The test of the Bread of Heaven was the omega test of discipleship in the days of Jesus, and it was also the omega in relation to the manna test that is represented in the alpha of ancient Israel’s covenant history. The beginning was manna; the end was the Bread of Heaven. The omega is always the largest, so the largest desertion of disciples’ marks Capernaum as the omega in the history of Christ and the test of discipleship.

Phép thử về Bánh từ Trời là phép thử omega của môn đệ tính trong thời Đức Giêsu, và nó cũng là điểm omega liên hệ đến phép thử về manna vốn được biểu trưng trong alpha của lịch sử giao ước của Israel cổ đại. Khởi đầu là manna; tận cùng là Bánh từ Trời. Omega bao giờ cũng là lớn nhất, nên sự rút lui lớn nhất của các môn đệ đã ghi dấu Caphácnaum như là omega trong lịch sử của Đức Kitô và trong phép thử môn đệ tính.

Then said Jesus unto his disciples, If any man will come after me, let him deny himself, and take up his cross, and follow me. For whosoever will save his life shall lose it: and whosoever will lose his life for my sake shall find it. For what is a man profited, if he shall gain the whole world, and lose his own soul? or what shall a man give in exchange for his soul? For the Son of man shall come in the glory of his Father with his angels; and then he shall reward every man according to his works. Verily I say unto you, There be some standing here, which shall not taste of death, till they see the Son of man coming in his kingdom. Matthew 16:24–28.

Bấy giờ Đức Chúa Giê-xu phán cùng các môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo Ta, hãy chối bỏ chính mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta. Vì ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ tìm lại được. Vì người được ích gì nếu được cả thế gian mà mất linh hồn mình? Hay người ta sẽ lấy gì để đổi linh hồn mình? Vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Ngài cùng với các thiên sứ của Ngài; bấy giờ Ngài sẽ báo trả cho mỗi người tùy theo việc làm của mình. Quả thật, Ta nói cùng các ngươi: Có những kẻ đứng đây sẽ chẳng nếm sự chết trước khi thấy Con Người đến trong Nước Ngài. Ma-thi-ơ 16:24-28.

Capernaum is an omega test. The test at Capernaum is the test of oil in the parable of the ten virgins; that begins at the cry at midnight, and initiates a period that includes the foolish virgins recognizing they have no oil. They then begin to panic as they approach the closing door of the Sunday law, as represented in the crisis at Capernaum in John 6:66. Prophetically they are “ashamed.”

Ca-bê-na-um là một phép thử Ômêga. Phép thử tại Ca-bê-na-um là phép thử về dầu trong dụ ngôn mười trinh nữ; nó khởi đầu tại tiếng kêu nửa đêm và mở ra một giai đoạn trong đó các trinh nữ dại nhận ra rằng họ không có dầu. Khi tiến gần đến cánh cửa của luật ngày Chủ nhật đang khép lại, họ bắt đầu hoảng hốt, như được biểu trưng qua cuộc khủng hoảng tại Ca-bê-na-um trong Giăng 6:66. Về phương diện tiên tri, họ “hổ thẹn”.

Behold, the days come, saith the Lord God, that I will send a famine in the land, not a famine of bread, nor a thirst for water, but of hearing the words of the Lord: And they shall wander from sea to sea, and from the north even to the east, they shall run to and fro to seek the word of the Lord, and shall not find it. In that day shall the fair virgins and young men faint for thirst. They that swear by the sin of Samaria, and say, Thy god, O Dan, liveth; and, The manner of Beersheba liveth; even they shall fall, and never rise up again. Amos 8:11–14.

Kìa, những ngày đến, Chúa Giê-hô-va phán, rằng Ta sẽ giáng xuống trên đất một cơn đói kém, chẳng phải đói bánh, cũng chẳng phải khát nước, nhưng là đói khát được nghe những lời của Đức Giê-hô-va. Chúng sẽ lang thang từ biển nầy đến biển kia, từ phương bắc cho đến phương đông; chúng sẽ chạy qua chạy lại để tìm kiếm lời của Đức Giê-hô-va, nhưng không tìm được. Trong ngày đó, các trinh nữ xinh đẹp và những người trai trẻ sẽ ngất đi vì khát. Những kẻ lấy tội lỗi của Sa-ma-ri mà thề, và nói rằng: Hỡi Đan, thần của ngươi hằng sống; và: Đường lối của Bê-e-Sê-ba hằng sống; chính chúng nó sẽ ngã xuống, và không hề chỗi dậy nữa. A-mốt 8:11–14.

The omega test at Capernaum typifies the omega test that follows the foundational test of 2024. The omega test is where the bride is sealed in advance of the Sunday law. It is where the separation is forever finalized, for once she is pure, no more strangers (Gentiles) will walk through Jerusalem anymore forever.

Phép thử Ômêga tại Capernaum tiêu biểu cho phép thử Ômêga tiếp sau phép thử nền tảng của năm 2024. Phép thử Ômêga là nơi Tân Nương được ấn chứng trước khi Đạo luật Chủ Nhật được ban hành. Đó là nơi sự tách biệt được định đoạt vĩnh viễn, vì một khi nàng đã thanh khiết, sẽ chẳng còn người ngoại bang (Dân Ngoại) nào đi qua Giê-ru-sa-lem nữa đến muôn đời.

The Lord also shall roar out of Zion, and utter his voice from Jerusalem; and the heavens and the earth shall shake: but the Lord will be the hope of his people, and the strength of the children of Israel. So shall ye know that I am the Lord your God dwelling in Zion, my holy mountain: then shall Jerusalem be holy, and there shall no strangers pass through her any more.

Đức Giê-hô-va cũng sẽ gầm rống từ Si-ôn, và cất tiếng Ngài từ Giê-ru-sa-lem; trời và đất sẽ rúng động; nhưng Đức Giê-hô-va sẽ là sự trông cậy của dân Ngài, và là sức mạnh của con cái Y-sơ-ra-ên. Bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi, Đấng ngự tại Si-ôn, núi thánh của Ta; bấy giờ Giê-ru-sa-lem sẽ là thánh, và sẽ chẳng còn người ngoại nào đi ngang qua nó nữa.

And it shall come to pass in that day, that the mountains shall drop down new wine, and the hills shall flow with milk, and all the rivers of Judah shall flow with waters, and a fountain shall come forth of the house of the Lord, and shall water the valley of Shittim.

Trong ngày ấy, các núi sẽ nhỏ giọt rượu mới, các đồi sẽ tuôn chảy sữa, mọi sông ngòi của Giu-đa sẽ tuôn đầy nước; và một mạch nước sẽ phát xuất từ nhà của Đức Chúa, và sẽ tưới cho thung lũng Si-tim.

Egypt shall be a desolation, and Edom shall be a desolate wilderness, for the violence against the children of Judah, because they have shed innocent blood in their land. But Judah shall dwell forever, and Jerusalem from generation to generation. For I will cleanse their blood that I have not cleansed: for the Lord dwelleth in Zion. Joel 3:16–21.

Ai Cập sẽ trở nên hoang vu, còn Ê-đôm sẽ thành đồng vắng hoang tàn, vì sự bạo ngược nghịch cùng con cái Giu-đa, bởi cớ chúng đã đổ huyết vô tội trong xứ họ. Nhưng Giu-đa sẽ ở đời đời, và Giê-ru-sa-lem từ đời này qua đời kia. Vì Ta sẽ rửa sạch huyết của họ, điều trước đây Ta chưa rửa sạch; vì Đức Giê-hô-va ngự tại Si-ôn. Giô-ên 3:16-21.

Jerusalem is cleansed of sin in the final movements of the investigative judgment, which in Zechariah chapter three, is where the white linen Philadelphian garment is given to Joshua to replace the dirty Laodicean garment. “Then shall Jerusalem be holy, and there shall no strangers pass through her anymore,” for the wheat has been separated from the tares and gathered as a first fruit offering. This occurs in the omega test, and it occurs when the windows of heaven are opened, and Jesus cast the jewels into the casket and says to the world, “come and see.” “Come and see” the ensign of my kingdom, my bride, my offering of Levites as in days of old. “Come and see” my temple, my casket full of jewels—each prepared as part of the crown of the kingdom of glory.

Giê-ru-sa-lem được thanh tẩy khỏi tội lỗi trong những diễn biến cuối cùng của cuộc phán xét điều tra; trong Sách Xa-cha-ri, chương ba, đó là nơi chiếc áo vải gai mịn trắng của Phi-la-đen-phi được ban cho Giê-hô-sua để thay thế chiếc áo La-ô-đi-xê nhơ bẩn. "Bấy giờ Giê-ru-sa-lem sẽ là thánh, và sẽ chẳng còn kẻ ngoại nào đi qua giữa nó nữa," vì lúa mì đã được phân rẽ khỏi cỏ lùng và được thu góp như của lễ trái đầu mùa. Điều này xảy ra trong cuộc thử nghiệm Ô-mê-ga, và nó xảy ra khi các cửa sổ trên trời được mở ra, và Đức Chúa Jêsus thả những châu báu vào chiếc tráp và phán cùng thế gian: "Hãy đến và xem." "Hãy đến và xem" tiêu kỳ của vương quốc Ta, hôn thê của Ta, lễ dâng gồm những người Lê-vi của Ta như thuở xưa. "Hãy đến và xem" đền thờ của Ta, chiếc tráp của Ta đầy châu báu, mỗi viên đều được chuẩn bị như một phần của mão triều thiên của vương quốc vinh hiển.

The foundational alpha test of 2024, leads to the temple omega test. The omega test occurs when the windows of heaven are opened, which is when the bride makes herself ready. The foolish virgins and their false peace and safety latter rain message are blown out through the open windows by the wind, for the message of this history is the message of the east wind. The message is Isaiah’s rough wind that is stayed, in the day of the east wind; it is John’s four winds that are restrained during the sealing time of the one hundred and forty-four thousand.

