển” giữa dân sự của Đức Chúa Trời được gây nên bởi những người đang chống đối một sứ điệp của lẽ thật. Có những sự “rung chuyển” mang tính bên ngoài, nhưng những rung chuyển bên trong hội thánh xảy ra trong bối cảnh một sứ điệp đang được trình bày.
“I asked the meaning of the shaking I had seen and was shown that it would be caused by the straight testimony called forth by the counsel of the True Witness to the Laodiceans. This will have its effect upon the heart of the receiver, and will lead him to exalt the standard and pour forth the straight truth. Some will not bear this straight testimony. They will rise up against it, and this is what will cause a shaking among God’s people.
Tôi hỏi ý nghĩa của sự sàng sẩy mà tôi đã thấy, và được cho thấy rằng nó sẽ do lời chứng thẳng thắn, được khơi dậy bởi lời khuyên răn của Đấng Làm Chứng Chân Thật gửi đến những người La-ô-đi-xê, gây ra. Điều này sẽ tác động đến tấm lòng của người tiếp nhận, và sẽ dẫn người ấy đến chỗ nâng cao tiêu chuẩn và tuôn ra lẽ thật thẳng thắn. Một số người sẽ không chịu nổi lời chứng thẳng thắn này. Họ sẽ dấy lên chống lại nó, và chính điều này sẽ gây ra sự sàng sẩy giữa dân của Đức Chúa Trời.
“I saw that the testimony of the True Witness has not been half heeded. The solemn testimony upon which the destiny of the church hangs has been lightly esteemed, if not entirely disregarded. This testimony must work deep repentance; all who truly receive it will obey it and be purified.” Early Writings, 271.
Tôi thấy rằng lời chứng của Nhân Chứng Chân Thật đã không được lưu tâm dù chỉ một nửa. Lời chứng trang nghiêm, mà số phận của Hội Thánh tùy thuộc vào đó, đã bị coi nhẹ, nếu không muốn nói là bị hoàn toàn phớt lờ. Lời chứng này phải gây nên sự ăn năn sâu xa; tất cả những ai thật sự tiếp nhận nó sẽ vâng theo và được tinh sạch. Early Writings, 271.
The internal “shaking” is caused by those who resist the presentation of the Laodicean message. Sister White identifies Jones and Waggoner’s message of 1888 as the Laodicean message.
Sự “rung chuyển” nội bộ do những người chống đối việc trình bày sứ điệp Lao-đi-xê gây ra. Bà White xác định sứ điệp năm 1888 của Jones và Waggoner là sứ điệp Lao-đi-xê.
“The message given us by A. T. Jones, and E. J. Waggoner is the message of God to the Laodicean church, and woe be unto anyone who professes to believe the truth and yet does not reflect to others the God-given rays.” The 1888 Materials, 1053.
"Sứ điệp được A. T. Jones và E. J. Waggoner ban cho chúng ta là sứ điệp của Đức Chúa Trời gửi cho Hội thánh Lao-đi-xê, và khốn thay cho bất cứ ai tự xưng là tin lẽ thật mà lại không phản chiếu cho người khác những tia sáng do Đức Chúa Trời ban." Tài liệu 1888, 1053.
The resistance to the Laodicean message produces a shaking and Sister White aligns the message of 1888 with the descent of the angel of Revelation eighteen.
Sự chống đối sứ điệp La-ô-đi-xê gây ra một cuộc sàng sảy, và bà White gắn sứ điệp năm 1888 với sự giáng xuống của thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười tám.
“An unwillingness to yield up preconceived opinions, and to accept this truth, lay at the foundation of a large share of the opposition manifested at Minneapolis against the Lord’s message through Brethren Waggoner and Jones. By exciting that opposition Satan succeeded in shutting away from our people, in a great measure, the special power of the Holy Spirit that God longed to impart to them. The enemy prevented them from obtaining that efficiency which might have been theirs in carrying the truth to the world, as the apostles proclaimed it after the day of Pentecost. The light that is to lighten the whole earth with its glory was resisted, and by the action of our own brethren has been in a great degree kept away from the world.” Selected Messages, book 1, 235.
“Sự không sẵn lòng từ bỏ những ý kiến định sẵn và chấp nhận lẽ thật này nằm ở nền tảng của phần lớn sự chống đối được bày tỏ tại Minneapolis đối với sứ điệp của Chúa qua các anh em Waggoner và Jones. Bằng cách khơi dậy sự chống đối ấy, Satan đã thành công trong việc, ở mức độ lớn, ngăn chặn khỏi dân sự của chúng ta quyền năng đặc biệt của Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời hằng ao ước ban cho họ. Kẻ thù đã ngăn họ đạt được hiệu quả mà lẽ ra họ có trong việc mang lẽ thật đến cho thế giới, như các sứ đồ đã rao giảng sau ngày Lễ Ngũ Tuần. Ánh sáng vốn sẽ chiếu rạng cả trái đất bằng vinh quang của mình đã bị chống đối, và bởi hành động của chính các anh em của chúng ta đã bị, ở mức độ lớn, ngăn không cho đến với thế gian.” Selected Messages, quyển 1, 235.
