At the Sunday law the one hundred and forty-four thousand prophetically meet the eleventh-hour workers. The one hundred and forty-four thousand are already sealed, and are then calling for the great multitude to come out of Babylon and to stand with them for the seventh-day Sabbath. Judgment for God’s house ends at the Sunday law, and judgment then moves unto the Gentiles, the great multitude—God’s other flock. Revelation seven identifies both groups, and in the fifth seal the martyrs from the Dark Ages ask “how long” until God judges the papal power for their martyrdom? They are told to rest in their graves until a second group of martyrs of papal persecution is made up, and they are given white robes. The great multitude of Revelation chapter seven wear white robes, for they represent the second group of papal martyrs in the soon-coming Sunday law crisis. Revelation seven and the fifth seal address these two groups, as does the churches of Smyrna and Philadelphia. Smyrna represents the martyrs of the final papal blood bath, and Philadelphia the one hundred and forty-four thousand.

Tại thời điểm luật ngày Chủ nhật, một trăm bốn mươi bốn nghìn, theo ý nghĩa tiên tri, gặp gỡ những người làm công giờ thứ mười một. Một trăm bốn mươi bốn nghìn đã được đóng ấn rồi, và khi ấy họ kêu gọi đoàn dân đông vô số ra khỏi Ba-by-lôn và đứng về phía họ để giữ ngày Sa-bát thứ bảy. Sự phán xét đối với nhà Đức Chúa Trời chấm dứt tại thời điểm luật ngày Chủ nhật, rồi sự phán xét chuyển sang Dân Ngoại, tức đoàn dân đông vô số—bầy chiên khác của Đức Chúa Trời. Khải Huyền đoạn bảy xác định cả hai nhóm, và trong ấn thứ năm, các vị tử đạo từ Thời Tăm Tối kêu hỏi: “còn bao lâu nữa” cho đến khi Đức Chúa Trời phán xét quyền lực giáo hoàng vì sự tử đạo của họ? Họ được bảo hãy yên nghỉ trong mồ cho đến khi nhóm thứ hai của các vị tử đạo dưới sự bách hại của giáo hoàng được trọn số, và họ được ban cho áo dài trắng. Đoàn dân đông vô số trong Khải Huyền đoạn bảy mặc áo dài trắng, vì họ tượng trưng cho nhóm thứ hai của các vị tử đạo do giáo hoàng bách hại trong cuộc khủng hoảng luật ngày Chủ nhật sắp đến. Khải Huyền đoạn bảy và ấn thứ năm đề cập đến hai nhóm này, cũng như các hội thánh Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi. Si-miệc-nơ đại diện cho các vị tử đạo trong cuộc tắm máu cuối cùng của giáo hoàng, còn Phi-la-đen-phi đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn.

Peter is at the third hour at Caesarea Philippi, and after “six days,” not six hours, he would be at the edge of the Sunday law, which is the ninth hour.

Phê-rô ở Sê-sa-rê Phi-líp vào giờ thứ ba, và sau “sáu ngày”, không phải sáu giờ, ông sẽ ở ngưỡng của luật ngày Chủ nhật, tức là giờ thứ chín.

And after six days Jesus taketh Peter, James, and John his brother, and bringeth them up into an high mountain apart, And was transfigured before them: and his face did shine as the sun, and his raiment was white as the light. And, behold, there appeared unto them Moses and Elias talking with him. Matthew 17:1–3.

Sáu ngày sau, Đức Giê-su đưa Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an, em của Gia-cô-bê, lên một ngọn núi cao, riêng ra. Người hiển dung trước mặt họ; gương mặt Người chói sáng như mặt trời, và y phục Người trắng như ánh sáng. Và kìa, Môsê và Êlia hiện ra với họ, đàm đạo với Người. Mátthêu 17:1-3.

At the Sunday law the one hundred and forty-four thousand prophetically meet the great multitude. Elijah represents the one hundred and forty-four thousand who do not taste of death, and Moses represents those who die in the Lord. They are standing with Christ at the Sunday law, which is where Christ anoints His kingdom of glory as He established His kingdom of grace at the cross. If you are still engaged in the logic we are setting forth in connection with the six-hour period from the third to ninth hour, then it is necessary to see something that is a very special illustration.

Vào thời điểm đạo luật ngày Chủ nhật, theo viễn tượng tiên tri, một trăm bốn mươi bốn nghìn gặp gỡ đại đoàn người. Ê-li đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn là những người không nếm sự chết, còn Môi-se đại diện cho những người chết trong Chúa. Họ đứng cùng Đấng Christ vào thời điểm đạo luật ngày Chủ nhật; chính tại đó Đấng Christ xức dầu cho vương quốc vinh hiển của Ngài, như Ngài đã thiết lập vương quốc ân điển của Ngài tại thập tự giá. Nếu quý vị vẫn theo mạch lý luận mà chúng tôi đang triển khai, liên hệ tới khoảng thời gian sáu giờ từ giờ thứ ba đến giờ thứ chín, thì cần nhận ra một minh họa hết sức đặc biệt.

The third hour of Caesarea Philippi is the alpha of the ninth hour’s omega of Caesarea Maritima. I am identifying that not six hours, but six days later, Peter is at the Mount of Transfiguration, that also illustrates the history that culminates at the Sunday law, which is the ninth hour. The six-day period aligns with the six-hour period, but only as a fractal of Caesarea to Caesarea. What is very special is that this phenomenon of a fractal of the history being within the history of the six-hour period is exactly what happens when you consider the Pentecostal season. The six hours from the death of Christ unto Pentecost is a fractal of the period of the cross unto 34 AD, when the sacred week concluded and the gospel went to the Gentiles.

Giờ thứ ba tại Caesarea Philippi là alpha của omega của giờ thứ chín tại Caesarea Maritima. Tôi chỉ ra rằng, không phải sáu giờ, nhưng là sáu ngày sau, Phi-e-rơ ở trên Núi Hóa Hình, điều đó cũng minh họa lịch sử đạt đến tột đỉnh tại luật ngày Chủ nhật, tức là giờ thứ chín. Giai đoạn sáu ngày tương ứng với giai đoạn sáu giờ, nhưng chỉ như một fractal từ Caesarea đến Caesarea. Điều rất đặc biệt là hiện tượng một fractal của lịch sử nằm bên trong lịch sử của giai đoạn sáu giờ chính là điều xảy ra khi xét đến mùa Lễ Ngũ Tuần. Sáu giờ từ sự chết của Đấng Christ cho đến Lễ Ngũ Tuần là một fractal của giai đoạn từ thập tự giá cho đến năm 34 CN, khi tuần lễ thánh kết thúc và phúc âm được truyền đến dân Ngoại.

“Now pride and envy closed the door against the light. If the reports brought by the shepherds and the wise men were credited, they would place the priests and rabbis in a most unenviable position, disproving their claim to be the exponents of the truth of God. These learned teachers would not stoop to be instructed by those whom they termed heathen. It could not be, they said, that God had passed them by, to communicate with ignorant shepherds or uncircumcised Gentiles. They determined to show their contempt for the reports that were exciting King Herod and all Jerusalem. They would not even go to Bethlehem to see whether these things were so. And they led the people to regard the interest in Jesus as a fanatical excitement. Here began the rejection of Christ by the priests and rabbis. From this point their pride and stubbornness grew into a settled hatred of the Saviour. While God was opening the door to the Gentiles, the Jewish leaders were closing the door to themselves.” The Desire of Ages, 62.

Bấy giờ sự kiêu ngạo và lòng ghen tị đã đóng kín cánh cửa trước ánh sáng. Nếu những tường thuật do các mục đồng và các nhà thông thái mang đến được tin nhận, thì chúng sẽ đặt các thầy tế lễ và các rabbi vào một tình thế hết sức bất lợi, bác bỏ lời quả quyết của họ rằng họ là những người trình bày chân lý của Đức Chúa Trời. Những bậc thầy uyên bác này không chịu hạ mình để được dạy dỗ bởi những kẻ mà họ gọi là dân ngoại. Họ nói, không thể nào có chuyện Đức Chúa Trời bỏ qua họ để bày tỏ với những người chăn chiên thất học hoặc dân ngoại chưa cắt bì. Họ quyết định bày tỏ sự khinh miệt đối với những tin tức đang làm vua Hê-rốt và cả Giê-ru-sa-lem xao động. Họ thậm chí cũng không đi đến Bết-lê-hem để xem các điều ấy có thật hay không. Và họ dẫn dắt dân chúng xem sự quan tâm dành cho Đức Chúa Jêsus như một sự kích động cuồng tín. Tại đây bắt đầu sự khước từ Đấng Christ bởi các thầy tế lễ và các rabbi. Từ điểm này, sự kiêu ngạo và lòng ngoan cố của họ lớn dần thành một mối căm ghét ăn sâu đối với Đấng Cứu Chuộc. Trong khi Đức Chúa Trời đang mở cửa cho dân ngoại, thì các nhà lãnh đạo Do Thái lại tự khép cửa cho chính mình. Niềm ao ước của các thời đại, 62.