Kỳ thử nghiệm Alpha mang tính nền tảng của năm 2024 dẫn đến kỳ thử nghiệm Ômêga của đền thờ. Kỳ thử Ômêga diễn ra khi các cửa sổ trên trời được mở ra, tức là khi tân nương sửa soạn chính mình. Những trinh nữ dại cùng sứ điệp mưa rào mùa sau về bình an và an ổn giả dối của họ bị gió thổi bay ra ngoài qua các cửa sổ đang mở, vì sứ điệp của giai đoạn lịch sử này là sứ điệp của gió đông. Đó là cơn gió dữ mà sách Ê-sai nói đến, cơn gió được nén lại trong ngày gió đông; cũng là bốn luồng gió mà Giăng nói đến, bị cầm giữ trong thời kỳ đóng ấn của một trăm bốn mươi bốn nghìn.

Angels are holding the four winds, represented as an angry horse seeking to break loose and rush over the face of the whole earth, bearing destruction and death in its path.

Các thiên sứ đang nắm giữ bốn luồng gió; những luồng gió ấy được ví như một con ngựa giận dữ đang tìm cách xổng ra và lao khắp mặt đất, gieo rắc sự tàn phá và chết chóc trên đường nó đi.

“Shall we sleep on the very verge of the eternal world? Shall we be dull and cold and dead? Oh, that we might have in our churches the Spirit and breath of God breathed into His people, that they might stand upon their feet and live.” Manuscript Releases, volume 20, 217.

"Chúng ta sẽ ngủ ngay bên bờ của cõi vĩnh hằng chăng? Chúng ta sẽ uể oải, lạnh lẽo và chết chăng? Ôi, ước gì trong các hội thánh của chúng ta, Thánh Linh và hơi thở của Đức Chúa Trời được hà hơi vào dân sự Ngài, để họ có thể đứng dậy trên chân mình và sống." Manuscript Releases, tập 20, 217.

Those who reject that message of the east wind of Islam, are blown out the window by the wind—the very symbol of their rebellion. The rubbish of error is forever attached to the foolish class who have no oil. Ephraim has again been joined to its idols. They rejected the increase of the knowledge of the sealing time, and its relation to Islam of the third woe. God will turn the glory of their counterfeit latter rain message into “shame.”

Những ai khước từ thông điệp về gió đông của Hồi giáo ấy thì bị chính cơn gió—vốn là biểu tượng của sự phản loạn của họ—thổi bay ra ngoài cửa sổ. Rác rưởi của lầm lạc vĩnh viễn bám lấy hạng dại dột không có dầu. Êp-ra-im lại dính chặt vào các thần tượng của mình. Họ đã khước từ sự gia tăng về tri thức liên quan đến thời kỳ niêm ấn và mối liên hệ của nó với Hồi giáo thuộc hoạ thứ ba. Đức Chúa Trời sẽ biến vinh quang của thông điệp mưa rào muộn giả mạo của họ thành “sự hổ thẹn.”

My people are destroyed for lack of knowledge: because thou hast rejected knowledge, I will also reject thee, that thou shalt be no priest to me: seeing thou hast forgotten the law of thy God, I will also forget thy children.

Dân Ta bị diệt vong vì thiếu sự hiểu biết; bởi vì ngươi đã chối bỏ sự hiểu biết, Ta cũng sẽ chối bỏ ngươi, hầu cho ngươi không làm thầy tế lễ cho Ta; vì ngươi đã quên luật pháp của Đức Chúa Trời ngươi, Ta cũng sẽ quên con cái ngươi.

As they were increased, so they sinned against me: therefore will I change their glory into shame. They eat up the sin of my people, and they set their heart on their iniquity. And there shall be, like people, like priest: and I will punish them for their ways, and reward them their doings. For they shall eat, and not have enough: they shall commit whoredom, and shall not increase: because they have left off to take heed to the Lord. Whoredom and wine and new wine take away the heart. My people ask counsel at their stocks, and their staff declareth unto them: for the spirit of whoredoms hath caused them to err, and they have gone a whoring from under their God. They sacrifice upon the tops of the mountains, and burn incense upon the hills, under oaks and poplars and elms, because the shadow thereof is good: therefore your daughters shall commit whoredom, and your spouses shall commit adultery. I will not punish your daughters when they commit whoredom, nor your spouses when they commit adultery: for themselves are separated with whores, and they sacrifice with harlots: therefore the people that doth not understand shall fall.

Khi chúng gia tăng, thì chúng phạm tội nghịch cùng Ta; vì vậy Ta sẽ đổi vinh quang của chúng nên sự hổ thẹn. Chúng ăn nuốt tội của dân Ta, và đặt lòng nơi sự gian ác của họ. Và sẽ nên: dân thể nào, thầy tế lễ thể ấy; Ta sẽ trừng phạt chúng theo đường lối của chúng, và báo trả cho chúng theo các việc làm của chúng. Vì chúng sẽ ăn mà không đủ; chúng sẽ hành dâm mà không thêm đông, bởi chúng đã thôi không còn lưu tâm đến Đức Chúa. Sự tà dâm, rượu và rượu mới cướp mất lòng trí. Dân Ta cầu hỏi nơi khúc gỗ của họ, và cây gậy của họ tỏ cho họ biết; vì thần tà dâm đã khiến họ lầm lạc, và họ đã đi theo sự tà dâm, lìa khỏi Đức Chúa của họ. Chúng dâng tế trên các đỉnh núi, và đốt hương trên các gò đồi, dưới các cây sồi, dương, và du, vì bóng của chúng rậm mát; vì cớ ấy, các con gái các ngươi sẽ hành dâm, và các vợ các ngươi sẽ phạm ngoại tình. Ta sẽ không phạt các con gái các ngươi khi chúng hành dâm, cũng không phạt các vợ các ngươi khi chúng phạm ngoại tình; vì chính chúng nó đã tách mình ra với gái điếm, và dâng tế với kỹ nữ; bởi đó, dân chẳng hiểu biết sẽ sa ngã.

Though thou, Israel, play the harlot, yet let not Judah offend; and come not ye unto Gilgal, neither go ye up to Bethaven, nor swear, The Lord liveth. For Israel slideth back as a backsliding heifer: now the Lord will feed them as a lamb in a large place.

Dẫu ngươi, hỡi Israel, có phạm sự tà dâm, thì Giu-đa chớ phạm tội; các ngươi chớ đến Gilgal, cũng chớ lên Bethaven, chớ thề rằng: “Đức Giê-hô-va hằng sống.” Vì Israel thối lui như con bò cái tơ ương ngạnh; nay Đức Giê-hô-va sẽ chăn họ như một con chiên trong nơi rộng rãi.

Ephraim is joined to idols: let him alone.

Êpraim gắn bó với các ngẫu tượng; hãy để mặc nó.

Their drink is sour: they have committed whoredom continually: her rulers with shame do love, Give ye. The wind hath bound her up in her wings, and they shall be ashamed because of their sacrifices. Hosea 4:6–19.

Rượu của chúng đã chua; chúng đã phạm tà dâm không thôi; các quan trưởng của nó ưa thích sự sỉ nhục: “Hãy đưa đây.” Gió đã cuốn nó vào trong đôi cánh mình, và chúng sẽ bị hổ thẹn vì các tế lễ của mình. Ô-sê 4:6-19.

The rubbish that is removed is both the foolish virgins and their erroneous doctrines which they are joined to. We are what we eat, and they rejected the message of the east wind, chose instead the lie which brings strong delusion in its wake, and became joined to their counterfeit peace and safety latter rain message. Joel’s new wine, is cut off from their mouths, right where Jeremiah becomes God’s mouth.

Rác rưởi bị loại bỏ ấy bao gồm cả những trinh nữ dại dột và các giáo lý sai lạc mà họ đã kết hiệp. Chúng ta là những gì chúng ta ăn, và họ đã khước từ sứ điệp của gió đông, thay vào đó chọn lấy lời dối trá vốn kéo theo sự lừa dối mạnh mẽ, và trở nên gắn liền với sứ điệp mưa cuối mùa giả mạo về “bình an và yên ổn” của họ. Rượu mới của Giô-ên bị cắt khỏi miệng họ, ngay nơi Giê-rê-mi trở thành miệng Đức Chúa Trời.

“In rejecting the truth, men reject its Author. In trampling upon the law of God, they deny the authority of the Law-giver. It is as easy to make an idol of false doctrines and theories as to fashion an idol of wood or stone. By misrepresenting the attributes of God, Satan leads men to conceive of Him in a false character. With many, a philosophical idol is enthroned in the place of Jehovah; while the living God, as He is revealed in His word, in Christ, and in the works of creation, is worshiped by but few. Thousands deify nature while they deny the God of nature. Though in a different form, idolatry exists in the Christian world today as verily as it existed among ancient Israel in the days of Elijah. The God of many professedly wise men, of philosophers, poets, politicians, journalists—the God of polished fashionable circles, of many colleges and universities, even of some theological institutions—is little better than Baal, the sun-god of Phoenicia.” The Great Controversy, 583.

