In the “bustle,” which James White identifies as the scattering of the Millerites following October 22, 1844, William Miller experienced a dream in 1847, and two years later he was laid to rest.

Trong “bustle” mà James White xác định là sự tản lạc của phái Millerite sau ngày 22 tháng 10 năm 1844, William Miller đã có một giấc mơ vào năm 1847, và hai năm sau ông được an nghỉ.

If William Miller could have seen the light of the third message, many things which looked dark and mysterious to him would have been explained. But his brethren professed so deep love and interest for him, that he thought he could not tear away from them. His heart would incline toward the truth, and then he looked at his brethren; they opposed it. Could he tear away from those who had stood side by side with him in proclaiming the coming of Jesus? He thought they surely would not lead him astray.

Giá như William Miller đã có thể thấy ánh sáng của sứ điệp thứ ba, thì nhiều điều vốn dường như tối tăm và huyền nhiệm đối với ông hẳn đã được giải minh. Nhưng các anh em của ông bày tỏ tình yêu thương và sự quan tâm dành cho ông sâu sắc đến nỗi ông nghĩ mình không thể dứt ra khỏi họ. Lòng ông nghiêng về lẽ thật, rồi ông nhìn đến các anh em mình; họ lại phản đối điều ấy. Há ông có thể dứt ra khỏi những người đã đứng kề vai sát cánh với ông trong việc công bố sự giáng lâm của Chúa Giê-su sao? Ông nghĩ rằng họ chắc chắn sẽ không đưa ông vào lầm lạc.

“God suffered him to fall under the power of Satan, the dominion of death, and hid him in the grave from those who were constantly drawing him from the truth. Moses erred as he was about to enter the Promised Land. So also, I saw that William Miller erred as he was soon to enter the heavenly Canaan, in suffering his influence to go against the truth. Others led him to this; others must account for it. But angels watch the precious dust of this servant of God, and he will come forth at the sound of the last trump.

Đức Chúa Trời đã cho phép ông sa vào quyền lực của Sa-tan, vào quyền thống trị của sự chết, và giấu ông trong mộ khỏi những kẻ cứ liên tục lôi kéo ông ra khỏi lẽ thật. Môi-se đã lầm lỗi khi sắp bước vào Đất Hứa. Cũng vậy, tôi thấy rằng William Miller đã lầm lỗi khi sắp bước vào Ca-na-an thiên thượng, vì đã để cho ảnh hưởng của mình đi ngược lại lẽ thật. Những người khác đã dẫn dắt ông đến điều này; những người khác phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Nhưng các thiên sứ canh giữ bụi tro quý báu của tôi tớ của Đức Chúa Trời này, và ông sẽ trỗi dậy khi tiếng kèn cuối cùng vang lên.

“A Firm Platform

Một nền tảng vững chắc

“I saw a company who stood well guarded and firm, giving no countenance to those who would unsettle the established faith of the body. God looked upon them with approbation. I was shown three steps—the first, second, and third angels’ messages. Said my accompanying angel, ‘Woe to him who shall move a block or stir a pin of these messages. The true understanding of these messages is of vital importance. The destiny of souls hangs upon the manner in which they are received.’ I was again brought down through these messages, and saw how dearly the people of God had purchased their experience. It had been obtained through much suffering and severe conflict. God had led them along step by step, until He had placed them upon a solid, immovable platform. I saw individuals approach the platform and examine the foundation. Some with rejoicing immediately stepped upon it. Others commenced to find fault with the foundation. They wished improvements made, and then the platform would be more perfect, and the people much happier. Some stepped off the platform to examine it and declared it to be laid wrong. But I saw that nearly all stood firm upon the platform and exhorted those who had stepped off to cease their complaints; for God was the Master Builder, and they were fighting against Him. They recounted the wonderful work of God, which had led them to the firm platform, and in union raised their eyes to heaven and with a loud voice glorified God. This affected some of those who had complained and left the platform, and they with humble look again stepped upon it.” Early Writings, 258.

Tôi thấy một đoàn người đứng trong tư thế canh phòng nghiêm mật và kiên định, không dung túng những kẻ muốn làm lung lay đức tin đã được thiết lập của hội chúng. Đức Chúa Trời đoái nhìn họ với sự chấp thuận. Tôi được chỉ cho thấy ba nấc—các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Thiên sứ đi theo tôi nói: 'Khốn cho kẻ nào dời một viên đá hay lay động một cái chốt của các sứ điệp này. Sự hiểu biết đúng đắn về các sứ điệp này có tầm quan trọng sinh tử. Vận mệnh các linh hồn tùy thuộc vào cách thức người ta tiếp nhận chúng.' Tôi lại được dẫn dắt đi qua các sứ điệp này, và thấy dân của Đức Chúa Trời đã phải trả giá đắt biết bao để có được kinh nghiệm của họ. Kinh nghiệm ấy có được qua nhiều đau khổ và những cuộc xung đột gay gắt. Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ từng bước một, cho đến khi Ngài đặt họ trên một nền vững chắc, không thể lay chuyển. Tôi thấy có những người tiến đến gần nền ấy và xem xét nền móng. Một số người vui mừng bước ngay lên đó. Những người khác bắt đầu chê trách nền móng. Họ muốn có những cải tiến, như thế nền sẽ hoàn hảo hơn, và dân sự sẽ hạnh phúc hơn nhiều. Có người bước xuống khỏi nền để xem xét và tuyên bố rằng nền ấy được đặt sai. Nhưng tôi thấy rằng hầu hết đều đứng vững trên nền ấy và khuyên bảo những người đã bước xuống hãy chấm dứt lời phàn nàn; vì Đức Chúa Trời là Vị Kiến Trúc Sư Trưởng, còn họ thì đang chống lại Ngài. Họ kể lại công việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời, điều đã dẫn dắt họ đến nền vững chắc ấy, và hiệp một ngước mắt lên trời, lớn tiếng tôn vinh Đức Chúa Trời. Điều đó đã tác động đến một số người trước đó đã phàn nàn và rời khỏi nền, và họ với vẻ khiêm nhu lại bước lên đó." Early Writings, 258.

Miller’s Wonderful Works

Các tác phẩm kỳ diệu của Miller

The “wonderful work” of William Miller led to “the firm foundation” that was the “solid, immovable platform.” The “foundation” of the “immovable platform,” and the subsequent attack upon both the “platform” and the “foundation” that were introduced after Miller’s death in 1849 is identified in his dream.

“Công cuộc kỳ diệu” của William Miller đã dẫn đến “nền móng vững chắc”, vốn là “nền đài rắn chắc, bất khả lay chuyển.” “Nền móng” của “nền đài bất khả lay chuyển”, và cuộc công kích tiếp theo nhằm vào cả “nền đài” lẫn “nền móng” vốn được đưa vào sau khi Miller qua đời năm 1849, được chỉ ra trong giấc mơ của ông.

William Miller is the symbol of the foundations of Adventism.

William Miller là biểu tượng cho những nền tảng của Phong trào Phục Lâm.

He is also the symbol of Millerite history from 1798 unto 1863.

Ông cũng là biểu tượng của lịch sử phong trào Millerite từ năm 1798 cho đến năm 1863.

He is also the symbol of Millerite history from 1798 unto 1844.

Ông ấy cũng là biểu tượng của lịch sử phong trào Millerite từ năm 1798 cho đến năm 1844.

He is also the symbol of the history of the three angels from 1798 unto the Sunday law.

Ông ấy cũng là biểu tượng của lịch sử ba thiên sứ từ năm 1798 cho đến luật ngày Chủ Nhật.

He is represented by the forty-six years from 1798 unto 1844.

Vị ấy được biểu trưng bằng bốn mươi sáu năm từ năm 1798 cho đến năm 1844.

He is represented by the number “220,” in relation to the 2,520 and the 2,300.

Ngài được biểu trưng bởi con số “220”, trong mối liên hệ với 2.520 và 2.300.

He is represented by the “seven times”—the 2,520.

Ngài được biểu trưng bởi "bảy thời kỳ"—2.520.

He is represented by the 2,300.

Vị ấy được biểu trưng bởi con số 2.300.

Miller’s two dreams were typified by Nebuchadnezzar’s two dreams in chapter two and chapter four of Daniel.

Hai giấc chiêm bao của Miller được tiên trưng bởi hai giấc chiêm bao của Nê-bu-cát-nết-sa trong chương hai và chương bốn của sách Đa-ni-ên.

The period of 1798 begins with Nebuchadnezzar and ends in 1863 with Belshazzar.

Thời kỳ 1798 khởi đầu với Nê-bu-cát-nết-sa và kết thúc vào năm 1863 với Bên-xát-sa.

The period of 1798 to the Sunday law begins with Nebuchadnezzar and ends with Belshazzar.

