On page 81 of Early Writings (and “81” is a symbol of one divine High Priest and eighty priests), William Miller’s second dream is recorded. Like unto Nebuchadnezzar, William Miller had two dreams. Nebuchadnezzar’s second dream in chapter four of Daniel, is set within the context of Moses’ “seven times” of Leviticus 26. Miller employed Daniel chapter four to illustrate Leviticus twenty-six’s “seven times” when he taught the 2,520, though he called it the “seven times.” Miller did not recognize that he had been typified by Nebuchadnezzar, but Nebuchadnezzar’s 2,520 days in chapter four, is represented by both the word “scatter” and the fact that it occurs ‘seven times,’ before the dirt brush man arrived in Miller’s dream.

Ở trang 81 của Early Writings (và “81” là một biểu tượng của một Đấng Thượng Tế thần linh và tám mươi thầy tế lễ), giấc mơ thứ hai của William Miller được ghi lại. Giống như Nê-bu-cát-nết-sa, William Miller đã có hai giấc mơ. Giấc mơ thứ hai của Nê-bu-cát-nết-sa trong chương bốn của Đa-ni-ên được đặt trong bối cảnh “bảy lần” của Môi-se trong Lê-vi Ký 26. Miller đã sử dụng Đa-ni-ên chương bốn để minh họa “bảy lần” của Lê-vi Ký hai mươi sáu khi ông dạy về 2,520, dù ông gọi đó là “bảy lần.” Miller không nhận ra rằng ông đã được Nê-bu-cát-nết-sa tiên trưng, nhưng 2,520 ngày của Nê-bu-cát-nết-sa trong chương bốn được biểu trưng cả bởi từ “scatter” lẫn bởi thực tế là điều ấy diễn ra ‘bảy lần’, trước khi người cầm chổi quét bụi xuất hiện trong giấc mơ của Miller.

Miller is called “Father Miller” by Sister White, but not in the pagan way as Catholics do, but in a patriarchal way, like unto father Abraham. Miller is a symbol, he is a covenant man, representing the chain of biblical symbols along the path to the final covenant with the one hundred and forty-four thousand. Joel informs us that in the last days, the old men would dream dreams, and William Miller is the old man of our history, and also the farmer that fulfilled William Tyndale’s prophecy that states, “If God spare my life, ere many years I will cause a boy that driveth the plough shall know more of the Scripture than thou dost.”

Ông Miller được Bà White gọi là "Cha Miller", nhưng không theo lối ngoại giáo như người Công giáo vẫn làm, mà theo nghĩa phụ hệ, như tổ phụ Áp-ra-ham. Ông Miller là một biểu tượng; ông là một người của giao ước, đại diện cho chuỗi các biểu tượng Kinh Thánh trên con đường dẫn đến giao ước sau cùng với một trăm bốn mươi bốn ngàn. Giô-ên cho chúng ta biết rằng trong những ngày sau rốt, người già sẽ nằm chiêm bao; và William Miller là bậc lão niên trong lịch sử của chúng ta, đồng thời cũng là người nông phu đã làm ứng nghiệm lời tiên tri của William Tyndale rằng: "Nếu Đức Chúa Trời còn cho tôi sống, trước khi nhiều năm trôi qua, tôi sẽ khiến một cậu bé cày ruộng biết về Kinh Thánh nhiều hơn ngươi biết."

“God sent His angel to move upon the heart of a farmer who had not believed the Bible, to lead him to search the prophecies. Angels of God repeatedly visited that chosen one, to guide his mind and open to his understanding prophecies which had ever been dark to God’s people. The commencement of the chain of truth was given to him, and he was led on to search for link after link, until he looked with wonder and admiration upon the Word of God. He saw there a perfect chain of truth. That Word which he had regarded as uninspired now opened before his vision in its beauty and glory. He saw that one portion of Scripture explains another, and when one passage was closed to his understanding, he found in another part of the Word that which explained it. He regarded the sacred Word of God with joy and with the deepest respect and awe.” Early Writings, 230.

Đức Chúa Trời sai thiên sứ của Ngài cảm động lòng của một người nông dân vốn không tin Kinh Thánh, để dẫn ông tìm hiểu các lời tiên tri. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời nhiều lần thăm viếng người được chọn ấy, để hướng dẫn tâm trí ông và mở ra cho sự hiểu biết của ông những lời tiên tri xưa nay vẫn tối tăm đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Mắt xích đầu tiên của chuỗi lẽ thật được ban cho ông, và ông được dẫn dắt tìm kiếm hết mắt xích này đến mắt xích khác, cho đến khi ông ngắm nhìn Lời Đức Chúa Trời với sự kinh ngạc và thán phục. Ông thấy ở đó một chuỗi lẽ thật hoàn chỉnh. Lời ấy, mà trước kia ông xem là không được linh hứng, nay mở ra trước mắt ông trong vẻ đẹp và vinh quang của nó. Ông thấy rằng phần này của Kinh Thánh giải thích phần kia; và khi một đoạn nào đó khép kín đối với sự hiểu biết của ông, ông lại tìm thấy ở phần khác của Lời điều giải thích nó. Ông trân trọng Lời thánh của Đức Chúa Trời với niềm vui mừng cùng lòng tôn kính và kính sợ sâu xa nhất. Early Writings, 230.

Miller was the farmer who fulfilled Tyndale’s prophecy, and his first publication of the prophetic knowledge he had assembled from the unsealing of Daniel 8:14 was in 1831, two hundred and twenty years after the publication of the King James Version of the Bible. John Wycliff, William Tyndale and the publication of the King James Bible in 1611, represent three waymarks that begins the two-hundred-and-twenty-year prophecy that ends when Tyndale’s plow boy would open God’s Word to the first angel’s message, that was to be followed by two other angels. That first angel arrived in 1798 and the third in 1844. Wycliff, Tyndale and King James connect to the farmer who would fulfill Tyndale’s prediction, and who would symbolize the history of three angels from 1798 unto 1844.

Miller là người nông dân đã ứng nghiệm lời dự ngôn của Tyndale, và ấn phẩm đầu tiên trình bày sự hiểu biết tiên tri mà ông đã kết tập từ sự mở ấn Đa-ni-ên 8:14 được xuất bản vào năm 1831, hai trăm hai mươi năm sau khi Bản Kinh Thánh King James được ấn hành. John Wycliff, William Tyndale và việc ấn hành Kinh Thánh King James năm 1611 tạo thành ba cột mốc mở đầu cho lời tiên tri hai trăm hai mươi năm, lời tiên tri kết thúc khi “cậu bé cày” của Tyndale sẽ mở Lời Đức Chúa Trời ra cho sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, mà sau đó sẽ có hai thiên sứ khác tiếp nối. Thiên sứ thứ nhất đến vào năm 1798 và thiên sứ thứ ba vào năm 1844. Wycliff, Tyndale và King James gắn kết với người nông dân sẽ ứng nghiệm lời dự ngôn của Tyndale, và người này sẽ tượng trưng cho lịch sử của ba thiên sứ từ năm 1798 đến năm 1844.

William Miller’s alpha discovery was the 2,520 years of Leviticus twenty-six and his omega discovery was the 2,300 years of Daniel 8:14. The 2,520 scattering of Judah began in 677 BC and ended in 1844. The 2,300 years of Daniel 8:14 ended in 1844. Both ended together in 1844, and the starting point of the alpha and omega discoveries of William Miller were separated by two hundred and twenty years. “Two hundred and twenty” is a symbol of William Miller, upon two witnesses. The alpha and omega discoveries of Miller are represented by 1798 and 1844. The 2,520 scattering against the northern kingdom ended in 1798, and forty-six years later in 1844 the 2,300 years ended.

Khám phá Anpha của William Miller là 2.520 năm trong Lê-vi Ký đoạn 26, và khám phá Ômêga của ông là 2.300 năm trong Đa-ni-ên 8:14. Thời kỳ tản lạc 2.520 năm của Giu-đa khởi sự vào năm 677 trước Công nguyên và chấm dứt vào năm 1844. Thời kỳ 2.300 năm của Đa-ni-ên 8:14 chấm dứt vào năm 1844. Cả hai cùng chấm dứt vào năm 1844, và điểm khởi đầu của các khám phá Anpha và Ômêga của William Miller cách nhau hai trăm hai mươi năm. “Hai trăm hai mươi” là một biểu tượng của William Miller, dựa trên hai chứng nhân. Các khám phá Anpha và Ômêga của Miller được biểu trưng bởi các mốc 1798 và 1844. Án tản lạc 2.520 năm giáng trên vương quốc miền bắc chấm dứt vào năm 1798, và bốn mươi sáu năm sau, vào năm 1844, thời kỳ 2.300 năm chấm dứt.

The 2,520 years that ended in 1798, marks that date and the 2,520 years against Judah, which ended in 1844 produces a two-hundred-and-twenty-year period. This means the 2,520 against Israel produces the prophetic period of forty-six years, and the 2,520 against Judah produces the prophetic period of two hundred and twenty years. The alpha of that period is 677 BC and the omega is 457 BC, which means the alpha of the forty-six-year period and of the two-hundred-and-twenty-year period is represented by the 2,520, and the omega of both of the lines is the 2,300. The two “scatterings” of 2,520 years provide two witnesses of a period that begins with the 2,520 and ends with the 2,300. Both of those lines identify the alpha and omega discoveries of William Miller.

Thời kỳ 2.520 năm kết thúc vào năm 1798 ghi dấu niên điểm ấy; và thời kỳ 2.520 năm chống lại Giu-đa, kết thúc vào năm 1844, tạo nên một thời đoạn hai trăm hai mươi năm. Điều đó có nghĩa là kỳ hạn 2.520 chống lại Y-sơ-ra-ên tạo nên thời kỳ tiên tri bốn mươi sáu năm, còn kỳ hạn 2.520 chống lại Giu-đa tạo nên thời kỳ tiên tri hai trăm hai mươi năm. Alpha của thời đoạn ấy là năm 677 TCN và omega là năm 457 TCN; nghĩa là alpha của thời kỳ bốn mươi sáu năm và của thời kỳ hai trăm hai mươi năm đều được biểu thị bởi con số 2.520, còn omega của cả hai dòng là con số 2.300. Hai “tản lạc” dài 2.520 năm cung cấp hai chứng nhân về một thời đoạn khởi đầu với 2.520 và kết thúc với 2.300. Cả hai dòng ấy đều chỉ ra những khám phá alpha và omega của William Miller.

“William Miller’s Dream

Giấc mộng của William Miller

“I dreamed that God, by an unseen hand, sent me a curiously wrought casket about ten inches long by six square, made of ebony and pearls curiously inlaid. To the casket there was a key attached. I immediately took the key and opened the casket, when, to my wonder and surprise, I found it filled with all sorts and sizes of jewels, diamonds, precious stones, and gold and silver coin of every dimension and value, beautifully arranged in their several places in the casket; and thus arranged they reflected a light and glory equaled only to the sun.

Tôi mơ rằng Đức Chúa Trời, bằng một bàn tay vô hình, đã gửi cho tôi một chiếc hộp báu chế tác kỳ công, dài khoảng mười inch, mặt vuông cạnh sáu inch, làm bằng gỗ mun và ngọc trai được khảm cầu kỳ. Kèm theo chiếc hộp có một chiếc chìa khóa. Tôi lập tức lấy chìa khóa mở hộp; khi mở ra, tôi vô cùng kinh ngạc và sửng sốt, vì thấy bên trong đầy ắp đủ loại và đủ cỡ châu báu, kim cương, đá quý, cùng tiền vàng tiền bạc đủ mọi kích thước và giá trị, được sắp xếp đẹp đẽ vào những vị trí riêng của chúng trong hộp; và nhờ cách sắp đặt ấy, chúng phản chiếu một thứ ánh sáng và vinh quang chỉ có mặt trời mới sánh được.