In the midst of the sacred week Christ was crucified. Three and a half years later Stephen was stoned and Cornelius called for Peter. Three and a half years after the cross, probation is fully finished for ancient Israel. Stephen then looked into heaven and saw Christ standing, which is the symbol of the close of probation in Daniel twelve verse one. The door closed for ancient Israel and opened for the Gentiles.

Ở giữa tuần lễ thánh, Đấng Christ đã chịu đóng đinh. Ba năm rưỡi sau, Stephen bị ném đá và Cornelius gọi Peter đến. Ba năm rưỡi sau thập tự giá, thời kỳ ân điển dành cho Y-sơ-ra-ên xưa hoàn toàn chấm dứt. Bấy giờ Stephen ngước mắt nhìn lên trời và thấy Đấng Christ đang đứng, điều này là biểu tượng về sự khép lại thời kỳ ân điển trong Đa-ni-ên đoạn mười hai, câu một. Cánh cửa đã đóng lại đối với Y-sơ-ra-ên xưa và mở ra cho dân Ngoại.

In the period from the death of Christ at the ninth hour to the death of Stephen and Peter’s calling at the ninth hour, Cornelius and Stephen are two witnesses that the twelve hundred and sixty prophetic days were fulfilled. From the ninth hour of death to the ninth hour of death, was 1,260 prophetic days. The ninth hour of death unto the ninth hour of Pentecost identifies a fractal of the 1,260 days, in the space of fifty-two days.

Trong khoảng thời gian từ cái chết của Đức Kitô vào giờ thứ chín đến cái chết của Stêphanô và việc Phêrô được kêu gọi vào giờ thứ chín, Cornêliô và Stêphanô là hai chứng nhân rằng một nghìn hai trăm sáu mươi ngày tiên tri đã được ứng nghiệm. Từ giờ thứ chín của sự chết đến giờ thứ chín của sự chết là 1.260 ngày tiên tri. Khoảng từ giờ thứ chín của sự chết đến giờ thứ chín của Lễ Ngũ Tuần xác định một phân dạng của 1.260 ngày, trong khoảng thời gian năm mươi hai ngày.

The fractal that was the Pentecostal season is at the beginning of those 1,260 days, and at the end of those days Peter is prophetically located at both the third and ninth hour in Caesarea. The two Caesarea’s represent the alpha and omega of a prophetic six-hour period. Within the prophetic six-hour period of the two Caesarea’s, Peter travels for six days and gets to the Mount of Transfiguration. The Mount represents the sealing that culminates at the Sunday law, which is where the church triumphant is lifted up above all the mountains. Those six days represent the six-hour period from Caesarea to Caesarea and are a fractal within the period, as was the Pentecostal season a fractal at the beginning of the very same sacred period.

Mùa Lễ Ngũ Tuần, với tư cách một cấu trúc phân dạng, ở phần khởi đầu của 1.260 ngày ấy; và đến cuối những ngày đó, Phi‑e‑rơ được định vị một cách tiên tri ở cả giờ thứ ba lẫn giờ thứ chín tại Sê‑sa‑rê. Hai Sê‑sa‑rê tượng trưng cho Anpha và Ômêga của một giai đoạn sáu giờ mang tính tiên tri. Trong giai đoạn sáu giờ mang tính tiên tri giữa hai Sê‑sa‑rê ấy, Phi‑e‑rơ đi sáu ngày và đến Núi Hóa Hình. Ngọn núi ấy tượng trưng cho ấn chứng đạt đến tột đỉnh tại đạo luật Chủ nhật, là nơi Hội Thánh khải hoàn được tôn cao trên hết mọi núi. Sáu ngày đó biểu trưng cho giai đoạn sáu giờ từ Sê‑sa‑rê đến Sê‑sa‑rê và là một cấu trúc phân dạng nằm trong giai đoạn ấy, cũng như mùa Lễ Ngũ Tuần là một cấu trúc phân dạng ở phần khởi đầu của chính cùng thời kỳ thánh ấy.

The beginning fractal was a fulfillment of the Spring feasts associated with the Pentecostal season. The ending fractal of Caesarea Philippi to the Mount of Transfiguration is also prophetically tied together with the sacred week. At the Mount the Father spoke, as He had done at Christ’s baptism, and as He would just before the cross. The Father audibly spoke three times from the start of the sacred week unto the cross. Once at the baptism, then at the Mount of Transfiguration and then He spoke in the shadow of the approaching cross.

Mô thức fractal khởi đầu là sự ứng nghiệm các kỳ lễ mùa xuân gắn liền với mùa Lễ Ngũ Tuần. Mô thức fractal kết thúc — từ Sê-sa-rê Phi-líp đến Núi Hóa Hình — cũng được kết nối cách tiên tri với Tuần Thánh. Trên Núi ấy, Đức Chúa Cha đã phán, như Ngài đã phán tại phép báp-têm của Đấng Christ, và như Ngài sẽ phán ngay trước thập tự giá. Đức Chúa Cha đã phán ra tiếng ba lần, từ khởi đầu của Tuần Thánh cho đến thập tự giá: một lần tại phép báp-têm, rồi tại Núi Hóa Hình, và rồi Ngài phán trong bóng của thập tự giá đang đến gần.

The cross is the omega of the 1,260 days that began at His baptism. The baptism and the cross are specific waymarks of the sacred week of Daniel nine, thus identifying the Mount of Transfiguration as part of the sacred week. If the first and last fulfill waymarks of the prophecy of the sacred week, then the middle waymark must of prophetic necessity do the same.

Thập tự giá là omega của 1.260 ngày khởi đầu khi Ngài chịu phép báp-têm. Phép báp-têm và thập tự giá là những mốc riêng biệt của tuần lễ thánh trong Đa-ni-ên chương chín, qua đó xác định Núi Hiển Dung là một phần của tuần lễ thánh. Nếu mốc thứ nhất và mốc sau cùng ứng nghiệm các mốc của lời tiên tri về tuần lễ thánh, thì mốc ở giữa, bởi tất yếu tiên tri, cũng phải như thế.

The baptism is the first angel; the Mount of Transfiguration is the second and the cross is the third. At the Mount, God identified Moses and Elijah as waymarks of the remnant church. The application is tied together with the threefold symbol of Peter, James and John. There were three times that Jesus took Peter, James and John with Him. The first time it was the resurrection of Jairus’ daughter, the second was the Transfiguration and the third was Gethsemane. The first time Peter, James and John witnessed a resurrected twelve-year-old virgin.

Phép báp-têm là thiên sứ thứ nhất; Núi Hiển Dung là thiên sứ thứ hai, và thập tự giá là thiên sứ thứ ba. Tại Núi Hiển Dung, Đức Chúa Trời xác định Môi-se và Ê-li là những mốc chỉ đường của Hội Thánh còn lại. Sự áp dụng được liên kết lại bằng biểu tượng bộ ba của Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng. Có ba lần Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi với Ngài. Lần thứ nhất là việc con gái của Giai-ru được sống lại, lần thứ hai là Sự Hiển Dung, và lần thứ ba là Ghết-sê-ma-nê. Lần thứ nhất, Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đã chứng kiến một trinh nữ mười hai tuổi được sống lại.

And it came to pass, that, when Jesus was returned, the people gladly received him: for they were all waiting for him. And, behold, there came a man named Jairus, and he was a ruler of the synagogue: and he fell down at Jesus’ feet, and besought him that he would come into his house: For he had one only daughter, about twelve years of age, and she lay a dying. But as he went the people thronged him. Luke 8:40–42.

Và xảy ra rằng, khi Đức Chúa Giê-su trở về, dân chúng vui mừng tiếp rước Ngài, vì hết thảy đều trông đợi Ngài. Kìa, có một người tên Gia-iru đến, người ấy là trưởng hội đường; ông sấp mình dưới chân Đức Chúa Giê-su và nài xin Ngài đến nhà mình, vì ông có một con gái độc nhất, chừng mười hai tuổi, đang hấp hối. Nhưng trong khi Ngài đi, đoàn dân chen lấn Ngài. Lu-ca 8:40-42.