Thời kỳ từ năm 1798 đến luật ngày Chủ nhật khởi đầu với Nê-bu-cát-nết-sa và kết thúc với Bên-xát-sa.

As the symbol of the history of the Millerites, he is the symbol of the foundations, which represent the truths that were discovered between the alpha discovery of the 2,520 and the omega discovery of 2,300. Commenting on William Miller’s dream, James White identified that the “key” was Miller’s method of studying the Bible. The methodology is the key of David that was laid upon Miller’s shoulder, for he presented the prophecy of 2300 years that ended when Isaiah 22:22 was fulfilled on October 22, 1844.

Là biểu tượng cho lịch sử của phong trào Millerite, ông là biểu tượng của các nền tảng, và các nền tảng ấy đại diện cho những lẽ thật đã được khám phá trong khoảng giữa khám phá Anpha về 2.520 và khám phá Ômêga về 2.300. Khi bình luận về giấc mơ của William Miller, James White xác định rằng "chìa khóa" chính là phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh của Miller. Phương pháp luận ấy là chìa khóa của Đa-vít được đặt trên vai Miller, vì ông đã trình bày lời tiên tri 2.300 năm, lời tiên tri ấy chấm dứt khi Isaiah 22:22 được ứng nghiệm vào ngày 22 tháng 10 năm 1844.

The truths that began to be unsealed from 2023 onward, are the truths that were already identified in Habakkuk’s Tables 95 presentations, and those truths are now being set within a new framework of “Truth.”

Những lẽ thật đã bắt đầu được mở ấn kể từ năm 2023 trở đi, chính là những lẽ thật vốn đã được xác định trong các bài thuyết trình "Habakkuk's Tables 95", và những lẽ thật ấy hiện đang được đặt trong một khuôn khổ "Lẽ Thật" mới.

The call of the voice in the wilderness in July 2023 identified that weeping and mourning were necessary for those who were to repent for the proclamation of July 18, 2020. Those who would be among the wise virgins were to repent in agreement with the prayer of Daniel nine, which is the prayer of those in Leviticus 26 that recognize they have been scattered.

Lời kêu gọi của tiếng kêu trong đồng vắng vào tháng 7 năm 2023 đã chỉ ra rằng việc khóc lóc và than khóc là điều cần thiết cho những ai sẽ ăn năn liên quan đến lời công bố ngày 18 tháng 7 năm 2020. Những ai sẽ thuộc về số các trinh nữ khôn ngoan phải ăn năn hiệp với lời cầu nguyện trong Đa-ni-ên đoạn chín, là lời cầu nguyện của những người trong Lê-vi Ký đoạn 26, những người nhận biết rằng họ đã bị tản lạc.

When Miller states, “While I was thus weeping and mourning for my great loss and accountability, I remembered God, and earnestly prayed that He would send me help. Immediately the door opened, and a man entered the room, when the people all left it; and he, having a dirt brush in his hand, opened the windows, and began to brush the dirt and rubbish from the room.”

Khi Miller nói: "Trong khi tôi đang khóc lóc và than khóc vì mất mát to lớn và trách nhiệm của mình, tôi nhớ đến Đức Chúa Trời và khẩn thiết cầu xin Ngài sai sự giúp đỡ đến cho tôi. Lập tức, cánh cửa mở ra, và một người đàn ông bước vào phòng; bấy giờ mọi người đều rời khỏi đó; còn người ấy, tay cầm một chiếc chổi quét bụi, mở các cửa sổ và bắt đầu quét bụi bẩn cùng rác rưởi ra khỏi phòng."

The door that opened was Miller’s heart when he “prayed earnestly” for “help.” Jesus as the True Witness to Laodicea is knocking on hearts seeking entrance. When the door opened a separation process began. When the door opened, the “windows” also opened, and the “windows” are the windows of heaven.

Cánh cửa đã mở chính là tấm lòng của Miller khi ông "cầu nguyện tha thiết" xin "sự trợ giúp". Đức Chúa Jêsus, với tư cách là Chứng Nhân Chân Thật đối với Laodicea, đang gõ cửa lòng người để xin được vào. Khi cánh cửa mở, một tiến trình phân tách bắt đầu. Khi cánh cửa mở, các "cửa sổ" cũng mở, và các "cửa sổ" ấy là các cửa sổ của trời.

John saw the windows in heaven opened in chapter nineteen of Revelation as the Lord raised up His army of white horses, immediately after the bride had made herself ready. That army, is Ezekiel’s army that stand up in response to the message of the rough east wind. That army is the church triumphant that changes from the church militant unto the church triumphant when the separation of the wheat and tares is accomplished. That separation is also represented as changing from the Laodicean experience unto the Philadelphian experience. Miller opened his heart and let the True witness enter in, as He separated the wheat and tares, thus raising His white horse army to life.

Trong chương mười chín của sách Khải Huyền, Giăng thấy các cửa sổ trên trời mở ra, khi Chúa dấy lên đạo binh ngựa trắng của Ngài, ngay sau khi Tân Nương đã tự sửa soạn sẵn sàng. Đạo binh ấy chính là đạo binh của Ê-xê-chi-ên, đứng dậy để đáp ứng sứ điệp của cơn gió đông khắc nghiệt. Đạo binh ấy là Hội Thánh khải hoàn, tức Hội Thánh chuyển từ Hội Thánh chiến đấu sang Hội Thánh khải hoàn khi sự phân rẽ giữa lúa mì và cỏ lùng được hoàn tất. Sự phân rẽ ấy cũng được biểu trưng như sự chuyển đổi từ kinh nghiệm La-ô-đi-xê sang kinh nghiệm Phi-la-đen-phi. Miller đã mở lòng và đón Đấng Chứng Nhân Chân Thật vào, khi Ngài phân rẽ lúa mì và cỏ lùng, qua đó làm cho đạo binh ngựa trắng của Ngài sống dậy.

On December 31, 2023 the Dirt Brush man entered into the room after the people left, and began the work of removing the rubbish of error, while placing the old truths of Habakkuk’s Tables in a new framework of truth.

Ngày 31 tháng 12 năm 2023, người cầm chổi rác bước vào căn phòng sau khi mọi người đã rời đi, và khởi sự công cuộc dọn bỏ rác rưởi của sai lầm, đồng thời đặt những lẽ thật xưa của các Bảng Ha-ba-cúc vào một khuôn khổ chân lý mới.

“The Saviour had not come to set aside what patriarchs and prophets had spoken; for He Himself had spoken through these representative men. All the truths of God’s word came from Him. But these priceless gems had been placed in false settings. Their precious light had been made to minister to error. God desired them to be removed from their settings of error and replaced in the framework of truth. This work only a divine hand could accomplish. By its connection with error, the truth had been serving the cause of the enemy of God and man. Christ had come to place it where it would glorify God, and work the salvation of humanity.” The Desire of Ages, 287.

Cứu Chúa đã không đến để bãi bỏ những điều các tổ phụ và các nhà tiên tri đã nói; vì chính Ngài đã phán qua những người đại diện ấy. Mọi lẽ thật của lời Đức Chúa Trời đều phát xuất từ Ngài. Nhưng những viên ngọc vô giá ấy đã bị đặt trong những khuôn khổ sai lạc. Ánh sáng quý báu của chúng đã bị biến thành công cụ phục vụ cho sai lầm. Đức Chúa Trời muốn chúng được lấy ra khỏi những khuôn khổ sai lạc ấy và được đặt lại vào khuôn khổ của lẽ thật. Công việc này chỉ có bàn tay thần linh mới có thể thực hiện. Bởi sự liên kết với sai lầm, lẽ thật đã phục vụ cho mục đích của kẻ thù của Đức Chúa Trời và loài người. Đấng Christ đã đến để đặt lẽ thật vào nơi nó sẽ tôn vinh Đức Chúa Trời và đem lại sự cứu rỗi cho nhân loại. The Desire of Ages, 287.

One of the first truths taught in 2024 was the explanation of the disappointment of July 18, 2020. Line upon line it was recognized that the first disappointments of every reform line identified July 18, 2020 as a primary waymark in the parable of the ten virgins. The subject of the disappointment became the “key” to unlock the truth of the sanctuary; whereas in the great disappointment of 1844, the sanctuary was the “key” that unlocked the disappointment.

Một trong những lẽ thật đầu tiên được giảng dạy vào năm 2024 là sự giải thích về sự thất vọng ngày 18 tháng 7 năm 2020. Theo nguyên tắc “dòng trên dòng”, người ta nhận ra rằng những thất vọng đầu tiên của mọi dòng cải cách đều xác định ngày 18 tháng 7 năm 2020 là một cột mốc chính yếu trong dụ ngôn mười trinh nữ. Chủ đề về sự thất vọng trở thành “chìa khóa” để mở ra lẽ thật về đền thánh; còn trong Sự Thất Vọng Lớn năm 1844, chính đền thánh là “chìa khóa” đã mở ra sự thất vọng.