Khi khước từ lẽ thật, con người khước từ Đấng là Tác Giả của nó. Khi chà đạp luật pháp của Đức Chúa Trời, họ chối bỏ thẩm quyền của Đấng Ban Luật pháp. Việc biến các giáo lý và lý thuyết sai lạc thành ngẫu tượng cũng dễ như đẽo gọt một ngẫu tượng bằng gỗ hay đá. Bằng cách xuyên tạc các thuộc tính của Đức Chúa Trời, Sa-tan khiến người ta quan niệm về Ngài theo một bản chất sai lầm. Đối với nhiều người, một ngẫu tượng triết học được tôn lên ngai thay cho Đức Giê-hô-va; còn Đức Chúa Trời hằng sống, như Ngài được bày tỏ trong Lời Ngài, trong Đấng Christ, và trong các công trình của sự sáng tạo, thì chỉ có ít người thờ phượng. Hàng nghìn người thần thánh hóa thiên nhiên trong khi chối bỏ Đức Chúa Trời của thiên nhiên. Dù dưới hình thức khác, sự thờ ngẫu tượng vẫn tồn tại trong thế giới Cơ Đốc ngày nay cũng thật như nó đã tồn tại giữa Israel xưa trong thời của Ê-li. Vị thần mà nhiều kẻ tự xưng là khôn ngoan—các triết gia, thi sĩ, chính khách, nhà báo—vị thần của các giới lịch lãm, thời thượng, của nhiều trường cao đẳng và đại học, thậm chí của một số cơ sở thần học—cũng chẳng khá hơn Ba-anh, thần mặt trời của Phê-ni-xi. Cuộc Đại Tranh Chiến, 583.

At the separation of the genuine and false in Miller’s dream the wind carries the false virgins out, while the Lord seals His bride during the omega internal test of the open window.

Vào lúc diễn ra sự phân rẽ giữa chân thật và giả dối trong giấc chiêm bao của Miller, gió cuốn các trinh nữ giả ra ngoài, còn Chúa thì đóng ấn cho Tân Nương của Ngài trong kỳ thử thách nội bộ omega của cửa sổ mở.

Behold, I will send my messenger, and he shall prepare the way before me: and the Lord, whom ye seek, shall suddenly come to his temple, even the messenger of the covenant, whom ye delight in: behold, he shall come, saith the Lord of hosts. But who may abide the day of his coming? and who shall stand when he appeareth? for he is like a refiner’s fire, and like fullers’ soap: And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years. Malachi 3:1–4.

Kìa, Ta sẽ sai sứ giả của Ta, và người sẽ dọn đường trước mặt Ta; rồi Đức Chúa, Đấng các ngươi tìm kiếm, sẽ thình lình đến đền thờ của Ngài, tức là Sứ giả của giao ước, Đấng các ngươi ưa thích. Kìa, Ngài sẽ đến, Đức Giê-hô-va vạn quân phán. Nhưng ai có thể chịu nổi ngày Ngài đến? Và ai đứng nổi khi Ngài hiện ra? Vì Ngài như lửa của thợ luyện, và như thuốc tẩy của thợ giặt. Ngài sẽ ngồi như thợ luyện và tinh lọc bạc; Ngài sẽ tinh sạch các con trai Lê-vi, luyện lọc họ như vàng và bạc, để họ dâng cho Đức Chúa một của lễ trong sự công chính. Bấy giờ của lễ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Đức Chúa, như trong những ngày xưa, như những năm thuở trước. Ma-la-chi 3:1-4.

The sons of Levi are the sons of those Levites who were faithful at Aaron’s image of the beast test, and then again at Jeroboam’s image of the beast test. They are those who pass the image of the beast test, which is the test by which their eternal destiny is decided, and the test they must pass—before we are sealed.

Con cái Lê-vi là con cháu của những người Lê-vi đã trung tín trong kỳ thử luyện về ảnh tượng của Con Thú dưới thời A‑rôn, và rồi một lần nữa trong kỳ thử luyện về ảnh tượng của Con Thú dưới thời Giê‑rô‑bô‑am. Họ là những người vượt qua kỳ thử luyện về ảnh tượng của Con Thú, vốn là kỳ thử luyện qua đó định phận đời đời của họ được định đoạt, và là kỳ thử luyện mà họ phải vượt qua—trước khi chúng ta được đóng ấn.

“The Lord has shown me clearly that the image of the beast will be formed before probation closes; for it is to be the great test for the people of God, by which their eternal destiny will be decided.

Chúa đã cho tôi thấy rõ ràng rằng ảnh tượng của con thú sẽ được hình thành trước khi thời kỳ ân điển chấm dứt; vì đó sẽ là cuộc thử thách lớn đối với dân sự của Đức Chúa Trời, qua đó vận mệnh đời đời của họ sẽ được quyết định.

“This is the test that the people of God must have before they are sealed. All who proved their loyalty to God by observing His law, and refusing to accept a spurious sabbath, will rank under the banner of the Lord God Jehovah, and will receive the seal of the living God. Those who yield the truth of heavenly origin and accept the Sunday sabbath, will receive the mark of the beast” The Seventh-day Adventist Bible Commentary, volume 7, 976.

"Đây là sự thử thách mà dân sự của Đức Chúa Trời phải trải qua trước khi họ được đóng ấn. Tất cả những ai chứng tỏ lòng trung thành với Đức Chúa Trời bằng cách vâng giữ luật pháp của Ngài và từ chối chấp nhận một ngày Sa-bát giả mạo sẽ xếp vào hàng ngũ dưới ngọn cờ của Đức Chúa Trời Giê-hô-va và sẽ nhận ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Những người từ bỏ lẽ thật đến từ trời và chấp nhận Sa-bát Chủ nhật sẽ nhận lấy dấu của con thú" Chú giải Kinh Thánh của Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy, tập 7, 976.

The image of the beast test is the test before the mark of the beast test at the Sunday law, and it must be passed before the door closes.

Cuộc thử thách về ảnh tượng của con thú là cuộc thử thách đi trước cuộc thử thách về dấu của con thú vào thời điểm đạo luật ngày Chủ nhật, và điều ấy phải được vượt qua trước khi cánh cửa đóng lại.

It is the test that purifies the righteous and also separates the righteous from the unrighteous. It is the test where Daniel, Shadrach, Meshach and Abednego are found to be visually fairer and fatter than those who ate the Babylonian diet. One class had eaten the bread of Heaven and the other the bread of Babylon. It is the test of bread in the synagogue at Capernaum.

Ấy là cuộc thử thách thanh luyện người công chính và cũng tách biệt người công chính khỏi kẻ bất nghĩa. Ấy là cuộc thử thách, trong đó Đa-ni-ên, Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô được nhận thấy có dung mạo tươi tỉnh hơn và thân thể mập mạnh hơn những người đã ăn chế độ ăn của Ba-by-lôn. Một hạng đã ăn bánh từ trời, còn hạng kia đã ăn bánh của Ba-by-lôn. Ấy là cuộc thử thách về bánh trong hội đường tại Ca-bê-na-um.

Externally the testing time that we are now in is the test of the image of the beast, the combination of church and state within the United States. The parallel internal testing time identifies a class of virgins who manifest the image of humanity and another class of virgins who manifest the image of Divinity combined with humanity. After Malachi identifies the purification and purging of the Levites, God proposes a test.

Về phương diện bên ngoài, thời kỳ thử nghiệm mà hiện nay chúng ta đang trải qua là sự thử nghiệm về hình tượng của con thú, tức là sự kết hợp giữa giáo hội và nhà nước trong Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Thời kỳ thử nghiệm nội tại song hành xác định một nhóm trinh nữ bày tỏ hình tượng của nhân loại và một nhóm trinh nữ khác bày tỏ hình tượng của Thần tính kết hợp với nhân tính. Sau khi Ma-la-chi chỉ ra sự thanh tẩy và luyện sạch những người Lê-vi, Đức Chúa Trời đề ra một sự thử nghiệm.

And I will come near to you to judgment; and I will be a swift witness against the sorcerers, and against the adulterers, and against false swearers, and against those that oppress the hireling in his wages, the widow, and the fatherless, and that turn aside the stranger from his right, and fear not me, saith the Lord of hosts.

Ta sẽ đến gần các ngươi để xét xử; Ta sẽ mau chóng làm chứng chống lại những kẻ phù thủy, những kẻ ngoại tình, những kẻ thề dối, những kẻ áp bức người làm thuê về tiền công, các góa phụ và kẻ mồ côi, những kẻ tước đoạt lẽ công bình của người ngoại kiều, và những kẻ không kính sợ Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán.

For I am the Lord, I change not; therefore ye sons of Jacob are not consumed. Malachi 3:5, 6.

Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Ta chẳng hề thay đổi; bởi đó, hỡi các con cái Gia-cốp, các ngươi chẳng bị diệt vong. Ma-la-chi 3:5, 6.

The first test is to fear God, and the class that failed the testing of the Messenger of the Covenant are then addressed with five condemnations, one for each of the foolish virgins that align with being wretched, miserable, poor, blind, naked; five prophetic attributes for five foolish virgins that summarized under the phrase “and fear not me.” These are those who failed the foundational first alpha test. They failed because they did not understand that God never changes. These are those who failed the foundational external alpha test of 2024.

Kỳ khảo nghiệm thứ nhất là kính sợ Đức Chúa Trời, và hạng người đã trượt sự khảo nghiệm của Sứ giả của Giao Ước bấy giờ bị quở trách bằng năm lời lên án, mỗi lời ứng cho một trinh nữ dại, tương ứng với các tình trạng: khốn khổ, đáng thương, nghèo nàn, đui mù, trần truồng; năm thuộc tính tiên tri cho năm trinh nữ dại, được tóm lược dưới cụm từ “và chẳng kính sợ Ta.” Ấy là những kẻ đã trượt kỳ khảo nghiệm alpha thứ nhất mang tính nền tảng. Họ thất bại vì không hiểu rằng Đức Chúa Trời chẳng hề thay đổi. Ấy là những người đã trượt kỳ khảo nghiệm alpha ngoại tại mang tính nền tảng của năm 2024.

“There are lessons to be learned from the history of the past; and attention is called to these, that all may understand that God works on the same lines now that He ever has done. His hand is seen in His work and among the nations now, just the same as it has been ever since the gospel was first proclaimed to Adam in Eden.