The name Jairus means “the enlightener” and “to be luminous and glorious.” Of the three times when Peter, James and John were exclusively guests of Christ, this was the first time, and Jairus’ represents the first angel who lightens the earth with its glory. The twelve-year old virgin represents the virgins who are to be resurrected as the one hundred and forty-four thousand. Christ reached the home of the virgin daughter, after His interaction of a woman who had an issue of blood for twelve years.

Tên Jairus có nghĩa là “người soi sáng” và “sáng láng, vinh hiển.” Trong ba lần mà chỉ có Phêrô, Giacôbê và Gioan được ở bên Đức Kitô cách riêng, đây là lần thứ nhất; và Jairus tượng trưng cho thiên sứ thứ nhất, Đấng soi sáng địa cầu bằng vinh quang của mình. Trinh nữ mười hai tuổi tượng trưng cho các trinh nữ sẽ được phục sinh làm nhóm một trăm bốn mươi bốn nghìn. Đức Kitô đã đến nhà của người con gái đồng trinh ấy, sau khi Ngài tiếp xúc với một người đàn bà bị ra huyết suốt mười hai năm.

And a woman having an issue of blood twelve years, which had spent all her living upon physicians, neither could be healed of any, Came behind him, and touched the border of his garment: and immediately her issue of blood stanched. Luke 8:43, 44.

Và có một người đàn bà bị chứng ra huyết suốt mười hai năm, đã tiêu hết cơ nghiệp cho các thầy thuốc mà chẳng được ai chữa lành; người đến phía sau Ngài và chạm đến tua áo của Ngài; tức thì dòng huyết của người cầm lại. Lu-ca 8:43, 44.

A twelve-year old virgin is identified, and then in the next verse a woman who has a blood issue for twelve years is then identified. The woman had the issue of blood the entire life of the virgin. Jesus was about to pass by the woman with the issue of blood, in order to reach the virgin daughter. The woman represents the first angel’s message as represented by the message to Laodicea. Christ was about to resurrect and raise the virgin to life, and the sick woman, the Laodicean woman, still had a brief opportunity to touch Divinity. A child represents the last generation, and Jesus is passing by a sickly woman, Laodicea to raise up the virgin of the last days. When the virgin is resurrected, the woman has been either healed or passed by.

Một trinh nữ mười hai tuổi được nêu ra; rồi ở câu kế tiếp, một người phụ nữ bị băng huyết suốt mười hai năm cũng được nhắc đến. Người phụ nữ ấy đã mang chứng băng huyết suốt bằng tuổi đời của trinh nữ. Đức Chúa Giê-su sắp đi ngang qua người phụ nữ bị băng huyết để đến với cô con gái đồng trinh. Người phụ nữ tượng trưng cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, như được biểu thị qua sứ điệp gửi cho Laodicê. Đấng Christ sắp phục sinh và làm cho trinh nữ sống lại, còn người phụ nữ bệnh hoạn, người phụ nữ Laodicê, vẫn còn một cơ hội ngắn ngủi để chạm đến Thần Tính. Một đứa trẻ tượng trưng cho thế hệ sau cùng, và Đức Chúa Giê-su đang đi ngang qua một người phụ nữ ốm yếu, Laodicê, để dựng dậy trinh nữ của thời kỳ sau rốt. Khi trinh nữ được làm cho sống lại, thì người phụ nữ hoặc đã được chữa lành, hoặc đã bị bỏ qua.

A characteristic of the first angel is fear, and there are two types of fear.

Một đặc trưng của thiên thần thứ nhất là sự sợ hãi, và có hai loại sợ hãi.

While he yet spake, there cometh one from the ruler of the synagogue’s house, saying to him, Thy daughter is dead; trouble not the Master. But when Jesus heard it, he answered him, saying, Fear not: believe only, and she shall be made whole. Luke 8:49, 50.

Khi Ngài còn đang nói, có một người từ nhà của trưởng hội đường đến, nói với ông: Con gái ông đã chết; đừng quấy rầy Thầy nữa. Nhưng khi Chúa Giê-su nghe điều ấy, Ngài phán với ông: Đừng sợ; chỉ tin mà thôi, thì con gái ông sẽ được cứu. Lu-ca 8:49, 50.

Then Peter, James and John go into the room where the resurrection, symbolized by Christ’s baptism, represented the empowerment of the first and third angels. The Mount of Transfiguration is the second time Peter, James and John are witnesses. The Mount of Transfiguration is the second angel, and when Christ took the same disciples to Gethsemane, it represented the third angel. At the second step, the Mount of Transfiguration there is a “doubling,” for the waymark of the Mount is the middle of the three times that the Father spoke. The first was at His baptism, which aligns with the resurrection of the twelve-year-old virgin, the second was the Mount, and the third was just before the cross. The three times the Father spoke and the three times the three disciples went by themselves with Jesus are tied together by the fact that the second waymark in either line is the Mount of Transfiguration.

Bấy giờ Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi vào căn phòng nơi diễn ra sự phục sinh—sự kiện được biểu trưng bởi phép báp-têm của Đức Chúa Jêsus Christ—vốn tượng trưng cho sự gia tăng quyền năng của thiên sứ thứ nhất và thiên sứ thứ ba. Núi Hiển Dung là lần thứ hai Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng làm chứng. Núi Hiển Dung là thiên sứ thứ hai, và khi Đức Chúa Jêsus dẫn các môn đồ ấy đến Ghết-sê-ma-nê, điều đó tượng trưng cho thiên sứ thứ ba. Ở bước thứ hai, tức tại Núi Hiển Dung, có một sự “nhân đôi”, vì dấu mốc của Núi ấy là điểm ở giữa trong ba lần Đức Chúa Cha phán. Lần thứ nhất là tại phép báp-têm của Ngài, điều này tương ứng với sự phục sinh của trinh nữ mười hai tuổi; lần thứ hai là Núi Hiển Dung; và lần thứ ba là ngay trước thập tự giá. Ba lần Đức Chúa Cha phán và ba lần ba môn đồ đi riêng với Đức Chúa Jêsus được liên kết với nhau bởi thực tế rằng dấu mốc thứ hai trong cả hai chuỗi đều là Núi Hiển Dung.

And when he came into the house, he suffered no man to go in, save Peter, and James, and John, and the father and the mother of the maiden. And all wept, and bewailed her: but he said, Weep not; she is not dead, but sleepeth. And they laughed him to scorn, knowing that she was dead. And he put them all out, and took her by the hand, and called, saying, Maid, arise. And her spirit came again, and she arose straightway: and he commanded to give her meat. And her parents were astonished: but he charged them that they should tell no man what was done. Luke 8:51–56.

Và khi Ngài vào trong nhà, Ngài không cho ai vào, ngoại trừ Phê-rơ, Gia-cơ, và Giăng, cùng cha và mẹ của thiếu nữ. Và mọi người đều khóc lóc và than khóc nàng; nhưng Ngài phán: Đừng khóc; nàng không chết đâu, nhưng đang ngủ. Và họ cười nhạo Ngài, vì biết rằng nàng đã chết. Rồi Ngài cho tất cả ra ngoài, nắm tay nàng, và gọi, nói: Hỡi thiếu nữ, hãy trỗi dậy. Và linh hồn nàng trở lại, và nàng tức thì đứng dậy; và Ngài truyền cho người ta cho nàng ăn. Và cha mẹ nàng kinh ngạc; nhưng Ngài dặn họ đừng nói với ai điều đã xảy ra. Lu-ca 8:51-56.

Peter, James and John witness the first angel at the resurrection of the virgin, who had been asleep, as was Lazarus. When she awoke, she immediately rose and was given food. When Elijah and Moses are resurrected in Revelation eleven, they immediately rise, and then the Holy Spirit is poured out without measure, representing the virgin’s food. The Mount of Transfiguration was six days after Caesarea Philippi, except when Luke records the events.

Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng chứng kiến vị thiên sứ thứ nhất trong cuộc phục sinh của trinh nữ, người đã ngủ, như La-xa-rơ. Khi nàng tỉnh dậy, nàng lập tức chỗi dậy và được ban cho lương thực. Khi Ê-li và Môi-se được phục sinh trong Khải Huyền đoạn mười một, họ lập tức chỗi dậy, và sau đó Đức Thánh Linh được tuôn đổ cách vô hạn lượng, tượng trưng cho lương thực của trinh nữ. Sự kiện trên Núi Hóa Hình diễn ra sáu ngày sau Sê-sa-rê Phi-líp, ngoại trừ khi Lu-ca ghi chép các sự kiện.

