We ended the previous article with the question, “With these concepts in place the question may be asked how is it that at 9/11 the book of Joel became the message Peter identified at Pentecost?”

Chúng tôi kết thúc bài viết trước bằng câu hỏi: "Khi những khái niệm này đã được xác lập, có thể đặt câu hỏi: làm sao mà vào thời điểm 9/11, sách Giôen lại trở thành thông điệp mà Phêrô đã chỉ ra tại Lễ Ngũ Tuần?"

Peter was identifying that Joel was being fulfilled on the day of Pentecost, which is a point in time marking the end of the Pentecostal season. In the Pentecostal season there was a manifestation of the Holy Spirit at the beginning, and then a greater manifestation of the Holy Spirit at the end. By faith understanding that both the Bible and Spirit of Prophecy apply Joel to the time of the latter rain we may know that the book of Joel became present truth at 9/11; and that every element of the book will speak directly of the prophetic history beginning at 9/11 on through to and including the seven last plagues, which Joel identifies as the “day of the Lord.”

Phi-e-rơ đã chỉ ra rằng lời tiên tri của Giô-ên đang được ứng nghiệm vào ngày Lễ Ngũ Tuần, là một mốc thời gian đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ Ngũ Tuần. Trong thời kỳ Ngũ Tuần, đã có một sự bày tỏ của Đức Thánh Linh lúc khởi đầu, rồi một sự bày tỏ lớn hơn của Đức Thánh Linh vào lúc kết thúc. Bằng đức tin, hiểu rằng cả Kinh Thánh lẫn Thần Linh của Lời Tiên Tri đều áp dụng Giô-ên cho thời kỳ mưa muộn, chúng ta có thể biết rằng sách Giô-ên đã trở thành lẽ thật hiện tại vào 9/11; và rằng mọi yếu tố của sách sẽ trực tiếp nói về lịch sử tiên tri bắt đầu từ 9/11, kéo dài cho đến và bao gồm cả bảy tai vạ sau cùng, mà Giô-ên xác định là "ngày của Chúa".

As typified by 1888, on 9/11 the presentation of the Laodicean message became present testing truth. Isaiah typifies that same message in chapter fifty-eight with the trumpet voice showing God’s people their transgressions. The “day” when Isaiah begins sounding his voice like a trumpet is the same day he sings the song of the vineyard.

Như đã được tiêu biểu qua năm 1888, vào ngày 11/9 việc trình bày sứ điệp Lao-đi-xê đã trở thành lẽ thật thử nghiệm hiện tại. Ê-sai tiêu biểu cho chính sứ điệp ấy trong chương năm mươi tám bằng việc cất tiếng như tiếng kèn để chỉ cho dân Đức Chúa Trời biết những tội lỗi của họ. “Ngày” khi Ê-sai bắt đầu cất tiếng như tiếng kèn cũng là ngày ông hát bài ca về vườn nho.

In that day sing ye unto her, A vineyard of red wine. I the Lord do keep it; I will water it every moment: lest any hurt it, I will keep it night and day. Fury is not in me: who would set the briers and thorns against me in battle? I would go through them, I would burn them together. Or let him take hold of my strength, that he may make peace with me; and he shall make peace with me. He shall cause them that come of Jacob to take root: Israel shall blossom and bud, and fill the face of the world with fruit. Isaiah 27:2–6.

Trong ngày ấy, hãy hát về nó: Vườn nho rượu đỏ. Ta, Đức Chúa, giữ nó; Ta sẽ tưới nó từng lúc; kẻo có ai làm hại nó, Ta sẽ canh giữ nó ngày đêm. Cơn thịnh nộ không ở trong Ta; ai sẽ đem gai gốc và bụi rậm ra chống lại Ta trong chiến trận? Ta sẽ xông qua chúng, Ta sẽ thiêu đốt chúng hết thảy. Hoặc hãy để người nắm lấy sức mạnh của Ta, để người làm hòa với Ta; và người sẽ làm hòa với Ta. Ngài sẽ khiến dòng dõi của Gia-cốp bén rễ; Y-sơ-ra-ên sẽ nở hoa và đâm chồi, và làm đầy khắp mặt đất bằng trái. Ê-sai 27:2-6.