“I thought it was not my duty to enjoy this wonderful sight alone, although my heart was overjoyed at the brilliancy, beauty, and value of its contents. I therefore placed it on a center table in my room and gave out word that all who had a desire might come and see the most glorious and brilliant sight ever seen by man in this life.

Tôi nghĩ rằng thật không phải nếu tôi tận hưởng cảnh tượng kỳ diệu này một mình, mặc dù lòng tôi vô cùng hân hoan trước sự rực rỡ, vẻ đẹp và giá trị của những gì nó chứa đựng. Vì thế tôi đặt nó trên chiếc bàn ở giữa phòng mình và loan tin rằng tất cả những ai có mong muốn đều có thể đến chiêm ngưỡng cảnh tượng huy hoàng và rực rỡ nhất mà con người từng được thấy trong đời này.

“The people began to come in, at first few in number, but increasing to a crowd. When they first looked into the casket, they would wonder and shout for joy. But when the spectators increased, everyone would begin to trouble the jewels, taking them out of the casket and scattering them on the table.

Dân chúng bắt đầu kéo vào, lúc đầu chỉ ít người, nhưng rồi đông dần thành một đám đông. Khi họ vừa nhìn vào chiếc tráp, họ lấy làm kinh ngạc và reo mừng. Nhưng khi số người xem tăng lên, ai nấy bèn bắt đầu làm xáo trộn các châu báu, lấy chúng ra khỏi tráp và vung vãi chúng trên bàn.

“I began to think that the owner would require the casket and the jewels again at my hand; and if I suffered them to be scattered, I could never place them in their places in the casket again as before; and felt I should never be able to meet the accountability, for it would be immense. I then began to plead with the people not to handle them, nor to take them out of the casket; but the more I pleaded, the more they scattered; and now they seemed to scatter them all over the room, on the floor and on every piece of furniture in the room.

Tôi bắt đầu nghĩ rằng chủ nhân sẽ lại đòi tráp và các châu báu từ tay tôi; và nếu tôi để chúng bị tản mác, tôi sẽ chẳng bao giờ có thể đặt chúng trở lại đúng chỗ của chúng trong tráp như trước nữa; và tôi cảm thấy mình sẽ không bao giờ có thể chu toàn trách nhiệm ấy, vì nó là vô cùng lớn lao. Bấy giờ tôi bắt đầu khẩn khoản nài xin mọi người đừng chạm đến chúng, cũng đừng lấy chúng ra khỏi tráp; nhưng tôi càng nài xin, họ càng làm cho chúng tản mác; và giờ đây dường như họ đã làm chúng vương vãi khắp gian phòng, trên sàn nhà và trên mọi món đồ đạc trong phòng.

“I then saw that among the genuine jewels and coin they had scattered an innumerable quantity of spurious jewels and counterfeit coin. I was highly incensed at their base conduct and ingratitude, and reproved and reproached them for it; but the more I reproved, the more they scattered the spurious jewels and false coin among the genuine.

Bấy giờ tôi thấy rằng giữa những châu báu thật và đồng tiền thật, họ đã rải vô số châu báu giả và đồng tiền giả. Tôi vô cùng phẫn nộ trước hành vi đê tiện và vô ơn của họ, và đã khiển trách, quở trách họ vì điều đó; nhưng tôi càng khiển trách thì họ càng rải châu báu giả và đồng tiền giả lẫn vào châu báu và đồng tiền thật.

“I then became vexed in my physical soul and began to use physical force to push them out of the room; but while I was pushing out one, three more would enter and bring in dirt and shavings and sand and all manner of rubbish, until they covered every one of the true jewels, diamonds, and coins, which were all excluded from sight. They also tore in pieces my casket and scattered it among the rubbish. I thought no man regarded my sorrow or my anger. I became wholly discouraged and disheartened, and sat down and wept.

Bấy giờ tôi bực bội trong thân xác và bắt đầu dùng sức mạnh thể xác để xô chúng ra khỏi phòng; nhưng trong khi tôi đang đẩy được một đứa ra, thì ba đứa khác lại ùa vào, mang theo đất bẩn, mạt cưa, cát và đủ mọi thứ rác rưởi, đến nỗi chúng phủ kín hết mọi báu vật thật, kim cương và tiền xu, tất cả đều khuất khỏi tầm mắt. Chúng còn xé vụn chiếc hộp báu của tôi và rải lẫn nó vào đống rác. Tôi nghĩ chẳng ai đoái hoài đến nỗi buồn hay cơn giận của tôi. Tôi hoàn toàn nản lòng, suy sụp, và ngồi xuống khóc.

“While I was thus weeping and mourning for my great loss and accountability, I remembered God, and earnestly prayed that He would send me help.

Khi tôi đang như thế mà khóc lóc và than khóc vì mất mát lớn lao và trách nhiệm mình phải gánh chịu, tôi bèn nhớ đến Thiên Chúa và tha thiết khẩn cầu Ngài sai đến giúp tôi.

“Immediately the door opened, and a man entered the room, when the people all left it; and he, having a dirt brush in his hand, opened the windows, and began to brush the dirt and rubbish from the room.

Tức thì, cánh cửa mở ra, và một người đàn ông bước vào phòng, khi mọi người đều đã rời khỏi đó; và người ấy, tay cầm một chiếc chổi quét bụi, mở các cửa sổ, và bắt đầu quét bụi bẩn và rác rưởi ra khỏi phòng.

“I cried to him to forbear, for there were some precious jewels scattered among the rubbish.

Tôi kêu lên bảo anh ta hãy dừng tay, vì có vài viên ngọc quý vương vãi giữa đống rác rưởi.

“He told me to ‘fear not,’ for he would ‘take care of them’.

Ông ấy nói với tôi: 'đừng sợ', vì ông ấy sẽ 'lo liệu cho họ'.

“Then, while he brushed the dirt and rubbish, false jewels and counterfeit coin, all rose and went out of the window like a cloud, and the wind carried them away. In the bustle I closed my eyes for a moment; when I opened them, the rubbish was all gone. The precious jewels, the diamonds, the gold and silver coins, lay scattered in profusion all over the room.

Rồi, trong lúc anh ấy quét dọn bụi bẩn, rác rưởi, cả đồ trang sức giả lẫn tiền giả, tất cả bốc lên và bay ra ngoài cửa sổ như một đám mây, và gió cuốn chúng đi. Trong lúc náo động tôi nhắm mắt lại một thoáng; khi mở mắt ra, rác rưởi đã biến mất hết. Những viên ngọc quý, những viên kim cương, những đồng tiền vàng và bạc nằm la liệt khắp căn phòng.

“He then placed on the table a casket, much larger and more beautiful than the former, and gathered up the jewels, the diamonds, the coins, by the handful, and cast them into the casket, till not one was left, although some of the diamonds were not bigger than the point of a pin.

Rồi ông đặt lên bàn một chiếc tráp, lớn hơn nhiều và đẹp hơn chiếc trước, và bốc từng vốc những món trang sức, những viên kim cương, những đồng tiền, đổ chúng vào tráp, cho đến khi không còn sót lại thứ nào, dù có những viên kim cương nhỏ chẳng lớn hơn đầu ghim.

“He then called upon me to ‘come and see.’

Sau đó, anh ấy bảo tôi: 'Hãy đến mà xem.'

“I looked into the casket, but my eyes were dazzled with the sight. They shone with ten times their former glory. I thought they had been scoured in the sand by the feet of those wicked persons who had scattered and trod them in the dust. They were arranged in beautiful order in the casket, everyone in its place, without any visible pains of the man who cast them in. I shouted with very joy, and that shout awoke me.” Early Writings, 81–83.

“Tôi nhìn vào chiếc tráp, nhưng mắt tôi chói lòa trước cảnh tượng. Chúng sáng ngời với vẻ vinh quang gấp mười lần trước kia. Tôi nghĩ rằng chúng đã được chùi giũa trong cát bởi những bước chân của những kẻ gian ác, là những kẻ đã làm chúng tản mác và giẫm đạp chúng trong bụi đất. Chúng được sắp đặt thật đẹp đẽ trong tráp, mỗi thứ ở đúng chỗ của nó, mà không hề thấy dấu vết công phu nào của người đã thả chúng vào. Tôi kêu lên vì quá đỗi vui mừng, và tiếng kêu ấy làm tôi tỉnh dậy.” Những Bài Viết Ban Đầu, 81-83.

Beginning on page “81,” a symbol of the priests, the dream identifies the history of the Laodicean Seventh-day Adventist church’s work of destroying the foundational truths assembled by Divinity through the humanity of William Miller. The history ends when Miller “shouted with very joy” and the shout “awoke” him. The history represented in the dream concludes at the loud cry of the third angel, which is the climax of the Midnight Cry. The historical narrative of Miller’s dream also represents the waymarks of the Millerite history, and it therefore also represents the parallel history of the movement of the one hundred and forty-four thousand. Just as significant is that the dream’s historical representation also contains a prophetic fractal of the history that began to repeat in 2023.

Bắt đầu ở trang “81”, vốn là một biểu tượng của các thầy tế lễ, giấc mơ ấy chỉ ra lịch sử về công cuộc của Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy La-ô-đi-xê trong việc phá hủy các lẽ thật nền tảng, được Thần tính kết tập qua nhân tính của William Miller. Lịch sử ấy chấm dứt khi Miller “kêu lên vì rất vui mừng” và tiếng kêu ấy đã “đánh thức” ông. Lịch sử được biểu trưng trong giấc mơ kết thúc tại tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba, vốn là đỉnh điểm của Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm. Bản tường thuật lịch sử trong giấc mơ của Miller cũng đại diện cho các mốc dấu của lịch sử phong trào Miller, và vì thế nó cũng đại diện cho lịch sử song song của phong trào một trăm bốn mươi bốn nghìn người. Điều cũng quan trọng không kém là sự biểu trưng lịch sử của giấc mơ còn hàm chứa một fractal tiên tri của lịch sử đã bắt đầu lặp lại vào năm 2023.

The jewels of truth that were recognized in the history of the one hundred and forty-four thousand were placed into the public record in 2004 and then again in 2012, when the presentation of Habakkuk’s Tables gathered a group that was destined to be scattered. Those truths were set upon the table in 2004, with the first presentation of the truths which had been unsealed in 1989. A “few” considered the message then, but in 2012, the series of 95 presentations titled Habakkuk’s Tables brought in a crowd, for the “people began to come in, at first few in number, but increasing to a crowd.”

Những viên ngọc của lẽ thật đã được nhận biết trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn đã được ghi vào hồ sơ công khai vào năm 2004 và rồi một lần nữa vào năm 2012, khi bản trình bày về Các Bảng của Ha-ba-cúc quy tụ một nhóm vốn định sẵn sẽ bị tản mác. Những lẽ thật ấy đã được đặt lên bảng vào năm 2004, với bản trình bày đầu tiên về những lẽ thật đã được mở ấn vào năm 1989. Khi ấy chỉ "một ít" người lưu tâm đến sứ điệp, nhưng vào năm 2012, loạt 95 bài trình bày mang tựa "Các Bảng của Ha-ba-cúc" đã thu hút một đám đông, vì "dân sự bắt đầu đến, lúc đầu ít người, nhưng rồi tăng lên thành một đám đông."