The dirt brush man, who is also the Lion of the tribe of Judah began unsealing the message of the Midnight Cry in 2023. We have now reached the place in Miller’s dream that He is placing the larger casket upon the table and casting in the truths that are to shine ten times brighter than the sun. One of those jewels is the revelation of who He is in the prophetic narrative.

Người quét bụi đất, cũng chính là Sư Tử của chi phái Giu-đa, đã bắt đầu mở ấn sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm vào năm 2023. Hiện nay chúng ta đã đến đoạn trong giấc mơ của Miller nơi Ngài đang đặt chiếc tráp lớn hơn lên bàn và cho vào những lẽ thật sẽ chiếu sáng gấp mười lần mặt trời. Một trong những bảo ngọc ấy là sự mạc khải về Ngài là ai trong trình thuật tiên tri.

When the prophecy is unsealed, He is the Lion of the tribe of Judah, who takes old truths and places them into a new framework of the three steps of “truth.” That framework is held together by Christ as the Alpha and Omega, the first and last. As the Word of God, He orchestrated every element of His Word. As Palmoni He designed every aspect a mathematics.

Khi lời tiên tri được mở ấn, Ngài là Sư Tử của chi phái Giu-đa, Đấng đưa những lẽ thật xưa vào một khuôn khổ mới gồm ba bước của “lẽ thật”. Khuôn khổ ấy được Đấng Christ, là Alpha và Omega, Đấng thứ nhất và Đấng sau rốt, gắn kết lại. Là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời, Ngài đã sắp đặt mọi yếu tố trong Lời Ngài. Là Palmoni, Ngài đã thiết kế mọi phương diện theo toán học.

When Peter is at Caesarea Philippi, in the third hour, He introduces Himself as Palmoni, with an emphasis upon “prophetic fractals.” One of the final revelations of Christ as the Lord of prophecy, is the emphasis upon prophetic fractals as represented by Peter in Matthew 16:18, which is the symbol of 1.618, called the golden ratio in the natural world, but “prophetic fractals” by Palmoni.

Khi Phi-e-rơ ở tại Xê-sa-rê Phi-líp-phê, vào giờ thứ ba, Đấng Christ tự xưng là Palmoni, nhấn mạnh đến "các fractal tiên tri". Một trong những mạc khải sau rốt về Đấng Christ với tư cách là Chúa của lời tiên tri, là sự nhấn mạnh đến các fractal tiên tri như được biểu trưng bởi Phi-e-rơ trong Ma-thi-ơ 16:18, vốn là ký hiệu 1.618, được gọi là tỉ lệ vàng trong thế giới tự nhiên, nhưng theo Palmoni là "các fractal tiên tri".

We have only begun to identify the prophetic fractals that are located within the sacred week of 27 to 34. Before we return there on our way to the book of Joel the emphasis of prophetic fractals needed to be added into our consideration of Miller’s dream.

Chúng ta mới chỉ bắt đầu nhận diện các fractal tiên tri nằm trong tuần lễ thánh từ 27 đến 34. Trước khi trở lại đó trên hành trình tiến tới sách Giô-ên, sự nhấn mạnh về các fractal tiên tri cần được bổ sung vào sự xem xét của chúng ta về giấc chiêm bao của Miller.

The period from Miller calling people to “come and see,” and Christ, as the dirt brush man calling Miller to “come and see” is 1798 unto the Sunday law, but it contains a fractal within that overall history with the period of 1798 unto 1863. It contains another fractal from 9/11 unto the Sunday law, and another from 2023 unto the Sunday law.

Giai đoạn được đánh dấu bởi việc Miller kêu gọi mọi người “hãy đến mà xem”, và bởi việc Đấng Christ, với tư cách là “người dùng chổi quét bụi”, kêu gọi Miller “hãy đến mà xem”, là từ năm 1798 cho đến luật Chủ nhật; nhưng trong toàn bộ lịch sử đó, nó bao hàm một phân dạng, tức giai đoạn từ 1798 đến 1863. Nó còn bao hàm một phân dạng khác từ 9/11 cho đến luật Chủ nhật, và một phân dạng nữa từ 2023 cho đến luật Chủ nhật.

When Miller closed his eyes in the bustle, he represented the history of 1849, when the Lord was attempting to finish the work, but to no avail. He is resurrected in 2023, for he is Elijah that was slain in the street with Moses. He died in 1849, and then he died again on July 18, 2020.

Khi Miller nhắm mắt giữa cảnh huyên náo, ông tượng trưng cho lịch sử năm 1849, khi Chúa toan hoàn tất công cuộc, song bất thành. Ông được phục sinh vào năm 2023, vì ông là Êlia, người đã bị sát hại nơi đường phố cùng với Môsê. Ông đã chết vào năm 1849, rồi lại chết một lần nữa vào ngày 18 tháng 7 năm 2020.

His dream was given in 1847, then the Lord stretched forth His hand a second time and published the 1850 chart. When the Lord stretches forth His hand a second time in the history of the one hundred and forty-four thousand, Miller is resurrected.

Giấc mộng của ông được ban vào năm 1847. Sau đó, Chúa giơ tay Ngài lần thứ hai và công bố Biểu đồ 1850. Khi Chúa giơ tay Ngài lần thứ hai trong lịch sử của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, Miller được phục sinh.

The starting point for the scattering of both Israel and Judah is set forth in Isaiah.

Điểm khởi đầu của sự tản lạc của cả Ít-ra-ên và Giu-đa được trình bày trong sách Ê-sai.

For the head of Syria is Damascus, and the head of Damascus is Rezin; and within threescore and five years shall Ephraim be broken, that it be not a people. And the head of Ephraim is Samaria, and the head of Samaria is Remaliah’s son. If ye will not believe, surely ye shall not be established. Isaiah 7:8, 9.

Vì đầu của Sy-ri là Đa-mách, và đầu của Đa-mách là Rê-xin; và trong vòng sáu mươi lăm năm, Êp-ra-im sẽ bị bẻ gãy đến nỗi không còn là một dân. Và đầu của Êp-ra-im là Sa-ma-ri, và đầu của Sa-ma-ri là con trai của Rê-ma-lia. Nếu các ngươi không tin, chắc chắn các ngươi sẽ không đứng vững. Ê-sai 7:8, 9.

The prophecy was given in 742 BC, and nineteen years later, in 723 BC Israel was scattered by the Assyrians, and then forty-six years later Judah was scattered by Babylon. The three dates represent a period of nineteen years, followed by forty-six years. When those two prophecies ended in 1798 and 1844 respectively, the nineteen-year period at the beginning from 742 BC unto 723 BC was the alpha nineteen years, that represented the omega nineteen years from 1844 unto 1863.

Lời tiên tri được ban vào năm 742 trước Công Nguyên; mười chín năm sau, vào năm 723 trước Công Nguyên, Y-sơ-ra-ên bị người A-si-ri phân tán; rồi bốn mươi sáu năm sau, Giu-đa bị Ba-by-lôn phân tán. Ba mốc niên đại ấy biểu thị một giai đoạn mười chín năm, tiếp theo là bốn mươi sáu năm. Khi hai lời tiên tri ấy lần lượt kết thúc vào các năm 1798 và 1844, thì giai đoạn mười chín năm ban đầu từ 742 trước Công Nguyên đến 723 trước Công Nguyên là “mười chín năm Anpha”, tượng trưng cho “mười chín năm Ômêga” từ 1844 đến 1863.

Miller died five years into the omega nineteen years and seven years later Hiram Edson’s articles on the “seven times,” was published. Seven years later the “seven times” was rejected. 1856 was to be the sealing that preceded the Sunday law of 1863, but it was not to be.

Miller qua đời vào năm thứ năm của thời kỳ omega kéo dài mười chín năm, và bảy năm sau, các bài viết của Hiram Edson về “bảy lần” được xuất bản. Bảy năm sau, “bảy lần” bị bác bỏ. Năm 1856 lẽ ra sẽ là sự đóng ấn đi trước luật Ngày Chủ nhật năm 1863, nhưng điều ấy đã không xảy ra.

The third angel arrived in 1844, 1888 and at 9/11. Sister White identified that when the great buildings of New York City came down, the first three verses of Revelation eighteen would be fulfilled.

Thiên sứ thứ ba đã đến vào năm 1844, năm 1888, và vào ngày 11/9. Bà White đã chỉ ra rằng khi các tòa nhà lớn của Thành phố New York sụp đổ, ba câu đầu của Khải Huyền đoạn mười tám sẽ được ứng nghiệm.