The doubt of Thomas at the beginning of the Pentecostal season, typifying the rebellion against the message that arrived on the day of Pentecost, typified the shaking that occurred when the leadership of Seventh-day Adventism stood up and resisted the message to the Laodicean church as presented by Jones and Waggoner in 1888. In 1888 the mighty angel of Revelation eighteen descended to lighten the earth with His glory, but due in large part to unwillingness of those leaders to set aside preconceived opinions the rebellion of Korah, Dathan and Abiram was repeated. Thomas, the Jews at Pentecost, Korah’s rebellion in the time of Moses, the rebellion of 1888 all typify 9/11 when, according to Joel—a trumpet was to be blown. That trumpet, according to Isaiah was blown to identify the sins of God’s people, thus typifying 1888 and the message to Laodicea. Jeremiah’s watchman, who blows the trumpet to return to the “old paths” aligns with Isaiah lifting up his voice as a trumpet. Jeremiah’s watchmen are Habakkuk’s watchmen who asks the question about what will be his position in the argument or debate of his history?
Sự nghi ngờ của Tôma vào đầu mùa Lễ Ngũ Tuần, tiêu biểu cho sự chống nghịch đối với sứ điệp đã đến vào ngày Lễ Ngũ Tuần, tiêu biểu cho sự rúng động xảy ra khi giới lãnh đạo của Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm (Ngày Thứ Bảy) đứng lên và kháng cự sứ điệp gửi cho hội thánh La-ô-đi-xê do Jones và Waggoner trình bày vào năm 1888. Năm 1888, thiên sứ quyền năng của Khải Huyền đoạn mười tám đã giáng xuống để chiếu sáng đất bằng vinh quang của Ngài, nhưng phần lớn vì những người lãnh đạo ấy không sẵn lòng gác bỏ các ý kiến định kiến của mình, nên sự phản loạn của Cô-ra, Đa-than và A-bi-ram đã được lặp lại. Tôma, người Do Thái tại Lễ Ngũ Tuần, cuộc phản loạn của Cô-ra trong thời Môi-se, cuộc phản loạn năm 1888 — tất cả đều tiêu biểu cho 9/11 khi, theo Giô-ên, một tiếng kèn phải được thổi. Theo Ê-sai, tiếng kèn ấy được thổi để chỉ ra tội lỗi của dân Đức Chúa Trời, qua đó tiêu biểu cho năm 1888 và sứ điệp gửi cho La-ô-đi-xê. Người lính canh của Giê-rê-mi, người thổi kèn để kêu gọi trở về “những nẻo xưa”, hòa hợp với Ê-sai khi cất tiếng mình như tiếng kèn. Những người lính canh của Giê-rê-mi chính là những người lính canh của Ha-ba-cúc, người đặt câu hỏi về việc ông sẽ đứng ở vị trí nào trong cuộc tranh luận của thời đại mình?
I will stand upon my watch, and set me upon the tower, and will watch to see what he will say unto me, and what I shall answer when I am reproved. Habakkuk 2:1.
Tôi sẽ đứng nơi vọng gác của mình, lên tháp canh, và chờ xem Ngài sẽ nói gì với tôi, và tôi sẽ đáp thế nào khi bị quở trách. Ha-ba-cúc 2:1.
The word “reproved” means “rebuked or argued with” and it infers a question, for the next verse provides an answer.
Từ "reproved" có nghĩa là "bị khiển trách hoặc bị cãi lại" và nó hàm ý một câu hỏi, vì câu tiếp theo đưa ra một câu trả lời.
And the Lord answered me, and said, Write the vision, and make it plain upon tables, that he may run that readeth it. Habakkuk 2:2.
Đức Giê-hô-va đáp lại ta và phán: Hãy chép khải tượng, ghi cho rõ trên các bảng, hầu cho ai đọc được thì chạy. Ha-ba-cúc 2:2.
The “debate” or shaking that began in fulfillment of Millerite history was the message of William Miller and his rules of prophetic interpretations versus the theologians of Protestantism. The debate in Millerite history began with the confirmation of the Millerite message on August 11, 1840 when no “less a personage than Jesus Christ” descended with a little book that John was to take and eat. The argument of the watchmen of Habakkuk, the doubts of Thomas, the rebellion of 1888, the rebellion of Korah, the argument of drunkenness at Pentecost all witness to a debate which began at 9/11. The controversy which is debated is over the message of the latter rain, which began to sprinkle on 9/11.
Cuộc “tranh luận” hay sự rúng động khởi đầu trong sự ứng nghiệm của lịch sử phong trào Miller là sự đối đầu giữa sứ điệp của William Miller cùng các quy tắc giải nghĩa lời tiên tri của ông với các nhà thần học Tin Lành. Cuộc tranh luận trong lịch sử phong trào Miller bắt đầu với sự xác chứng cho sứ điệp Millerite vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, khi “không phải ai khác hơn chính Chúa Giê-su” giáng xuống cùng với một quyển sách nhỏ mà Giăng phải lấy và ăn. Lập luận của những người lính canh trong sách Ha-ba-cúc, sự nghi ngờ của Tô-ma, cuộc dấy loạn năm 1888, cuộc nổi loạn của Cô-ra, và lập luận cho rằng có người say rượu tại Lễ Ngũ Tuần—tất cả đều làm chứng cho một cuộc tranh luận đã bắt đầu vào ngày 9/11. Cuộc tranh cãi được bàn đến là về sứ điệp mưa mùa sau, vốn đã bắt đầu rơi lác đác vào ngày 9/11.