Có những bài học cần rút ra từ lịch sử quá khứ; và chúng ta được kêu gọi chú ý đến những điều ấy, để ai nấy đều hiểu rằng Đức Chúa Trời hiện nay vẫn hành động theo cùng những đường lối như xưa nay Ngài từng làm. Bàn tay của Ngài được thấy trong công việc của Ngài và giữa các dân tộc ngày nay, y như vậy kể từ khi Tin Lành lần đầu được rao giảng cho A-đam trong vườn Ê-đen.

“There are periods which are turning points in the history of nations and of the church. In the providence of God, when these different crises arrive, the light for that time is given. If it is received, there is spiritual progress; if it is rejected, spiritual declension and shipwreck follow. The Lord in His word has opened up the aggressive work of the gospel as it has been carried on in the past, and will be in the future, even to the closing conflict, when Satanic agencies will make their last wonderful movement.” Bible Echo, August 26, 1895.

"Có những thời kỳ là những bước ngoặt trong lịch sử của các dân tộc và của Hội Thánh. Trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, khi những cuộc khủng hoảng khác nhau này xảy đến, ánh sáng cho thời điểm ấy được ban ra. Nếu nó được tiếp nhận, sẽ có sự tiến bộ thuộc linh; nếu nó bị từ chối, sự suy thoái thuộc linh và sự đắm tàu sẽ theo sau. Trong lời Ngài, Chúa đã bày tỏ hoạt động mạnh mẽ của Tin Lành như đã được tiến hành trong quá khứ, và sẽ còn trong tương lai, cho đến tận cuộc xung đột cuối cùng, khi các thế lực của Sa-tan sẽ thực hiện động thái lạ lùng cuối cùng của chúng." Bible Echo, ngày 26 tháng 8, 1895.

Laodiceans do not see that God’s dealing with men is ever the same. If the light, or the oil is received, there is a blessing, if not, there is a shipwreck.

Những người La-ô-đi-xê không nhận ra rằng đường lối Đức Chúa Trời trong việc đối đãi với loài người vốn không hề thay đổi. Nếu ánh sáng, hoặc dầu, được tiếp nhận thì có phước lành; nếu không, ắt có sự đắm tàu.

“In past ages the Lord God of heaven revealed his secrets to his prophets. The present and the future are equally clear to him. The voice of God echoes down the ages, telling man what is to take place. Kings and princes take their places at their appointed time. They think they are carrying out their own purposes, but in reality they are fulfilling the word that God has spoken.

Trong các thời đại trước, Đức Chúa Trời trên trời đã bày tỏ những điều kín nhiệm của Ngài cho các tiên tri của Ngài. Hiện tại và tương lai đối với Ngài đều minh bạch như nhau. Tiếng của Đức Chúa Trời vang vọng qua các thời đại, báo cho loài người biết những điều sẽ xảy ra. Các vua và các vương hầu vào vị trí của mình đúng kỳ đã định. Họ tưởng rằng mình đang thực hiện những mục đích riêng, nhưng thực ra họ đang làm ứng nghiệm lời mà Đức Chúa Trời đã phán.

Paul declares that the records of God’s dealings with mankind in the past ‘are written for our admonition, upon whom the ends of the world are come.’ Daniel’s history is given us for our admonition. ‘The secret of the Lord is with them that fear him.’ Daniel’s God still lives and reigns. He has not closed heaven against his people. As in the Jewish age, so in this age, God reveals his secrets to his servants the prophets.

Phao-lô tuyên bố rằng những ghi chép về sự đối đãi của Đức Chúa Trời với nhân loại trong quá khứ “được chép để răn dạy chúng ta, là những kẻ mà sự cuối cùng của các đời đã xảy đến.” Lịch sử của Đa-ni-ên được ban cho chúng ta để răn dạy. “Sự kín nhiệm của Đức Giê-hô-va vốn ở với những kẻ kính sợ Ngài.” Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên vẫn sống và trị vì. Ngài không hề đóng trời lại đối với dân Ngài. Như trong thời kỳ Do Thái, thì trong thời kỳ này cũng vậy, Đức Chúa Trời bày tỏ các sự kín nhiệm của Ngài cho các tôi tớ Ngài là các đấng tiên tri.

“The apostle Peter says: ‘We have also a more sure word of prophecy; whereunto ye do well that ye take heed, as unto a light that shineth in a dark place, until the day dawn, and the day-star arise in your hearts: knowing this first, that no prophecy of the Scripture is of any private interpretation. For the prophecy came not in old time by the will of man: but holy men of God spake as they were moved by the Holy Ghost.’

Sứ đồ Phi-e-rơ nói: "Chúng ta lại có lời tiên tri vững chắc hơn; anh em làm điều phải khi lưu tâm đến lời ấy, như đối với một ngọn đèn chiếu soi nơi tối tăm, cho đến khi ngày rạng và sao mai mọc lên trong lòng anh em; trước hết, biết điều này: chẳng có lời tiên tri nào của Kinh Thánh là bởi sự giải nghĩa riêng. Vì lời tiên tri, từ thuở xưa, chẳng phải do ý muốn loài người mà đến; nhưng những người thánh của Đức Chúa Trời đã nói khi được Đức Thánh Linh cảm động."

“The unbelieving and godless do not discern the importance of the signs of the times, foretold in the prophetic word. In ignorance they may refuse to accept the inspired record. But when professed Christians speak sneeringly of the ways and means employed by the great I AM to make his purposes known, they show themselves to be ignorant both of the Scriptures and of the power of God. The Creator knows just what elements he has to deal with in human nature. He knows what means to employ to obtain the desired results.

Những kẻ không tin và vô đạo không nhận ra tầm quan trọng của các dấu chỉ của thời đại, đã được báo trước trong lời tiên tri. Vì thiếu hiểu biết, họ có thể từ chối tiếp nhận bản ghi chép được linh hứng. Nhưng khi những người xưng mình là Cơ Đốc nhân nói với giọng khinh miệt về những đường lối và phương tiện mà Đấng TA LÀ vĩ đại dùng để bày tỏ các mục đích của Ngài, họ tự bộc lộ mình là kẻ không hiểu biết cả Kinh Thánh lẫn quyền năng của Đức Chúa Trời. Đấng Tạo Hóa biết rõ những yếu tố trong bản tính con người mà Ngài phải xử lý. Ngài biết phải dùng những phương tiện nào để đạt được các kết quả Ngài mong muốn.

“Man’s word fails. He who makes the assertions of men his dependence, may well tremble; for he will someday be as a shipwrecked vessel. God’s word is infallible, and endures forever. Christ declares, ‘Verily I say unto you, Till heaven and earth pass, one jot or one tittle shall in no wise pass from the law, till all be fulfilled.’ God’s word will endure throughout the ceaseless ages of eternity.” Youth Instructor, December 1, 1903.

Lời loài người thì không đứng vững. Ai lấy những lời quả quyết của loài người làm chỗ nương cậy ắt phải run sợ; vì một ngày kia người ấy sẽ như một chiếc tàu đắm. Lời Đức Chúa Trời thì không thể sai lầm và bền vững đến đời đời. Đấng Christ phán: “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi: Cho đến khi trời đất qua đi, một chấm một nét trong luật pháp cũng chẳng hề qua đi, cho đến khi mọi sự được ứng nghiệm.” Lời Đức Chúa Trời sẽ bền vững qua các thời đại vô cùng của cõi đời đời. Youth Instructor, ngày 1 tháng 12 năm 1903.

God never changes and He works upon the same lines as He has always done.

Thiên Chúa không bao giờ thay đổi, và Ngài hành động theo cùng những đường lối như Ngài vẫn hằng làm.

“The work of God in the earth presents, from age to age, a striking similarity in every great reformation or religious movement. The principles of God’s dealing with men are ever the same. The important movements of the present have their parallel in those of the past, and the experience of the church in former ages has lessons of great value for our own time.” The Great Controversy, 343.

Công việc của Đức Chúa Trời trên đất, qua từng thời đại, đều cho thấy một sự tương đồng nổi bật trong mọi cuộc cải cách lớn hoặc phong trào tôn giáo. Những nguyên tắc trong cách Đức Chúa Trời đối đãi với loài người vẫn luôn như nhau. Những phong trào quan trọng của hiện tại có những điểm tương đồng với những phong trào trong quá khứ, và kinh nghiệm của Hội Thánh trong các thời đại trước chứa đựng những bài học vô cùng quý giá cho thời đại của chúng ta. Cuộc Xung Đột Vĩ Đại, 343.

Malachi chapter three’s first four verses identify the messenger that prepares the way for the Messenger of the Covenant, and the purging and purification of the Levites. Then the Lord pronounces judgment upon Laodicea, identifying they fear not God, meaning they failed the foundational alpha test of the third angel. Their lack of fear represents a purposeful rejection of knowledge, and the context of the knowledge they refuse is the acceptance of the history of the messenger who prepares the way and the Divine messenger who follows. All the prophets identify the latter days, and there would be no reason to identify a counterfeit reformatory movement, if there was not a genuine.

Bốn câu đầu của chương ba sách Ma-la-chi xác định vị sứ giả dọn đường cho Sứ giả của Giao Ước, và sự sàng lọc cùng thanh luyện các con cái Lê-vi. Kế đó, Chúa tuyên án đối với La-ô-đi-xê, chỉ ra rằng họ không kính sợ Đức Chúa Trời, nghĩa là họ đã thất bại trong bài thử nghiệm alpha nền tảng của thiên sứ thứ ba. Sự thiếu kính sợ của họ biểu thị một sự khước từ tri thức có chủ đích, và nội dung tri thức mà họ khước từ chính là sự tiếp nhận lịch sử của vị sứ giả dọn đường và của vị Sứ giả Thiêng Liêng theo sau. Hết thảy các tiên tri đều chỉ ra những ngày sau rốt, và sẽ chẳng có lý do gì để chỉ ra một phong trào cải cách giả mạo, nếu không có một phong trào chân chính.