And it came to pass about an eight days after these sayings, he took Peter and John and James, and went up into a mountain to pray. And as he prayed, the fashion of his countenance was altered, and his raiment was white and glistering. And, behold, there talked with him two men, which were Moses and Elias. Luke 9:28–30.

Và xảy ra là, khoảng tám ngày sau những lời ấy, Người đem Phêrô, Gioan và Giacôbê lên núi để cầu nguyện. Và đang khi Người cầu nguyện, dung mạo của Người biến đổi, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa. Và kìa, có hai người đàm đạo với Người, đó là Môsê và Êlia. Luca 9:28-30.

Matthew and Mark both say decisively “after six days,” and Luke says “about” eight days. The Bible authors employed two reckonings of time; one called inclusive and the other exclusive. At first glance it might appear as contradictions, but the fact that Luke said “about” identifies that he was speaking in inclusive terms, and when Matthew and Mark say, “after six days,” they are identifying that they were counting whole days, and not the day that started the eight-day period, or the day that ended the eight-day period. The difference produces two numerical symbols of the same period; one is the number eight and the other is the six days.

Ma-thi-ơ và Mác đều nói một cách dứt khoát "sau sáu ngày", còn Lu-ca thì nói "khoảng tám ngày". Các tác giả Kinh Thánh sử dụng hai lối tính thời gian: một gọi là bao gồm, và lối kia là loại trừ. Thoạt nhìn, điều này có thể có vẻ mâu thuẫn; nhưng việc Lu-ca dùng từ "khoảng" cho thấy ông đang nói theo lối tính bao gồm, còn khi Ma-thi-ơ và Mác nói "sau sáu ngày", họ cho biết rằng họ đang tính các ngày trọn vẹn, không kể ngày mở đầu của khoảng tám ngày ấy, cũng không kể ngày kết thúc của khoảng ấy. Sự khác biệt ấy tạo nên hai cách biểu đạt bằng con số cho cùng một khoảng thời gian: một là con số tám, còn lại là sáu ngày.

What is established with the two testimonies of the six or eight day period from Caesarea Philippi and the Mount of Transfiguration is that in the period when Christ seals the one hundred and forty-four thousand, the number eight represents the eight souls on Noah’s Ark, and the six represents the sixth church of Philadelphia, who is destined to be the church that is the eighth, that is of the seven. They are transformed into the eighth at the glorification of Moses, Elijah and Christ. The glorification on the mountain is also typified by the glorification on the mountain in the history of Moses.

Điều được xác lập qua hai lời chứng về khoảng thời gian sáu hoặc tám ngày liên quan đến Sê-sa-rê Phi-líp và Núi Hiển Dung là rằng, trong thời kỳ Đấng Christ đóng ấn một trăm bốn mươi bốn nghìn, số tám tượng trưng cho tám linh hồn trên con tàu của Nô-ê, còn số sáu tượng trưng cho hội thánh thứ sáu là Phi-la-đen-phi-a, vốn được định sẵn sẽ trở nên hội thánh thứ tám, tức là thuộc về bảy. Họ được biến đổi thành thứ tám khi Môi-se, Ê-li-a và Đấng Christ được hiển vinh. Sự hiển vinh trên núi ấy cũng được làm hình bóng bởi sự hiển vinh trên núi trong lịch sử của Môi-se.

When Moses ascended the mountain he took seventy elders and Joshua with him.

Khi Môsê lên núi, ông dẫn theo bảy mươi vị kỳ mục và Giôsuê.

Then went up Moses, and Aaron, Nadab, and Abihu, and seventy of the elders of Israel: And they saw the God of Israel: and there was under his feet as it were a paved work of a sapphire stone, and as it were the body of heaven in his clearness. And upon the nobles of the children of Israel he laid not his hand: also they saw God, and did eat and drink. And the Lord said unto Moses, Come up to me into the mount, and be there: and I will give thee tables of stone, and a law, and commandments which I have written; that thou mayest teach them.

Bấy giờ Môi-se, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu, và bảy mươi trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đi lên. Họ thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên; dưới chân Ngài như thể một nền lát bằng đá bích ngọc, và như thể chính bầu trời, trong suốt. Còn trên các bậc tôn trưởng của con cái Y-sơ-ra-ên, Ngài không tra tay; họ cũng thấy Đức Chúa Trời, và ăn uống. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: Hãy lên núi đến cùng Ta, và ở đó; Ta sẽ ban cho ngươi các bảng đá, luật pháp, và các điều răn mà Ta đã chép, để ngươi dạy dỗ họ.

And Moses rose up, and his minister Joshua: and Moses went up into the mount of God. And he said unto the elders, Tarry ye here for us, until we come again unto you: and, behold, Aaron and Hur are with you: if any man have any matters to do, let him come unto them.

Môi-se bèn đứng dậy, cùng với trợ tá của ông là Giô-suê; rồi Môi-se đi lên núi của Đức Chúa Trời. Người nói cùng các trưởng lão: Hãy ở lại đây đợi chúng ta cho đến khi chúng ta trở lại cùng các ngươi; kìa, A-rôn và Hu-rơ ở với các ngươi; nếu ai có việc gì, hãy đến cùng họ.

And Moses went up into the mount, and a cloud covered the mount. And the glory of the Lord abode upon mount Sinai, and the cloud covered it six days: and the seventh day he called unto Moses out of the midst of the cloud. And the sight of the glory of the Lord was like devouring fire on the top of the mount in the eyes of the children of Israel. And Moses went into the midst of the cloud, and gat him up into the mount: and Moses was in the mount forty days and forty nights. Exodus 24:9–18.

Và Môi-se lên núi, và một đám mây bao phủ núi. Vinh quang của Đức Giê-hô-va ngự trên núi Si-na-i, và đám mây che phủ nó trong sáu ngày; đến ngày thứ bảy, Ngài gọi Môi-se từ giữa đám mây. Trong mắt con cái Y-sơ-ra-ên, vinh quang của Đức Giê-hô-va trên đỉnh núi như lửa thiêu nuốt. Và Môi-se vào giữa đám mây và lên núi; và Môi-se ở trên núi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. Xuất Ê-díp-tô Ký 24:9-18.

The first angel’s message was the resurrection of Jairus’ daughter, aligning with Christ’s baptism. Then six days later, came the Mount of Transfiguration which is the second angel, that led to the cross, which is the third angel. As the second angel, the Mount has a double witness, in that the speaking of the Father at the Mount, connects with a second line of the three. The three times Peter, James and John were exclusive guests of Christ, and the three times the Father spoke, both identify the second manifestation of the Father’s voice, and the second time Jesus took Peter, James and John was the Mount of Transfiguration. The second waymark of the Mount has a double witness of the Father’s voice and the three disciples, for the second message always identifies a “doubling.”

Sứ điệp của thiên sứ thứ nhất là việc làm cho con gái ông Giairô sống lại, tương ứng với Phép Rửa của Chúa Kitô. Rồi sáu ngày sau, đã xảy ra biến cố Hiển Dung trên núi, tức thiên sứ thứ hai, dẫn đến thập giá, là thiên sứ thứ ba. Với tư cách là thiên sứ thứ hai, Núi ấy mang một lời chứng kép, ở chỗ lời phán của Chúa Cha trên Núi kết nối với dòng thứ hai trong bộ ba ấy. Ba lần Phêrô, Giacôbê và Gioan được Chúa cho đi theo cách biệt, và ba lần Chúa Cha phán, cả hai đều xác định lần tỏ hiện thứ hai của tiếng phán của Chúa Cha; và lần thứ hai Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan theo chính là tại Núi Hiển Dung. Mốc thứ hai, tức Núi Hiển Dung, có lời chứng kép về tiếng phán của Chúa Cha và về ba môn đệ, vì sứ điệp thứ hai luôn xác định một “sự nhân đôi.”

The six-hour-period between the evening and morning sacrifices, which is represented by Matthew and Marks’ six days from Caesarea Philippi and the Mount, are represented by Moses’ six days, until he is called into the cloud on the seventh day.

Khoảng thời gian sáu giờ giữa hy lễ chiều và hy lễ sáng, vốn được Mátthêu và Máccô biểu trưng bằng "sáu ngày" kể từ Xêdarê Philípphê đến Núi, lại được biểu trưng bởi "sáu ngày" của Môsê, cho đến khi ông được gọi vào đám mây vào ngày thứ bảy.