The answer in Habakkuk that led the Millerites to produce the 1843 chart connects with the development of two classes of worshippers represented Korah and associates versus Moses, by Thomas and the other disciples; the Jews argument of drunkenness at Pentecost, the leadership of Adventism in 1888; the Protestants versus the Millerites in 1844 and the foolish and wise virgins of October 22, 1844.
Câu trả lời trong sách Ha-ba-cúc, điều đã dẫn dắt những người theo Miller lập ra biểu đồ năm 1843, có liên hệ với sự hình thành hai hạng người thờ phượng, được minh họa qua các cặp: Cô-ra và đồng đảng đối nghịch với Môi-se; Tô-ma và các môn đồ khác; lập luận của người Do Thái rằng các môn đồ say rượu vào ngày Lễ Ngũ Tuần; giới lãnh đạo Phong trào Phục Lâm năm 1888; người Tin Lành đối nghịch với những người theo Miller năm 1844; và các trinh nữ khờ dại và khôn ngoan vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.
On 9/11 Christ breathed upon His disciples the Holy Spirit as a few drops before the full outpouring at the Sunday law. He then opened their understanding to the prophetic message beginning, “line upon line” with Moses by leading those disciples back to Jeremiah’s old paths where they were anointed to blow a warning trumpet. Christ breath at 9/11 came from Ezekiel’s and John’s four winds and it was the Laodicean message, which is the “straight testimony” which causes a shaking as it is resisted. 1888 typifies the rebellion of Korah, Dathan and Abiram, for it was not only the message which was being rejected, but also the chosen watchmen that were giving the trumpet a certain sound.
Vào ngày 11/9, Đấng Christ hà hơi ban Thánh Linh trên các môn đồ của Ngài như vài giọt trước sự tuôn đổ trọn vẹn vào thời điểm luật Chủ nhật. Sau đó Ngài mở trí hiểu biết của họ về sứ điệp tiên tri, khởi đầu “dòng trên dòng” với Môi-se bằng cách dẫn các môn đồ ấy trở lại các nẻo xưa của Giê-rê-mi, nơi họ được xức dầu để thổi kèn cảnh báo. Hơi thở của Đấng Christ tại 11/9 đến từ bốn luồng gió của Ê-xê-chi-ên và Giăng, và đó là sứ điệp Lao-đi-xê, tức “lời chứng thẳng thắn” gây ra sự rúng động khi nó bị chống đối. Năm 1888 tiêu biểu cho cuộc nổi loạn của Cô-ra, Đa-than và A-bi-ram, vì khi ấy không chỉ sứ điệp bị khước từ, mà cả những người canh gác được chọn, những người thổi kèn với tiếng kèn rõ ràng, cũng bị từ chối.
Sister White penned that the, “shaking I had seen” “would be caused by the straight testimony called forth by the counsel of the True Witness to the Laodiceans.” The 1888 message was that straight testimony, and both 1888 and 9/11 mark the descent of the angel of Revelation eighteen.
Bà White đã viết rằng “sự rúng động mà tôi đã thấy” “sẽ do lời chứng thẳng thắn được kêu gọi bởi lời khuyên của Chứng Nhân Chân Thật dành cho người Laodicê” gây ra. Sứ điệp năm 1888 chính là lời chứng thẳng thắn ấy, và cả 1888 lẫn 9/11 đều đánh dấu sự giáng xuống của thiên sứ trong Khải Huyền 18.
“A straight testimony must be borne to our churches and institutions, to arouse the sleeping ones.’
"Một lời chứng thẳng thắn phải được trình bày cho các hội thánh và các tổ chức của chúng ta, để đánh thức những người đang ngủ.'"
“When the word of the Lord is believed and obeyed, steady advancement will be made. Let us now see our great need. The Lord cannot use us until he breathes life into the dry bones. I heard the words spoken: ‘Without the deep moving of the Spirit of God upon the heart, without its life-giving influence, truth becomes a dead letter.’” Review and Herald, November 18, 1902.
"Khi lời của Chúa được tin và vâng theo, sẽ có sự tiến triển vững chắc. Giờ đây, chúng ta hãy nhận ra nhu cầu lớn lao của chúng ta. Chúa không thể dùng chúng ta cho đến khi Ngài thổi sự sống vào những bộ xương khô. Tôi nghe có lời phán: 'Nếu không có sự cảm động sâu xa của Thánh Linh của Đức Chúa Trời trên lòng, nếu không có ảnh hưởng ban sự sống của Ngài, lẽ thật trở thành chữ chết.'" Review and Herald, ngày 18 tháng 11 năm 1902.