Modern spiritual “Israel shall blossom and bud, and fill the face of the world with fruit” during the period of the latter rain, for the early rain cause the budding and blossoming of a plant, and the latter rain produces the fruit. When the buildings of New York came down on 9/11 the mighty angel of Revelation eighteen descended and the latter rain began to sprinkle. At that time God’s watchmen were to blow the trumpet to the Laodicean church. Isaiah’s message identifying the sins of God’s people is also the song of the vineyard of red wine. The first chapter of Joel is that very message.

Israel thuộc linh thời hiện đại sẽ "nở hoa và đâm chồi, và làm đầy khắp mặt đất bằng bông trái" trong thời kỳ mưa cuối mùa, vì mưa đầu mùa khiến cây đâm chồi nở hoa, còn mưa cuối mùa kết trái. Khi các tòa nhà ở New York sụp đổ vào ngày 11/9, thiên sứ quyền năng trong Khải Huyền đoạn mười tám đã giáng xuống và mưa cuối mùa bắt đầu lất phất. Lúc ấy các người lính canh của Đức Chúa Trời phải thổi kèn cảnh báo cho hội thánh Lao-đi-xê. Thông điệp của Ê-sai nhận diện tội lỗi của dân Đức Chúa Trời cũng là bài ca về vườn nho rượu đỏ. Chương thứ nhất của Giô-ên chính là thông điệp ấy.

The word of the Lord that came to Joel the son of Pethuel.

Lời của Chúa đã đến với Joel, con trai của Pethuel.

Hear this, ye old men, and give ear, all ye inhabitants of the land. Hath this been in your days, or even in the days of your fathers? Tell ye your children of it, and let your children tell their children, and their children another generation.

Hỡi các bô lão, hãy nghe điều này; hỡi hết thảy dân cư trong xứ, hãy lắng tai. Điều này đã từng xảy ra trong thời các ngươi chăng, hay thậm chí trong thời của cha ông các ngươi chăng? Hãy thuật lại điều ấy cho con cái các ngươi; để con cái các ngươi thuật lại cho con cái của chúng, và con cái của chúng cho đời sau nữa.

That which the palmerworm hath left hath the locust eaten; and that which the locust hath left hath the cankerworm eaten; and that which the cankerworm hath left hath the caterpiller eaten.

Phần sót lại mà sâu cắn để lại thì châu chấu đã ăn; phần sót lại mà châu chấu để lại thì sâu lột đã ăn; và phần sót lại mà sâu lột để lại thì sâu róm đã ăn.

Awake, ye drunkards, and weep; and howl, all ye drinkers of wine, because of the new wine; for it is cut off from your mouth.

Hỡi những kẻ say rượu, hãy tỉnh dậy và khóc lóc; và hỡi tất cả những người uống rượu, hãy kêu gào vì rượu mới; vì nó đã bị lấy khỏi miệng các ngươi.

For a nation is come up upon my land, strong, and without number, whose teeth are the teeth of a lion, and he hath the cheek teeth of a great lion. He hath laid my vine waste, and barked my fig tree: he hath made it clean bare, and cast it away; the branches thereof are made white. Lament like a virgin girded with sackcloth for the husband of her youth. The meat offering and the drink offering is cut off from the house of the Lord; the priests, the Lord’s ministers, mourn. The field is wasted, the land mourneth; for the corn is wasted: the new wine is dried up, the oil languisheth.

Vì một dân đã tràn vào đất ta, hùng mạnh và vô số kể; răng nó là răng sư tử, nó có răng hàm của sư tử lớn. Nó đã tàn phá vườn nho của ta, lột vỏ cây vả của ta; nó làm cho trơ trụi rồi ném bỏ; các cành của nó trở nên trắng toát. Hãy than khóc như trinh nữ thắt bao gai vì người chồng của thuở tuổi trẻ. Của lễ lương thực và của lễ thức uống đã bị cắt đứt khỏi nhà của Chúa; các thầy tế lễ, những đầy tớ của Chúa, than khóc. Đồng ruộng bị hoang tàn, đất đai than khóc; vì lúa bị hư hoại. Rượu mới đã cạn khô, dầu thì tàn lụi.

Be ye ashamed, O ye husbandmen; howl, O ye vinedressers, for the wheat and for the barley; because the harvest of the field is perished. The vine is dried up, and the fig tree languisheth; the pomegranate tree, the palm tree also, and the apple tree, even all the trees of the field, are withered: because joy is withered away from the sons of men.