The line begins with the tarrying time of the second angel, as Moses instructs the seventy elders to “tarry” until he returns. The first six-days in the line are isolated, but still form part of the overall 46 days. The six days are a period that leads to the third test, represented by forty days. The 46 days symbolize the temple, the sixth days are the six hours from Christ’s death to Pentecost, the six hours from His crucifixion to His death, the six hours of Caesarea to Caesarea and the six hours of Peter in the upper room to the temple. Moses is receiving the Law of the covenant, and getting the instructions upon how to raise the temple. Though the Bible says no man has seen God, the elders “saw the God of Israel.” The glorification of God on the mount with Moses and the elders typified the glorification on the Mount of Transfiguration. Both contain the six-day period. Moses’ line includes the tarrying time of the second angel and the full forty-six days representing the temple. The forty days he received the law, represents the sealing.

Dòng này khởi đầu với thời kỳ chờ đợi của thiên sứ thứ hai, khi Môi-se truyền cho bảy mươi trưởng lão “ở lại chờ” cho đến khi ông trở về. Sáu ngày đầu tiên trong dòng này là biệt lập, nhưng vẫn thuộc về tổng số 46 ngày. Sáu ngày ấy là một giai đoạn dẫn đến kỳ thử thách thứ ba, được biểu thị bởi bốn mươi ngày. Bốn mươi sáu ngày biểu tượng cho đền thờ; còn sáu ngày ấy là sáu giờ từ sự chết của Đấng Christ đến Lễ Ngũ Tuần, sáu giờ từ sự đóng đinh Ngài đến sự chết Ngài, sáu giờ từ Sê-sa-rê đến Sê-sa-rê, và sáu giờ của Phi-e-rơ từ phòng cao đến đền thờ. Môi-se đang nhận Luật pháp của giao ước và lãnh chỉ dẫn về cách dựng lập đền thờ. Dẫu Kinh Thánh nói rằng chẳng ai đã thấy Đức Chúa Trời, các trưởng lão “đã thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.” Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trên núi với Môi-se và các trưởng lão là một tiền trưng cho sự vinh hiển trên Núi Hóa Hình. Cả hai đều bao gồm kỳ sáu ngày. Dòng của Môi-se bao gồm thời kỳ chờ đợi của thiên sứ thứ hai và trọn vẹn bốn mươi sáu ngày tượng trưng cho đền thờ. Bốn mươi ngày ông nhận lãnh Luật pháp tượng trưng cho sự ấn chứng.

Peter was at Caesarea Philippi at the third hour, on his way to Caesarea Maritima at the ninth hour and in six to eight days he is at the Mount, tarrying with Moses’ seventy elders when He sees a vision of the glorified Lord, just as Daniel did in chapter ten. Daniel saw the Lord face to face, as did Gideon and the seventy elders. The Mount of Transfiguration is where the Laodicean movement of the one hundred and forty-four thousand are transformed into the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand. They become the eighth church that is the sixth church, thus we see six days and eight days.

Phi-e-rơ ở Sê-sa-rê Phi-líp vào giờ thứ ba; vào giờ thứ chín, ông đang trên đường đến Sê-sa-rê Ma-ri-ti-ma; và trong vòng sáu đến tám ngày, ông ở trên Núi, lưu lại cùng với bảy mươi trưởng lão của Môi-se, khi ông thấy một khải tượng về Chúa vinh hiển, y như Đa-ni-ên đã thấy trong chương mười. Đa-ni-ên đã diện kiến Chúa mặt đối mặt, như Ghê-đê-ôn và bảy mươi trưởng lão. Núi Hóa Hình là nơi phong trào La-ô-đi-xê của một trăm bốn mươi bốn nghìn được biến đổi thành phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Họ trở thành hội thánh thứ tám, vốn là hội thánh thứ sáu; bởi vậy chúng ta thấy sáu ngày và tám ngày.

The six hours from the crucifixion to His death, the six hours of Pentecost, the six hours of Caesarea to Caesarea, the six days to the Mount of Transfiguration and the six days of Moses that led to the forty days are the same line. Between Caesarea Philippi, which is Panium and the Sunday law, the one hundred and forty-four thousand are sealed. That sealing causes a division.

Sáu giờ từ cuộc đóng đinh đến sự chết của Ngài, sáu giờ của Lễ Ngũ Tuần, sáu giờ từ Sê-sa-rê đến Sê-sa-rê, sáu ngày dẫn đến Núi Hiển Dung, và sáu ngày của Môi-se dẫn tới bốn mươi ngày đều nằm trên cùng một đường thẳng. Giữa Sê-sa-rê Phi-líp, tức là Panium, và luật Chủ nhật, một trăm bốn mươi bốn nghìn người được ấn chứng. Sự ấn chứng ấy gây ra một sự phân rẽ.

And I Daniel alone saw the vision: for the men that were with me saw not the vision; but a great quaking fell upon them, so that they fled to hide themselves. Daniel 10:7.

Và ta, Daniel, chỉ một mình ta đã thấy khải tượng: vì những người ở với ta chẳng thấy khải tượng; nhưng một cơn run rẩy lớn đã giáng trên họ, đến nỗi họ chạy trốn để ẩn mình. Daniel 10:7.

Moses separated from the elders when he said, “Tarry ye here for us, until we come again unto you.” Moses separated from seventy at the tarrying time, and seventy weeks represents probationary time for the former covenant people. When the seventieth week ended, and that seventieth week was the sacred week that Christ confirmed the covenant with many, Christ then fully separated from the former covenant people. The period when the former covenant people could resolve their issue of blood, which for them was believing they were saved by the blood of Abraham, was over and the virgin of twelve years was resurrected to serve. Once the tarrying time began, Moses received the law of the covenant, and the instructions of raising the temple.

Môi-se tách khỏi các trưởng lão khi ông nói: “Hãy ở lại đây đợi chúng ta, cho đến khi chúng ta trở lại với các ngươi.” Môi-se tách khỏi bảy mươi trưởng lão trong thời kỳ chờ đợi, và bảy mươi tuần lễ tượng trưng cho thời kỳ thử thách dành cho dân giao ước cũ. Khi tuần lễ thứ bảy mươi kết thúc—và tuần lễ thứ bảy mươi ấy là tuần lễ thánh trong đó Đấng Christ xác nhận giao ước với nhiều người—thì Đấng Christ hoàn toàn tách khỏi dân giao ước cũ. Thời kỳ mà dân giao ước cũ có thể giải quyết vấn đề ra huyết của mình—mà đối với họ là việc tin rằng họ được cứu bởi huyết của Áp-ra-ham—đã chấm dứt, và trinh nữ mười hai tuổi được làm cho sống lại để phục vụ. Một khi thời kỳ chờ đợi bắt đầu, Môi-se nhận lấy luật pháp của giao ước cùng các chỉ dẫn về việc dựng đền thờ.

When Peter, James and John were at the Mount, the sealing of God’s people, and their subsequent raising up as an ensign represents those covenant people as the temple of the one hundred and forty-four thousand. The eleventh-hour workers are then joined to that temple.

Khi Phêrô, Giacôbê và Gioan ở trên Núi, việc dân của Thiên Chúa được đóng ấn, rồi sau đó được dựng lên như một tiêu kỳ, đã biểu thị rằng dân giao ước ấy là đền thờ của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Bấy giờ những người thợ giờ thứ mười một được hiệp vào đền thờ ấy.

Thus saith the Lord, Keep ye judgment, and do justice: for my salvation is near to come, and my righteousness to be revealed. Blessed is the man that doeth this, and the son of man that layeth hold on it; that keepeth the sabbath from polluting it, and keepeth his hand from doing any evil. Neither let the son of the stranger, that hath joined himself to the Lord, speak, saying, The Lord hath utterly separated me from his people: neither let the eunuch say, Behold, I am a dry tree. For thus saith the Lord unto the eunuchs that keep my sabbaths, and choose the things that please me, and take hold of my covenant; Even unto them will I give in mine house and within my walls a place and a name better than of sons and of daughters: I will give them an everlasting name, that shall not be cut off. Also the sons of the stranger, that join themselves to the Lord, to serve him, and to love the name of the Lord, to be his servants, every one that keepeth the sabbath from polluting it, and taketh hold of my covenant; Even them will I bring to my holy mountain, and make them joyful in my house of prayer: their burnt offerings and their sacrifices shall be accepted upon mine altar; for mine house shall be called an house of prayer for all people.