At 9/11 the Laodicean message reached its perfect fulfillment as the last call to God’s former covenant people began to be sounded. It is then that Sister White notes, “A straight testimony must be borne to our churches and institutions, to arouse the sleeping ones.” The Laodicean message began when the angel of Revelation eighteen descended at 9/11, which means that at 9/11 the message to Laodicean Seventh-day Adventists was and is to “awake.” Joel commanded the drunkards to awake in verse five of chapter one. 9/11 marks the arrival of the final testing period for Adventism and it represents Joel’s command to awake. The beginning of the Pentecostal season starts with an awakening of God’s people at 9/11 and ends with the fulfillment of the parable of the ten virgins just before the Sunday law.
Vào 9/11, sứ điệp La-ô-đi-xê đạt đến sự ứng nghiệm trọn vẹn khi lời kêu gọi sau cùng gửi đến dân giao ước trước đây của Đức Chúa Trời bắt đầu vang lên. Chính khi ấy, Bà White ghi nhận: “Một lời chứng thẳng thắn phải được trình bày cho các hội thánh và các cơ sở của chúng ta, để đánh thức những kẻ đang ngủ.” Sứ điệp La-ô-đi-xê khởi đầu khi thiên sứ của Khải Huyền đoạn mười tám giáng xuống vào 9/11, nghĩa là vào 9/11 sứ điệp gửi đến những người Cơ Đốc Phục Lâm La-ô-đi-xê là và vẫn là “hãy tỉnh thức.” Giô-ên truyền cho những kẻ say sưa hãy tỉnh thức trong câu năm của chương một. 9/11 đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ thử thách cuối cùng cho Cơ Đốc Phục Lâm, và nó đại diện cho mệnh lệnh “hãy tỉnh thức” của Giô-ên. Thời kỳ Ngũ Tuần bắt đầu bằng sự thức tỉnh của dân Đức Chúa Trời vào 9/11 và kết thúc với sự ứng nghiệm của dụ ngôn mười trinh nữ ngay trước luật ngày Chủ nhật.
The awakening at 9/11 is a call to the final generation of a covenant people who are in apostasy. The awakening just before the Sunday law closes the door on the former covenant people. The beginning and the ending are the same and in July of 2023 the two witnesses of Revelation eleven were awakened to the rebellion of the prediction of July 18, 2020. The middle awakening is represented by rebellion, which identifies 9/11 as the first letter of the Hebrew alphabet, July 18, 2020 as the thirteenth letter and the Sunday law as the twenty-second and last letter of the Hebrew alphabet. The twenty-second letter represents the combination of divinity with humanity that is finalized in the last of those three awakenings.
Sự thức tỉnh tại 9/11 là lời kêu gọi dành cho thế hệ cuối cùng của dân giao ước đang ở trong tình trạng bội đạo. Sự thức tỉnh ngay trước luật Chủ nhật đóng lại cánh cửa đối với dân giao ước trước kia. Khởi đầu và kết thúc là như nhau, và vào tháng 7 năm 2023, hai nhân chứng trong Khải Huyền chương mười một đã được thức tỉnh về sự phản loạn của lời tiên đoán ngày 18 tháng 7 năm 2020. Sự thức tỉnh ở giữa được biểu trưng bằng sự phản loạn, điều này xác định 9/11 là chữ cái thứ nhất của bảng chữ cái Do Thái, ngày 18 tháng 7 năm 2020 là chữ cái thứ mười ba, và luật Chủ nhật là chữ cái thứ hai mươi hai, cũng là chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái Do Thái. Chữ cái thứ hai mươi hai tượng trưng cho sự kết hợp giữa thần tính và nhân tính, được hoàn tất trong sự thức tỉnh cuối cùng trong ba sự thức tỉnh ấy.
The Lord “breathes life into the dry bones” at 9/11, just as He breathed the Holy Spirit on the disciples at the beginning of the Pentecostal period. The disciples after His ascension represent those who received the Holy Spirit, and who thereafter had their understanding of the prophetic Word opened up through the methodology of “line upon line.” The reception of the Holy Spirit occurred while eating a meal, for to spiritually eat requires that you eat the flesh and drink the blood of Jesus, who is the Word.
Chúa “thổi sự sống vào những bộ xương khô” vào 9/11, cũng như Ngài đã hà hơi ban Đức Thánh Linh trên các môn đồ vào lúc khởi đầu thời kỳ Ngũ Tuần. Các môn đồ sau khi Ngài thăng thiên đại diện cho những người đã nhận lãnh Đức Thánh Linh, và sau đó sự hiểu biết về Lời tiên tri của họ được mở ra qua phương pháp “dòng trên dòng.” Việc nhận lãnh Đức Thánh Linh diễn ra trong khi đang dùng bữa, vì để ăn một cách thuộc linh, bạn phải ăn thịt và uống huyết của Chúa Giê-xu, là Lời.