Hỡi các nông phu, hãy hổ thẹn; hỡi những người trồng nho, hãy than khóc, vì lúa mì và lúa mạch; vì mùa gặt ngoài đồng đã hư hoại. Cây nho đã khô héo, cây vả đã tàn úa; cả cây lựu, cây chà là, và cây táo, thậm chí mọi cây cối ngoài đồng, đều đã héo tàn: vì sự vui mừng đã tàn lụi khỏi con cái loài người.

Gird yourselves, and lament, ye priests: howl, ye ministers of the altar: come, lie all night in sackcloth, ye ministers of my God: for the meat offering and the drink offering is withholden from the house of your God. Sanctify ye a fast, call a solemn assembly, gather the elders and all the inhabitants of the land into the house of the Lord your God, and cry unto the Lord, Alas for the day! for the day of the Lord is at hand, and as a destruction from the Almighty shall it come. Is not the meat cut off before our eyes, yea, joy and gladness from the house of our God? The seed is rotten under their clods, the garners are laid desolate, the barns are broken down; for the corn is withered. How do the beasts groan! the herds of cattle are perplexed, because they have no pasture; yea, the flocks of sheep are made desolate.

Hãy thắt lưng và than khóc, hỡi các thầy tế lễ; hãy kêu la, hỡi những người phục vụ bàn thờ; hãy đến, mặc bao gai nằm suốt đêm, hỡi các tôi tớ của Đức Chúa Trời ta; vì của lễ chay và của lễ quán đã bị cất khỏi nhà của Đức Chúa Trời các ngươi. Hãy thánh hóa một kỳ kiêng ăn, triệu tập một buổi nhóm trọng thể, nhóm các trưởng lão và hết thảy dân cư trong xứ lại tại nhà của Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, và kêu cầu Đức Giê-hô-va: Khốn thay cho ngày ấy! Vì ngày của Đức Giê-hô-va đã gần, và sẽ đến như sự hủy diệt từ Đấng Toàn Năng. Há chẳng phải lương thực đã bị cắt đứt trước mắt chúng ta, và sự vui mừng cùng hoan lạc khỏi nhà của Đức Chúa Trời chúng ta sao? Hạt giống đã mục nát dưới những tảng đất, các kho lẫm trở nên hoang vu, các vựa lúa bị đổ nát; vì lúa đã khô héo. Muông thú kêu rên biết bao! Đàn bò hoang mang, vì không có đồng cỏ; thật vậy, các bầy chiên cũng lâm cảnh tiêu điều.

O Lord, to thee will I cry: for the fire hath devoured the pastures of the wilderness, and the flame hath burned all the trees of the field. The beasts of the field cry also unto thee: for the rivers of waters are dried up, and the fire hath devoured the pastures of the wilderness. Joel 1:1–20.

Lạy Chúa, con sẽ kêu cầu cùng Ngài, vì lửa đã thiêu hủy đồng cỏ nơi đồng vắng, và ngọn lửa đã đốt cháy mọi cây ngoài đồng. Thú đồng cũng kêu cầu cùng Ngài, vì các dòng nước đã cạn khô, và lửa đã thiêu hủy đồng cỏ nơi đồng vắng. Giô-ên 1:1-20.

The first chapter of Joel is addressing the destruction of God’s vineyard. Isaiah establishes “that day” as the day when the latter rain begins, for the plants on that day begin to blossom and bud. The fact that Isaiah informs us that God’s people will “take root,” “blossom and bud” and fill the earth with “fruit” is illustrating a progressive history of three steps. A plant takes “root” in the ground. To “take root” therefore means to stand upon the ground, which is the ground floor or the foundation. Those who “come out of Jacob” “take root” and then they are called “Israel.” Those who come out of the Laodicean experience are then called Philadelphians, though to retain that experience requires victory in a testing process that ends at the Sunday law.