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy giữ lẽ công bình và làm điều công chính, vì sự cứu rỗi của ta gần đến, và sự công chính của ta sắp được bày tỏ. Phước cho người làm điều ấy, và con loài người nắm giữ điều ấy; người không làm ô uế ngày Sa-bát, và giữ tay mình khỏi làm bất kỳ điều ác nào. Chớ để con cái của kẻ ngoại bang đã liên hiệp với Đức Giê-hô-va nói rằng: "Đức Giê-hô-va hẳn đã dứt bỏ ta khỏi dân Ngài"; cũng chớ để hoạn quan nói: "Kìa, ta là cây khô." Vì Đức Giê-hô-va phán thế này với các hoạn quan giữ các ngày Sa-bát của ta, chọn những điều đẹp lòng ta, và nắm giữ giao ước ta: Ta sẽ ban cho chính họ trong nhà ta và bên trong tường thành ta một chỗ và một danh, tốt hơn con trai và con gái; ta sẽ ban cho họ một danh đời đời, chẳng hề bị dứt bỏ. Còn con cái của kẻ ngoại bang, những người liên hiệp với Đức Giê-hô-va để phục vụ Ngài, để yêu mến danh Đức Giê-hô-va, để làm đầy tớ Ngài, tức là mỗi người không làm ô uế ngày Sa-bát và nắm giữ giao ước ta, thì ta cũng sẽ đem họ đến núi thánh ta, và khiến họ vui mừng trong nhà cầu nguyện của ta; những của lễ thiêu và tế lễ của họ sẽ được chấp nhận trên bàn thờ ta; vì nhà ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho muôn dân.

The Lord God which gathereth the outcasts of Israel saith, Yet will I gather others to him, beside those that are gathered unto him. Isaiah 56:1–8.

Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng quy tụ những kẻ bị đuổi của Y-sơ-ra-ên, phán: Ta còn sẽ quy tụ những người khác đến cùng người, ngoài những kẻ đã được quy tụ về cùng người. Ê-sai 56:1-8.

Peter, James and John, as well as Moses represent the “outcasts of Israel,” who are cast out by their brethren which hated them.

Phêrô, Giacôbê và Gioan, cũng như Môsê, đại diện cho "những kẻ bị loại trừ của Ítraen", những người bị chính anh em mình, những kẻ ghét họ, xua đuổi.

Thus saith the Lord, The heaven is my throne, and the earth is my footstool: where is the house that ye build unto me? and where is the place of my rest?

Chúa phán như vầy: Trời là ngai của ta, đất là bệ chân ta; các ngươi sẽ xây cho ta nhà ở đâu? Và chỗ an nghỉ của ta ở đâu?

For all those things hath mine hand made, and all those things have been, saith the Lord: but to this man will I look, even to him that is poor and of a contrite spirit, and trembleth at my word. He that killeth an ox is as if he slew a man; he that sacrificeth a lamb, as if he cut off a dog’s neck; he that offereth an oblation, as if he offered swine’s blood; he that burneth incense, as if he blessed an idol. Yea, they have chosen their own ways, and their soul delighteth in their abominations. I also will choose their delusions, and will bring their fears upon them; because when I called, none did answer; when I spake, they did not hear: but they did evil before mine eyes, and chose that in which I delighted not.

Vì mọi điều ấy đều do tay Ta làm nên, và mọi điều ấy đã hiện hữu, Đức Chúa phán; nhưng Ta sẽ đoái nhìn đến người này: kẻ nghèo khó và có tâm linh thống hối, biết run rẩy trước lời Ta. Kẻ giết bò khác nào giết người; kẻ dâng chiên làm tế lễ, như thể chặt cổ chó; kẻ dâng lễ vật, như thể dâng huyết heo; kẻ đốt hương, như thể chúc lành cho tượng thần. Phải, chúng đã chọn đường lối riêng mình, và linh hồn chúng ưa thích những điều gớm ghiếc của chúng. Ta cũng sẽ chọn những điều mê lầm cho chúng, và sẽ khiến những điều chúng sợ hãi giáng trên chúng; vì khi Ta gọi, chẳng ai đáp; khi Ta phán, chúng không nghe; nhưng chúng làm điều ác trước mắt Ta, và chọn điều mà Ta chẳng ưa thích.

Hear the word of the Lord, ye that tremble at his word; Your brethren that hated you, that cast you out for my name’s sake, said, Let the Lord be glorified: but he shall appear to your joy, and they shall be ashamed. Isaiah 66:1–5.

Hỡi những kẻ run sợ trước lời Ngài, hãy nghe lời Chúa; anh em các ngươi—những kẻ ghét các ngươi, đã vì danh Ta mà khai trừ các ngươi—đã nói: “Nguyện Chúa được tôn vinh.” Nhưng Ngài sẽ hiện ra đem niềm vui cho các ngươi, còn họ sẽ phải hổ thẹn. Ê-sai 66:1–5.

The word “joy” occurs numerous times and ways in the Scriptures, as does the word “ashamed.” In the context of Peter’s message from the book of Joel, the shame versus joy is a parallel, such as the wise and the foolish or the wheat and the tares. Shame and joy represent, in the context of Joel, those who have the oil, or the latter rain message, versus those who don’t. It is only when you see this detail that you can get to the deeper meaning of, “Your brethren that hated you, that cast you out for my name’s sake.” Those brethren are those who in Spalding and Magan, page one and two, are the “nominal Adventists, like Judas,” that will “betray us to the Catholics,” “for they hated us on account of the Sabbath, for they could not refute it.” Your brethren that hate you, cast you out over the message of the Sabbath of the land, Moses seven times, which cannot be refuted. The point here is that you get cast out over a doctrinal argument, a debate, as Isaiah calls it, and the doctrinal debate is the message of the latter rain.

Từ "niềm vui" xuất hiện nhiều lần và theo nhiều cách trong Kinh Thánh, cũng như từ "hổ thẹn". Trong bối cảnh thông điệp của Phi-e-rơ dựa trên sách Giô-ên, sự đối lập giữa hổ thẹn và niềm vui là một cặp song hành, như giữa kẻ khôn và kẻ dại, hoặc giữa lúa mì và cỏ lùng. Trong bối cảnh của Giô-ên, hổ thẹn và niềm vui tượng trưng cho những người có dầu, tức là có sứ điệp mưa rào muộn, đối nghịch với những người không có. Chỉ khi thấy được chi tiết này mới có thể đi đến ý nghĩa sâu xa của câu: "Những anh em ngươi, là những kẻ ghét ngươi, đã loại trừ ngươi vì cớ danh Ta." Những anh em ấy chính là những người mà trong Spalding và Magan, trang một và hai, được gọi là "những người Cơ Đốc Phục Lâm chỉ trên danh nghĩa, như Giu-đa," những kẻ sẽ "phản bội, nộp chúng ta cho người Công giáo," "vì họ ghét chúng ta vì cớ ngày Sa-bát, bởi họ không thể phản bác nó." Những anh em ấy, vì ghét các ngươi, đã loại trừ các ngươi vì sứ điệp về ngày Sa-bát của đất, Môi-se bảy lần, vốn không thể bị phản bác. Điều cốt yếu ở đây là sự loại trừ diễn ra vì một tranh luận giáo lý, một cuộc biện luận, như Ê-sai gọi, và cuộc tranh luận giáo lý ấy chính là sứ điệp mưa rào muộn.

Joel calls that message “new wine,” and if you have that message, you have joy. If you do not have it, you awaken as the drunkards of Joel do to find that the new wine is cut off from your mouth. At that point you are prophetically “ashamed.” The class that has the oil, has joy and the class that has no oil is ashamed. The oil is also new wine, and it is associated with joy. This is why Isaiah says, “Hear the word of the Lord.” One class chooses to hear, and the other hearkens not to the sound of the trumpet. Isaiah specifically identifies the class who hear, when he states, “ye that tremble at his word.” The Lord gathers those who have been cast out over the message that arrived at 9/11, and at the Sunday law, He gathers Isaiah’s eunuchs, who are represented as dry trees. If they will take hold of the covenant, they will no longer be separated from God’s holy mountain.

Giô-ên gọi sứ điệp ấy là “rượu mới”; và nếu anh em có sứ điệp ấy, anh em có niềm vui. Nếu không có, anh em sẽ tỉnh dậy như những kẻ say trong Giô-ên để thấy rằng rượu mới đã bị dứt khỏi miệng anh em. Khi ấy, theo nghĩa tiên tri, anh em bị “hổ thẹn”. Nhóm có dầu thì có niềm vui, còn nhóm không có dầu thì bị hổ thẹn. Dầu cũng là rượu mới, và nó gắn liền với niềm vui. Vì vậy Ê-sai nói: “Hãy nghe lời của Đức Chúa Trời.” Một nhóm chọn lắng nghe, còn nhóm kia không lắng nghe tiếng kèn. Ê-sai chỉ rõ nhóm biết lắng nghe khi ông nói: “những kẻ run sợ trước lời Ngài.” Đức Chúa Trời nhóm lại những người đã bị đuổi ra vì sứ điệp đã đến vào ngày 11/9, và đến thời điểm luật ngày Chủ nhật, Ngài nhóm lại các hoạn quan của Ê-sai, là những người được tượng trưng như những cây khô. Nếu họ nắm giữ giao ước, họ sẽ không còn bị tách khỏi núi thánh của Đức Chúa Trời.