From 2012 unto July 18, 2020 those truths were progressively scattered and covered with rubbish. On July 18, 2020, the proponents of the message of Habakkuk’s Tables were scattered for a period of three and a half days.

Từ năm 2012 cho đến ngày 18 tháng 7 năm 2020, những lẽ thật ấy đã dần dần bị tản mác và bị phủ lấp bởi rác rưởi. Vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, những người ủng hộ sứ điệp về Các Bảng của Ha-ba-cúc đã bị phân tán trong một khoảng thời gian ba ngày rưỡi.

And when they shall have finished their testimony, the beast that ascendeth out of the bottomless pit shall make war against them, and shall overcome them, and kill them. And their dead bodies shall lie in the street of the great city, which spiritually is called Sodom and Egypt, where also our Lord was crucified. And they of the people and kindreds and tongues and nations shall see their dead bodies three days and an half, and shall not suffer their dead bodies to be put in graves. And they that dwell upon the earth shall rejoice over them, and make merry, and shall send gifts one to another; because these two prophets tormented them that dwelt on the earth. Revelation 11:7–10.

Khi họ đã hoàn tất lời chứng của họ, con thú từ vực không đáy đi lên sẽ giao chiến với họ, sẽ đánh bại họ và sẽ giết họ. Thi thể của họ sẽ nằm trên đường phố của thành lớn, thành mà theo nghĩa thiêng liêng được gọi là Sô-đôm và Ai Cập, nơi Chúa chúng ta cũng đã chịu đóng đinh. Những người thuộc các dân, các bộ tộc, các thứ tiếng và các nước sẽ nhìn xem thi thể của họ trong ba ngày rưỡi, và sẽ không cho phép thi thể của họ được chôn trong mồ mả. Những người cư ngụ trên đất sẽ vui mừng vì cớ họ, hân hoan, và sẽ gửi quà tặng cho nhau; bởi vì hai vị tiên tri ấy đã hành hạ những người cư ngụ trên đất. Khải Huyền 11:7-10.

On Sabbath, December 30, 2023 Future for America joined a zoom meeting for its first public meeting since July 18, 2020. December 30, 2023 is 1,260 days after July 18, 2020, or “three days and an half.” While Elijah and Moses were dead in the street, the other class is “rejoicing.” Future for America had returned to publishing the prophetic message in July of 2023, for the message that was then to go to the entire earth, would of prophetic necessity need to come from the “wilderness.” Three and a half days, or 1,260 days are a wilderness.

Vào ngày Sa-bát, 30 tháng 12 năm 2023, Future for America đã tham dự một cuộc họp Zoom, là buổi nhóm công khai đầu tiên của họ kể từ ngày 18 tháng 7 năm 2020. Ngày 30 tháng 12 năm 2023 là 1.260 ngày sau ngày 18 tháng 7 năm 2020, tức là “ba ngày rưỡi.” Trong khi Ê-li và Môi-se chết nơi đường phố, thì nhóm kia đang “vui mừng.” Future for America đã trở lại công bố sứ điệp tiên tri vào tháng 7 năm 2023, vì sứ điệp khi ấy phải đến với cả địa cầu, nên theo tất yếu của lời tiên tri, nó cần phải phát xuất từ “đồng vắng.” Ba ngày rưỡi, hay 1.260 ngày, là một thời kỳ đồng vắng.

And the woman fled into the wilderness, where she hath a place prepared of God, that they should feed her there a thousand two hundred and threescore days. Revelation 12:6.

Người đàn bà trốn vào đồng vắng, tại đó Đức Chúa Trời đã dọn sẵn cho nàng một nơi, để người ta nuôi nàng ở đó một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Khải Huyền 12:6.

The “wilderness” is “a thousand two hundred and threescore days,” which is 1,260 days, which is also “three days and a half,” and is represented in Revelation 12:6, and “126” is a tithe of 1,260. One of the amazing truths that was then unsealed was the need of repentance in fulfillment of the prayer of the “seven times” in Leviticus twenty-six.

"Đồng vắng" là "một nghìn hai trăm sáu mươi ngày", tức 1.260 ngày, cũng là "ba ngày rưỡi", và được nói đến trong Khải Huyền 12:6; còn "126" là một phần mười của 1.260. Một trong những lẽ thật kỳ diệu khi ấy đã được mở ấn là tính cần thiết của sự ăn năn để ứng nghiệm lời cầu nguyện của "bảy lần" trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu.

1,260 days is also a symbol of 2,520 days. The “seven times” against the northern kingdom began in 723 BC and ended in 1798. The midpoint is 538, thus creating 1,260 years that paganism trampled down the sanctuary and host followed by 1,260 that papalism trampled down the sanctuary and host. This prophetic structure is aligned with the 1,260 days from Christ’s baptism to the cross, that is followed by 1,260 prophetic days unto 34 AD, when the gospel went to the Gentiles. Thus, upon two witnesses 1,260 is part of 2,520 days, or Moses’ “seven times” of Leviticus twenty-six.

1.260 ngày cũng là một biểu tượng của 2.520 ngày. “Bảy lần” chống lại vương quốc phương bắc khởi đầu năm 723 TCN và kết thúc năm 1798. Điểm giữa là năm 538, do đó hình thành hai giai đoạn 1.260 năm: trước là ngoại giáo giày đạp nơi thánh và đạo binh, sau là giáo quyền giáo hoàng giày đạp nơi thánh và đạo binh. Cấu trúc tiên tri này tương ứng với 1.260 ngày từ phép báp-têm của Đấng Christ đến thập tự giá, tiếp theo là 1.260 ngày tiên tri cho đến năm 34 SCN, khi Phúc Âm được rao giảng cho các Dân Ngoại. Vậy, theo lời chứng của hai nhân chứng, 1.260 là một phần của 2.520 ngày, tức “bảy lần” của Môi-se trong Lê-vi Ký hai mươi sáu.

The voice in the wilderness period beginning on Sabbath, July 18, 2020 unto Sabbath, December 30, 2023 began to cry in July of 2023, and when the “wilderness” period ended on Sabbath, December 30, 2023 the resurrection of Moses and Elijah arrived. The message of the voice identified that the waymark of the parallel first disappointments in every reform movement explained the false prediction of July 18, 2020, in the context of the parable of the ten virgins. It called men and women to the repentance represented by the Leviticus twenty-six prayer. Miller’s dream represents that very repentance when he records, “While I was thus weeping and mourning for my great loss and accountability, I remembered God, and earnestly prayed that He would send me help.”

Tiếng kêu trong đồng vắng—thời kỳ khởi đầu vào ngày Sa-bát 18 tháng 7 năm 2020 và kéo dài đến ngày Sa-bát 30 tháng 12 năm 2023—đã bắt đầu cất tiếng kêu vào tháng 7 năm 2023; và khi thời kỳ “đồng vắng” ấy chấm dứt vào ngày Sa-bát 30 tháng 12 năm 2023, sự phục sinh của Môi-se và Ê-li đã đến. Sứ điệp của tiếng kêu ấy chỉ ra rằng cột mốc về những thất vọng đầu tiên song hành trong mọi phong trào cải chánh đã giải thích lời dự đoán sai về ngày 18 tháng 7 năm 2020, trong bối cảnh ngụ ngôn mười trinh nữ. Nó kêu gọi nam nữ đến sự ăn năn được biểu trưng bởi lời cầu nguyện trong Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu. Giấc mộng của Miller tiêu biểu chính sự ăn năn ấy khi ông ghi lại: “Khi tôi như vậy đang khóc lóc và than khóc vì sự mất mát lớn lao và trách nhiệm của tôi, tôi nhớ đến Đức Chúa Trời, và khẩn thiết cầu nguyện rằng Ngài sẽ sai đến cho tôi sự giúp đỡ.”

Come and See

Hãy đến mà xem

Miller’s dream is divided by two expressions of “come and see.” The first time Miller invites people to “come and see,” and the second time the “dirt brush man” invites Miller to come and see. “Come and see” is a prophetic symbol that identifies a prophetic truth that is unsealed. The first four seals each contain the command to “come and see.”

Giấc mộng của Miller được phân đoạn bởi hai lần xuất hiện của cụm "hãy đến và xem". Lần thứ nhất, Miller mời mọi người "hãy đến và xem"; lần thứ hai, "người cầm chổi quét bụi" mời Miller "hãy đến và xem". "Hãy đến và xem" là một biểu tượng tiên tri đánh dấu một lẽ thật tiên tri đã được mở ấn. Bốn ấn đầu tiên, mỗi ấn đều bao hàm mệnh lệnh "hãy đến và xem".

And I saw when the Lamb opened one of the seals, and I heard, as it were the noise of thunder, one of the four beasts saying, Come and see. … And when he had opened the second seal, I heard the second beast say, Come and see. … And when he had opened the third seal, I heard the third beast say, Come and see. … And when he had opened the fourth seal, I heard the voice of the fourth beast say, Come and see. Revelation 6:1, 3, 5, 7.

Và tôi thấy, khi Chiên Con mở một trong các ấn, tôi nghe tiếng của một trong bốn sinh vật, như tiếng sấm, nói: Hãy đến và xem. ... Và khi Ngài mở ấn thứ hai, tôi nghe sinh vật thứ hai nói: Hãy đến và xem. ... Và khi Ngài mở ấn thứ ba, tôi nghe sinh vật thứ ba nói: Hãy đến và xem. ... Và khi Ngài mở ấn thứ tư, tôi nghe tiếng của sinh vật thứ tư nói: Hãy đến và xem. Khải Huyền 6:1, 3, 5, 7.

The “come and see” in the beginning of Miller’s dream is the alpha and the ending “come and see” is the omega. The dream identifies the unsealing in the beginning of the dream as jewels that when “arranged they reflected a light and glory equaled only to the sun.” When Christ invited Miller to “come and see” the omega, Miller says, “my eyes were dazzled with the sight. They shone with ten times their former glory.” The alpha light was as the sun and the omega light was ten times the sun.

“Hãy đến mà xem” ở phần khởi đầu giấc mộng của Miller là anpha, và “Hãy đến mà xem” ở phần kết thúc là ômega. Giấc mộng xác định việc mở ấn ở phần đầu giấc mộng là những châu báu mà khi “được sắp đặt thì chúng phản chiếu ánh sáng và vinh quang chỉ có mặt trời mới sánh được.” Khi Đấng Christ mời Miller “Hãy đến mà xem” ômega, Miller nói: “Mắt tôi lóa đi trước cảnh tượng ấy. Chúng tỏa sáng với vinh quang gấp mười lần vinh quang trước kia của chúng.” Ánh sáng anpha như mặt trời, còn ánh sáng ômega thì gấp mười lần mặt trời.

Scatter

Phân tán

Miller’s mourning and repentance is represented at the end of the period that began with the first “come and see,” and the last “come and see.” In the period which begins with Miller’s unsealing a message to the people and then ends with Christ unsealing a message to Miller, the word “scatter” is represented “seven times.” Miller will use the word again, but between the first and last unsealing, “scatter” is expressed “seven times.” The Bible identifies the judgment of the “seven times” with the word, “scatter.”

Sự than khóc và ăn năn của Miller được biểu thị ở phần cuối của giai đoạn khởi đầu bằng "hãy đến và xem" thứ nhất, và kết thúc bằng "hãy đến và xem" sau cùng. Trong giai đoạn khởi đầu khi Miller mở ấn một sứ điệp cho dân sự và rồi kết thúc khi Đấng Christ mở ấn một sứ điệp cho Miller, từ "tản lạc" xuất hiện "bảy lần." Miller sẽ còn dùng từ ấy nữa, nhưng giữa lần mở ấn thứ nhất và lần mở ấn sau cùng, "tản lạc" được nêu lên "bảy lần." Kinh Thánh đồng nhất sự phán xét của "bảy lần" với từ "tản lạc."