“But Satan was not idle. He now attempted what he has attempted in every other reformatory movement—to deceive and destroy the people by palming off upon them a counterfeit in place of the true work. As there were false Christ’s in the first century of the Christian church, so there arose false prophets in the sixteenth century.” The Great Controversy, 186.

"Nhưng Sa-tan không hề nhàn rỗi. Giờ đây hắn tìm cách làm điều mà hắn đã tìm cách làm trong mọi phong trào cải cách khác—lừa dối và hủy diệt dân chúng bằng cách đánh tráo cho họ một thứ giả mạo thay cho công cuộc chân thật. Cũng như đã có những kẻ mạo xưng Đấng Christ trong thế kỷ thứ nhất của Hội Thánh Cơ Đốc, thì cũng đã xuất hiện những tiên tri giả vào thế kỷ thứ mười sáu." Cuộc Đại Tranh Chiến, 186.

The context of the first six verses of Malachi three is the purging and purification of the Levites of the reformatory movement of the one hundred and forty-four thousand. Future for America is either that very movement, or one of many counterfeits. Then Malachi states:

Bối cảnh của sáu câu đầu trong Ma-la-chi đoạn ba là sự luyện lọc và thanh tẩy những người Lê-vi thuộc phong trào cải cách của một trăm bốn mươi bốn nghìn. Future for America hoặc là chính phong trào ấy, hoặc là một trong nhiều sự giả mạo. Kế đó Ma-la-chi nói:

Even from the days of your fathers ye are gone away from mine ordinances, and have not kept them. Return unto me, and I will return unto you, saith the Lord of hosts. Malachi 3:7.

Ngay từ thời các tổ phụ các ngươi, các ngươi đã lìa bỏ các luật lệ của Ta và không giữ chúng. Hãy trở lại cùng Ta, thì Ta sẽ trở lại cùng các ngươi, Đức Chúa các đạo binh phán. Ma-la-chi 3:7.

The progressive rebellion over the four generations is the introduction and setting of the book of Joel, and Malachi here identifies the same progressive rebellion when he says, “even from the days of your fathers ye are gone away.” From 1863, the days of the fathers of the first generation of rebellion, they have increasingly went further and further away from God. The pronouncement against their continuous sin is tempered with the Laodicean call that in mournful tones promises that if they would but only return, God would return unto them.

Sự bội nghịch tăng tiến qua bốn thế hệ là phần dẫn nhập và bối cảnh của sách Giô-ên, và Ma-la-chi ở đây xác định cùng một sự bội nghịch tăng tiến khi ông nói: “ngay từ những ngày của tổ phụ các ngươi, các ngươi đã xa rời.” Từ năm 1863, tức những ngày của các tổ phụ thuộc thế hệ thứ nhất của sự bội nghịch, họ đã mỗi lúc một xa Đức Chúa Trời. Lời phán quyết nghịch lại tội lỗi liên tục của họ được làm dịu bởi lời kêu gọi của La-ô-đi-xê, một lời kêu gọi với giọng điệu ai oán hứa rằng, nếu họ chỉ cần trở lại, thì Đức Chúa Trời sẽ trở lại cùng họ.

But ye said, Wherein shall we return? Will a man rob God? Yet ye have robbed me. But ye say, Wherein have we robbed thee? In tithes and offerings. Ye are cursed with a curse: for ye have robbed me, even this whole nation.

Nhưng các ngươi nói: Bằng cách nào chúng tôi sẽ trở lại? Người ta há có thể chiếm đoạt của Đức Chúa Trời sao? Thế mà các ngươi đã chiếm đoạt của Ta. Nhưng các ngươi lại nói: Chúng tôi đã chiếm đoạt của Chúa trong điều gì? Trong các phần mười và các của dâng. Các ngươi bị nguyền rủa bởi lời nguyền, vì các ngươi đã chiếm đoạt của Ta—cả nước này đều vậy.

Bring ye all the tithes into the storehouse, that there may be meat in mine house, and prove me now herewith, saith the Lord of hosts, if I will not open you the windows of heaven, and pour you out a blessing, that there shall not be room enough to receive it.

Hãy đem hết thảy các phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà Ta; rồi bây giờ các ngươi hãy thử Ta về điều nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán: xem Ta há chẳng mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi và đổ phước lành xuống cho các ngươi, đến nỗi không còn chỗ để chứa chăng.

And I will rebuke the devourer for your sakes, and he shall not destroy the fruits of your ground; neither shall your vine cast her fruit before the time in the field, saith the Lord of hosts. And all nations shall call you blessed: for ye shall be a delightsome land, saith the Lord of hosts. Malachi 3:5–12.

Ta sẽ quở trách kẻ cắn phá vì cớ các ngươi, và nó sẽ không hủy hoại hoa lợi của đất đai các ngươi; cây nho của các ngươi trên đồng ruộng cũng sẽ không rụng trái trước mùa, Đức Chúa các đạo binh phán. Hết thảy các dân tộc sẽ gọi các ngươi là có phúc, vì các ngươi sẽ là một xứ sở đáng ưa thích, Đức Chúa các đạo binh phán. Ma-la-chi 3:5-12.

The alpha foundational external test of 2024 is followed by the capstone internal test of 2026. That capstone test occurs when the windows of heaven are opened, and three places where those open windows are identified in the context of the church triumphant are Malachi three, Miller’s dream and Revelation nineteen. Malachi is the alpha, Miller’s dream is the middle and Revelation is the omega. The test is illustrated by Christ, as the dirt brush man, casting the jewels into the casket. Those jewels are both truths perfectly arranged in their order, and the remnant. The storehouse is where the meat is gathered and distributed. As with the test of manna, the test of Capernaum and the Bread of Heaven—“meat” is the subject.

Kỳ khảo nghiệm ngoại tại nền tảng mang tính Anpha của năm 2024 được tiếp nối bởi kỳ khảo nghiệm nội tại mang tính viên đá chóp đỉnh của năm 2026. Kỳ khảo nghiệm chóp đỉnh ấy diễn ra khi các cửa sổ trên trời được mở, và ba nơi mà những cửa sổ mở ấy được nhận diện trong bối cảnh Hội Thánh khải hoàn là Ma-la-chi đoạn ba, giấc mộng của Miller, và Khải Huyền đoạn mười chín. Ma-la-chi là Anpha, giấc mộng của Miller là phần giữa, và Khải Huyền là Ômêga. Kỳ khảo nghiệm ấy được minh họa bởi Đấng Christ, với tư cách là người cầm chổi quét bụi, khi Ngài ném các viên ngọc báu vào hộp báu. Những viên ngọc báu ấy vừa là các lẽ thật được sắp đặt hoàn hảo theo trật tự của chúng, vừa là dân sót lại. Kho lẫm là nơi “thịt” được thu góp và phân phát. Cũng như với kỳ khảo nghiệm về ma-na, kỳ khảo nghiệm tại Ca-bê-na-um và Bánh từ Trời—“thịt” là chủ đề.

The “meat” is oil in the parable of the virgins, and it represents character, the Holy Spirit and the prophetic message that brings the Holy Spirit into the hearts and minds of those who develop the character of Christ. The “meat” is Joel’s “new wine” that is cut off from the drunkards of Ephraim. To pass the internal capstone temple test of the second angel you must have passed the external first alpha foundational test. If you haven’t accepted the foundation, you cannot be part of the temple which is raised upon the foundation, but if you are not of the number who passed that foundational test, you will build your spiritual counterfeit house upon sand. John calls that counterfeit spiritual house, “the synagogue of Satan” and Jeremiah, “the assembly of mockers.”

"Thịt" là dầu trong dụ ngôn về các trinh nữ, và nó biểu trưng cho phẩm cách, Đức Thánh Linh, và sứ điệp tiên tri đem Đức Thánh Linh vào tấm lòng và tâm trí của những ai bồi đắp phẩm cách của Đấng Christ. "Thịt" là "rượu mới" của Giô-ên, bị cắt khỏi những kẻ say sưa của Ép-ra-im. Muốn vượt qua kỳ khảo nghiệm nội tại về viên đá chóp đỉnh của đền thờ thuộc thiên sứ thứ hai, cần phải đã vượt qua kỳ khảo nghiệm nền tảng alpha thứ nhất bên ngoài. Nếu chưa chấp nhận nền tảng, thì không thể trở thành một phần của đền thờ được xây dựng trên nền tảng ấy; và nếu không thuộc về số những người đã vượt qua kỳ khảo nghiệm nền tảng đó, sẽ xây dựng căn nhà thuộc linh giả mạo của mình trên cát. Giăng gọi căn nhà thuộc linh giả mạo ấy là "hội đường của Sa-tan", còn Giê-rê-mi gọi là "hội chúng của những kẻ nhạo báng".

Bring ye all the tithes and offerings into the storehouse is the internal test where the seal is impressed. The dirt brush man cast the remnant people of God into the enlarged casket, and in so doing He was illustrating the work of bringing all the tithes into the storehouse. The Levites are the offering that is lifted up when He pours out a blessing from the windows of heaven. The dirt brush man’s jewels are His remnant people and in Isaiah chapter six those remnant people are identified as a tithe.