The rebels who joined with Korah, Dathan and Abiram represent (as do the leadership of Adventism in 1888) the class who cause the shaking by opposing the trumpet message identifying the sins of God’s people, and while also calling for a return to the old paths, the foundational truths represented by the “seven times” of Leviticus twenty-six. The trumpet is calling for both revival and reformation. The first of Miller’s prophetic jewels, and also the first to be rejected by Adventism represents the beginning and ending of the Millerite movement. The beginning and ending of the message of the first angel as proclaimed by the Millerites is marked by Moses’ “seven times.” In the beginning it was accepted, at the end it was rejected. Due to that rejection Ezekiel presents Adventism as a valley of dead dry bones. The period from 1863 unto the Sunday law in the United States is the valley of vision, according to Isaiah twenty-two, but it is a valley of dead dry bones according to Ezekiel. Both of those prophetic valleys align with Joel’s valley of Jehoshaphat, which Joel also identifies as the valley of decision.
Những kẻ phản nghịch liên kết với Cô-rê, Đa-than và A-bi-ram (cũng như giới lãnh đạo Cơ Đốc Phục Lâm năm 1888) tượng trưng cho hạng người gây ra sự rúng động bằng cách chống đối sứ điệp tiếng kèn, sứ điệp phơi bày tội lỗi của dân Đức Chúa Trời và kêu gọi trở về các đường lối xưa, tức những lẽ thật nền tảng được biểu trưng bởi “bảy lần” trong Lê-vi Ký 26. Tiếng kèn ấy kêu gọi cả sự phục hưng lẫn sự cải chánh. Viên “ngọc” tiên tri thứ nhất của Miller—và cũng là điều đầu tiên bị Cơ Đốc Phục Lâm khước từ—tiêu biểu cho sự khởi đầu và kết thúc của phong trào Millerite. Sự khởi đầu và kết thúc của sứ điệp thiên sứ thứ nhất do những người Millerite rao giảng được đánh dấu bởi “bảy lần” của Môi-se. Ban đầu điều ấy được chấp nhận, về cuối thì bị bác bỏ. Vì sự khước từ đó, Ê-xê-chi-ên mô tả Cơ Đốc Phục Lâm như một thung lũng xương khô chết chóc. Theo Ê-sai 22, giai đoạn từ năm 1863 đến khi ban hành luật ngày Chủ nhật tại Hoa Kỳ là thung lũng khải tượng, nhưng theo Ê-xê-chi-ên đó là một thung lũng xương khô chết chóc. Cả hai thung lũng tiên tri ấy tương ứng với thung lũng Giê-hô-sa-phát của Giô-ên, mà ông cũng gọi là thung lũng quyết định.
With these concepts in place the question may be asked how is it that at 9/11 the book of Joel became the message Peter identified at Pentecost? We’ll try to clarify these concepts in the following articles.
Khi đã nắm được những khái niệm này, có thể đặt câu hỏi: làm sao mà vào thời điểm 9/11, sách Giô-ên lại trở thành sứ điệp mà Phê-rô đã xác định tại Lễ Ngũ Tuần? Chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ những khái niệm này trong các bài viết tiếp theo.
“(Written November 5, 1892, from Adelaide, South Australia, to ‘Dear Nephew and Niece, Frank and Hattie [Belden].’)
(Viết ngày 5 tháng 11 năm 1892, từ Adelaide, Nam Úc, gửi 'Cháu trai và cháu gái thân mến, Frank và Hattie [Belden].')
“When you are enlightened by the Holy Spirit, you will see all that wickedness at Minneapolis as it is, as God looks upon it. If I never see you again in this world, be assured that I forgive you the sorrow and distress and burden of soul you have brought upon me without any cause. But for your soul’s sake, for the sake of Him who died for you, I want you to see and confess your errors. You did unite with those who resisted the Spirit of God. You had all the evidence that you needed that the Lord was working through Brethren Jones and Waggoner; but you did not receive the light; and after the feelings indulged, the words spoken against the truth, you did not feel ready to confess that you had done wrong, that these men had a message from God, and you had made light of both message and messengers.
Khi bạn được Đức Thánh Linh soi sáng, bạn sẽ thấy tất cả sự gian ác ở Minneapolis đúng như nó là, như Đức Chúa Trời nhìn xem nó. Nếu tôi không bao giờ gặp lại bạn nữa trong đời này, hãy biết rằng tôi đã tha thứ cho bạn về nỗi buồn, sự phiền não và gánh nặng linh hồn mà bạn đã vô cớ gây cho tôi. Nhưng vì linh hồn bạn, vì cớ Đấng đã chết vì bạn, tôi muốn bạn nhìn thấy và xưng nhận những sai lầm của mình. Bạn đã liên kết với những người chống lại Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Bạn đã có đầy đủ bằng chứng cần thiết rằng Chúa đang làm việc qua anh em Jones và Waggoner; nhưng bạn đã không tiếp nhận ánh sáng; và sau khi nuông chiều cảm xúc, nói những lời chống lại lẽ thật, bạn đã không thấy sẵn sàng để xưng nhận rằng mình đã làm sai, rằng những người này có một sứ điệp từ Đức Chúa Trời, và rằng bạn đã xem nhẹ cả sứ điệp lẫn các sứ giả.