And I will scatter you among the heathen, and will draw out a sword after you: and your land shall be desolate, and your cities waste. Leviticus 26:33.

Ta sẽ tản lạc các ngươi giữa các dân ngoại, và Ta sẽ tuốt gươm đuổi theo các ngươi; đất đai của các ngươi sẽ nên hoang vu, và các thành của các ngươi sẽ hoang phế. Lê-vi Ký 26:33.

The very first truth Miller discovered was the “seven times” of Leviticus twenty-six, and in his dream the period between Miller’s message being published and Christ’s message being published, all the foundational truths represented by the work of William Miller were to be covered with the rubbish and counterfeit coins of the theologians of Laodicean Seventh-day Adventism. That rejection of the foundational truths is represented as seven scatterings within the history between the alpha and omega. The “seven times” is a symbol of the work of William Miller, which in turn are the foundations of Seventh-day Adventism, of which; the 2,300 days of Daniel 8:14 are the central pillar of that very foundation. What this identifies is that the 2,520 years of scattering that was the first, or alpha discovery of William Miller marks the beginning of a period, that ended with the omega discovery of William Miller, which was the 2,300 days.

Chân lý trước hết mà Miller khám phá là “bảy thời” của Lê-vi Ký đoạn hai mươi sáu; và trong giấc mộng của ông, trong khoảng thời gian giữa việc thông điệp của Miller được công bố và việc thông điệp của Đấng Christ được công bố, mọi chân lý nền tảng được biểu trưng bởi công trình của William Miller sẽ bị phủ lấp bằng rác rưởi và những đồng tiền giả mạo của các nhà thần học thuộc Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy La-ô-đi-xê. Sự khước từ các chân lý nền tảng ấy được biểu thị như bảy sự tản lạc trong lịch sử giữa Anpha và Ômêga. “Bảy thời” là một biểu tượng của công trình của William Miller, mà đến lượt nó là các nền tảng của Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy; trong đó, 2.300 ngày của Đa-ni-ên 8:14 là trụ cột trung tâm của chính nền tảng ấy. Điều này xác định rằng 2.520 năm tản lạc, vốn là khám phá thứ nhất, hay Anpha, của William Miller, đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ, thời kỳ ấy kết thúc với khám phá Ômêga của William Miller, tức 2.300 ngày.

When Laodicean Seventh-day Adventism set aside the “seven times” in 1863, they set aside William Miller’s first discovery, which would be his alpha discovery and his foundational discovery. The last of Miller’s discoveries was the 2,300 days, which was his omega discovery and his capstone discovery. The “seven times” that concluded in 1798 marked the 2,520 and the 2,300 days were marked in 1844.

Khi Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy theo lối La-ô-đi-xê gạt bỏ “bảy lần” vào năm 1863, họ đã gạt bỏ phát hiện đầu tiên của William Miller, vốn là phát hiện Anpha và là phát hiện nền tảng của ông. Phát hiện sau cùng của Miller là 2.300 ngày, vốn là phát hiện Ômêga và là phát hiện chóp đỉnh của ông. “Bảy lần” kết thúc vào năm 1798 đánh dấu kỳ 2.520, và 2.300 ngày được đánh dấu vào năm 1844.

It is the dirt brush man who assembles the jewels after they are scattered for seven times. Then the casket is larger and more beautiful and shines ten times brighter than the sun. Ten is a symbol of a test, and those jewels therefore shine at the test over the day of the sun, so Miller’s dream begins in 1798 and ends at the loud cry of the third angel at the Sunday law.

Chính người cầm chổi quét bụi đã thu gom lại các châu báu sau khi chúng bị vung vãi trải qua bảy lần. Bấy giờ chiếc tráp lớn hơn và đẹp đẽ hơn, và chiếu sáng rực rỡ gấp mười lần mặt trời. Mười là biểu tượng của một kỳ thử nghiệm, và vì thế các châu báu ấy tỏa sáng trong kỳ thử nghiệm về ngày Chủ nhật, nên giấc mơ của Miller bắt đầu vào năm 1798 và kết thúc tại tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba vào lúc đạo luật ngày Chủ nhật.

The history of the Millerites from 1798 unto 1863 is also the history from 1798 until the soon-coming Sunday law. The history represented in William Miller’s dream that occurs between Miller saying “come and see” unto the Dirt Brush man saying “come and see,” is both the period of 1798 unto 1863, and also the period of 1798 unto the Sunday law. The line that ends in 1863 is a prophetic fractal of the line that begins in 1798 and ends at the Sunday law. Both those lines are represented in Miller’s dream.

Lịch sử của phong trào Millerite từ năm 1798 đến năm 1863 cũng là lịch sử từ năm 1798 cho đến luật ngày Chủ nhật sắp xảy đến. Lịch sử được biểu trưng trong giấc mơ của William Miller, vốn diễn ra từ khi Miller nói “hãy đến và xem” cho đến khi người cầm chổi quét rác nói “hãy đến và xem”, vừa là giai đoạn từ 1798 đến 1863, lại cũng là giai đoạn từ 1798 cho đến luật ngày Chủ nhật. Tuyến kết thúc vào năm 1863 là một phân dạng tiên tri của tuyến bắt đầu năm 1798 và kết thúc tại luật ngày Chủ nhật. Cả hai tuyến ấy đều được biểu trưng trong giấc mơ của Miller.

The closed door on October 22, 1844 typifies the closed door at the Sunday law. The prophecy of 2,300 years that was fulfilled in 1844, typifies the Sunday law.

Cánh cửa đóng vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 tiền trưng cho cánh cửa đóng tại thời điểm luật ngày Chủ nhật. Lời tiên tri về 2.300 năm đã được ứng nghiệm vào năm 1844, tiền trưng cho luật ngày Chủ nhật.

“The coming of Christ as our high priest to the most holy place, for the cleansing of the sanctuary, brought to view in Daniel 8:14; the coming of the Son of man to the Ancient of Days, as presented in Daniel 7:13; and the coming of the Lord to His temple, foretold by Malachi, are descriptions of the same event; and this is also represented by the coming of the bridegroom to the marriage, described by Christ in the parable of the ten virgins, of Matthew 25.” The Great Controversy, 426.

Sự đến của Đấng Christ, với tư cách là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta, vào Nơi Chí Thánh để thanh tẩy đền thánh, được trình bày trong Đa-ni-ên 8:14; sự đến của Con Người đến với Đấng Thượng Cổ, như được trình bày trong Đa-ni-ên 7:13; và việc Chúa đến đền thờ của Ngài, đã được Ma-la-chi tiên báo, đều là những mô tả về cùng một sự kiện; và điều này cũng được minh họa bằng việc chàng rể đến dự lễ cưới, được Đấng Christ mô tả trong dụ ngôn mười trinh nữ ở Ma-thi-ơ 25." Đại Tranh Chiến, 426.

Lines

Các dòng

The omega of Miller’s discoveries was the 2,300-year prophecy, so both 1844 and the Sunday law are represented by the 2,300 years. This means that the 2,520 is the alpha and the 2,300 is the omega of both lines; one line concludes in 1863, and the other line concludes at the Sunday law. On both lines the 2,520 prophecy is the alpha, and or the foundation stone. The fractal of 1798 unto 1863 in the foundational history of the Millerites, also aligns with another fractal in the omega, capstone history of the one hundred and forty-four thousand.

Ômêga trong các khám phá của Miller là lời tiên tri 2.300 năm, nên cả năm 1844 lẫn luật ngày Chủ nhật đều được biểu trưng bởi kỳ hạn 2.300 năm. Điều này có nghĩa là lời tiên tri 2.520 là Anpha và lời tiên tri 2.300 là Ômêga của cả hai tuyến; một tuyến kết thúc năm 1863, và tuyến kia kết thúc vào sự kiện luật ngày Chủ nhật. Trên cả hai tuyến, lời tiên tri 2.520 là Anpha, và/hoặc là viên đá nền tảng. Mẫu hình phân dạng từ 1798 đến 1863 trong lịch sử nền tảng của những người theo Miller cũng tương ứng với một mẫu hình phân dạng khác trong lịch sử Ômêga, tức lịch sử đỉnh chóp, của một trăm bốn mươi bốn nghìn.

At 9/11 God called His people to return to Jeremiah’s old paths, which are the foundations, which are in turn represented by the messenger of the foundational history, who is in turn represented by his foundational alpha discovery of the “seven times.” The “seven times” is the symbol of the foundations of the one hundred and forty-four thousand, and at 9/11 the sealing of that group began with the testing message of the foundations, represented by the very first foundational truth of William Miller and Adventism. At 9/11 the sealing time began and at the soon-coming Sunday law the sealing time of the one hundred and forty-four thousand concludes.

Vào ngày 11 tháng 9, Đức Chúa Trời kêu gọi dân Ngài trở về các nẻo cũ của Giê-rê-mi, tức là những nền tảng; những nền tảng ấy lại được đại diện bởi sứ giả của lịch sử nền tảng, và sứ giả ấy lại được tiêu biểu bởi khám phá alpha mang tính nền tảng của ông về "bảy lần". "Bảy lần" là biểu tượng của các nền tảng của một trăm bốn mươi bốn nghìn, và vào ngày 11 tháng 9 việc đóng ấn cho nhóm ấy đã bắt đầu với sứ điệp thử thách về các nền tảng, được tiêu biểu bởi chính chân lý nền tảng tiên khởi của William Miller và Phong trào Phục Lâm. Vào ngày 11 tháng 9 thời kỳ đóng ấn đã bắt đầu, và tại đạo luật ngày Chủ nhật sắp đến, thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn sẽ kết thúc.

That history is a fractal that begins with 2,520 and ends with 2,300, and that history is therefore the third line of prophetic history represented in William Miller’s dream. The 2,520 was fulfilled in 1798 and the 2,300 in 1844. The work represented by the two lines is the work of Christ in combining His divinity with our humanity. It is the work of changing a sinner into a saint, restoring the higher nature to its rightful throne over the lower nature. For this reason, the human body takes 2,520 days to totally reproduce every cell in the body, and that very same body is based upon 23 male chromosomes combined with 23 female chromosomes. Together they produce a living temple, which is represented as the number “46,” which is the period of 1798 to 1844, which is the period of William Miller’s dream from the 2,520 in 1798 unto the 2,300 in 1844.

Lịch sử ấy là một cấu trúc fractal khởi đầu với 2,520 và kết thúc với 2,300, và vì thế lịch sử ấy là dòng lịch sử tiên tri thứ ba được biểu trưng trong giấc mộng của William Miller. Thời kỳ 2,520 đã ứng nghiệm vào năm 1798, và thời kỳ 2,300 vào năm 1844. Công tác được hai dòng ấy biểu thị là công tác của Đấng Christ trong việc kết hợp thần tính của Ngài với nhân tính của chúng ta. Ấy là công tác biến đổi một tội nhân thành một thánh đồ, phục hồi bản tính cao hơn về ngai vị chính đáng của nó trên bản tính thấp hơn. Vì lẽ đó, thân thể con người cần 2,520 ngày để tái tạo hoàn toàn mọi tế bào trong thân thể, và chính thân thể ấy được hình thành trên cơ sở 23 nhiễm sắc thể của người nam kết hợp với 23 nhiễm sắc thể của người nữ. Cả hai hiệp lại tạo nên một đền thờ sống, được biểu thị bằng con số “46,” là giai đoạn từ 1798 đến 1844, cũng là giai đoạn của giấc mộng của William Miller từ 2,520 vào năm 1798 cho đến 2,300 vào năm 1844.