Việc đem hết thập phân và các của dâng vào kho chính là bài khảo nghiệm nội tại, nơi dấu ấn được đóng. Người cầm chổi quét bụi đã ném dân sót lại của Đức Chúa Trời vào cái tráp đã được nới rộng, và khi làm như vậy người ấy đang minh họa công việc đem hết thập phân vào kho. Những người Lê-vi là của lễ được giơ lên khi Ngài tuôn đổ phước lành từ các cửa sổ trên trời. Những châu báu của người cầm chổi quét bụi chính là dân sót lại của Ngài, và trong Ê-sai chương sáu, dân sót lại ấy được xem là thập phân.

Then said I, Lord, how long? And he answered, Until the cities be wasted without inhabitant, and the houses without man, and the land be utterly desolate, And the Lord have removed men far away, and there be a great forsaking in the midst of the land. But yet in it shall be a tenth, and it shall return, and shall be eaten: as a teil tree, and as an oak, whose substance is in them, when they cast their leaves: so the holy seed shall be the substance thereof. Isaiah 6:11–13.

Bấy giờ tôi nói: Lạy Chúa, cho đến bao giờ? Ngài đáp: Cho đến khi các thành bị tàn phá, không còn dân cư, các nhà không còn người ở, và đất đai trở nên hoàn toàn hoang vu; và Chúa khiến người ta bị đưa đi xa, và giữa xứ có sự bỏ hoang rất lớn. Nhưng trong đó vẫn còn lại một phần mười; nó sẽ trở lại, và sẽ bị tiêu hủy: như cây teil và như cây sồi, trong chúng vẫn còn nhựa sống khi chúng rụng lá; thì hạt giống thánh sẽ là cội rễ của nó. Ê-sai 6:11-13.

The Lord identifies the question of “how long” on multiple witnesses as pointing to the Sunday law, and in verse three of Isaiah six the angels proclaim “Holy, holy, holy, is the Lord of hosts: the whole earth is full of his glory.” Sister White connects this with the mighty angel of Revelation eighteen.

Chúa chỉ ra rằng, trên cơ sở nhiều lời chứng, câu hỏi “bao lâu” chỉ về luật ngày Chủ nhật; và ở câu ba của Ê-sai đoạn sáu, các thiên sứ tuyên xưng: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay, là Đức Giê-hô-va vạn quân: khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài.” Bà White liên hệ điều này với thiên sứ quyền năng trong Khải Huyền đoạn mười tám.

“As they [the angels] see the future, when the whole earth shall be filled with His glory, the triumphant song of praise is echoed from one to another in melodious chant, ‘Holy, holy, holy, is the Lord of Hosts.’ They are fully satisfied to glorify God; and in His presence, beneath His smile of approbation, they wish for nothing more. In bearing His image, in doing His service and worshiping Him, their highest ambition is fully reached.” Review and Herald, December 22, 1896.

Khi họ [các thiên sứ] thấy tương lai, khi cả trái đất sẽ tràn đầy vinh quang của Ngài, bài ca khải hoàn chúc tụng vang vọng từ vị này sang vị khác trong khúc thánh ca du dương: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay, Chúa các đạo binh.” Họ hoàn toàn thỏa lòng khi tôn vinh Đức Chúa Trời; và trong sự hiện diện của Ngài, dưới nụ cười hài lòng của Ngài, họ chẳng ước ao gì hơn nữa. Trong việc mang hình ảnh của Ngài, phục vụ Ngài và thờ phượng Ngài, khát vọng cao nhất của họ được viên mãn. Review and Herald, ngày 22 tháng 12, 1896.

Isaiah six identifies 9/11, when the earth was lightened with the glory of the first voice of Revelation eighteen’s two voices. When Isaiah asked “how long” the history of the chapter is identified as the period from 9/11 unto the Sunday law, where the second voice arrives. Isaiah informs us that at the Sunday law there will be a remnant—who are a tithe. The remnant has substance within them—oil in their vessels.

Ê-sai 6 nhận diện sự kiện 9/11—khi đất được soi sáng bởi vinh quang của tiếng nói thứ nhất trong hai tiếng nói của Khải Huyền 18. Khi Ê-sai hỏi “cho đến chừng nào”, lịch sử của chương được xác định là giai đoạn từ 9/11 cho đến luật ngày Chủ Nhật, tại đó tiếng nói thứ hai đến. Ê-sai cho chúng ta biết rằng, tại thời điểm luật ngày Chủ Nhật, sẽ có một dân sót lại—là một phần mười. Dân sót lại có thực chất ở trong họ—dầu trong các bình của họ.

But yet in it shall be a tenth [tithe], and it shall return, and shall be eaten: as a teil tree, and as an oak, whose substance is in them, when they cast their leaves: so the holy seed shall be the substance thereof. Isaiah 6:13.

Nhưng trong đó vẫn còn một phần mười [thuế thập phân], và nó sẽ trở lại, và sẽ bị ăn nuốt: như cây thông và như cây sồi, là những cây mà khi rụng lá thì gốc của chúng vẫn còn: thì dòng giống thánh sẽ là gốc của nó. Ê-sai 6:13.

The “tenth” are those who have “returned” in answer to Malachi’s and also Jeremiah’s call to return. They are trees of humanity, combined with Divinity (the holy seed). They will be eaten, for they are not only the messengers, but they are the ensign of the Pentecostal wave loaves; they are the message which the Gentiles shall eat.

“‘Một phần mười’ là những người đã ‘trở lại’ đáp lại lời kêu gọi trở lại của Ma-la-chi, và cũng của Giê-rê-mi-a. Họ là những cây của nhân loại, được kết hiệp với Thần Tính (dòng giống thánh). Họ sẽ được ăn, vì họ không chỉ là các sứ giả, mà họ còn là kỳ hiệu của những ổ bánh dâng vẫy của Lễ Ngũ Tuần; họ là sứ điệp mà các Dân Ngoại sẽ ăn.”

Therefore thus saith the Lord, If thou return, then will I bring thee again, and thou shalt stand before me: and if thou take forth the precious from the vile, thou shalt be as my mouth: let them return unto thee; but return not thou unto them. Jeremiah 15:19.

Vì vậy, Chúa phán như vầy: Nếu ngươi trở lại, thì Ta sẽ lại đem ngươi về, và ngươi sẽ đứng trước mặt Ta; và nếu ngươi tách điều quý ra khỏi điều hèn ô, ngươi sẽ như miệng của Ta; hãy để họ trở lại với ngươi, nhưng ngươi chớ trở lại với họ. Giê-rê-mi 15:19.

Jeremiah represents those who ate the message in the angel’s hand, which was the alpha and foundational test represented by August 11, 1840, 1888, and 9/11, for he says he found the words and did eat them.

Giê-rê-mi đại diện cho những người đã ăn lấy sứ điệp ở trong tay thiên sứ, sứ điệp ấy là phép thử alpha và mang tính nền tảng, được biểu trưng bởi ngày 11 tháng 8 năm 1840, năm 1888, và 9/11, vì ông nói rằng ông đã tìm được những lời và đã ăn lấy.

Thy words were found, and I did eat them; and thy word was unto me the joy and rejoicing of mine heart: for I am called by thy name, O Lord God of hosts. Jeremiah 15:16.

Khi con tìm được lời Ngài, con đã ăn lấy; lời Ngài là niềm vui và sự hân hoan của lòng con, vì con được gọi theo danh Ngài, lạy Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân. Giê-rê-mi-a 15:16.

Jeremiah is called by God’s name when he ate the little book in the angel’s hand, and that message produced joy and rejoicing, as opposed to shame. When God’s name is given to Jeremiah, he is representing the one hundred and forty-four thousand who are Philadelphians.

Giê-rê-mi được gọi theo danh của Đức Chúa Trời khi ông ăn cuốn sách nhỏ trong tay thiên sứ, và sứ điệp ấy sinh ra niềm vui và sự hân hoan, trái ngược với sự hổ thẹn. Khi danh của Đức Chúa Trời được ban cho Giê-rê-mi, ông đại diện cho một trăm bốn mươi bốn nghìn người Phi-la-đen-phi.

Him that overcometh will I make a pillar in the temple of my God, and he shall go no more out: and I will write upon him the name of my God, and the name of the city of my God, which is new Jerusalem, which cometh down out of heaven from my God: and I will write upon him my new name. Revelation 3:12.

Kẻ nào thắng, Ta sẽ làm người ấy thành một trụ trong đền thờ Đức Chúa Trời của Ta, và người ấy sẽ chẳng còn đi ra nữa; Ta sẽ viết trên người ấy danh của Đức Chúa Trời Ta, và danh của thành Đức Chúa Trời Ta, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời bởi Đức Chúa Trời Ta mà xuống; và Ta sẽ viết trên người ấy danh mới của Ta. Khải Huyền 3:12.

Jeremiah ate the message of 9/11 and suffered the disappointment of July 18, 2020.

Giêrêmia đã ăn lấy sứ điệp về sự kiện 11/9 và chịu đựng nỗi thất vọng của ngày 18 tháng 7 năm 2020.

I sat not in the assembly of the mockers, nor rejoiced; I sat alone because of thy hand: for thou hast filled me with indignation. Why is my pain perpetual, and my wound incurable, which refuseth to be healed? wilt thou be altogether unto me as a liar, and as waters that fail? Jeremiah 15:17, 18.

Tôi chẳng ngồi trong hội của những kẻ nhạo báng, cũng chẳng vui mừng; tôi ngồi riêng một mình vì tay Ngài, vì Ngài đã làm cho tôi đầy phẫn nộ. Vì sao nỗi đau tôi cứ mãi triền miên, và vết thương tôi không thể chữa được, chẳng chịu lành? Há Ngài sẽ hoàn toàn trở nên như một kẻ nói dối đối với tôi, và như suối khô cạn chăng? Giê-rê-mi 15:17, 18.