“Never before have I seen among our people such firm self-complacency and unwillingness to accept and acknowledge light as was manifested at Minneapolis. I have been shown that not one of the company who cherished the spirit manifested at that meeting would again have clear light to discern the preciousness of the truth sent them from heaven until they humbled their pride and confessed that they were not actuated by the Spirit of God, but that their minds and hearts were filled with prejudice. The Lord desired to come near to them, to bless them and heal them of their backslidings, but they would not hearken. They were actuated by the same spirit that inspired Korah, Dathan, and Abiram. Those men of Israel were determined to resist all evidence that would prove them to be wrong, and they went on and on in their course of disaffection until many were drawn away to unite with them.
Chưa bao giờ tôi thấy trong dân chúng ta có sự tự mãn cứng cỏi và sự không muốn chấp nhận, thừa nhận ánh sáng như đã bộc lộ tại Minneapolis. Tôi đã được cho thấy rằng không một ai trong nhóm người đã nuôi dưỡng tinh thần biểu lộ tại cuộc họp ấy sẽ lại có ánh sáng rõ ràng để nhận ra giá trị quý báu của lẽ thật được từ trời sai đến với họ, cho đến khi họ hạ bớt lòng kiêu ngạo và xưng nhận rằng họ không được Thánh Linh của Đức Chúa Trời thúc đẩy, nhưng tâm trí và lòng dạ họ đầy dẫy thành kiến. Chúa mong muốn đến gần họ, ban phước cho họ và chữa lành sự bội bạc của họ, nhưng họ không chịu nghe. Họ bị thúc đẩy bởi cùng một tinh thần đã xúi giục Korah, Dathan và Abiram. Những người ấy trong dân Israel đã quyết tâm kháng cự mọi bằng chứng chứng tỏ họ sai, và họ cứ tiếp tục con đường bất mãn của mình cho đến khi nhiều người bị lôi kéo mà hiệp với họ.
“Who were these? Not the weak, not the ignorant, not the unenlightened. In that rebellion there were two hundred and fifty princes famous in the congregation, men of renown. What was their testimony? ‘all the congregation are holy, every one of them, and the Lord is among them: wherefore then lift ye up yourselves above the congregation of the Lord?’ [Numbers 16:3]. When Korah and his companions perished under the judgment of God, the people whom they had deceived saw not the hand of the Lord in this miracle. The whole congregation the next morning charged Moses and Aaron, ‘Ye have killed the people of the Lord’ [verse 41], and the plague was upon the congregation, and more than fourteen thousand perished.
Họ là ai? Không phải kẻ yếu đuối, không phải kẻ dốt nát, không phải kẻ chưa được soi sáng. Trong cuộc nổi loạn ấy có hai trăm năm mươi thủ lĩnh danh tiếng trong hội chúng, những người có tên tuổi. Lời tuyên bố của họ là gì? “Toàn thể hội chúng đều là thánh, ai nấy đều vậy, và Chúa ở giữa họ; vậy thì tại sao các ngươi tự tôn mình lên trên hội chúng của Chúa?” [Dân Số Ký 16:3]. Khi Cô-ra và các đồng bạn của ông bị tiêu diệt dưới án phạt của Đức Chúa Trời, những người mà họ đã lừa dối không nhận ra bàn tay của Chúa trong phép lạ này. Sáng hôm sau, cả hội chúng đồng loạt quy tội cho Môi-se và A-rôn: “Các ông đã giết dân của Chúa” [câu 41]; rồi tai vạ giáng trên hội chúng, và hơn mười bốn nghìn người đã chết.
“When I purposed to leave Minneapolis, the angel of the Lord stood by me and said: ‘Not so; God has a work for you to do in this place. The people are acting over the rebellion of Korah, Dathan, and Abiram. I have placed you in your proper position, which those who are not in the light will not acknowledge; they will not heed your testimony; but I will be with you; My grace and power shall sustain you. It is not you they are despising, but the messengers and the message I send to My people. They have shown contempt for the word of the Lord. Satan has blinded their eyes and perverted their judgment; and unless every soul shall repent of this their sin, this unsanctified independence that is doing insult to the Spirit of God, they will walk in darkness. I will remove the candlestick out of his place except they repent and be converted, that I should heal them. They have obscured their spiritual eyesight. They would not that God would manifest His Spirit and His power; for they have a spirit of mockery and disgust at My word. Lightness, trifling, jesting, and joking are daily practiced. They have not set their hearts to seek Me. They walk in the sparks of their own kindling, and unless they repent they shall lie down in sorrow. Thus saith the Lord: Stand at your post of duty; for I am with thee, and will not leave thee nor forsake thee.’ These words from God I have not dared to disregard.