William Miller’s dream also contains another fractal of note. From 9/11 unto the Sunday law is a fractal of 1798 unto the Sunday law, as in 1798 unto 1863. 2023 unto the Sunday law is a fractal of 9/11 unto the Sunday law, and this is the history that all of the lines within Miller’s dream point to as the omega of them all. This is the period where the original truths are magnified ten times the sun.

Giấc mơ của William Miller cũng chứa đựng một fractal đáng chú ý khác. Từ 9/11 cho đến luật Chủ nhật là một fractal của khoảng từ 1798 cho đến luật Chủ nhật, như trong khoảng từ 1798 cho đến 1863. Từ 2023 cho đến luật Chủ nhật là một fractal của khoảng từ 9/11 cho đến luật Chủ nhật, và đây là lịch sử mà mọi đường tuyến trong giấc mơ của Miller đều chỉ về như omega của tất cả. Đây là thời kỳ trong đó các lẽ thật nguyên thủy được khuếch đại gấp mười lần mặt trời.

The Two Bustles

Hai Chiếc Đệm Phồng Sau Váy

In the 1840’s, the word “bustle” (as a noun) commonly meant energetic, busy, or noisy activity—often with a sense of fuss, excitement, hurry, or agitation. It referred to lively movement, commotion, or bustling about, whether in a crowd, a household, a marketplace, or during a particular event. The “bustle” of Miller’s dream would thus describe the immediate flurry of activity, excitement, or urgent business happening right then—the transient stir or commotion of the present situation or occasion.

Vào thập niên 1840, từ “bustle” (với tư cách danh từ) thường có nghĩa là hoạt động sôi nổi, bận rộn hoặc ồn ào—thường kèm cảm giác rối rít, náo nức, vội vã hoặc xao động. Nó chỉ sự chuyển động sinh động, cảnh náo động, hoặc cảnh tất bật đi lại, dù là giữa đám đông, trong một gia đình, tại chợ, hay trong một biến cố cụ thể. “Sự nhộn nhịp” trong giấc mơ của Miller vì thế sẽ mô tả cơn bùng lên tức thời của các hoạt động, sự náo nức, hoặc công việc khẩn cấp đang diễn ra ngay lúc đó—tức sự khuấy động hay náo động nhất thời của hoàn cảnh hay dịp hiện tại.

Miller states, “Then, while he brushed the dirt and rubbish, false jewels and counterfeit coin, all rose and went out of the window like a cloud, and the wind carried them away. In the bustle I closed my eyes for a moment; when I opened them, the rubbish was all gone.”

Miller nói: "Bấy giờ, trong khi ông đang quét sạch bụi bẩn, rác rưởi, cả những châu báu giả và tiền giả, tất cả đều bốc lên và bay ra ngoài cửa sổ như một đám mây, và gió cuốn chúng đi. Giữa cảnh náo động, tôi nhắm mắt một lát; khi mở mắt ra, thì rác rưởi đã biến mất hết."

The “bustle” identifies two points in Miller’s dream; The first when the crowd is scattering the jewels, and then when the dirt brush man opens the windows and begins to sweep out the false jewels. The first and alpha bustle is the covering up of the jewels and the second and omega bustle is the restoration of the jewels. During the bustle, Miller closed his eyes. Miller was laid to rest in 1849, the very point that Christ was stretching forth His hand a second time to gather the remnant of His people. Miller then closed his eyes, and in 1850 his truths were again placed upon a table in fulfillment of Habakkuk’s command to write the vision and make it plain. That bustle period, Miller closes his eyes and when he awakes the jewels are in the process of being restored.

“Sự ‘náo động’ xác định hai mốc trong giấc mộng của Miller: mốc thứ nhất là khi đám đông đang làm vung vãi các châu báu, và mốc thứ hai là khi người cầm chổi quét rác mở các cửa sổ và bắt đầu quét bỏ những châu báu giả ra ngoài. Sự náo động thứ nhất, tức alpha, là việc che lấp các châu báu; và sự náo động thứ hai, tức omega, là sự khôi phục các châu báu. Trong thời kỳ náo động ấy, Miller nhắm mắt. Miller được an nghỉ vào năm 1849, chính vào thời điểm Đấng Christ đang vươn tay ra lần thứ hai để nhóm lại số sót của dân Ngài. Rồi Miller nhắm mắt, và đến năm 1850, các lẽ thật của ông lại được đặt trên một chiếc bàn để ứng nghiệm mệnh lệnh của Ha-ba-cúc: hãy chép khải tượng và làm cho rõ ràng. Trong giai đoạn náo động đó, Miller nhắm mắt; và khi ông thức dậy, các châu báu đang trong tiến trình được khôi phục.”

The second bustle in his dream takes place when the ensign of the one hundred and forty-four thousand is being resurrected, purged and purified as the ensign which Zechariah identifies as jewels upon a crown.

Cuộc náo động thứ hai trong giấc mơ của ông diễn ra khi tiêu kỳ của một trăm bốn mươi bốn nghìn đang được phục sinh, tẩy luyện và thanh tẩy như chính tiêu kỳ mà Xa-cha-ri định danh là những viên đá quý trên mão triều thiên.

And the Lord their God shall save them in that day as the flock of his people: for they shall be as the stones of a crown, lifted up as an ensign upon his land. For how great is his goodness, and how great is his beauty! corn shall make the young men cheerful, and new wine the maids. Ask ye of the Lord rain in the time of the latter rain; so the Lord shall make bright clouds, and give them showers of rain, to every one grass in the field. For the idols have spoken vanity, and the diviners have seen a lie, and have told false dreams; they comfort in vain: therefore they went their way as a flock, they were troubled, because there was no shepherd. Mine anger was kindled against the shepherds, and I punished the goats: for the Lord of hosts hath visited his flock the house of Judah, and hath made them as his goodly horse in the battle. Zechariah 9:16–10:3.

Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của họ, sẽ cứu họ như bầy chiên của dân Ngài; vì họ sẽ như những viên đá của mão triều thiên, được giương cao trên đất Ngài như cờ hiệu. Ôi, sự tốt lành của Ngài lớn dường nào, và sự đẹp đẽ của Ngài lớn dường nào! Ngũ cốc sẽ làm cho các trai trẻ vui mừng, và rượu mới làm cho các thiếu nữ hoan hỷ. Hãy xin Đức Giê-hô-va mưa trong kỳ mưa cuối mùa; thì Đức Giê-hô-va sẽ làm những đám mây sáng, và ban cho họ những cơn mưa rào, khiến mỗi người đều có cỏ ngoài đồng ruộng. Vì các tượng thần đã nói điều hư không, các thầy bói đã thấy điều dối trá và thuật lại những giấc mộng giả dối; họ an ủi cách vô ích; bởi vậy, họ đi lang thang như bầy chiên, họ bị rối loạn, vì không có kẻ chăn. Cơn giận của Ta đã bừng cháy nghịch cùng các kẻ chăn, và Ta đã trừng phạt các dê đực; vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã thăm viếng bầy chiên của Ngài, tức nhà Giu-đa, và đã khiến họ như con ngựa tốt đẹp của Ngài trong chiến trận. Xa-cha-ri 9:16-10:3.

The “flock of His people” are both an ensign and stones (jewels) upon a crown. The flock of His people are identified during the latter rain, for the command is to ask for the latter rain in the time of the latter rain. The flock is contrasted with the “flock” that went their own way, rather than the way of Jeremiah’s old paths. In the time of the latter rain the jewels that are His flock will be His goodly horse in the battle. That “goodly horse” is the church triumphant, represented in the first Christian bride, symbolized by Peter who, as a white horse in the period of the first seal went forth conquering and to conquer.

“Bầy chiên của dân Ngài” vừa là một cờ hiệu, vừa là những viên đá (bảo thạch) trên một mão triều thiên. Bầy chiên của dân Ngài được nhận diện trong thời kỳ mưa rào muộn, vì mệnh lệnh là hãy cầu xin mưa rào muộn trong thì giờ mưa rào muộn. Bầy chiên ấy được đặt đối nghịch với “bầy chiên” đã đi theo đường lối riêng mình, thay vì lối xưa của Giê-rê-mi. Trong thì giờ mưa rào muộn, những viên bảo thạch là bầy chiên của Ngài sẽ là con ngựa tốt đẹp của Ngài trong chiến trận. “Con ngựa tốt đẹp” ấy là Hội Thánh khải hoàn, được thể hiện nơi Tân Nương Cơ Đốc đầu tiên, được tượng trưng bởi Phi-e-rơ, người, như con ngựa trắng trong thời kỳ ấn thứ nhất, đã đi ra để thắng và còn thắng nữa.

And I saw when the Lamb opened one of the seals, and I heard, as it were the noise of thunder, one of the four beasts saying, Come and see. And I saw, and behold a white horse: and he that sat on him had a bow; and a crown was given unto him: and he went forth conquering, and to conquer. Revelation 6:1, 2.

Và tôi thấy, khi Chiên Con mở một trong những ấn, tôi nghe, tiếng như sấm, một trong bốn sinh vật nói rằng: “Hãy đến và xem.” Và tôi thấy, kìa, một con ngựa trắng; người cưỡi nó có một cây cung; và một mão triều thiên đã được ban cho người ấy; và người ấy đi ra chinh phục, và để chinh phục. Khải Huyền 6:1, 2.

Peter therefore is the symbol of the first Christian church of the apostles during the Pentecostal outpouring of the rain, and the symbol of the last Christian church during the latter rain, that was typified by the Pentecostal outpouring.

Do đó, Phêrô là biểu tượng của Giáo Hội Kitô giáo tiên khởi của các Tông Đồ trong cơn mưa tuôn đổ của Ngũ Tuần, và là biểu tượng của Giáo Hội Kitô giáo sau rốt trong thời kỳ mưa cuối mùa, vốn được sự tuôn đổ Ngũ Tuần tiền trưng.

And I saw heaven opened, and behold a white horse; and he that sat upon him was called Faithful and True, and in righteousness he doth judge and make war. His eyes were as a flame of fire, and on his head were many crowns; and he had a name written, that no man knew, but he himself. And he was clothed with a vesture dipped in blood: and his name is called The Word of God. And the armies which were in heaven followed him upon white horses, clothed in fine linen, white and clean. Revelation 19:11–14.

Và tôi thấy trời mở ra, và kìa, một con ngựa trắng; và Đấng ngồi trên nó được gọi là Đấng Thành Tín và Chân Thật, và trong sự công chính Ngài xét xử và giao chiến. Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, và trên đầu Ngài có nhiều mão triều thiên; và Ngài có một danh đã được chép, mà chẳng ai biết, ngoại trừ chính Ngài. Và Ngài mặc một y phục đã nhúng trong máu; và Danh Ngài được gọi là Lời của Đức Chúa Trời. Và các đạo binh ở trên trời theo Ngài, cưỡi ngựa trắng, mặc vải gai mịn, trắng và tinh sạch. Khải Huyền 19:11-14.

The white horses represent Christ’s army that are resurrected in Ezekiel 37, and they are the church triumphant, and they are stones in a crown, for Christ establishes His kingdom of glory in the time of the latter rain. As representatives of His kingdom the one hundred and forty-four thousand are jewels upon the crown which is the symbol of the kingdom he receives at the conclusion of the 2,300 days, which was both October 22, 1844 and will be again at the Sunday law. That kingdom of white horses is raised up during the latter rain, when the windows of heaven are opened, for John saw the white horse when heaven was opened.