Chương đầu của sách Giô-ên bàn về sự hủy diệt vườn nho của Đức Chúa Trời. Ê-sai xác định “ngày đó” là ngày mưa muộn bắt đầu, vì vào ngày ấy cây cối bắt đầu trổ hoa và nảy chồi. Việc Ê-sai cho chúng ta biết rằng dân sự của Đức Chúa Trời sẽ “đâm rễ”, “trổ hoa và nảy chồi” và làm đầy đất bằng “bông trái” minh họa một lịch sử tiến triển gồm ba bước. Một cây “đâm rễ” trong đất. Vì vậy, “đâm rễ” nghĩa là đứng trên mặt đất, tức là nền tảng. Những người “ra từ Gia-cốp” thì “đâm rễ”, và rồi họ được gọi là “Y-sơ-ra-ên”. Những người ra khỏi kinh nghiệm Lao-đi-xê thì được gọi là Phi-la-đen-phi, tuy nhiên để giữ được kinh nghiệm ấy cần có chiến thắng trong một tiến trình thử nghiệm kết thúc với luật ngày Chủ nhật.

The prophetic relationship of Jacob, (the supplanter) and Israel, (the overcomer) is identifying that at 9/11 those who “take root” by returning to the foundations, there and then enter into a covenant relationship. Prophetically a change of name is a symbol of a covenant, as represented by Abram to Abraham, Sarai to Sarah, Jacob to Israel and others. In the verse those who returned to the old foundational truths at 9/11 entered into a covenant relationship as the rain began to produce blossoms and buds. At the Sunday law the whole world will be filled with “fruit” as the rain is then poured out without measure.

Mối quan hệ mang tính tiên tri giữa Gia-cốp (kẻ chiếm đoạt) và Y-sơ-ra-ên (người chiến thắng) cho thấy rằng vào 9/11, những người "đâm rễ" bằng cách trở về với những nền tảng ban đầu, ngay khi ấy bước vào một mối quan hệ giao ước. Theo nghĩa tiên tri, việc đổi tên là một biểu tượng của giao ước, như được thể hiện qua Áp-ram thành Áp-ra-ham, Sa-rai thành Sa-ra, Gia-cốp thành Y-sơ-ra-ên và những người khác. Trong câu ấy, những người trở về với các lẽ thật nền tảng xưa vào 9/11 đã bước vào mối quan hệ giao ước khi mưa bắt đầu làm nở hoa và đâm chồi. Vào thời điểm đạo luật Chủ nhật, cả thế giới sẽ tràn đầy "trái" khi mưa lúc ấy được tuôn đổ không hạn chế.

Isaiah must agree with Isaiah, and of course all the other prophets, but Isaiah is to lift up his voice like a trumpet and show Laodicean Seventh-day Adventists their sins in the context of the song of the vineyard. That song was sung by Jesus in the parable of the vineyard. The vineyard caused him to weep as He for the last time before the cross looked out over Jerusalem; knowing ancient Israel had reached the end of their probationary period and were being passed by as God’s covenant people. Simultaneously Christ was entering into a covenant with a people who would bring forth the appropriate fruits from God’s vineyard. Whether the vineyard story of Joshua at the beginning or of Jesus at the end those who became the new covenant people typified the one hundred and forty-four thousand.

Isaiah phải đồng ý với Isaiah, và dĩ nhiên với tất cả các nhà tiên tri khác, nhưng Isaiah phải cất tiếng như tiếng kèn và chỉ cho những người Cơ Đốc Phục Lâm Ngày Thứ Bảy thuộc Laodicea thấy tội lỗi của họ trong bối cảnh bài ca về vườn nho. Bài ca đó đã được Jesus hát trong dụ ngôn về vườn nho. Vườn nho ấy khiến Ngài khóc khi Ngài, lần cuối cùng trước thập tự giá, nhìn ra Jerusalem; biết rằng Israel cổ đại đã đến cuối thời kỳ thử thách của họ và đang bị bỏ qua với tư cách là dân giao ước của Đức Chúa Trời. Đồng thời, Christ đang bước vào một giao ước với một dân sẽ kết ra những hoa trái thích hợp từ vườn nho của Đức Chúa Trời. Dù là câu chuyện vườn nho của Joshua ở lúc khởi đầu hay của Jesus ở cuối cùng, những người trở thành dân giao ước mới đã tiêu biểu cho một trăm bốn mươi bốn nghìn.

Christ spoke of Isaiah’s vineyard prophecy, as does Sister White.

Chúa Giê-su đã nói về lời tiên tri về vườn nho của Ê-sai, và Bà White cũng vậy.

“The parable of the vineyard applies not alone to the Jewish nation. It has a lesson for us. The church in this generation has been endowed by God with great privileges and blessings, and He expects corresponding returns.” Christ Object Lessons, 296.