Khi tôi định rời Minneapolis, thiên sứ của Chúa đứng bên tôi và phán: 'Không phải vậy; Đức Chúa Trời có một công việc để con làm tại nơi này. Dân sự đang lặp lại cuộc phản loạn của Korah, Dathan và Abiram. Ta đã đặt con vào vị trí thích hợp của con, điều mà những kẻ không ở trong ánh sáng sẽ không thừa nhận; họ sẽ không lắng nghe lời chứng của con; nhưng Ta sẽ ở cùng con; ân điển và quyền năng Ta sẽ nâng đỡ con. Không phải con mà họ khinh bỉ, nhưng là các sứ giả và sứ điệp Ta sai đến cho dân Ta. Họ đã tỏ sự khinh bỉ đối với lời của Chúa. Sa-tan đã làm mù mắt họ và làm lệch lạc sự phán đoán của họ; và trừ khi mọi linh hồn ăn năn về tội lỗi này của họ, về sự độc lập không được thánh hóa đang xúc phạm đến Thánh Linh của Đức Chúa Trời, họ sẽ bước đi trong tối tăm. Ta sẽ dời chân đèn khỏi chỗ của nó, trừ khi họ ăn năn và được biến cải, để Ta chữa lành họ. Họ đã làm mờ mắt thuộc linh của mình. Họ không muốn Đức Chúa Trời bày tỏ Thánh Linh và quyền năng của Ngài; vì họ có tinh thần nhạo báng và ghê tởm lời Ta. Tính nhẹ dạ, hời hợt, đùa cợt và giễu cợt diễn ra hằng ngày. Họ đã không để lòng tìm kiếm Ta. Họ bước đi trong những tia lửa do chính họ nhóm lên, và nếu không ăn năn, họ sẽ nằm xuống trong buồn rầu. Chúa phán như vầy: Hãy đứng ở vị trí bổn phận của con; vì Ta ở cùng con, sẽ không lìa con, cũng không bỏ con.' Những lời này từ Đức Chúa Trời tôi chẳng dám xem thường.
“Light has been shining in Battle Creek in clear, bright rays; but who of those that acted a part in the meeting at Minneapolis have come to the light and received the rich treasures of truth which the Lord sent them from heaven? Who have kept step and step with the Leader, Jesus Christ? Who have made full confession of their mistaken zeal, their blindness, their jealousies and evil surmisings, their defiance of truth? Not one; and because of their long neglect to acknowledge the light, it has left them far behind; they have not been growing in grace and in the knowledge of Christ Jesus our Lord. They have failed to receive the needed grace which they might have had, and which would have made them strong men in religious experience.
Ánh sáng đã chiếu rọi tại Battle Creek bằng những tia sáng rõ ràng, rực rỡ; nhưng trong số những người đã đóng một vai trò trong cuộc họp tại Minneapolis, ai đã đến với ánh sáng và tiếp nhận những kho tàng phong phú của lẽ thật mà Chúa đã gửi cho họ từ trời? Ai đã đi kịp từng bước với Vị Lãnh Đạo, Đức Chúa Giê-su Christ? Ai đã xưng thú trọn vẹn về lòng nhiệt thành sai lầm của mình, sự mù quáng, những ghen ghét và những ngờ vực ác ý, sự chống đối lẽ thật? Không một ai; và bởi vì lâu nay họ lơ là không thừa nhận ánh sáng, ánh sáng ấy đã để họ tụt lại rất xa; họ đã không lớn lên trong ân điển và trong sự hiểu biết về Đức Chúa Giê-su Christ, Chúa chúng ta. Họ đã không tiếp nhận ân điển cần thiết mà lẽ ra họ có thể có, và điều đó lẽ ra đã khiến họ trở nên những người mạnh mẽ trong kinh nghiệm thuộc linh.
“The position taken at Minneapolis was apparently an insurmountable barrier which in a great degree shut them in with doubters, questioners, with the rejecters of truth and the power of God. When another crisis comes, those who have so long resisted evidence piled upon evidence will again be tested upon the points where they failed so manifestly, and it will be hard for them to receive that which is from God and refuse that which is from the powers of darkness. Therefore their only safe course is to walk in humility, making straight paths for their feet, lest the lame be turned out of the way. It makes every difference whom we company with, whether it is with men who walk with God and who believe and trust Him, or with men who follow their own supposed wisdom, walking in the sparks of their own kindling.
Lập trường được đưa ra tại Minneapolis dường như là một rào cản không thể vượt qua, điều này ở mức độ lớn đã giam hãm họ cùng với những kẻ hoài nghi, những người chất vấn, cùng những kẻ khước từ chân lý và quyền năng của Đức Chúa Trời. Khi một cuộc khủng hoảng khác đến, những người lâu nay đã chống lại những bằng chứng chồng chất sẽ lại bị thử thách trên chính những điểm mà họ đã thất bại một cách hiển nhiên, và họ sẽ khó mà tiếp nhận điều đến từ Đức Chúa Trời và khước từ điều đến từ các quyền lực của bóng tối. Vì vậy, con đường an toàn duy nhất cho họ là bước đi trong sự khiêm nhường, làm thẳng các lối cho chân mình, kẻo kẻ què quặt bị trật khỏi đường lối. Việc chúng ta kết giao với ai tạo nên mọi khác biệt: hoặc với những người bước đi với Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài, hoặc với những người theo sự khôn ngoan tự cho là đúng của mình, bước đi trong đóm lửa do chính họ nhóm lên.