Những con ngựa trắng tượng trưng cho đạo quân của Đấng Christ được làm cho sống lại trong Ê-xê-chi-ên 37; đó là Hội Thánh Khải Hoàn, và là những viên đá trong một mão triều thiên, vì Đấng Christ thiết lập vương quốc vinh hiển của Ngài trong thời kỳ mưa cuối mùa. Với tư cách là những đại diện của vương quốc Ngài, một trăm bốn mươi bốn nghìn là những viên ngọc trên mão triều thiên, vốn là biểu tượng của vương quốc mà Ngài nhận lãnh khi kết thúc hai nghìn ba trăm ngày—điều ấy đã xảy ra vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 và sẽ lại xảy ra vào thời điểm Luật Chủ nhật. Vương quốc của những con ngựa trắng ấy được dấy lên trong thời kỳ mưa cuối mùa, khi các cửa sổ trên trời được mở ra, vì Gioan đã thấy con ngựa trắng khi trời được mở ra.

In the alpha bustle of 1849, Miller closed his eyes in death, for a little moment. Miller was Elijah, and Elijah died on July 18, 2020, and he laid in the street for 1,260 days until he reached the omega bustle and was then awakened. His awakening is marked as arriving when the dirt brush man opened the window of heaven to sweep out the rubbish. The army of white horses is raised when heaven’s window is opened, and when that occurs a separation of true and false is identified. That separation is also identified in the book of Malachi.

Trong cuộc náo động alpha năm 1849, Miller nhắm mắt trong sự chết, trong một ít lâu. Miller là Ê-li, và Ê-li đã chết vào ngày 18 tháng 7 năm 2020, và ông nằm trên đường phố suốt 1.260 ngày cho đến khi ông đi đến cuộc náo động omega, rồi bấy giờ được đánh thức. Sự thức tỉnh của ông được đánh dấu là xảy đến khi người cầm chổi rác mở cửa sổ của trời để quét sạch rác rưởi. Đạo quân ngựa trắng được dấy lên khi cửa sổ của trời được mở ra, và khi điều ấy xảy ra, một sự phân biệt giữa thật và giả được nhận diện. Sự phân biệt ấy cũng được nhận diện trong sách Ma-la-chi.

Bring ye all the tithes into the storehouse, that there may be meat in mine house, and prove me now herewith, saith the Lord of hosts, if I will not open you the windows of heaven, and pour you out a blessing, that there shall not be room enough to receive it. Malachi 3:10.

Hãy đem hết thảy phần mười vào kho, để có lương thực trong nhà Ta; và bây giờ, các ngươi hãy lấy điều này mà thử Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng: xem Ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi, đến nỗi không chỗ chứa chăng. Ma-la-chi 3:10.

The spirits of the prophets are subject unto the prophets, and John in Revelation, Miller’s dream and Malachi provide three witnesses of the time when the windows of heaven are opened. In Miller’s dream it is at the omega of the call to “come and see.” The bustle in the alpha was when the scattering began, and the omega is when the gathering begins.

Thần linh của các đấng tiên tri thuận phục các đấng tiên tri, và Gioan trong sách Khải Huyền, giấc chiêm bao của Miller và Ma-la-chi đưa ra ba lời chứng về thời điểm khi các cửa sổ trên trời được mở ra. Trong giấc chiêm bao của Miller, đó là tại omega của lời kêu gọi “Hãy đến và xem.” Sự náo động trong alpha là khi sự tản lạc khởi đầu, còn omega là khi sự quy tụ bắt đầu.

Before we proceed further into Miller’s dream we want to include James White’s commentary on the dream. James White identifies the true jewels as God’s true people and the counterfeit jewels as the wicked. I identify the jewels as truths contrasted with error. The jewels and the counterfeit jewels are both the message and the messengers contrasted with error and false messengers.

Trước khi đi sâu hơn vào giấc chiêm bao của Miller, chúng tôi muốn đưa vào phần bình luận của James White về giấc chiêm bao ấy. James White xác định những viên ngọc chân thật là dân chân thật của Đức Chúa Trời, còn những viên ngọc giả là kẻ ác. Còn tôi xác định các viên ngọc là những lẽ thật đối nghịch với sai lầm. Cả những viên ngọc và những viên ngọc giả đều tượng trưng cho cả sứ điệp lẫn các sứ giả, tương phản với sai lầm và các sứ giả giả dối.

“BROTHER MILLER’S DREAM

Giấc chiêm bao của Anh Miller

“The following dream was published in the Advent Herald, more than two years since. I then saw that it clearly marked out our past second advent experience, and that God gave the dream for the benefit of the scattered flock.

Giấc mơ sau đây đã được đăng trên tờ Advent Herald cách đây hơn hai năm. Bấy giờ tôi thấy rằng nó đã chỉ rõ kinh nghiệm về kỳ Tái Lâm trước đây của chúng ta, và rằng Đức Chúa Trời đã ban giấc mơ ấy để ích lợi cho bầy chiên tản lạc.

“Among the signs of the near approach of the great and the terrible day of the Lord, God has placed dreams. See Joel 2:28–31; Acts 2:17–20. Dreams may come in three ways; first, ‘through the multitude of business.’ See Ecclesiastes 5:3. Second, those who are under the foul spirit and deception of Satan, may have dreams through his influence. See Deuteronomy 8:1–5; Jeremiah 23:25–28; 27:9; 29:8; Zechariah 10:2; Jude 8. And third, God has always taught, and still teaches his people more or less by dreams, which come through the agency of angels and the Holy Spirit. Those who stand in the clear light of truth will know when God gives them a dream; and such will not be deceived and led astray by false dreams.

Trong số các dấu hiệu cho thấy ngày lớn và đáng sợ của Chúa sắp đến gần, Đức Chúa Trời đã đặt để những giấc chiêm bao. Xem Giô-ên 2:28-31; Công Vụ 2:17-20. Các giấc chiêm bao có thể đến theo ba cách; thứ nhất, 'vì nhiều công việc.' Xem Truyền Đạo 5:3. Thứ hai, những người ở dưới tà linh ô uế và sự lừa dối của Sa-tan có thể có chiêm bao do ảnh hưởng của hắn. Xem Phục Truyền Luật Lệ Ký 8:1-5; Giê-rê-mi 23:25-28; 27:9; 29:8; Xa-cha-ri 10:2; Giu-đe 8. Và thứ ba, Đức Chúa Trời luôn dạy dỗ, và hiện vẫn dạy dỗ dân Ngài ít nhiều qua chiêm bao, những điều đến qua sự hoạt động của các thiên sứ và Đức Thánh Linh. Những ai đứng trong ánh sáng rõ ràng của lẽ thật sẽ biết khi nào Đức Chúa Trời ban cho họ một giấc chiêm bao; và những người như thế sẽ không bị lừa dối và bị dẫn lạc bởi những chiêm bao giả.

“‘And he said, Hear now my words; if there be a prophet among you, I the Lord will make myself known unto him in a vision, and will speak unto him in a dream.’ Numbers 12:6. Said Jacob, ‘The angel of the Lord spake unto me in a dream.’ Genesis 31:2. ‘And God came to Laban the Syrian in a dream by night.’ Genesis 31:24. Read the dreams of Joseph, [Genesis 37:5–9,] and then the interesting story of their fulfilment in Egypt. ‘In Gibeon the Lord appeared to Solomon in a dream by night.’ 1 Kings 3:55. The great important image of the second chapter of Daniel was given in a dream, also the four beasts, etc. of the seventh chapter. When Herod sought to destroy the infant Saviour Joseph was warned in a dream to flee into Egypt. Matthew 2:13.

'Và Ngài phán: Hãy nghe lời Ta bây giờ; nếu có một đấng tiên tri ở giữa các ngươi, thì Ta, Đức Giê-hô-va, sẽ tỏ mình cho người trong khải tượng, và sẽ phán cùng người trong chiêm bao.' Dân Số Ký 12:6. Gia-cốp nói: 'Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đã phán cùng tôi trong một giấc mộng.' Sáng Thế Ký 31:2. 'Và Đức Chúa Trời đã đến cùng La-ban người Sy-ri trong một giấc mộng ban đêm.' Sáng Thế Ký 31:24. Hãy đọc các giấc mộng của Giô-sép, [Sáng Thế Ký 37:5-9,] rồi đến câu chuyện lý thú về sự ứng nghiệm của chúng tại Ê-díp-tô. 'Tại Ga-ba-ôn, Đức Giê-hô-va đã hiện ra cùng Sa-lô-môn trong một giấc mộng ban đêm.' 1 Các Vua 3:55. Hình tượng trọng đại ở chương thứ hai của sách Đa-ni-ên được ban trong một giấc mộng; cũng vậy, bốn con thú, v.v., trong chương thứ bảy. Khi Hê-rốt tìm cách hủy diệt Hài Nhi Cứu Chúa, Giô-sép được báo mộng phải trốn sang Ê-díp-tô. Ma-thi-ơ 2:13.

“‘And it shall come to pass in the LAST DAYS, saith God, I will pour out of my Spirit upon all flesh: and your sons and your daughters shall prophesy, and your young men shall see visions, and your old men shall dream dreams.’ Acts 2:17.

'Và sẽ xảy ra trong NHỮNG NGÀY SAU RỐT, Đức Chúa Trời phán: Ta sẽ tuôn đổ Thần Ta trên mọi xác thịt; con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri, các thanh niên sẽ thấy khải tượng, và các người già sẽ thấy chiêm bao.' Công vụ 2:17.

“The gift of prophecy, by dreams and visions, is here the fruit of the Holy Spirit, and in the last days is to be manifested sufficiently to constitute a sign. It is one of the gifts of the gospel church.

Ân tứ nói tiên tri, qua những giấc chiêm bao và khải tượng, ở đây là bông trái của Đức Thánh Linh, và trong những ngày sau rốt sẽ được bày tỏ đầy đủ để trở nên một dấu hiệu. Đó là một trong những ân tứ của Hội thánh Phúc Âm.

“‘And he gave some apostles; and some PROPHETS; and some evangelists; and some pastors and teachers; For the perfecting of the saints, for the work of the ministry, for the edifying of the body of Christ.’ Ephesians 4:11, 12.

'Và Ngài đã ban cho một số làm sứ đồ; một số làm TIÊN TRI; một số làm nhà truyền giảng; và một số làm mục sư và giáo sư; để kiện toàn các thánh đồ, để làm công việc của chức vụ, để gây dựng thân thể của Đấng Christ.' Ê-phê-sô 4:11, 12.

“‘And God hath set some in the church, first apostles, secondarily PROPHETS,’ etc. 1 Corinthians 12:28. ‘Despise not PROPHESYINGS.’ 1 Thessalonians 5:20. See also Acts 13:1; 21:9; Romans 7:6; 1 Corinthians 14:1, 24, 39. Prophets or prophesyings are for the edification of the church of Christ; and there is no evidence that can be produced from the word of God, that they were to cease before evangelists, pastors and teachers were to cease. But says the objector, ‘There has been so many false visions and dreams that I can not have confidence in anything of the kind.’ It is true that Satan has his counterfeit. He always had false prophets, and certainly we may expect them now in this his last hour of deception and triumph. Those who reject such special revelations because the counterfeit exists, may with equal propriety go a little farther and deny that God ever revealed himself to man in a dream or a vision, for the counterfeit always existed.