Jeremiah’s “assembly of the mockers,” is Philadelphia and Smyrna’s “synagogue of Satan,” who say they are Jews, but they are not. Jeremiah did not rejoice for the message he had proclaimed was a false message, producing only shame, not joy. Jeremiah’s “perpetual wound that refused to be healed,” was the three and a half days that the assembly of mockers rejoiced while Jeremiah, Moses and Elijah were dead in the street that ran through the valley of dead dry bones. In the midst of that period of doubt and uncertainty, the Lord asked Jeremiah to return.

“hội của những kẻ nhạo báng” của Giê-rê-mi chính là “hội đường của Sa-tan” của Phi-la-đen-phi và Smirna, những kẻ xưng mình là người Do Thái, nhưng không phải. Giê-rê-mi đã không vui mừng, vì sứ điệp ông đã công bố là sứ điệp giả dối, chỉ sinh ra sự hổ thẹn, chứ không phải niềm vui. “vết thương triền miên, không chịu lành” của Giê-rê-mi chính là ba ngày rưỡi mà hội của những kẻ nhạo báng hả hê vui mừng, trong khi Giê-rê-mi, Môi-se và Ê-li nằm chết trên con đường chạy xuyên qua thung lũng các xương khô chết. Giữa thời kỳ hoài nghi và bất định ấy, Chúa đã phán bảo Giê-rê-mi hãy trở lại.

Therefore thus saith the Lord, If thou return, then will I bring thee again, and thou shalt stand before me: and if thou take forth the precious from the vile, thou shalt be as my mouth: let them return unto thee; but return not thou unto them. And I will make thee unto this people a fenced brasen wall: and they shall fight against thee, but they shall not prevail against thee: for I am with thee to save thee and to deliver thee, saith the Lord. And I will deliver thee out of the hand of the wicked, and I will redeem thee out of the hand of the terrible. Jeremiah 15:19–21.

Vì vậy Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu ngươi trở lại, thì ta sẽ đem ngươi trở lại, và ngươi sẽ đứng trước mặt ta; và nếu ngươi tách điều quý ra khỏi điều hèn hạ, thì ngươi sẽ như miệng ta. Họ sẽ trở lại với ngươi, nhưng ngươi chớ trở lại với họ. Ta sẽ làm cho ngươi đối với dân này như một bức tường đồng kiên cố; họ sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không thắng được ngươi; vì ta ở cùng ngươi để cứu ngươi và giải thoát ngươi, Đức Giê-hô-va phán. Ta sẽ giải cứu ngươi khỏi tay kẻ ác, và sẽ chuộc ngươi khỏi tay kẻ hung bạo. Giê-rê-mi 15:19-21.

If Jeremiah would return, God would make him an army, represented as a brazen wall that both the “wicked” and the “terrible” will fight against, but not prevail. This is the army of the white horses with horsemen arrayed in uniforms of white linen. That army, or brazen wall is raised up when Jeremiah returns; if and when, he separates the precious from the vile. In Ezekiel thirty-seven, the army that Sister White says is God’s remnant people stands up when they have returned. The remnant returns, then stands up a mighty army, when they separate the precious and the vile and they then become God’s mouth. They must rightly divide the word of truth, separating the chaff from the wheat for they are using the same rules adopted by their father, who was a miller who specialized in preparing the very best bread. If they separate the precious from the vile; the truth from the error, they will be God’s watchman when God separates the wicked and the wise.

Nếu Giê-rê-mi quay trở lại, Đức Chúa Trời sẽ lập ông như một đạo quân, được biểu trưng bởi một bức tường bằng đồng mà cả bọn “ác” lẫn bọn “khủng khiếp” sẽ giao chiến nghịch lại, nhưng không thể thắng hơn. Ấy là đạo quân của những con ngựa trắng, với các kỵ sĩ vận y phục bằng vải gai mịn trắng. Đạo quân ấy, hay bức tường bằng đồng ấy, được dựng lên khi Giê-rê-mi trở lại; nếu, và khi, ông tách biệt điều quý báu khỏi điều hèn mạt. Trong Ê-xê-chi-ên chương ba mươi bảy, đạo quân mà Bà White nói là dân sót lại của Đức Chúa Trời đứng dậy khi họ đã trở về. Dân sót lại trở về, rồi trỗi dậy thành một đạo quân hùng mạnh, khi họ tách biệt điều quý báu và điều hèn mạt; và bấy giờ họ trở nên miệng của Đức Chúa Trời. Họ phải phân giải cách chính xác Lời của lẽ thật, phân rơm trấu khỏi lúa mì, vì họ đang sử dụng cùng những quy tắc mà cha của họ đã áp dụng, người vốn là một thợ xay chuyên chuẩn bị thứ bánh tuyệt hảo nhất. Nếu họ tách biệt điều quý báu khỏi điều hèn mạt; lẽ thật khỏi sự sai lầm, thì họ sẽ là người lính canh của Đức Chúa Trời khi Đức Chúa Trời phân rẽ kẻ ác và người khôn ngoan.

Jeremiah answered the call to return in 2023, then in 2024 he was disappointed as a large group separated at the foundational test of Rome establishing the vision. Jeremiah rightly separated the precious from the vile, the truth from error, and carried on until the omega internal test at the opening of the windows of heaven. When the heavens are opened, the church triumphant has made herself ready. She passed the foundational external alpha test, then she passed the internal omega test of the windows of heaven. She either passes and becomes part of God’s army, or she is blown out of the windows by the wind. She is cast out into a large field, as was Shebna in Isaiah twenty-two or she is cast into the casket. She is either cast into the casket, or cast out of the temple as Nehemiah cast out Tobiah or Christ cast out the money changers. When the dirt brush man casts the jewels into the casket, the casket is either the Word of God in a new framework of truth or the casket is the temple of God, both of which are symbols of Christ, and Christ is not to be divided.

Giê-rê-mi đã đáp lại lời kêu gọi trở về vào năm 2023; rồi đến năm 2024, ông thất vọng khi một nhóm đông tách rời tại bài thử nền tảng về việc Rô-ma thiết lập khải tượng. Giê-rê-mi đã đúng đắn phân biệt điều quý khỏi điều hèn mạt, lẽ thật khỏi sai lầm, và tiếp tục tiến bước cho đến bài thử omega bên trong tại sự mở ra của các cửa sổ trên trời. Khi các tầng trời được mở ra, Hội thánh khải hoàn đã tự sửa soạn sẵn sàng. Hội thánh đã vượt qua bài thử alpha nền tảng bên ngoài, rồi vượt qua bài thử omega bên trong liên quan đến các cửa sổ trên trời. Nàng hoặc là đậu và trở thành một phần của đạo binh Đức Chúa Trời, hoặc là bị gió thổi bật ra khỏi các cửa sổ. Nàng bị quăng ra một cánh đồng lớn, như Sép-na trong Ê-sai hai mươi hai; hoặc nàng bị quăng vào hộp đựng châu báu. Nàng hoặc bị quăng vào hộp đựng châu báu, hoặc bị tống ra khỏi đền thờ, như Nê-hê-mi đã tống Tô-bi-gia, hoặc như Đấng Christ đã đuổi những kẻ đổi bạc. Khi người cầm chổi quét bụi ném các châu báu vào hộp đựng châu báu, thì chiếc hộp ấy hoặc là Lời Đức Chúa Trời trong một khuôn khổ lẽ thật mới, hoặc là đền thờ của Đức Chúa Trời; cả hai đều là những biểu tượng của Đấng Christ, và Đấng Christ không thể bị phân chia.

Is Christ divided? was Paul crucified for you? or were ye baptized in the name of Paul? 1 Corinthians 1:13.

Đấng Christ có bị phân rẽ ư? Phao-lô đã chịu đóng đinh trên thập tự giá vì anh em ư? Hay là anh em đã chịu báp-têm nhân danh Phao-lô ư? 1 Cô-rinh-tô 1:13.

Christ is not separated from Paul. Divinity was not separated from the humanity of Paul. When Paul the human baptized in the name of Divinity their was no division, for the human messenger is combined with the Divine message. Paul was joined to Divinity as certainly as Ephraim was joined to its idols.

Đức Kitô không tách rời khỏi Phaolô. Thiên tính không tách rời khỏi nhân tính của Phaolô. Khi Phaolô, với tư cách là người phàm, cử hành phép rửa nhân danh Thiên tính, thì không có sự phân chia nào, vì sứ giả phàm nhân được kết hiệp với sứ điệp Thiên tính. Phaolô đã được kết hiệp với Thiên tính chắc chắn như Êpraim đã gắn bó với các ngẫu tượng của nó.

Those in Miller’s dream who are cast into the temple (casket), are the tithes of Malachi three who are to be brought into the storehouse, where the meat is stored and distributed. That storehouse is the temple of the one hundred and forty-four thousand, or as Peter stated, “a spiritual house, an holy priesthood.” The casket is the spiritual house and the jewels are the priesthood. For this reason Miller’s dream is recorded on page “81,” a symbol of the Divine High Priest combined with eighty human priests.

Những gì trong giấc mộng của Miller được ném vào đền thờ (cái tráp) chính là các khoản thập phân theo Ma-la-chi đoạn ba, phải được đem vào nhà kho, nơi lương thực được cất giữ và phân phát. Nhà kho đó chính là đền thờ của một trăm bốn mươi bốn nghìn, hoặc như Phi-e-rơ đã nói, “một nhà thuộc linh, một chức tư tế thánh.” Cái tráp là nhà thuộc linh, và những châu báu là chức tư tế. Vì lẽ đó, giấc mộng của Miller được ghi ở trang “81,” một biểu tượng của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm Thiêng Liêng kết hợp với tám mươi tư tế loài người.