Dụ ngôn về vườn nho không chỉ áp dụng cho dân tộc Do Thái. Nó có một bài học cho chúng ta. Hội thánh trong thế hệ này đã được Đức Chúa Trời ban cho nhiều đặc ân và phước lành lớn lao, và Ngài mong đợi những hoa lợi tương xứng. Christ Object Lessons, 296.

It is instructive to read the passage which leads to the last statement from the Spirit of Prophecy.

Thật bổ ích khi đọc đoạn văn dẫn đến lời tuyên bố cuối cùng của Thần Linh của Lời Tiên Tri.

“Chapter 23—The Lord’s Vineyard

Chương 23 - Vườn nho của Chúa

“The Jewish Nation

Dân tộc Do Thái

“The parable of the two sons was followed by the parable of the vineyard. In the one, Christ had set before the Jewish teachers the importance of obedience. In the other, He pointed to the rich blessings bestowed upon Israel, and in these showed God’s claim to their obedience. He set before them the glory of God’s purpose, which through obedience they might have fulfilled. Withdrawing the veil from the future, He showed how, by failure to fulfill His purpose, the whole nation was forfeiting His blessing, and bringing ruin upon itself.

Dụ ngôn về hai người con được tiếp nối bằng dụ ngôn về vườn nho. Trong dụ ngôn thứ nhất, Đấng Christ đã đặt trước mắt các thầy dạy của người Do Thái tầm quan trọng của sự vâng phục. Còn trong dụ ngôn kia, Ngài chỉ ra những phước lành dồi dào đã được ban cho Israel, và qua đó cho thấy đòi hỏi của Đức Chúa Trời đối với sự vâng phục của họ. Ngài đặt trước họ vinh quang trong mục đích của Đức Chúa Trời, mà qua sự vâng phục họ có thể đã hoàn thành. Vén màn tương lai, Ngài cho thấy rằng vì không chu toàn mục đích của Ngài, cả dân tộc đang đánh mất phước lành của Ngài và tự chuốc lấy sự diệt vong cho chính mình.

“‘There was a certain householder,’ Christ said, ‘which planted a vineyard, and hedged it round about, and digged a winepress in it, and built a tower, and let it out to husbandmen, and went into a far country.’

'Có một gia chủ kia,' Đức Kitô nói, 'đã trồng một vườn nho, rào giậu chung quanh, đào một hầm ép nho trong đó, xây một cái tháp, cho các tá điền thuê, rồi đi đến một xứ xa.'

A description of this vineyard is given by the prophet Isaiah: ‘Now will I sing to my wellbeloved a song of my beloved touching His vineyard. My wellbeloved hath a vineyard in a very fruitful hill; and He fenced it, and gathered out the stones thereof, and planted it with the choicest vine, and built a tower in the midst of it, and also made a winepress therein; and He looked that it should bring forth grapes.’ Isaiah 5:1, 2.

Tiên tri Ê-sai đã mô tả vườn nho này như sau: 'Bây giờ ta sẽ hát cho người yêu dấu của ta một bài ca về vườn nho của người yêu dấu ta. Người yêu dấu của ta có một vườn nho trên một đồi rất phì nhiêu; Ngài đã rào nó lại, dọn sạch đá, trồng vào đó giống nho chọn lọc, dựng một tháp ở giữa nó, và cũng làm một bồn ép rượu trong đó; rồi Ngài trông đợi nó sinh ra nho.' Ê-sai 5:1, 2.

“The husbandman chooses a piece of land from the wilderness; he fences, clears, and tills it, and plants it with choice vines, expecting a rich harvest. This plot of ground, in its superiority to the uncultivated waste, he expects to do him honor by showing the results of his care and toil in its cultivation. So God had chosen a people from the world to be trained and educated by Christ. The prophet says, ‘The vineyard of the Lord of hosts is the house of Israel, and the men of Judah His pleasant plant.’ Isaiah 5:7. Upon this people God had bestowed great privileges, blessing them richly from His abundant goodness. He looked for them to honor Him by yielding fruit. They were to reveal the principles of His kingdom. In the midst of a fallen, wicked world they were to represent the character of God.