Revelation 18

Sau những điều ấy, tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền lớn; và đất rực sáng bởi vinh quang của người. Người kêu lớn tiếng rằng: “Sa ngã! Sa ngã rồi, Babylon vĩ đại! Nó đã trở nên nơi ở của các quỷ dữ, chỗ giam giữ của mọi thần ô uế, chỗ giam giữ của mọi loài chim ô uế, và chỗ giam giữ của mọi loài thú vật ô uế và đáng ghê tởm. Vì muôn dân đã uống rượu cơn thịnh nộ của sự dâm loạn nó; các vua trên đất đã phạm dâm với nó, và các thương gia trên đất đã trở nên giàu có nhờ quyền lực của đời sống xa hoa của nó.” Rồi tôi nghe một tiếng khác từ trời phán: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, để các ngươi khỏi dự phần trong tội lỗi nó và khỏi nhận lấy các tai vạ của nó; vì tội lỗi nó đã chồng chất lên đến tận trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến những việc gian ác của nó. Hãy báo trả nó như nó đã báo trả người ta, và hãy trả gấp đôi cho nó tùy công việc nó; trong chén mà nó đã pha, hãy pha cho nó gấp đôi. Bao nhiêu nó tự tôn và sống xa hoa, bấy nhiêu hãy cho nó chịu khổ hình và than khóc; vì trong lòng nó nói: ‘Ta ngồi làm nữ vương, ta không phải là góa phụ, và sẽ chẳng hề thấy than khóc.’ Bởi cớ đó, trong một ngày, các tai vạ nó sẽ đến: sự chết, than khóc và đói kém; và nó sẽ bị thiêu đốt bằng lửa, vì Chúa là Đức Chúa Trời, Đấng đã xét đoán nó, là Đấng quyền năng.” Các vua trên đất, là những kẻ đã phạm dâm và sống xa hoa với nó, sẽ than khóc và kêu la vì nó khi thấy khói lửa cháy của nó. Họ đứng xa xa vì sợ khổ hình của nó mà nói: “Khốn thay! Khốn thay! Hỡi thành lớn, Babylon, thành mạnh mẽ! Vì trong một giờ, án xét đoán ngươi đã đến!” Và các thương gia trên đất khóc lóc than van vì nó, bởi chẳng còn ai mua hàng hóa của họ nữa: hàng hóa là vàng, bạc, đá quý, ngọc trai, vải gai mịn, vải tía, lụa, vải điều, mọi thứ gỗ thơm, mọi thứ vật dụng bằng ngà, mọi thứ đồ bằng gỗ quý, bằng đồng, bằng sắt và bằng cẩm thạch; quế, hương liệu, hương, mộc dược, nhũ hương, rượu, dầu, bột mì hảo hạng, lúa mì, bò và chiên, ngựa và xe, nô lệ, tức là linh hồn con người. Hoa trái mà linh hồn ngươi ham thích đã lìa khỏi ngươi; mọi đồ xa xỉ và vẻ lộng lẫy của ngươi đã tiêu tan và sẽ chẳng bao giờ còn được tìm thấy nữa. Những thương gia buôn những món ấy, là những kẻ đã làm giàu nhờ nó, sẽ đứng xa xa vì sợ khổ hình của nó; họ khóc lóc và than van, mà nói: “Khốn thay! Khốn thay! Hỡi thành lớn, vốn mặc vải gai mịn, vải tía và vải điều, trang sức bằng vàng, đá quý và ngọc trai! Vì chỉ trong một giờ, sự giàu có lớn lao ấy đã bị phá tan.” Và mọi thuyền trưởng, mọi người đi biển, thủy thủ, và tất cả những ai làm nghề trên biển, đứng xa xa, và khi thấy khói lửa cháy của nó, họ kêu lớn rằng: “Có thành nào giống như thành lớn này chăng?” Họ rắc bụi trên đầu, khóc lóc than van mà kêu rằng: “Khốn thay! Khốn thay! Hỡi thành lớn, nhờ sự giàu có của ngươi mà mọi người có tàu thuyền trên biển đều trở nên giàu có! Vì chỉ trong một giờ, ngươi đã bị tàn phá.” “Hỡi trời, hãy vui mừng về nó! Hỡi các thánh đồ, các sứ đồ và các tiên tri, cũng hãy vui mừng! Vì Đức Chúa Trời đã xử án nó vì cớ các ngươi.” Bấy giờ một thiên sứ mạnh mẽ nhấc lên một hòn đá lớn như cối xay mà ném xuống biển, nói rằng: “Babylon, thành lớn, cũng sẽ bị quăng xuống như vậy, với bạo lực, và sẽ chẳng bao giờ còn được tìm thấy nữa; tiếng những người gảy đàn hạc, các nhạc sĩ, những người thổi sáo và thổi kèn sẽ không còn nghe trong ngươi nữa; không một người thợ nào, thuộc bất cứ nghề nào, sẽ còn được thấy trong ngươi nữa; tiếng cối xay sẽ không còn nghe trong ngươi nữa; ánh đèn sẽ không còn chiếu sáng trong ngươi nữa; và tiếng chàng rể và cô dâu sẽ không còn nghe trong ngươi nữa; vì các thương gia của ngươi là những người quyền thế trên đất, và muôn dân đã bị phù phép của ngươi lừa dối. Trong ngươi đã thấy có máu của các tiên tri và của các thánh đồ, cũng như của hết thảy những người đã bị giết trên đất.”

Verse ONE—And after these things I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory.

Câu MỘT—Và sau những điều ấy, tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền lớn; và địa cầu được chiếu sáng bởi vinh quang của vị ấy.

Verse TWO—And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird.

Câu 2—Và người kêu lớn tiếng với giọng mạnh mẽ, rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ, đã đổ, và đã trở nên chỗ ở của ma quỷ, chỗ giam giữ mọi thần ô uế, và lồng nhốt mọi loài chim ô uế và đáng ghét.

Verse THREE—For all nations have drunk of the wine of the wrath of her fornication, and the kings of the earth have committed fornication with her, and the merchants of the earth are waxed rich through the abundance of her delicacies.

Câu BA—Vì hết thảy các dân tộc đã uống rượu của cơn thịnh nộ bởi sự tà dâm của nó, và các vua trên đất đã phạm tà dâm với nó, và các thương nhân trên đất đã trở nên giàu có nhờ sự xa hoa dư dật của nó.

The mighty first angel came down with a message in his hand and John was commanded to go and take the little book and eat it. That first angel performs the same work as the angel of Revelation eighteen who lightens the earth with its glory. This is because the first angel is the alpha and the third angel is the omega, and the beginning always illustrates the end.

Vị thiên sứ thứ nhất đầy oai quyền đã giáng xuống, trong tay cầm một sứ điệp, và Giăng được truyền lệnh đi lấy quyển sách nhỏ và ăn nó. Vị thiên sứ thứ nhất ấy thi hành cùng một công việc như vị thiên sứ trong Khải Huyền mười tám, vị làm cho đất được rực sáng bởi vinh quang của mình. Bởi vì thiên sứ thứ nhất là Anpha và thiên sứ thứ ba là Ômêga, và khởi đầu luôn minh họa cho sự kết thúc.

“Jesus commissioned a mighty angel to descend and warn the inhabitants of the earth to prepare for His second appearing. As the angel left the presence of Jesus in heaven, an exceedingly bright and glorious light went before him. I was told that his mission was to lighten the earth with his glory and warn man of the coming wrath of God.” Early Writings, 245.

"Chúa Giê-su sai phái một thiên sứ quyền năng giáng xuống để cảnh báo các cư dân trên đất chuẩn bị cho sự tái lâm của Ngài. Khi thiên sứ rời khỏi sự hiện diện của Chúa Giê-su trên trời, một luồng ánh sáng vô cùng rực rỡ và vinh hiển đi trước thiên sứ ấy. Tôi được cho biết rằng sứ mạng của thiên sứ là làm sáng khắp đất bằng vinh quang của mình và cảnh báo loài người về cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sắp đến." Early Writings, 245.

The first angel is verse one of Revelation eighteen.

Thiên sứ thứ nhất là câu một của Khải Huyền mười tám.

And after these things I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory.

Sau các điều ấy, tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền lớn; và địa cầu được chiếu sáng bởi vinh quang của người.

The second angel is verse two of Revelation eighteen.

Thiên sứ thứ hai là câu 2 của Khải Huyền chương 18.

And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird.

Và người kêu lớn tiếng, với giọng nói mạnh mẽ, rằng: Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ; và đã trở nên nơi cư trú của ma quỷ, nơi giam cầm mọi tà linh ô uế, và lồng nhốt mọi loài chim ô uế và đáng ghét.

The third angel is verse three of Revelation eighteen.

Vị thiên sứ thứ ba là câu ba của Khải Huyền đoạn mười tám.

For all nations have drunk of the wine of the wrath of her fornication, and the kings of the earth have committed fornication with her, and the merchants of the earth are waxed rich through the abundance of her delicacies.