A eunuch or a dry tree represent death. A eunuch cannot reproduce and a dry tree has no life. The promise is that if those Gentiles, or eleventh-hour workers will accept the covenant represented by Sabbath, they will have sons and daughters. First He gathers the outcasts of Israel, then lifts those outcasts up as an ensign and then gathers His other flock. The first and second gatherings represent the period from 9/11 unto the Sunday law when the Holy Spirit is sprinkling, and also the period from the Sunday law until Michael stands up and the latter rain is poured out without measure. In both periods the latter rain is a message, which if you have, brings joy, and if you don’t have, brings shame.

Một hoạn quan hoặc một cây khô biểu trưng cho sự chết. Hoạn quan không thể sinh sản, còn cây khô thì không có sự sống. Lời hứa là: nếu những người ngoại bang, hay những người thợ giờ thứ mười một, chấp nhận giao ước mà ngày Sa-bát đại diện, họ sẽ có con trai và con gái. Trước hết Ngài quy tụ những kẻ bị ruồng bỏ của Y-sơ-ra-ên, rồi giương chính những kẻ bị ruồng bỏ ấy làm tiêu kỳ, và sau đó quy tụ bầy chiên khác của Ngài. Sự quy tụ thứ nhất và thứ hai tượng trưng cho giai đoạn từ 9/11 cho đến đạo luật Chủ nhật, khi Đức Thánh Linh đang rảy, và cũng cho giai đoạn từ đạo luật Chủ nhật cho đến khi Mi-ca-ên đứng dậy và mưa cuối mùa được đổ ra cách không chừng mực. Trong cả hai giai đoạn, mưa cuối mùa là một sứ điệp, mà ai có thì được vui mừng, còn ai không có thì bị hổ thẹn.

The book of Matthew is divided into three lines, that represent the three angels of Revelation fourteen. Each of the three lines also contain fractals of the three angels. The second line from chapter eleven unto chapter twenty-two is the center, for it is the second angel, which is positioned between the first and third angels. The book of Matthew is itself a center line, when we consider chapters eleven through twenty-two in the context of Genesis and Revelation’s covenant chapters.

Sách Ma-thi-ơ được phân chia thành ba tuyến, tượng trưng cho ba thiên sứ của Khải Huyền 14. Mỗi trong ba tuyến ấy cũng chứa các phân hình của ba thiên sứ. Tuyến thứ hai, từ chương 11 đến chương 22, là trung tâm, vì đó là thiên sứ thứ hai, đứng giữa thiên sứ thứ nhất và thứ ba. Bản thân sách Ma-thi-ơ là một tuyến trung tâm khi chúng ta xét các chương 11–22 trong bối cảnh các chương giao ước của Sáng Thế Ký và Khải Huyền.

The center of the twelve covenant chapters is Matthew’s, and the center line of Matthew’s three lines is found in the same twelve chapters. The center of those twelve chapters is the sealing of the one hundred and forty-four thousand. That center point is represented by three verses, which align with the three center verses of Genesis and Revelation’s twelve covenant chapters.

Trung tâm của mười hai chương giao ước nằm ở sách Ma-thi-ơ, và đường trục trung tâm của ba tuyến trong Ma-thi-ơ cũng nằm trong chính mười hai chương ấy. Trung tâm của các chương đó là sự đóng ấn cho một trăm bốn mươi bốn nghìn. Điểm trung tâm ấy được biểu thị bởi ba câu, tương ứng với ba câu trung tâm của mười hai chương giao ước thuộc Sáng thế ký và Khải Huyền.

Peter is a the center point of the center point of the center point, and he represents the first and last Christian bride. That is the signature of Alpha and Omega. Palmoni also placed His signature upon Peter’s name change, when He designed the enigma of Peter’s name in English. Jesus spoke to Peter in Hebrew, and the conversation was recorded in Greek and thereafter put into English. In English, Palmoni named Peter by using the 16th letter of the English alphabet, followed by the 5th letter, that is followed by the 20th, that is followed by the 5th that is followed by the 18th, fully knowing that when He, as Palmoni created the name that would go from Hebrew, to Greek to English. He also designed that the English name would allow an enigma of multiplying those five letters in order to reach the number one hundred and forty-four thousand. Palmoni, who is also the first and the last, designed that the first of those five and last of the five English letters that make up the name Peter are the 16th and 18th letters, for the name Peter was to occur in Matthew 16:18.

Phêrô là điểm trung tâm của điểm trung tâm của điểm trung tâm, và ông tượng trưng cho tân nương Kitô hữu đầu tiên và sau cùng. Đó là dấu ấn của Alpha và Omega. Palmoni cũng đặt dấu ấn của Ngài trên việc đổi tên của Phêrô, khi Ngài thiết kế bí ẩn của tên Peter bằng tiếng Anh. Chúa Giêsu đã nói với Phêrô bằng tiếng Híp-ri, và cuộc đối thoại được ghi chép bằng tiếng Hy Lạp rồi về sau chuyển sang tiếng Anh. Trong tiếng Anh, Palmoni đã đặt tên Peter bằng cách dùng chữ cái thứ mười sáu của bảng chữ cái tiếng Anh, tiếp theo là chữ cái thứ năm, kế đến là chữ cái thứ hai mươi, rồi đến chữ cái thứ năm, rồi đến chữ cái thứ mười tám, hoàn toàn biết rằng, khi Ngài, với tư cách là Palmoni, tạo nên cái tên sẽ đi từ tiếng Híp-ri, sang tiếng Hy Lạp rồi sang tiếng Anh. Ngài cũng đã thiết kế để tên tiếng Anh ấy cho phép một bí ẩn là việc nhân năm chữ cái ấy hầu đạt đến con số một trăm bốn mươi bốn nghìn. Palmoni, cũng là Đấng đầu tiên và sau cùng, đã định để chữ cái thứ nhất trong năm chữ cái ấy và chữ cái cuối cùng trong năm chữ cái tiếng Anh cấu thành tên Peter là chữ cái thứ mười sáu và thứ mười tám, vì tên Peter sẽ xuất hiện trong Mát-thêu 16:18.

With all of that about Peter, we still need to address the “golden ratio.” The golden ratio is represented by Matthew 16:18, for the ratio is 1.618. The golden ratio is associated with nature’s fractals, and when Palmoni locates Peter in Matthew 16:18, Palmoni is identifying that the prophetic key that is placed upon the shoulder of Eliakim in Isaiah 22:22, and the prophetic keys that are given to Peter and the church in the passage, includes prophetic fractals.

Dẫu đã bàn về Phêrô như thế, chúng ta vẫn cần đề cập đến “tỷ lệ vàng”. Tỷ lệ vàng được biểu thị bởi Matthêu 16:18, vì tỉ lệ ấy là 1,618. Tỷ lệ vàng gắn liền với các fractal trong tự nhiên, và khi Palmoni định vị Phêrô trong Matthêu 16:18, Palmoni qua đó chỉ ra rằng chiếc chìa khóa ngôn sứ được đặt trên vai Êliakim trong Isaia 22:22, và những chìa khóa ngôn sứ được trao cho Phêrô và Hội Thánh trong đoạn văn ấy, đều bao hàm các fractal ngôn sứ.

Caesarea Philippi at the third hour unto Caesarea Maritima at the ninth hour represents a fractal of the third hour when Christ was crucified until the ninth hour of Cornelius sending for Peter. The Pentecostal season from the third hour of the crucifixion until Peter in the temple at Pentecost at the ninth hour, is a fractal of the 1,260 days from the cross to Cornelius. The three times the Father spoke is a fractal of the three angels, as is the three times Jesus took only Peter, James and John. The prophetic information that is encoded into the verses where Peter illustrates the one hundred and forty-four thousand is as profound as any truth has ever been, and yet we have not yet placed Peter at Panium in Daniel eleven.