Người trồng nho chọn một mảnh đất giữa chốn hoang vu; ông rào lại, phát quang, cày xới, và trồng vào đó những giống nho tuyển chọn, mong đợi một vụ mùa bội thu. Mảnh đất ấy, vì vượt trội so với vùng hoang hóa chưa được canh tác, ông kỳ vọng sẽ mang lại danh dự cho mình bằng cách phô bày kết quả của sự chăm sóc và lao nhọc ông đã bỏ ra trong việc canh tác. Cũng vậy, Đức Chúa Trời đã chọn một dân từ giữa thế gian để được Đấng Christ rèn luyện và dạy dỗ. Nhà tiên tri nói: “Vườn nho của Đức Giê-hô-va vạn quân là nhà Israel, và người Giu-đa là cây trồng Ngài ưa thích.” Ê-sai 5:7. Trên dân này, Đức Chúa Trời đã ban cho những đặc ân lớn lao, tuôn đổ cho họ phước lành dồi dào từ lòng nhân lành dư dật của Ngài. Ngài mong họ tôn vinh Ngài bằng việc kết trái. Họ phải bày tỏ các nguyên tắc của Nước Ngài. Giữa một thế giới sa ngã và gian ác, họ phải bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời.

“As the Lord’s vineyard they were to produce fruit altogether different from that of the heathen nations. These idolatrous peoples had given themselves up to work wickedness. Violence and crime, greed, oppression, and the most corrupt practices, were indulged without restraint. Iniquity, degradation, and misery were the fruits of the corrupt tree. In marked contrast was to be the fruit borne on the vine of God’s planting.

Là vườn nho của Chúa, họ phải sinh bông trái hoàn toàn khác với các dân ngoại. Những dân tộc thờ hình tượng này đã phó mình làm điều gian ác. Bạo lực và tội ác, tham lam, áp bức, cùng những hành vi bại hoại nhất, đều được dung túng không hề kiềm chế. Sự gian ác, sa đọa và khốn khổ là bông trái của cây hư hoại. Trái lại, bông trái kết ra trên cây nho do Đức Chúa Trời trồng phải khác hẳn.

“It was the privilege of the Jewish nation to represent the character of God as it had been revealed to Moses. In answer to the prayer of Moses, ‘Show me Thy glory,’ the Lord promised, ‘I will make all My goodness pass before thee.’ Exodus 33:18, 19. ‘And the Lord passed by before him, and proclaimed, The Lord, the Lord God, merciful and gracious, longsuffering, and abundant in goodness and truth, keeping mercy for thousands, forgiving iniquity and transgression and sin.’ Exodus 34:6, 7. This was the fruit that God desired from His people. In the purity of their characters, in the holiness of their lives, in their mercy and loving-kindness and compassion, they were to show that ‘the law of the Lord is perfect, converting the soul.’ Psalm 19:7.

Đặc ân của dân tộc Do Thái là bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời như đã được tỏ ra cho Môi-se. Đáp lại lời cầu nguyện của Môi-se, “Xin cho tôi xem vinh hiển của Ngài,” Chúa đã hứa: “Ta sẽ khiến mọi sự nhân lành của Ta đi qua trước mặt ngươi.” Xuất Ê-díp-tô Ký 33:18, 19. “Và Đức Giê-hô-va đi ngang qua trước mặt người và công bố: Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, hay thương xót và nhân từ, chậm nóng giận và dồi dào sự nhân lành cùng lẽ thật, giữ sự nhân từ cho đến ngàn đời, tha sự gian ác, sự vi phạm và tội lỗi.” Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6, 7. Đây là bông trái mà Đức Chúa Trời mong muốn nơi dân Ngài. Bằng sự trong sạch trong tính cách của họ, sự thánh khiết trong đời sống của họ, lòng thương xót, nhân ái và lòng trắc ẩn của họ, họ phải cho thấy rằng “luật pháp của Chúa là trọn vẹn, biến đổi linh hồn.” Thi Thiên 19:7.

“Through the Jewish nation it was God’s purpose to impart rich blessings to all peoples. Through Israel the way was to be prepared for the diffusion of His light to the whole world. The nations of the world, through following corrupt practices, had lost the knowledge of God. Yet in His mercy God did not blot them out of existence. He purposed to give them opportunity for becoming acquainted with Him through His church. He designed that the principles revealed through His people should be the means of restoring the moral image of God in man.