Vì mọi dân tộc đã uống rượu thịnh nộ của sự tà dâm nó, và các vua trên đất đã tà dâm với nó, và các thương nhân trên đất đã trở nên giàu có bởi sự xa hoa dư dật của nó.

All the kings commit fornication with the whore at the Sunday law, as typified in verse three. The second angel’s message is that Babylon is fallen, and that is verse two. The first angel’s mission was to lighten the earth with his glory and that is verse one. Verse one is 9/11. Verse two is the separation process that has been going on throughout mankind since 9/11, and verse three is the Sunday law. For this reason, 9/11 is the third angel’s message, and so is the Sunday law. 9/11 is the warning of the approaching Sunday law as represented in the first three verses, and the other voice of verse four is the Sunday law. The first voice of Revelation eighteen is the warning of the approaching Sunday law, and that warning changes to a living reality at the Sunday law.

Hết thảy các vua phạm gian dâm với dâm phụ tại thời điểm luật ngày Chủ nhật, như được tiêu biểu trong câu ba. Sứ điệp của thiên sứ thứ hai là Ba-by-lôn đã đổ, và đó là câu hai. Sứ mạng của thiên sứ thứ nhất là làm cho đất được chiếu sáng bởi vinh quang của mình, và đó là câu một. Câu một là 9/11. Câu hai là tiến trình phân rẽ đã diễn ra giữa loài người kể từ 9/11, và câu ba là luật ngày Chủ nhật. Vì lý do này, 9/11 là sứ điệp của thiên sứ thứ ba, và luật ngày Chủ nhật cũng vậy. 9/11 là lời cảnh báo về luật ngày Chủ nhật đang đến gần, như được trình bày trong ba câu đầu, và tiếng nói khác của câu bốn là luật ngày Chủ nhật. Tiếng nói thứ nhất của Khải Huyền mười tám là lời cảnh báo về luật ngày Chủ nhật đang đến gần, và lời cảnh báo ấy trở thành một thực tại sống động khi luật ngày Chủ nhật được ban hành.

9/11 unto the Sunday law is typified by the period of the alpha “come and see” of Miller’s dream unto the omega “come and see.” Between 9/11 and the Sunday law the jewels get placed upon Miller’s table in the center of the room, scattered and buried, and then restored by the dirt brush man. The angel that descended in 1840 with the little book was the first and alpha angel that represented the angel that descended at 9/11. That angel is identified in chapter ten, when John is told that the book would be sweet, but turn bitter.

Khoảng thời gian từ 9/11 đến luật ngày Chủ Nhật được tiêu biểu bởi giai đoạn từ lời “hãy đến và xem” mang tính Alpha trong giấc mơ của Miller cho đến lời “hãy đến và xem” mang tính Ômega. Giữa 9/11 và luật ngày Chủ Nhật, những viên ngọc quý được đặt trên chiếc bàn của Miller ở chính giữa căn phòng, bị rải rác và chôn vùi, rồi được người cầm chổi quét bụi khôi phục lại. Thiên sứ đã giáng xuống năm 1840 với quyển sách nhỏ là vị thiên sứ thứ nhất, thiên sứ Alpha, tiêu biểu cho thiên sứ đã giáng xuống vào 9/11. Thiên sứ ấy được nhận diện trong chương mười, khi Giăng được bảo rằng quyển sách sẽ ngọt, nhưng rồi trở nên đắng.

John was representing the movement of the first angel, represented by the Millerites, and he was also illustrating the movement of the one hundred and forty-four thousand. First and foremost, he represented the latter days, as prophets always do. For this reason, he was told in advance that the book was going to be sweet and then bitter. The Millerites did not know this in advance, but the one hundred and forty-four thousand are required to know this.

Giăng đại diện cho phong trào của thiên sứ thứ nhất, phong trào này được tiêu biểu bởi những người Millerite; và ông cũng minh họa cho phong trào của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Trước hết và trên hết, ông đại diện cho thời kỳ sau rốt, như các tiên tri vẫn hằng làm. Vì lẽ đó, ông đã được báo trước rằng cuộn sách sẽ ngọt rồi hóa đắng. Những người Millerite đã không biết trước điều này, nhưng một trăm bốn mươi bốn nghìn thì được đòi hỏi phải biết điều ấy.

Miller, as the messenger of the first angel is the premier symbol of one who ate the little book. As a miller he was to separate the wheat from the chaff, then process the grain into flour, and make the bread that was to be eaten. He shared the bread by placing it in the center of his room and calling all who would to “come and see.” But as a symbol of the one who took the book out of the angel’s hand, Miller like unto John, is addressing the latter days of the third angel, more than the early days of the first angel. In his dream he begins by informing us that he received his message by an unseen hand. The first angel in Revelation ten has a little book in his hand, but the angel of Revelation eighteen, which is the omega to the alpha of 1840, has no book represented in his hand, and that is the book that Miller received—the book from an unseen hand. Miller’s “come and see” is 9/11, and the dirt brush man’s “come and see” is the Sunday law.

Miller, với tư cách là sứ giả của thiên sứ thứ nhất, là biểu tượng tiêu biểu nhất của người đã ăn quyển sách nhỏ. Là một thợ xay, ông phải phân tách lúa mì khỏi vỏ trấu, rồi xay hạt thành bột, và làm nên bánh để ăn. Ông chia sẻ bánh bằng cách đặt nó ở chính giữa phòng mình và kêu gọi hết thảy những ai muốn: “hãy đến và xem.” Nhưng như một biểu tượng của người đã lấy quyển sách từ tay thiên sứ, Miller, giống như Giăng, đang đề cập đến những ngày sau rốt của thiên sứ thứ ba hơn là những ngày ban đầu của thiên sứ thứ nhất. Trong giấc mộng, ông mở đầu bằng việc cho chúng ta biết rằng ông nhận sứ điệp của mình bởi một bàn tay vô hình. Thiên sứ thứ nhất trong Khải Huyền mười có một quyển sách nhỏ trong tay, nhưng thiên sứ của Khải Huyền mười tám, vốn là ômêga đối với anpha của năm 1840, không được mô tả là có sách trong tay, và đó chính là quyển sách mà Miller đã nhận—quyển sách từ một bàn tay vô hình. “Hãy đến và xem” của Miller là 9/11, và “hãy đến và xem” của người cầm chổi quét bụi là luật ngày Chủ nhật.

Between the alpha and omega “come and see” you have the second angel’s message, for the alpha is 9/11, which is verse one of chapter eighteen, and verse two is the second angel that concludes at verse three, which is the Sunday law and the omega “come and see.” In Miller’s dream the second angel, and the fall of Babylon is represented by the seven times the word scatter is employed, while the overall narrative identifies truth being overcome with error.

Ở giữa lời “Hãy đến và xem” của Anpha và Ômêga là sứ điệp của thiên sứ thứ hai, vì Anpha là 9/11, tức là câu một của chương mười tám, và câu hai là thiên sứ thứ hai, kết thúc tại câu ba, tức là đạo luật Chủ nhật và lời “Hãy đến và xem” của Ômêga. Trong giấc mộng của Miller, thiên sứ thứ hai và sự sụp đổ của Babylon được biểu trưng bởi bảy lần từ “scatter” được dùng, trong khi toàn bộ trình thuật cho thấy lẽ thật bị sai lầm lấn át.

The first and third angels descended with the message that must be taken and eaten on August 11, 1840 and 9/11 respectively. The two dates correspond to verse one of Revelation eighteen.

Thiên sứ thứ nhất và thiên sứ thứ ba đã giáng xuống với sứ điệp phải lấy mà ăn, lần lượt vào ngày 11 tháng 8 năm 1840 và 9/11. Hai mốc thời gian này tương ứng với câu một của Khải Huyền mười tám.

The foundational truths were published in May of 1842, with the 1843 pioneer chart as the alpha of Habakkuk’s two tables. In 2012 Habakkuk’s Tables were published, aligning with May of 1842.

Các chân lý nền tảng đã được công bố vào tháng 5 năm 1842, với biểu đồ năm 1843 của các nhà tiên phong là Anpha của hai bảng của Ha-ba-cúc. Năm 2012, các bảng của Ha-ba-cúc đã được xuất bản, tương ứng với tháng 5 năm 1842.

The Millerite’s experienced their first disappointment on April 19, 1844, typifying July 18, 2020. At that point the second angel arrived, and his arrival aligned with verse two of Revelation eighteen. That disappointment marked the end of the first angel. There the second angel arrived, the tarrying time in the virgin’s parable began. The history of the first angel is to run parallel with the history of the second, and when applied in this fashion, the arrival of the second angel is aligned with the arrival of the first angel in 1840 and 9/11.