"Và Đức Chúa Trời đã sắp đặt mấy người trong Hội thánh, trước hết là các sứ đồ, kế đến là CÁC TIÊN TRI," v.v. 1 Cô-rinh-tô 12:28. "Chớ khinh thường CÁC LỜI TIÊN TRI." 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:20. Xem thêm Công Vụ 13:1; 21:9; Rô-ma 7:6; 1 Cô-rinh-tô 14:1, 24, 39. Các tiên tri hay các lời tiên tri là để gây dựng Hội thánh của Đấng Christ; và không có bằng chứng nào có thể rút ra từ lời Đức Chúa Trời rằng chúng phải chấm dứt trước khi các nhà truyền giảng, các mục sư và các thầy dạy chấm dứt. Nhưng kẻ phản đối nói rằng: "Đã có quá nhiều khải tượng và chiêm bao giả dối đến nỗi tôi không thể đặt lòng tin vào bất cứ điều gì thuộc loại ấy." Quả thật, Sa-tan có đồ giả mạo của hắn. Hắn luôn luôn có các tiên tri giả, và chắc chắn chúng ta có thể trông đợi họ hiện nay, trong giờ phút cuối cùng này của sự lừa dối và thắng thế của hắn. Những ai bác bỏ các mặc khải đặc biệt như vậy vì có đồ giả mạo tồn tại, thì cũng với cùng một lẽ phải có thể đi xa hơn một chút mà phủ nhận rằng Đức Chúa Trời đã từng bày tỏ chính Ngài cho loài người trong chiêm bao hay khải tượng, vì đồ giả mạo ấy xưa nay vẫn luôn tồn tại.

“Dreams and visions are the medium through which God has revealed himself to man. Through this medium he spake to the prophets; he has placed the gift of prophecy among the gifts of the gospel church, and has classed dreams and visions with the other signs of the ‘LAST DAYS.’ Amen.

Chiêm bao và khải tượng là phương tiện qua đó Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho loài người. Qua phương tiện này, Ngài đã phán với các tiên tri; Ngài đã đặt ân tứ tiên tri trong số các ân tứ của Hội Thánh, và đã xếp chiêm bao và khải tượng cùng với các dấu hiệu khác của 'NHỮNG NGÀY SAU RỐT.' Amen.

“My object in the above remarks has been to remove objections in a scriptural manner, and prepare the mind of the reader for the following.

Mục đích của tôi trong những nhận xét ở trên là loại bỏ những lời phản đối theo cách thức phù hợp với Kinh Thánh và chuẩn bị tâm trí độc giả cho những điều sau đây.

“WM. MILLER,

WM. MILLER,

“Low Hampton, N. Y. Dec. 3, 1847.” James White, Brother Miller’s Dream, 1–6.

Low Hampton, N. Y., ngày 3 tháng 12 năm 1847. James White, Giấc mộng của Anh Miller, 1-6.

“1. The ‘casket’ represents the great truths of the Bible, relative to the second advent of our Lord Jesus Christ, which were given Brother Miller to publish to the world.

1. “Chiếc tráp” tượng trưng cho những lẽ thật trọng đại của Kinh Thánh, liên quan đến sự tái lâm lần thứ hai của Chúa chúng ta, Đức Chúa Giê-su Christ, những lẽ thật đã được ban cho Anh Miller để công bố cho thế giới.

“2. The ‘key attached’ was his manner of interpreting the prophetic Word—Comparing scripture with scripture—the Bible its own interpreter. With this key Brother Miller opened the ‘casket,’ or the great truth of the advent to the world.

2. 'Chìa khóa kèm theo' chính là phương pháp ông dùng để giải thích Lời tiên tri—đối chiếu Kinh Thánh với Kinh Thánh—để Kinh Thánh tự giải thích chính mình. Với chìa khóa này, Ông Miller đã mở 'chiếc hộp', tức là đại chân lý về Sự Tái Lâm, ra cho thế gian.

“3. The ‘jewels, diamonds, etc.’ of ‘all sorts and sizes’ so ‘beautifully arranged in their several places in the casket’ represent the children of God, [Malachi 3:17,] from all the churches, and from almost every station, and situation of life, who received the advent faith, and were seen to take a bold stand in their several stations, in the holy cause of truth. While moving in this order, each attending to his own duty, and walking humbly before God, ‘they reflected a light and glory’ to the world, equaled only by the church in the days of the apostles. The message, [Revelation 14:6,7,] went as it were, upon the wings of the wind, and the invitation, ‘Come, for all things are now ready,’ [Luke 14:17.] went abroad with power and effect.

3. Những 'châu báu, kim cương, v.v.' thuộc 'mọi loại và mọi cỡ', được 'sắp đặt đẹp đẽ vào các vị trí riêng của chúng trong chiếc tráp', tượng trưng cho các con cái của Đức Chúa Trời, [Malachi 3:17,] đến từ mọi hội thánh, và từ hầu như mọi địa vị và hoàn cảnh của đời sống, những người đã tiếp nhận đức tin về Sự Tái Lâm, và được thấy là đã giữ lập trường dũng cảm trong các cương vị của họ, trong sự nghiệp thánh của lẽ thật. Trong khi vận hành theo trật tự này, mỗi người chu toàn bổn phận riêng và bước đi cách khiêm nhu trước mặt Đức Chúa Trời, 'họ phản chiếu một ánh sáng và vinh quang' cho thế gian, chỉ có Hội Thánh trong thời các sứ đồ mới sánh kịp. Sứ điệp, [Revelation 14:6,7,] đã đi như thể trên đôi cánh của gió, và lời mời gọi, 'Hãy đến, vì mọi sự đã sẵn sàng,' [Luke 14:17.] đã lan ra khắp nơi với quyền năng và hiệu quả.

“4. ‘The people began to come in, at first few in number, but increased to a crowd.’ When the advent doctrine was first preached by Brother Miller, and a very few others, it had but little effect, and but very few were waked up by it; but from 1840 to 1844, wherever it was preached, the whole community was aroused.

4. 'Dân chúng bắt đầu kéo đến, lúc đầu chỉ ít người, nhưng rồi tăng lên thành một đám đông.' Khi học thuyết về Sự Tái Lâm lần đầu được Anh Miller, cùng với một số rất ít người khác, rao giảng, học thuyết ấy chỉ có rất ít tác động, và chỉ có rất ít người được thức tỉnh bởi đó; nhưng từ năm 1840 đến 1844, hễ nơi nào học thuyết ấy được rao giảng, thì toàn thể cộng đồng đều được thức tỉnh.

“5. When the flying angel [Revelation 14:6–7] first began to preach the everlasting good news, ‘Fear God, and give glory to him; for the hour of his judgment is come,’ many shouted for joy in view of the coming of Jesus, and the restitution, who afterwards opposed and scoffed and ridiculed the truth that a little before filled them with joy. They troubled and scattered the jewels. This brings us to the autumn of 1844, when the scattering time commenced.

5. Khi thiên sứ bay [Khải Huyền 14:6-7] lần đầu tiên khởi sự rao giảng Tin Lành đời đời: "Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến," nhiều người đã reo mừng trước viễn cảnh Chúa Giê-xu đến và sự phục hồi; nhưng về sau, chính những người ấy lại chống đối, nhạo báng và chế giễu lẽ thật mà ít lâu trước đó còn làm họ tràn đầy vui mừng. Họ đã làm rối loạn và làm tản lạc các châu báu. Điều này đưa chúng ta đến mùa thu năm 1844, khi thời kỳ tản lạc khởi sự.

“Mark this: It was those who once ‘shouted for joy’ that troubled and scattered the jewels. And none have so effectually scattered the flock, and led them astray since 1844, as those who once preached the truth, and rejoiced in it; but have since denied the work of God, and the fulfillment of prophecy in our past advent experience.

Hãy lưu ý điều này: Chính những người từng 'reo mừng' đã làm rối loạn và làm tản mác những viên ngọc. Và kể từ năm 1844, chẳng ai đã làm tan lạc đoàn chiên và dẫn họ lạc lối một cách hữu hiệu như những người từng rao giảng lẽ thật và đã vui mừng trong đó; nhưng từ đó đã chối bỏ công việc của Đức Chúa Trời và sự ứng nghiệm của lời tiên tri trong kinh nghiệm về kỳ Tái Lâm trước đây của chúng ta.

“6. The ‘spurious jewels and counterfeit coin’ that were scattered among the genuine, clearly represent false converts, or ‘strange children,’ [Hosea 5:7] since the door was shut in 1844.

6. Những 'châu báu giả mạo và đồng tiền giả' được rải rác giữa đồ thật, rõ ràng tượng trưng cho những kẻ cải đạo giả, hay 'những đứa con lạ,' [Hosea 5:7] kể từ khi cánh cửa đã đóng lại vào năm 1844.

“7. The ‘dirt and shavings, sand and all manner of rubbish,’ represent the various and numerous errors that have been brought in among second advent believers, since the autumn of 1844. Here I will notice a few of them.

7. “Bụi bặm và phoi bào, cát và mọi thứ phế thải” tượng trưng cho những sai lầm muôn vẻ và vô số đã được du nhập vào giữa vòng các tín hữu về Sự Tái Lâm lần thứ hai, kể từ mùa thu năm 1844. Ở đây tôi sẽ đề cập đến một vài điều trong số ấy.

“1. The stand that some of the ‘shepherds’ presumptuously took immediately after the Midnight cry was given, that the solemn melting power of the Holy Ghost that attended the seventh month movement was a mesmeric influence. George Storrs was among the first to take this stand. See his writings in the latter part of 1844, in the Midnight-Cry, then published in New York City. J. V. Himes, at the Albany Conference in the spring of 1845, said that the seventh month movement produced mesmerism seven feet deep. This I am told by one who was present, and heard the remark. Others who took an active part in the seventh month cry, have since pronounced that movement the work of the Devil. Attributing the work of Christ and the Holy Ghost to the Devil was in the days of our Savior, blasphemy, and it is blasphemy now. 2. The many experiments on definite time. Since the 2300 days ended in 1844, quite a number of times have been set, by different individuals, for their termination. In doing this they have removed the ‘landmarks,’ and have thrown darkness and doubt over the whole advent movement. 3. Spiritualism with all its fancies and extravagances. This wile of the Devil, which has accomplished an awful work of death, is very fitly represented by ‘shavings,’ and ‘all manner of rubbish.’ Many of those who drank down the poison of spiritualism admitted the truth of our past advent experience, and from this fact many have been made to believe that spiritualism was the natural fruit of believing that God conducted the great advent movements in 1843 and 1844. Peter, speaking of those who should ‘bring in damnable heresies, even denying the Lord that bought them,’ says ‘BY REASON OF WHOM THE WAY OF TRUTH SHALL BE EVIL SPOKEN OF.’ 4. S. S. Snow professing to be ‘Elijah the Prophet.’ This man in his strange and wild career, has also acted his part in this work of death, and his course has had a tendency to bring the true position for the waiting saints into disrepute, in the minds of many honest souls.