“The time and care and labor required to counteract the influence of those who have worked against the truth has been a terrible loss; for we might have been years ahead in spiritual knowledge; and many, many souls might have been added to the church if those who ought to have walked in the light had followed on to know the Lord, that they might know His going forth is prepared as the morning. But when so much labor has to be expended right in the church to counteract the influence of workers who have stood as a granite wall against the truth God sends to His people, the world is left in comparative darkness.
Thời gian, sự chăm sóc và công sức cần thiết để hóa giải ảnh hưởng của những người đã làm việc chống lại lẽ thật đã là một tổn thất khủng khiếp; vì lẽ ra chúng ta đã có thể đi trước nhiều năm trong tri thức thuộc linh; và rất, rất nhiều linh hồn đã có thể được thêm vào hội thánh nếu những người lẽ ra phải bước đi trong ánh sáng đã tiếp tục theo để biết Chúa, hầu họ biết sự xuất hiện của Ngài được chuẩn bị như buổi rạng đông. Nhưng khi phải bỏ ra quá nhiều công sức ngay trong hội thánh để hóa giải ảnh hưởng của những người làm việc đã đứng như một bức tường đá hoa cương chống lại lẽ thật mà Đức Chúa Trời sai đến cho dân Ngài, thì thế gian bị bỏ mặc trong bóng tối tương đối.
“God meant that the watchmen should arise and with united voices send forth a decided message, giving the trumpet a certain sound, that the people might all spring to their post of duty and act their part in the great work. Then the strong, clear light of that other angel who comes down from heaven having great power, would have filled the earth with his glory. We are years behind; and those who stood in blindness and hindered the advancement of the very message that God meant should go forth from the Minneapolis meeting as a lamp that burneth, have need to humble their hearts before God and see and understand how the work has been hindered by their blindness of mind and hardness of heart.
Đức Chúa Trời đã định rằng những người canh gác phải đứng dậy và đồng thanh rao ra một sứ điệp dứt khoát, cho tiếng kèn vang lên rõ ràng, hầu cho mọi người đều lập tức vào vị trí trách nhiệm của mình và làm tròn phần việc của họ trong công cuộc vĩ đại. Bấy giờ ánh sáng mạnh mẽ, trong sáng của vị thiên sứ khác, từ trời xuống, có quyền năng lớn, hẳn đã làm đầy dẫy đất bằng vinh quang của mình. Chúng ta đã chậm trễ nhiều năm; và những người đã ở trong tình trạng mù lòa và cản trở sự tiến triển của chính sứ điệp mà Đức Chúa Trời định phải phát ra từ cuộc nhóm họp ở Minneapolis như một ngọn đèn cháy sáng, cần phải khiêm nhường lòng mình trước mặt Đức Chúa Trời và thấy, hiểu rằng công việc đã bị cản trở như thế nào bởi sự mù lòa của tâm trí và sự cứng lòng của họ.
“Hours have been spent in quibbling over little things; golden opportunities have been wasted while heavenly messengers have grieved, impatient at the delay. The Holy Spirit—there has been so little appreciation of its value or the necessity for every soul to receive it. Those who do receive the heavenly endowment will go forth clad with the armor of righteousness to do battle for God. They will respect the leadings of the Lord and will be filled with gratitude to Him for His mercy. But in many, many places, and on many, many occasions, it could truthfully be said as in Christ’s day of those who profess to be God’s people, that not many mighty works could be done, because of their unbelief. Many who have been bound in fetters of darkness have been respected because God has used them, and their unbelief has aroused doubt and prejudice against the message of truth which angels of heaven were seeking to communicate through human agencies—justification by faith, the righteousness of Christ.” The 1888 Materials, 1066–1070.
Biết bao giờ đã bị lãng phí trong những tranh cãi vụn vặt về những điều nhỏ nhặt; những cơ hội vàng đã bị bỏ lỡ trong khi các thiên sứ buồn rầu, nôn nóng trước sự chậm trễ. Đức Thánh Linh—người ta đã đánh giá quá ít về giá trị của Ngài cũng như về sự cần thiết để mọi linh hồn tiếp nhận Ngài. Những ai nhận lãnh sự ban cho từ trời sẽ ra đi, khoác áo giáp của sự công chính để chiến đấu cho Đức Chúa Trời. Họ sẽ tôn trọng sự dẫn dắt của Chúa và tràn đầy lòng biết ơn Ngài vì lòng thương xót của Ngài. Nhưng ở rất, rất nhiều nơi, và trong rất, rất nhiều dịp, có thể nói một cách chân thật, như trong thời Đấng Christ, về những người xưng mình là dân của Đức Chúa Trời, rằng không thể làm được nhiều công việc quyền năng bởi cớ sự không tin của họ. Nhiều người đã bị trói buộc trong xiềng xích của bóng tối vẫn được kính trọng vì Đức Chúa Trời đã sử dụng họ, và sự không tin của họ đã khơi dậy nghi ngờ và thành kiến chống lại sứ điệp lẽ thật mà các thiên sứ trên trời đang tìm cách truyền đạt qua các khí cụ loài người—sự xưng công bình bởi đức tin, sự công chính của Đấng Christ. Các Tài liệu 1888, 1066-1070.