Những người Millerite đã trải qua sự thất vọng đầu tiên vào ngày 19 tháng 4 năm 1844, tiêu biểu cho ngày 18 tháng 7 năm 2020. Khi ấy thiên sứ thứ hai đã đến, và sự đến của ngài tương ứng với câu hai của Khải Huyền mười tám. Sự thất vọng ấy đánh dấu sự kết thúc của thiên sứ thứ nhất. Tại đó thiên sứ thứ hai đã đến, thời kỳ trì hoãn trong dụ ngôn về các trinh nữ bắt đầu. Lịch sử của thiên sứ thứ nhất song hành với lịch sử của thiên sứ thứ hai, và khi áp dụng theo cách này, sự đến của thiên sứ thứ hai được đặt tương ứng với sự đến của thiên sứ thứ nhất vào năm 1840 và 9/11.

A tarrying time arrived at 9/11, which was typified by April 19, 1844. At 9/11 the four winds of Islam were released, and then held in check. Those four winds of John are the rough winds of Isaiah, and the east wind of prophecy, and the sealing angel ascends from the east. When He ascends, He cries out “hold, hold, hold, hold” four times according to Sister White. The tarrying time that begins with the arrival of the second angel is represented as the four winds being held in check until the one hundred and forty-four thousand are sealed.

Một thời kỳ chậm trễ đã đến vào ngày 11/9, vốn được tiêu biểu bởi ngày 19 tháng 4 năm 1844. Vào ngày 11/9, bốn luồng gió của Hồi giáo được thả ra, rồi lại bị cầm giữ. Bốn luồng gió ấy của Giăng chính là những luồng gió dữ dội của Ê-sai, và là gió đông của lời tiên tri; và thiên sứ đóng ấn lên từ phương đông. Khi Ngài lên, theo bà White, Ngài kêu lớn: "hãy cầm giữ, hãy cầm giữ, hãy cầm giữ, hãy cầm giữ" bốn lần. Thời kỳ chậm trễ khởi đầu với sự đến của thiên sứ thứ hai được biểu thị như việc bốn luồng gió bị cầm giữ cho đến khi một trăm bốn mươi bốn ngàn được đóng ấn.

After the first disappointment, Samuel Snow was led to put together the message of the Midnight Cry, thus typifying the voice in the wilderness in July of 2023.

Sau lần thất vọng thứ nhất, Samuel Snow được dẫn dắt để kết tập sứ điệp Tiếng Kêu Lúc Nửa Đêm, qua đó làm hình bóng cho tiếng kêu trong đồng vắng vào tháng Bảy năm 2023.

At the Exeter camp meeting, the separation of the virgins based upon the testing oil, purged and also purified the Millerites in agreement with the work of the Messenger of the Covenant. The Exeter camp meeting represented the sealing, for the work then went forward like a tidal wave, or a mighty army, until the third angel arrived on October 22, 1844. The key of the history is the separation.

Tại hội trại Exeter, sự phân rẽ các trinh nữ dựa trên dầu thử thách đã gạn lọc và cũng thanh tẩy những người Millerite, phù hợp với công tác của Sứ giả của Giao Ước. Hội trại Exeter biểu thị sự đóng ấn, vì khi ấy công cuộc tiến lên như một làn sóng thủy triều, hoặc như một đạo quân hùng mạnh, cho đến khi thiên sứ thứ ba đến vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Chìa khóa của lịch sử ấy là sự phân rẽ.

The second angel does a work of separating when it arrives, as it did at the first disappointment, and it ended with the separation of October 22. In the middle of the two separations the second angel’s message was proclaimed. The second angel is a progressive separation until the final test of the oil. The final test of oil leads to the litmus test of the third angel. That litmus test was the cross for Jesus, and the Garden of Gethsemane, meaning the “garden of the oil press” preceded the litmus test of the cross, and the test of the virgin’s oil preceded the close door of 1844.

Thiên sứ thứ hai thi hành một công cuộc phân rẽ khi nó đến, như đã làm tại sự thất vọng thứ nhất, và nó kết thúc với sự phân rẽ của ngày 22 tháng 10. Ở giữa hai lần phân rẽ ấy, sứ điệp của thiên sứ thứ hai đã được công bố. Công cuộc của thiên sứ thứ hai là một sự phân rẽ tiến triển cho đến kỳ thử thách cuối cùng về dầu. Kỳ thử thách cuối cùng về dầu dẫn đến phép thử giấy quỳ của thiên sứ thứ ba. Phép thử giấy quỳ ấy, đối với Đức Chúa Giê-su, chính là thập tự giá; và vườn Ghết-sê-ma-nê, nghĩa là 'vườn ép dầu', đã đi trước phép thử giấy quỳ của thập tự giá; cũng như kỳ thử thách về dầu của các trinh nữ đã đi trước cánh cửa đóng năm 1844.

The final test, followed by judgment was the tenth test for ancient Israel. They were then assigned to die in the wilderness. Whether Kadesh, Gethsemane or Exeter; the final test before judgment, where the two classes are separated, identifies a final test post 2023, that precedes the closed-door judgment of the Sunday law. That final test is the sealing. A final or last test infers a first test.

Thử thách cuối cùng, tiếp theo là phán xét, là thử thách thứ mười đối với Israel cổ đại. Bấy giờ họ bị tuyên án phải chết trong đồng vắng. Dù là Kadesh, Gethsemane hay Exeter, thử thách cuối cùng trước khi phán xét, nơi hai hạng người được phân rẽ, chỉ ra một thử thách cuối cùng sau năm 2023, đi trước sự phán xét sau cánh cửa đóng kín của luật ngày Chủ nhật. Thử thách cuối cùng ấy là sự đóng ấn. Một thử thách cuối cùng hay sau hết hàm ý một thử thách đầu tiên.

In 2023, the tarrying time ended as the Lion of the tribe of Judah unsealed the vision that was to tarry, by removing His hand. Then began the work of Samuel Snow.

Vào năm 2023, thời kỳ trì hoãn đã chấm dứt khi Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ấn khải tượng vốn được định sẽ trì hoãn, bằng cách cất tay Ngài. Bấy giờ công cuộc của Samuel Snow khởi sự.

If we align the period of the first and second angels in parallel to one another they identify the descent of an angel with a message that tests God’s people by their response to the command to take and eat the message. The foundational message is then placed into the public, until the foundational message fails. Then the third angel arrives. The period of the third angel is the nineteen years that were the omega nineteen years of 742 BC unto 723 BC.

Nếu chúng ta đặt giai đoạn của thiên sứ thứ nhất và thiên sứ thứ hai song song với nhau, thì chúng xác định sự giáng xuống của một thiên sứ mang theo một sứ điệp thử nghiệm dân Đức Chúa Trời qua phản ứng của họ đối với mệnh lệnh phải lấy và ăn sứ điệp ấy. Sứ điệp nền tảng sau đó được đưa ra trước công chúng, cho đến khi sứ điệp nền tảng ấy thất bại. Bấy giờ thiên sứ thứ ba đến. Giai đoạn của thiên sứ thứ ba là mười chín năm, tức mười chín năm omega từ năm 742 TCN đến năm 723 TCN.

The period of 1844 unto 1863, and the period of 742 BC to 723 BC run parallel to one another, and also parallel to the periods of the first and second angels. Those four lines of prophetic history align with 9/11 unto the Sunday law. Those five lines are the history of Miller’s alpha “come and see” and Christ’s omega “come and see.”

Giai đoạn từ năm 1844 cho đến năm 1863, và giai đoạn từ năm 742 trước Công Nguyên đến năm 723 trước Công Nguyên, song song với nhau, và cũng song song với các thời kỳ của thiên sứ thứ nhất và thứ hai. Bốn dòng lịch sử tiên tri ấy tương ứng với giai đoạn từ 9/11 cho đến luật ngày Chúa nhật. Năm dòng ấy là lịch sử của “hãy đến và xem” Anpha của Miller và “hãy đến và xem” Ômêga của Đấng Christ.

Four times Seven

Bốn lần bảy

Rightly understood Leviticus twenty-six identifies the “seven times,” four times, and the “seven times” is a symbol of Miller and his message. In 1842, Miller’s understanding of the “seven times” was enshrined upon the 1843 chart that Sister White states, “was directed by the hand of the Lord,” and “should not be altered.” Seven years later Miller died in 1849, and seven years later the message of the “seven times” is put into the record by Hiram Edson, and seven years later it is rejected.

Khi được hiểu đúng, Lê-vi Ký 26 lặp lại cụm từ "bảy lần" bốn lần, và "bảy lần" là một biểu tượng cho Miller và sứ điệp của ông. Năm 1842, sự hiểu biết của Miller về "bảy lần" đã được thể hiện trên biểu đồ năm 1843 mà Bà White nói rằng "được dẫn dắt bởi bàn tay của Chúa" và "không nên thay đổi." Bảy năm sau, Miller qua đời vào năm 1849; bảy năm sau nữa, sứ điệp về "bảy lần" được Hiram Edson ghi chép lại; và bảy năm sau nữa, nó bị bác bỏ.