Từ Xê-sa-rê Phi-líp vào giờ thứ ba cho đến Xê-sa-rê Ma-ri-ti-ma vào giờ thứ chín là một phân hình của quãng thời gian từ giờ thứ ba khi Đấng Christ chịu đóng đinh cho đến giờ thứ chín khi Cornelius sai gọi Phi-e-rơ. Mùa Ngũ Tuần, từ giờ thứ ba của sự đóng đinh cho đến khi Phi-e-rơ ở trong đền thờ vào Lễ Ngũ Tuần, vào giờ thứ chín, là một phân hình của 1.260 ngày từ thập tự giá đến Cornelius. Ba lần Đức Chúa Cha phán là một phân hình của ba thiên sứ; cũng vậy, ba lần Đức Chúa Jêsus chỉ đem theo Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng. Những thông tin tiên tri được mã hóa trong các câu nơi Phi-e-rơ minh họa một trăm bốn mươi bốn ngàn là sâu nhiệm như bất cứ chân lý nào từng có, thế mà chúng ta vẫn chưa đặt Phi-e-rơ tại Panium trong Đa-ni-ên đoạn mười một.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

Peter, an apostle of Jesus Christ, to the strangers scattered throughout Pontus, Galatia, Cappadocia, Asia, and Bithynia, Elect according to the foreknowledge of God the Father, through sanctification of the Spirit, unto obedience and sprinkling of the blood of Jesus Christ: Grace unto you, and peace, be multiplied. Blessed be the God and Father of our Lord Jesus Christ, which according to his abundant mercy hath begotten us again unto a lively hope by the resurrection of Jesus Christ from the dead, To an inheritance incorruptible, and undefiled, and that fadeth not away, reserved in heaven for you, Who are kept by the power of God through faith unto salvation ready to be revealed in the last time.

Phê-rô, sứ đồ của Đức Chúa Giê-su Christ, gửi đến những kiều dân tản lạc trong Pontus, Galatia, Cappadocia, Á Châu và Bithynia, những người được chọn theo sự biết trước của Đức Chúa Trời là Cha, nhờ sự thánh hóa của Thánh Linh, để vâng phục và được rảy huyết của Đức Chúa Giê-su Christ: nguyện ân điển và bình an được gia thêm cho anh em. Chúc tụng Đức Chúa Trời và Cha của Chúa chúng ta, Đức Chúa Giê-su Christ, Đấng theo lòng thương xót dư dật của Ngài đã tái sinh chúng ta vào một niềm hy vọng sống động bởi sự sống lại của Đức Chúa Giê-su Christ từ trong kẻ chết, để hưởng một cơ nghiệp không hư nát, không ô uế và không phai tàn, được dành giữ trên trời cho anh em, là những người bởi quyền năng của Đức Chúa Trời được gìn giữ nhờ đức tin cho sự cứu rỗi đã sẵn sàng để được bày tỏ trong thời sau rốt.

Wherein ye greatly rejoice, though now for a season, if need be, ye are in heaviness through manifold temptations: That the trial of your faith, being much more precious than of gold that perisheth, though it be tried with fire, might be found unto praise and honour and glory at the appearing of Jesus Christ: Whom having not seen, ye love; in whom, though now ye see him not, yet believing, ye rejoice with joy unspeakable and full of glory: Receiving the end of your faith, even the salvation of your souls.

Trong đó anh em rất vui mừng, dẫu hiện nay, nếu cần, anh em vì những thử thách muôn bề mà phải buồn sầu ít lâu; hầu cho sự thử luyện đức tin của anh em—vốn quý hơn vàng là vật hay hư nát, dầu vàng ấy đã được thử bằng lửa—được tỏ ra đem lại sự ngợi khen, vinh dự và vinh hiển vào lúc Đức Chúa Giê-xu Christ hiện ra; Đấng mà anh em, tuy chưa hề thấy, vẫn yêu mến; dẫu bây giờ không thấy Ngài, nhưng bởi tin, anh em vui mừng với niềm vui không thể tả và đầy vinh quang; nhận lãnh cứu cánh của đức tin mình, tức là sự cứu rỗi linh hồn.

Of which salvation the prophets have enquired and searched diligently, who prophesied of the grace that should come unto you: Searching what, or what manner of time the Spirit of Christ which was in them did signify, when it testified beforehand the sufferings of Christ, and the glory that should follow. Unto whom it was revealed, that not unto themselves, but unto us they did minister the things, which are now reported unto you by them that have preached the gospel unto you with the Holy Ghost sent down from heaven; which things the angels desire to look into.

Về sự cứu rỗi ấy, các đấng tiên tri đã tìm hiểu và tra cứu cách chuyên cần, là những người đã nói tiên tri về ân điển sẽ đến cho anh em; họ tra xét xem Thánh Linh của Đấng Christ ở trong họ đã chỉ ra điều gì, hoặc chỉ ra thời kỳ thuộc loại nào, khi Ngài làm chứng trước về những sự thương khó của Đấng Christ và vinh quang sẽ theo sau. Và đã được tỏ ra cho họ rằng, không phải cho chính mình họ, nhưng cho chúng ta, họ phụng sự các điều ấy—là những điều hiện nay đã được loan báo cho anh em bởi những người đã rao giảng Tin Lành cho anh em, nhờ Đức Thánh Linh từ trời sai xuống—những điều mà các thiên sứ ước ao xem xét.

Wherefore gird up the loins of your mind, be sober, and hope to the end for the grace that is to be brought unto you at the revelation of Jesus Christ; As obedient children, not fashioning yourselves according to the former lusts in your ignorance: But as he which hath called you is holy, so be ye holy in all manner of conversation; Because it is written, Be ye holy; for I am holy.

Vậy, hãy thắt lưng trí khôn của anh em, hãy tiết độ, và hãy trọn vẹn trông cậy nơi ân điển sẽ được đem đến cho anh em trong kỳ Đức Chúa Jêsus Christ được tỏ ra; như những con cái vâng phục, đừng khuôn mình theo các dục vọng thuở trước trong thời vô tri của anh em; nhưng như Đấng đã gọi anh em là thánh, thì anh em cũng hãy nên thánh trong mọi cách ăn ở; vì có chép rằng: Hãy nên thánh, vì Ta là thánh.

And if ye call on the Father, who without respect of persons judgeth according to every man’s work, pass the time of your sojourning here in fear: Forasmuch as ye know that ye were not redeemed with corruptible things, as silver and gold, from your vain conversation received by tradition from your fathers; But with the precious blood of Christ, as of a lamb without blemish and without spot: Who verily was foreordained before the foundation of the world, but was manifest in these last times for you, Who by him do believe in God, that raised him up from the dead, and gave him glory; that your faith and hope might be in God. Seeing ye have purified your souls in obeying the truth through the Spirit unto unfeigned love of the brethren, see that ye love one another with a pure heart fervently: Being born again, not of corruptible seed, but of incorruptible, by the word of God, which liveth and abideth forever. For all flesh is as grass, and all the glory of man as the flower of grass. The grass withereth, and the flower thereof falleth away: But the word of the Lord endureth forever. And this is the word which by the gospel is preached unto you. 1 Peter 1:1–25.

Vậy, nếu anh em kêu cầu Cha, Đấng xét đoán mỗi người theo công việc của mỗi người, không thiên vị ai, thì hãy lấy lòng kính sợ mà ăn ở trong thời kỳ kiều ngụ của anh em nơi đây; vì biết rằng anh em chẳng phải đã được chuộc khỏi lối sống hư không mà tổ phụ truyền lại bằng những vật hay hư nát như bạc và vàng, nhưng bằng huyết báu của Đấng Christ, như huyết của chiên con không tì không vít; Ngài vốn đã được định sẵn trước khi sáng thế, nhưng vì anh em mà đã được tỏ ra trong kỳ sau rốt; nhờ Ngài mà anh em tin đến Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại và ban cho Ngài vinh hiển, hầu cho đức tin và sự trông cậy của anh em ở trong Đức Chúa Trời. Nhân vì anh em đã thanh tẩy linh hồn mình trong sự vâng phục lẽ thật bởi Thánh Linh, dẫn đến tình yêu thương anh em không giả trá, thì hãy lấy lòng trong sạch mà hết lòng sốt sắng yêu thương nhau; vì anh em đã được sanh lại, không bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là nhờ lời Đức Chúa Trời hằng sống và còn lại đời đời. Vì mọi xác thịt khác nào cỏ, và mọi vinh hiển của người như bông cỏ: cỏ héo, bông hoa của nó rụng mất; song lời Chúa tồn tại đời đời. Ấy chính là lời đã được rao giảng cho anh em bởi Tin Lành. 1 Phi-e-rơ 1:1-25.