Qua dân tộc Do Thái, mục đích của Đức Chúa Trời là ban những phước lành dồi dào cho muôn dân. Qua Israel, con đường để ánh sáng của Ngài lan tỏa ra khắp thế giới sẽ được chuẩn bị. Các dân tộc trên thế giới, vì chạy theo những tập tục bại hoại, đã đánh mất sự nhận biết về Đức Chúa Trời. Tuy vậy, bởi lòng thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời đã không tiêu diệt họ. Ngài đã định cho họ có cơ hội để biết Ngài qua Hội Thánh của Ngài. Ngài định rằng những nguyên tắc được bày tỏ qua dân Ngài sẽ là phương tiện để phục hồi hình ảnh đạo đức của Đức Chúa Trời trong con người.

It was for the accomplishment of this purpose that God called Abraham out from his idolatrous kindred and bade him dwell in the land of Canaan. ‘I will make of thee a great nation,’ He said, ‘and I will bless thee, and make thy name great; and thou shalt be a blessing.’ Genesis 12:2.

"Chính để hoàn thành mục đích này mà Đức Chúa Trời đã gọi Áp-ra-ham ra khỏi dòng họ thờ thần tượng của ông và truyền cho ông ở trong xứ Ca-na-an. 'Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn,' Ngài phán, 'và Ta sẽ ban phước cho ngươi, và làm cho danh ngươi nên lớn; và ngươi sẽ trở thành một nguồn phước.' Sáng-thế Ký 12:2."

“The descendants of Abraham, Jacob and his posterity, were brought down to Egypt that in the midst of that great and wicked nation they might reveal the principles of God’s kingdom. The integrity of Joseph and his wonderful work in preserving the lives of the whole Egyptian people were a representation of the life of Christ. Moses and many others were witnesses for God.

Con cháu của Áp-ra-ham—tức Gia-cốp và dòng dõi ông—đã được đưa xuống Ai Cập để họ, giữa lòng dân tộc lớn và gian ác ấy, có thể bày tỏ những nguyên tắc của vương quốc Đức Chúa Trời. Đức chính trực của Giô-sép và công việc kỳ diệu của ông trong việc giữ gìn sự sống cho toàn dân Ai Cập là một hình bóng về đời sống của Đấng Christ. Môi-se và nhiều người khác là những nhân chứng cho Đức Chúa Trời.

“In bringing forth Israel from Egypt, the Lord again manifested His power and His mercy. His wonderful works in their deliverance from bondage and His dealings with them in their travels through the wilderness were not for their benefit alone. These were to be as an object lesson to the surrounding nations. The Lord revealed Himself as a God above all human authority and greatness. The signs and wonders He wrought in behalf of His people showed His power over nature and over the greatest of those who worshiped nature. God went through the proud land of Egypt as He will go through the earth in the last days. With fire and tempest, earthquake and death, the great I AM redeemed His people. He took them out of the land of bondage. He led them through the ‘great and terrible wilderness, wherein were fiery serpents, and scorpions, and drought.’ Deuteronomy 8:15. He brought them forth water out of ‘the rock of flint,’ and fed them with ‘the corn of heaven.’ Psalm 78:24. ‘For,’ said Moses, ‘the Lord’s portion is His people; Jacob is the lot of His inheritance. He found him in a desert land, and in the waste howling wilderness; He led him about, He instructed him, He kept him as the apple of His eye. As an eagle stirreth up her nest, fluttereth over her young, spreadeth abroad her wings, taketh them, beareth them on her wings: so the Lord alone did lead him, and there was no strange God with him.’ Deuteronomy 32:9–12. Thus He brought them unto Himself, that they might dwell as under the shadow of the Most High.