In 1842 the first table of Habakkuk was published.

Năm 1842, bảng thứ nhất của Ha-ba-cúc đã được xuất bản.

In 1849 the alpha messenger of the “seven times” upon the 1843 chart dies.

Năm 1849, sứ giả alpha của 'bảy lần' trên tấm biểu đồ năm 1843 tạ thế.

In 1856 the omega messenger of the “seven times” upon the 1850 chart is ignored.

Vào năm 1856, sứ giả ômega của “bảy lần” trên biểu đồ năm 1850 bị bỏ qua.

In 1863 Habakkuk’s two tables are rejected and the 1863 chart was published.

Năm 1863, hai bảng của Ha-ba-cúc bị bác bỏ và biểu đồ năm 1863 được xuất bản.

A Divine chart published at the beginning and a human chart published at the end. In the middle, two messengers are identified, for the second message always has a doubling.

Một đồ hình thiêng liêng được in ở phần đầu, và một đồ hình nhân loại được in ở phần cuối. Ở phần giữa, hai sứ giả được xác định, vì sứ điệp thứ hai luôn có sự nhân đôi.

First angel

Thiên sứ thứ nhất

In 1842 the first table of Habakkuk was published.

Năm 1842, bảng thứ nhất của Ha-ba-cúc đã được xuất bản.

Second angel

Thiên sứ thứ hai

In 1849 the old messenger of the 1843 chart dies.

Năm 1849, vị sứ giả lão thành của biểu đồ 1843 qua đời.

In 1856 the new messenger of the 1850 chart is ignored.

Năm 1856, sứ giả mới của biểu đồ năm 1850 bị bỏ qua.

Third angel

Thiên sứ thứ ba

In 1863 the message is rejected and the 1863 chart was published.

Năm 1863, sứ điệp bị khước từ và biểu đồ năm 1863 được xuất bản.

A twenty-one-year period that represents four symbols of the “seven times,” equally spaced seven years apart. The alpha message is published (1842), the alpha messenger dies (1849), the omega messenger is ignored (1856) and the omega message is rejected (1863), typifying 2012; July 18, 2020; 2023; and the soon-coming Sunday law. Miller’s death in 1849 aligns with July 18, 2020. The messenger, and the message was resurrected in 2023. The omega message is now being unsealed, and it is followed by the Sunday law of 1863.

Một thời kỳ hai mươi mốt năm biểu trưng cho bốn biểu tượng của “bảy lần”, cách đều nhau bảy năm một lần. Sứ điệp alpha được công bố (1842), sứ giả alpha qua đời (1849), sứ giả omega bị bỏ qua (1856) và sứ điệp omega bị bác bỏ (1863), mang tính điển hình cho 2012; ngày 18 tháng 7 năm 2020; 2023; và luật ngày Chủ nhật sắp đến. Cái chết của Miller năm 1849 tương ứng với ngày 18 tháng 7 năm 2020. Sứ giả và sứ điệp đã được phục sinh vào năm 2023. Sứ điệp omega hiện đang được mở ấn, và nó được tiếp nối bởi luật ngày Chủ nhật năm 1863.

In the Millerite movement, the message was established and then the messenger died. In the parallel movement the message was established and then the message died. The message was resurrected in 1856 and 2023. Apostasy is the label of 1863, and victory is the label of its counterpart at the Sunday law. Before the apostasy and victory of the Sunday law and 1863, the unsealing of the capstone omega light of the “seven times” of 1856 is set forth, as it has been since 2023.

Trong phong trào Millerite, sứ điệp được xác lập rồi sứ giả qua đời. Trong phong trào song song, sứ điệp được xác lập rồi sứ điệp chết. Sứ điệp được phục sinh vào năm 1856 và 2023. Bội đạo là dấu ấn của 1863, và chiến thắng là dấu ấn của đối ứng của nó tại đạo luật ngày Chủ nhật. Trước bội đạo và chiến thắng gắn với đạo luật ngày Chủ nhật và với năm 1863, sự mở ấn của ánh sáng omega thuộc viên đá chóp nóc của “bảy thì” năm 1856 được bày tỏ, như vốn đã được bày tỏ kể từ năm 2023.

We will continue in the next article.

Chúng ta sẽ tiếp tục trong bài viết tiếp theo.

William Miller: 1782–1849

William Miller: 1782–1849

William: “will” and “helmet”— “resolute protector”, “determined guardian”, or “strong-willed warrior.”

William: "ý chí" và "mũ trụ" - "người bảo hộ kiên quyết", "người hộ vệ quyết chí", hoặc "chiến binh ý chí kiên cường".

Miller: a person who operates a mill, especially. a mill that grinds grain into flour.

Miller: người vận hành một cối xay, đặc biệt là cối xay nghiền ngũ cốc thành bột.

Strong-willed warrior

Chiến binh có ý chí kiên cường

“An Upright, honest-hearted farmer, who had been led to doubt the divine authority of the Scriptures, yet who sincerely desired to know the truth, was the man specially chosen of God to lead out in the proclamation of Christ’s second coming. Like many other reformers, William Miller had in early life battled with poverty and had thus learned the great lessons of energy and self-denial. The members of the family from which he sprang were characterized by an independent, liberty-loving spirit, by capability of endurance, and ardent patriotism—traits which were also prominent in his character. His father was a captain in the army of the Revolution, and to the sacrifices which he made in the struggles and sufferings of that stormy period may be traced the straitened circumstances of Miller’s early life.

Một người nông dân ngay thẳng, có tấm lòng chân thật, người đã bị dẫn đến chỗ hoài nghi thẩm quyền thiên thượng của Kinh Thánh, nhưng lại chân thành ước ao biết lẽ thật, chính là người được Đức Chúa Trời đặc biệt chọn để đi đầu trong việc công bố sự tái lâm của Đấng Christ. Như nhiều nhà cải chánh khác, William Miller trong buổi đầu đời đã vật lộn với cảnh nghèo khó và nhờ đó học được những bài học lớn về nghị lực và sự tự bỏ mình. Các thành viên trong gia đình mà ông xuất thân đều mang đặc tính là tinh thần độc lập, yêu tự do, khả năng chịu đựng bền bỉ, và lòng ái quốc nồng nhiệt—những phẩm chất cũng nổi bật trong chính con người ông. Cha ông là một đại úy trong quân đội của Cuộc Cách mạng, và hoàn cảnh túng thiếu những năm đầu đời của Miller có thể được truy nguyên từ những hy sinh mà ông đã gánh chịu trong các cuộc tranh đấu và gian khổ của giai đoạn bão tố ấy.

“He had a sound physical constitution, and even in childhood gave evidence of more than ordinary intellectual strength. As he grew older, this became more marked. His mind was active and well developed, and he had a keen thirst for knowledge. Though he did not enjoy the advantages of a collegiate education, his love of study and a habit of careful thought and close criticism rendered him a man of sound judgment and comprehensive views. He possessed an irreproachable moral character and an enviable reputation, being generally esteemed for integrity, thrift, and benevolence. By dint of energy and application he early acquired a competence, though his habits of study were still maintained. He filled various civil and military offices with credit, and the avenues to wealth and honor seemed wide open to him.” The Great Controversy, 317.

Ông có thể chất cường tráng, và ngay từ thuở ấu thơ đã tỏ ra có năng lực trí tuệ vượt mức thông thường. Khi ông lớn lên, điều ấy càng trở nên rõ nét. Trí óc ông linh hoạt và phát triển tốt, và ông có niềm khao khát tri thức mãnh liệt. Dẫu không được hưởng những lợi thế của nền giáo dục đại học, lòng say mê học tập cùng thói quen suy tư cẩn trọng và phê bình nghiêm cẩn đã khiến ông trở thành một người có óc phán đoán vững vàng và tầm nhìn bao quát. Ông sở hữu một phẩm cách đạo đức vô khả khiển trách và một thanh danh đáng ao ước, nói chung được trọng vọng vì đức liêm chính, tính tiết kiệm và lòng nhân ái. Nhờ nghị lực và sự chuyên cần, ông sớm tạo dựng được một cơ nghiệp đủ đầy, dù các thói quen học tập của ông vẫn được duy trì. Ông đảm nhiệm nhiều chức vụ dân sự và quân sự một cách xứng đáng, và các nẻo đường dẫn đến phú quý cùng vinh dự dường như rộng mở trước ông. Cuộc Đại Tranh Luận, 317.