1. Lập trường mà một số “mục tử” đã cả gan chủ trương ngay sau khi Tiếng kêu Lúc Nửa Đêm được đưa ra, là cho rằng quyền năng cảm hóa trang nghiêm của Đức Thánh Linh đi kèm phong trào tháng thứ bảy chỉ là một ảnh hưởng thôi miên. George Storrs là một trong những người đầu tiên giữ lập trường này. Xem các bài viết của ông vào cuối năm 1844, trên tờ Midnight-Cry, khi ấy xuất bản tại Thành phố New York. J. V. Himes, tại Hội nghị Albany vào mùa xuân năm 1845, nói rằng phong trào tháng thứ bảy đã tạo ra sự thôi miên sâu bảy bộ. Điều này tôi được một người có mặt và đã nghe lời nhận xét ấy thuật lại. Những người khác đã tham gia tích cực vào tiếng kêu tháng thứ bảy, về sau đã tuyên bố phong trào ấy là công việc của Ma quỷ. Việc gán công việc của Đấng Christ và Đức Thánh Linh cho Ma quỷ, trong những ngày của Đấng Cứu Chúa chúng ta, là sự phạm thượng; và hiện nay cũng là phạm thượng. 2. Nhiều cuộc thử nghiệm về thời điểm xác định. Kể từ khi 2300 ngày chấm dứt vào năm 1844, đã có không ít thời điểm được các cá nhân khác nhau ấn định cho sự chấm dứt của chúng. Làm như vậy, họ đã dời bỏ các “mốc ranh”, và đã phủ bóng tối cùng hoài nghi lên toàn bộ phong trào Tái Lâm. 3. Thuyết duy linh với mọi ảo tưởng và thái quá của nó. Mưu chước này của Ma quỷ, vốn đã thực hiện một công việc chết chóc khủng khiếp, được biểu trưng rất thích đáng bằng “dăm bào” và “mọi thứ rác rưởi.” Nhiều kẻ đã uống cạn nọc độc của thuyết duy linh đã thừa nhận chân lý của kinh nghiệm Tái Lâm trong quá khứ của chúng ta, và từ thực tế này nhiều người đã bị khiến tin rằng thuyết duy linh là hoa quả tự nhiên của niềm tin rằng Đức Chúa Trời đã hướng dẫn các phong trào Tái Lâm vĩ đại vào các năm 1843 và 1844. Phi-e-rơ, khi nói về những kẻ sẽ “đem vào những tà giáo hủy diệt, thậm chí chối cả Chúa là Đấng đã chuộc họ,” nói rằng: “VÌ CỚ HỌ, ĐẠO CHÂN LÝ SẼ BỊ GIÈM PHA.” 4. S. S. Snow tự xưng là “Ê-li Tiên tri.” Người này, trong sự nghiệp kỳ lạ và cuồng dại của mình, cũng đã đóng vai trò của mình trong công việc chết chóc này, và đường lối của ông đã có xu hướng làm cho lập trường chân thật dành cho các thánh đồ đang trông đợi bị mang tiếng, trong tâm trí của nhiều linh hồn chân thành.

“To this catalogue of errors I might add many more, such as the ‘thousand years’ of Revelation 20:4, 7, in the past, the 144,000 of Revelation 7:4; 14:1, those who ‘arose and came out of the graves’ after Christ’s resurrection, the no-work doctrine, the doctrine of the destruction of infants, etc. etc. These errors were so industriously propagated, and urged upon the waiting flock that, at the time Brother Miller had the dream the true jewels were ‘excluded from sight,’ and the words of the prophet were applicable—‘And judgment is turned away backward, and justice standeth afar off,’ etc. etc. See Isaiah 56:14.

"Vào bản liệt kê các sai lầm này tôi còn có thể thêm nhiều điều nữa, như ‘một ngàn năm’ của Khải Huyền 20:4, 7, ở trong quá khứ; 144.000 của Khải Huyền 7:4; 14:1; những người ‘đã trỗi dậy và đi ra khỏi mồ mả’ sau sự phục sinh của Đấng Christ; thuyết không làm việc; giáo lý về sự hủy diệt các hài nhi; v.v. v.v. Những sai lầm này đã được truyền bá một cách hết sức ráo riết và ra sức áp đặt lên bầy chiên đang trông đợi, đến nỗi, vào lúc Anh Miller có giấc mộng, những châu báu chân thật đã bị ‘loại khỏi tầm mắt,’ và lời của vị tiên tri là thích hợp—‘Và sự xét đoán bị đẩy lùi về phía sau, và công lý đứng ở đằng xa,’ v.v. v.v. Xem Ê-sai 56:14."

“At that time there was not an advent paper in the land that advocated the cause of present truth. The ‘Day-Dawn,’ was the last to defend the true position of the little flock; but that died a number of months before the Lord gave Brother Miller this dream; and in its last dying struggle pointed the weary sighing saints to 1877, then thirty years in the future, as the time of their final deliverance. Alas! alas! No wonder that Brother Miller in his dream, ‘sat down and wept’ over this sad state of things.

Bấy giờ, trong xứ, không có một tờ báo về sự Tái Lâm nào bênh vực chánh nghĩa của lẽ thật hiện tại. “Day-Dawn” là tờ cuối cùng bảo vệ lập trường chân chính của bầy nhỏ; nhưng tờ ấy đã chết một số tháng trước khi Chúa ban cho người anh em Miller giấc mộng này; và trong cơn hấp hối cuối cùng của mình, tờ ấy đã chỉ cho các thánh đồ mệt mỏi thở than hướng về năm 1877, khi ấy còn ba mươi năm ở phía trước, như thời điểm giải cứu sau cùng của họ. Than ôi! Than ôi! Chẳng có gì lạ khi người anh em Miller, trong giấc mộng, “ngồi xuống và khóc” trước tình trạng buồn thảm này.

“8. The casket, represents the advent truth that Brother Miller published to the world, as is marked out by the parable of the ten virgins. Matthew 25:1–11. First the time, 1843, second, the tarrying time, third the midnight cry, at the seventh month, 1844, and fourth, the shut door. No one who has read the Second Advent papers since 1843, will deny that Brother Miller has advocated these four important points in advent history. This harmonious system of truth or ‘casket’ has been torn in pieces, and scattered among the rubbish by those who have rejected their own experience, and have denied the very truths that they, with Brother Miller so fearlessly preached to the world.

8. Cái hộp báu tượng trưng cho lẽ thật về Sự Tái Lâm mà Anh Miller đã công bố cho thế giới, như được vạch rõ bởi dụ ngôn về mười trinh nữ. Ma-thi-ơ 25:1–11. Thứ nhất, thời điểm, năm 1843; thứ hai, thời kỳ chờ đợi; thứ ba, tiếng kêu nửa đêm, vào tháng bảy năm 1844; và thứ tư, cửa đóng. Không ai đã đọc các ấn phẩm về Sự Tái Lâm lần thứ hai kể từ năm 1843 lại phủ nhận rằng Anh Miller đã chủ trương bốn điểm quan trọng này trong lịch sử Tái Lâm. Hệ thống lẽ thật hài hòa này, hay “hộp báu”, đã bị xé nát và vung vãi giữa đống phế thải bởi những người đã khước từ chính kinh nghiệm của mình và đã chối bỏ những lẽ thật mà họ, cùng với Anh Miller, đã quả cảm rao giảng cho thế giới.

“9. The man with the ‘dirt-brush’ represents the clear light of present truth, as brought to view by the third angel’s message, [Revelation 14:9–12,] which is now purging the errors away from the remnant. The cause of present truth began to revive in the spring of 1848, and has been rising and gaining strength from that time to the present. The ‘dirt-brush’ has been moving, and the errors have been passing away before the clear light of truth, and some of the precious jewels, who but a short time since were covered up and excluded from sight by darkness and error, now stand in the clear light of present truth.

9. Người cầm 'chổi quét bụi' tượng trưng cho ánh sáng rõ ràng của lẽ thật hiện tại, như được bày tỏ bởi sứ điệp của thiên sứ thứ ba, [Khải Huyền 14:9-12,] là sứ điệp hiện đang thanh tẩy các sai lầm khỏi dân sót lại. Sự nghiệp của lẽ thật hiện tại bắt đầu được phục hưng vào mùa xuân năm 1848, và từ đó đến nay đã không ngừng trỗi dậy và thêm vững mạnh. Chiếc 'chổi quét bụi' vẫn chuyển động, và các sai lầm đã dần lùi bước trước ánh sáng rõ ràng của lẽ thật, và một số viên ngọc quý, mà cách đây không lâu còn bị bóng tối và sai lầm phủ kín và che khuất khỏi tầm nhìn, nay đứng trong ánh sáng rõ ràng của lẽ thật hiện tại.

“This work of bringing out the jewels, and purging away error is fast increasing, and is destined to move on with increasing power, until the saints are all searched out, and receive the seal of the living God. Compare this with the thirty-fourth chapter of Ezekiel, and you will see that God has promised to gather his flock that have been scattered in this dark and cloudy day, since 1844. Before Jesus comes, the ‘little flock’ will be gathered into the ‘unity of the faith.’ Jesus is now purifying ‘unto himself a peculiar people, zealous of good works,’ and when he comes he will find his ‘church not having spot, or wrinkle, or any such thing.’ ‘Whose fan is in his hand, and he will thoroughly purge his floor, and gather his wheat into the garner, etc.’ Matthew 3:12.

Công cuộc đưa các châu báu ra ánh sáng và tẩy trừ sự sai lạc này đang gia tăng nhanh chóng, và ắt sẽ tiếp tục tiến tới với quyền năng ngày càng lớn, cho đến khi hết thảy các thánh đồ đều được tìm ra và nhận lấy ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Hãy so sánh điều này với đoạn ba mươi bốn sách Ê-xê-chi-ên, thì anh em sẽ thấy Đức Chúa Trời đã hứa nhóm lại bầy chiên của Ngài, bầy đã bị tản lạc trong ngày u ám và mây mù này, kể từ năm 1844. Trước khi Đức Chúa Jêsus đến, 'bầy nhỏ' sẽ được nhóm lại trong 'sự hiệp một của đức tin.' Hiện nay Đức Chúa Jêsus đang thanh luyện 'cho chính Ngài một dân thuộc riêng về Ngài, sốt sắng về các việc lành,' và khi Ngài đến, Ngài sẽ thấy 'Hội thánh không vết, không nhăn, hoặc điều gì giống như thế.' 'Cái nia ở trong tay Ngài; Ngài sẽ rê sạch sân lúa, và thâu lúa mình vào kho, v.v.' Ma-thi-ơ 3:12.

“10. The second ‘casket much larger and more beautiful than the former’ into which the scattered ‘jewels,’ ‘diamonds’ and coins were gathered, represents the broad field of living present truth into which the scattered flock will be gathered, even 144,000, all of them having the seal of the living God. Not one of the precious diamonds will be left in the dark. Although some are not bigger than the point of a pin, they will not be overlooked, and left out in this day when God is making up his jewels. [Malachi 3:16–18] He can send his angels and haste them out as he did Lot out of Sodom. ‘A short work will the Lord make upon the earth.’ ‘He will cut it short in righteousness.’ See Romans 9:28.” James White, Footnotes to Brother Miller’s Dream.

10. Chiếc tráp thứ hai, “lớn hơn và đẹp đẽ hơn chiếc trước”, trong đó những “châu báu”, “kim cương” và đồng tiền bị tản lạc được thu góp lại, tượng trưng cho phạm vi rộng lớn của lẽ thật hiện tại sống động, vào đó bầy chiên tản lạc sẽ được quy tụ, tức 144.000 người, hết thảy đều mang ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Không một viên kim cương quý giá nào sẽ bị để lại trong bóng tối. Dẫu có viên không lớn hơn đầu mũi kim, chúng cũng sẽ không bị bỏ sót hay bị bỏ ra ngoài trong ngày này, khi Đức Chúa Trời đang sắm sửa châu báu của Ngài. [Ma-la-chi 3:16-18] Ngài có thể sai các thiên sứ của Ngài và mau chóng đưa họ ra, như Ngài đã đưa Lót ra khỏi Sô-đôm. “Chúa sẽ làm một công việc ngắn ngủi trên đất.” “Ngài sẽ rút ngắn nó trong sự công bình.” Xem Rô-ma 9:28. James White, Chú thích cho Giấc mộng của Anh Miller.