In Miller’s dream the dirt brush man illustrates bringing the jewels, (which are Isaiah’s tithes and Malachi’s offerings), when He casts the jewels into the temple, which is the storehouse, which is the casket. There are often two questions involved with the second angel, and the omega test is the second angel in relation to the alpha test and the third litmus test. The call is to return, and the return is demonstrated by bringing all the tithes and offerings into the storehouse, that there might be meat in His house. The two questions here are what is the “meat?” and what is the “storehouse?”

Trong giấc mơ của Miller, người cầm chổi quét bụi minh họa việc đem các châu báu (là các phần mười của Ê-sai và các của dâng của Ma-la-chi), khi Ngài ném các châu báu vào đền thờ, tức là kho, tức là tráp. Thường có hai câu hỏi liên quan đến thiên sứ thứ hai, và phép thử Omega là thiên sứ thứ hai trong tương quan với phép thử Alpha và phép thử giấy quỳ thứ ba. Lời kêu gọi là hãy trở về, và sự trở về được biểu lộ bằng việc đem hết thảy các phần mười và các của dâng vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà Ngài. Hai câu hỏi ở đây là: “lương thực” là gì? và “kho” là gì?

If the jewels are the messengers, or if the jewels are the message determines how those two questions are answered. If it is the messengers, then they are the tithe that make up the temple, that is always erected in the second step. If it is the message, it is the message of the Midnight Cry that is brought to perfection as the capstone of the temple, and of the empowerment of the second angel’s message.

Việc các viên ngọc là những sứ giả hay là sứ điệp sẽ quyết định cách hai câu hỏi ấy được giải đáp. Nếu là những sứ giả, thì họ là phần mười cấu thành đền thờ, vốn luôn được dựng lên ở giai đoạn thứ hai. Nếu là sứ điệp, thì đó là sứ điệp của Tiếng Kêu Nửa Đêm, được đưa đến chỗ hoàn thiện như viên đá chóp đỉnh của đền thờ, và là sự tăng cường quyền năng cho sứ điệp của thiên sứ thứ hai.

And said, For this cause shall a man leave father and mother, and shall cleave to his wife: and they twain shall be one flesh? Wherefore they are no more twain, but one flesh. What therefore God hath joined together, let not man put asunder. Matthew 19:5, 6.

Và phán rằng, Vì cớ đó người nam sẽ lìa cha và mẹ, và sẽ dính díu với vợ mình: và hai người sẽ trở nên một thịt? Bởi vậy, họ chẳng còn là hai nữa, nhưng là một thịt. Vậy điều gì Đức Chúa Trời đã phối hiệp, người ta chớ phân rẽ. Ma-thi-ơ 19:5, 6.

We will continue this study in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu này trong bài viết tiếp theo.

“I was pointed back to the proclamation of the first advent of Christ. John was sent in the spirit and power of Elijah to prepare the way of Jesus. Those who rejected the testimony of John were not benefited by the teachings of Jesus. Their opposition to the message that foretold His coming placed them where they could not readily receive the strongest evidence that He was the Messiah. Satan led on those who rejected the message of John to go still farther, to reject and crucify Christ. In doing this they placed themselves where they could not receive the blessing on the day of Pentecost, which would have taught them the way into the heavenly sanctuary. The rendering of the veil of the temple showed that the Jewish sacrifices and ordinances would no longer be received. The great Sacrifice had been offered and had been accepted, and the Holy Spirit which descended on the day of Pentecost carried the minds of the disciples from the earthly sanctuary to the heavenly, where Jesus had entered by His own blood, to shed upon His disciples the benefits of His atonement. But the Jews were left in total darkness. They lost all the light which they might have had upon the plan of salvation, and still trusted in their useless sacrifices and offerings. The heavenly sanctuary had taken the place of the earthly, yet they had no knowledge of the change. Therefore they could not be benefited by the mediation of Christ in the holy place.

Tôi được chỉ cho nhìn lại lời rao báo về sự giáng lâm lần thứ nhất của Đấng Christ. Giăng được sai đến trong tâm thần và quyền năng của Ê-li để dọn đường cho Chúa Giê-su. Những ai khước từ lời chứng của Giăng đã không nhận được ích lợi từ sự dạy dỗ của Chúa Giê-su. Sự chống đối của họ đối với sứ điệp báo trước sự đến của Ngài đã đặt họ vào chỗ không thể dễ dàng tiếp nhận những bằng chứng mạnh mẽ nhất rằng Ngài là Đấng Mê-si-a. Sa-tan đã dẫn dắt những kẻ khước từ sứ điệp của Giăng đi xa hơn nữa, để khước từ và đóng đinh Đấng Christ. Khi làm điều đó, họ tự đặt mình vào tình trạng không thể nhận lãnh phước lành trong ngày Lễ Ngũ Tuần, điều lẽ ra đã dạy họ con đường vào đền thánh trên trời. Sự xé đôi bức màn của đền thờ cho thấy rằng các sinh tế và nghi lễ của người Do Thái sẽ không còn được chấp nhận nữa. Sinh tế vĩ đại đã được dâng và đã được chấp nhận, và Đức Thánh Linh giáng xuống trong ngày Lễ Ngũ Tuần đã đem tâm trí các môn đồ từ đền thánh dưới đất đến đền thánh trên trời, nơi Chúa Giê-su đã bước vào bởi chính huyết Ngài, để tuôn đổ trên các môn đồ những ân phước của sự chuộc tội Ngài. Nhưng người Do Thái bị bỏ lại trong bóng tối hoàn toàn. Họ đánh mất tất cả ánh sáng mà lẽ ra họ có thể có về kế hoạch cứu rỗi, và vẫn tin cậy nơi các sinh tế và của lễ vô ích của họ. Đền thánh trên trời đã thay thế đền thánh dưới đất, thế mà họ không hề biết về sự thay đổi ấy. Vì vậy, họ không thể được hưởng ích lợi từ sự trung bảo của Đấng Christ trong nơi thánh.

“Many look with horror at the course of the Jews in rejecting and crucifying Christ; and as they read the history of His shameful abuse, they think they love Him, and would not have denied Him as did Peter, or crucified Him as did the Jews. But God who reads the hearts of all, has brought to the test that love for Jesus which they professed to feel. All heaven watched with the deepest interest the reception of the first angel’s message. But many who professed to love Jesus, and who shed tears as they read the story of the cross, derided the good news of His coming. Instead of receiving the message with gladness, they declared it to be a delusion. They hated those who loved His appearing and shut them out of the churches. Those who rejected the first message could not be benefited by the second; neither were they benefited by the midnight cry, which was to prepare them to enter with Jesus by faith into the most holy place of the heavenly sanctuary. And by rejecting the two former messages, they have so darkened their understanding that they can see no light in the third angel’s message, which shows the way into the most holy place. I saw that as the Jews crucified Jesus, so the nominal churches had crucified these messages, and therefore they have no knowledge of the way into the most holy, and they cannot be benefited by the intercession of Jesus there. Like the Jews, who offered their useless sacrifices, they offer up their useless prayers to the apartment which Jesus has left; and Satan, pleased with the deception, assumes a religious character, and leads the minds of these professed Christians to himself, working with his power, his signs and lying wonders, to fasten them in his snare.” Early Writings, 259–261.

Nhiều người kinh hãi khi nhìn vào cách người Do Thái khước từ và đóng đinh Đấng Christ; và khi đọc lịch sử về những sự lăng nhục đáng hổ thẹn mà Ngài phải chịu, họ nghĩ rằng mình yêu mến Ngài, và rằng họ đã chẳng chối Ngài như Phi-e-rơ, cũng chẳng đóng đinh Ngài như người Do Thái. Nhưng Đức Chúa Trời, Đấng đọc thấu lòng mọi người, đã đem tình yêu dành cho Chúa Giê-su mà họ xưng nhận ra thử thách. Cả thiên đàng với mối quan tâm sâu xa nhất đã theo dõi việc tiếp nhận sứ điệp của thiên sứ thứ nhất. Nhưng nhiều người xưng nhận yêu mến Chúa Giê-su, và rơi lệ khi đọc câu chuyện về thập tự giá, lại chế giễu tin mừng về sự tái lâm của Ngài. Thay vì vui mừng tiếp nhận sứ điệp ấy, họ tuyên bố đó là một sự mê lầm. Họ ghét những người yêu mến sự tái lâm của Ngài và đuổi họ ra khỏi các hội thánh. Những kẻ khước từ sứ điệp thứ nhất thì không thể nhận được ích lợi từ sứ điệp thứ hai; họ cũng không được ích lợi từ tiếng kêu nửa đêm, vốn nhằm chuẩn bị họ bằng đức tin để cùng với Chúa Giê-su bước vào nơi chí thánh của đền thánh trên trời. Và bằng cách khước từ hai sứ điệp trước, họ đã làm tối tăm sự hiểu biết của mình đến nỗi không thấy chút ánh sáng nào trong sứ điệp của thiên sứ thứ ba, sứ điệp chỉ ra con đường vào nơi chí thánh. Tôi thấy rằng cũng như người Do Thái đã đóng đinh Chúa Giê-su, các hội thánh danh nghĩa đã đóng đinh những sứ điệp này; bởi đó họ không biết con đường vào nơi chí thánh, và họ không thể nhận được ích lợi từ sự cầu thay của Chúa Giê-su tại đó. Cũng như người Do Thái dâng những của lễ vô ích, họ dâng những lời cầu nguyện vô ích hướng về ngăn mà Chúa Giê-su đã rời bỏ; và Sa-tan, hài lòng với sự lừa dối ấy, khoác lấy bộ dạng tôn giáo và lôi kéo tâm trí của những Cơ Đốc nhân xưng nhận này về phía hắn, hoạt động bằng quyền năng của hắn, các dấu lạ và phép lạ dối trá của hắn, để ghìm chặt họ trong cạm bẫy của hắn. Early Writings, 259-261.