“The knowledge of God is not to be gained without mental effort, without prayer for wisdom in order that you may separate from the pure grain of truth the chaff with which men and Satan have misrepresented the doctrines of truth. Satan and his confederacy of human agents have endeavored to mix the chaff of error with the wheat of truth. We should diligently search for the hidden treasure, and seek wisdom from heaven in order to separate human inventions from the divine commands. The Holy Spirit will aid the seeker for great and precious truths which relate to the plan of redemption. I would impress upon all the fact that a casual reading of the Scriptures is not enough. We must search, and this means the doing of all the word implies. As the miner eagerly explores the earth to discover its veins of gold, so you are to explore the word of God for the hidden treasure that Satan has so long sought to hide from man. The Lord says, ‘If any man willeth to do his will, he shall know of the teaching.’ John 7:17, Revised Version.

Sự hiểu biết về Đức Chúa Trời không thể đạt được nếu không có nỗ lực trí tuệ, không có lời cầu nguyện xin sự khôn ngoan, để anh em có thể tách khỏi hạt lúa tinh tuyền của lẽ thật thứ trấu rơm mà loài người và Sa-tan đã dùng để xuyên tạc các giáo lý của lẽ thật. Sa-tan và liên minh những tay sai loài người của nó đã ra sức trộn lẫn trấu rơm của sai lầm với lúa mì của lẽ thật. Chúng ta nên siêng năng tìm kiếm kho báu giấu kín, và cầu xin sự khôn ngoan từ trời để phân biệt những điều loài người đặt ra với các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh sẽ giúp đỡ người tìm kiếm những lẽ thật lớn lao và quý báu liên hệ đến kế hoạch cứu chuộc. Tôi muốn nhấn mạnh với hết thảy rằng đọc Kinh Thánh cách hời hợt là không đủ. Chúng ta phải tra cứu, và điều ấy có nghĩa là làm theo mọi điều mà Lời hàm ý. Như người thợ mỏ hăm hở thăm dò lòng đất để khám phá các mạch vàng, thì anh em cũng phải khảo cứu Lời Đức Chúa Trời để tìm kho báu ẩn giấu mà Sa-tan từ lâu đã tìm cách che giấu khỏi loài người. Chúa phán: “Nếu ai muốn làm theo ý muốn của Ngài, thì sẽ biết về giáo huấn ấy.” Giăng 7:17, Revised Version.

“The word of God is truth and light, and is to be a lamp unto your feet, to guide you every step of the way to the gates of the city of God. It is for this reason that Satan has made such desperate efforts to obstruct the path that has been cast up for the ransomed of the Lord to walk in. You are not to take your ideas to the Bible, and make your opinions a center around which truth is to revolve. You are to lay aside your ideas at the door of investigation, and with humble, subdued hearts, with self hid in Christ, with earnest prayer, you are to seek wisdom from God. You should feel that you must know the revealed will of God, because it concerns your personal, eternal welfare. The Bible is a directory by which you may know the way to eternal life. You should desire above all things that you may know the will and ways of the Lord. You should not search for the purpose of finding texts of Scripture that you can construe to prove your theories; for the word of God declares that this is wresting the Scriptures to your own destruction. You must empty yourselves of every prejudice, and come in the spirit of prayer to the investigation of the word of God.” Review and Herald, September 11, 1894.

Lời Đức Chúa Trời là lẽ thật và là ánh sáng, và phải làm ngọn đèn cho chân anh em, dẫn dắt anh em từng bước trên con đường đến các cổng của thành Đức Chúa Trời. Chính vì lẽ đó, Sa-tan đã dốc những nỗ lực tuyệt vọng để ngăn trở con đường đã được đắp nên cho những người được Chúa chuộc đi trên đó. Anh em chớ mang các quan niệm của mình đến với Kinh Thánh, và đặt các quan điểm của mình làm trung tâm, bắt chân lý phải xoay quanh. Anh em phải gác các ý kiến của mình lại nơi ngưỡng cửa của công cuộc khảo cứu; và với tấm lòng khiêm nhu, thuận phục, với bản ngã ẩn mình trong Đấng Christ, với lời cầu nguyện sốt sắng, anh em phải tìm cầu sự khôn ngoan từ nơi Đức Chúa Trời. Anh em nên cảm nhận rằng mình phải biết ý chỉ đã được mặc khải của Đức Chúa Trời, vì điều ấy liên hệ đến phúc hạnh cá nhân và đời đời của anh em. Kinh Thánh là chỉ nam nhờ đó anh em có thể biết con đường đến sự sống đời đời. Anh em phải ước ao trên hết mọi sự được biết ý muốn và đường lối của Chúa. Anh em chớ tra cứu với mục đích tìm những câu Kinh Thánh để có thể diễn giải theo ý mình nhằm chứng minh các học thuyết của mình; vì lời Đức Chúa Trời tuyên bố rằng đó là vặn vẹo Kinh Thánh, chuốc lấy sự hủy diệt cho chính mình. Anh em phải trút sạch mọi thành kiến, và trong tâm thần cầu nguyện mà đến với việc khảo cứu lời Đức Chúa Trời. Review and Herald, ngày 11 tháng 9, 1894.

“William Miller was born at Pittsfield, Massachusetts. His formal schooling consisted of only 18 months, but he became self-taught through his strong habit of reading. He also early began to write, composing poetry and keeping a diary. His reading exposed him to infidel authors who influenced him in the direction of deism. He became a justice of the peace in his late twenties, and fought in the War of 1812. Several experiences during this conflict turned his mind toward a personal God. By 1816 he was converted, and began Bible study in earnest. He wrote, ‘The Scriptures . . . became my delight, and in Jesus I found a friend.’

William Miller sinh tại Pittsfield, bang Massachusetts. Nền giáo dục chính quy của ông chỉ kéo dài 18 tháng, nhưng ông đã tự học nhờ thói quen đọc sách say mê. Ông cũng sớm bắt đầu viết, sáng tác thơ và ghi chép nhật ký. Việc đọc sách đưa ông tiếp xúc với các tác giả bất tín, những người đã ảnh hưởng khiến ông nghiêng về thuyết Thần tự nhiên. Vào cuối tuổi hai mươi, ông trở thành thẩm phán hòa bình, và tham chiến trong Chiến tranh năm 1812. Một số trải nghiệm trong cuộc xung đột này đã hướng tâm trí ông về Đức Chúa Trời cá vị. Đến năm 1816, ông được hoán cải và bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh cách nghiêm túc. Ông viết: "Kinh Thánh ... trở nên niềm vui thích của tôi, và nơi Chúa Giê-su tôi tìm thấy một người bạn."

“By 1818 in his study of the prophecies he concluded that Jesus would return ‘about 1843.’ In 1831 he began to share his studies in public in small settings, after strong conviction and providential guidance to do so. After meeting J. V. Himes, a prominent editor, in 1839, the way was opened to preach to large groups in major cities. While opposed by many, his preaching, and that of others who caught the Advent message, made a significant impact, with up to 100,000 accepting belief in the soon coming of Christ. Ellen Harmon heard him in Portland, Maine, in March of 1840 when she was 12 years old. She recounted, “Mr. Miller traced down the prophecies with an exactness that struck conviction to the hearts of his hearers. He dwelt upon the prophetic periods, and brought many proofs to strengthen his position. Then his solemn and powerful appeals and admonitions to those who were unprepared, held the crowds as if spellbound.” Life Sketches, 20.

Đến năm 1818, qua việc nghiên cứu các lời tiên tri, ông kết luận rằng Chúa Giê-xu sẽ trở lại 'khoảng năm 1843.' Năm 1831, sau khi có sự xác tín mạnh mẽ và sự hướng dẫn quan phòng thúc đẩy, ông bắt đầu trình bày công khai các nghiên cứu của mình trong những buổi nhóm nhỏ. Sau khi gặp J. V. Himes, một biên tập viên nổi tiếng, vào năm 1839, cánh cửa được mở ra để ông giảng cho những nhóm đông người tại các thành phố lớn. Mặc dù bị nhiều người phản đối, việc giảng dạy của ông, cũng như của những người khác đã đón nhận sứ điệp Tái Lâm, đã tạo nên ảnh hưởng đáng kể, với tới 100.000 người chấp nhận niềm tin vào sự quang lâm gần kề của Đấng Christ. Ellen Harmon nghe ông giảng tại Portland, Maine, vào tháng Ba năm 1840, khi bà mới 12 tuổi. Bà thuật lại: "Ông Miller đã lần theo các lời tiên tri với một sự chính xác gây xác tín trong lòng những người nghe. Ông nhấn mạnh đến các thời kỳ tiên tri, và nêu ra nhiều bằng chứng để củng cố lập luận của mình. Rồi những lời kêu gọi trang nghiêm và đầy uy lực của ông, cùng những lời khuyên răn dành cho những ai chưa sẵn sàng, đã giữ chặt đám đông như thể họ bị thôi miên." Life Sketches, 20.