Khi đưa dân Israel ra khỏi Ai Cập, Chúa lại bày tỏ quyền năng và lòng thương xót của Ngài. Những công việc lạ lùng Ngài đã làm để giải cứu họ khỏi ách nô lệ và sự đối đãi của Ngài với họ trong cuộc hành trình qua đồng vắng không phải chỉ vì lợi ích riêng của họ. Những điều ấy nhằm làm một bài học cho các dân tộc chung quanh. Chúa bày tỏ chính Ngài là Đức Chúa Trời vượt trên mọi thẩm quyền và sự vĩ đại của loài người. Những dấu kỳ phép lạ Ngài thực hiện vì dân Ngài đã cho thấy quyền năng của Ngài trên thiên nhiên và trên những kẻ quyền thế nhất trong số những người thờ lạy thiên nhiên. Đức Chúa Trời đã đi qua xứ Ai Cập kiêu ngạo như Ngài sẽ đi qua khắp đất trong những ngày sau rốt. Bằng lửa và bão tố, động đất và sự chết, Đấng Ta Là vĩ đại đã chuộc dân Ngài. Ngài đưa họ ra khỏi xứ nô lệ. Ngài dẫn họ đi qua “đồng vắng lớn và đáng sợ, nơi có rắn lửa, bò cạp và hạn hán.” Phục truyền Luật lệ Ký 8:15. Ngài khiến “từ hòn đá lửa” chảy ra nước cho họ, và nuôi họ bằng “lương thực của trời.” Thi Thiên 78:24. “Vì,” Môi-se nói, “phần cơ nghiệp của Chúa là dân Ngài; Gia-cốp là phần định của cơ nghiệp Ngài. Ngài tìm gặp người trong đất hoang mạc, trong chốn đồng vắng hoang vu gào rít; Ngài dẫn dắt người, Ngài dạy dỗ người, Ngài gìn giữ người như con ngươi mắt Ngài. Như chim ưng khuấy tổ, bay lượn trên con mình, xòe cánh ra, đỡ chúng, cõng chúng trên cánh: thì Chúa một mình đã dẫn dắt người, chẳng có thần lạ nào ở cùng người.” Phục truyền Luật lệ Ký 32:9-12. Như vậy, Ngài đã đưa họ đến với chính Ngài, để họ có thể ở như dưới bóng của Đấng Tối Cao.

“Christ was the leader of the children of Israel in their wilderness wanderings. Enshrouded in the pillar of cloud by day and the pillar of fire by night, He led and guided them. He preserved them from the perils of the wilderness, He brought them into the land of promise, and in the sight of all the nations that acknowledged not God He established Israel as His own chosen possession, the Lord’s vineyard.

Chúa Kitô là vị lãnh đạo của con cái Israel trong những cuộc lang thang nơi hoang mạc của họ. Ngài hiện diện trong trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm, dẫn dắt và hướng dẫn họ. Ngài gìn giữ họ khỏi những hiểm nguy của hoang mạc, đưa họ vào đất hứa, và trước mắt mọi dân tộc không nhận biết Thiên Chúa, Ngài đã thiết lập Israel làm dân riêng được Ngài tuyển chọn, vườn nho của Chúa.

To this people were committed the oracles of God. They were hedged about by the precepts of His law, the everlasting principles of truth, justice, and purity. Obedience to these principles was to be their protection, for it would save them from destroying themselves by sinful practices. And as the tower in the vineyard, God placed in the midst of the land His holy temple.

Những lời phán của Đức Chúa Trời đã được giao phó cho dân này. Họ được bao bọc bởi những điều răn của luật pháp Ngài, những nguyên tắc vĩnh cửu của lẽ thật, công lý và sự thanh khiết. Sự vâng phục những nguyên tắc này sẽ là sự bảo vệ của họ, vì điều đó sẽ cứu họ khỏi việc tự hủy diệt mình bởi những hành vi tội lỗi. Và như tháp canh trong vườn nho, Đức Chúa Trời đã đặt đền thánh của Ngài ở giữa xứ.

“Christ was their instructor. As He had been with them in the wilderness, so He was still to be their teacher and guide. In the tabernacle and the temple His glory dwelt in the holy shekinah above the mercy seat. In their behalf He constantly manifested the riches of His love and patience.

Đấng Christ là Thầy dạy của họ. Như khi Ngài đã ở cùng họ trong đồng vắng, Ngài vẫn sẽ là Thầy dạy và Đấng hướng dẫn của họ. Trong Đền tạm và Đền thờ, vinh quang của Ngài ngự trong shekinah thánh phía trên nắp thi ân. Vì họ, Ngài không ngừng bày tỏ sự phong phú của tình yêu thương và lòng nhẫn nại của Ngài.

“God desired to make of His people Israel a praise and a glory. Every spiritual advantage was given them. God withheld from them nothing favorable to the formation of character that would make them representatives of Himself.

Đức Chúa Trời muốn làm cho dân Israel của Ngài trở nên sự ngợi khen và vinh hiển. Mọi đặc ân thuộc linh đều đã được ban cho họ. Đức Chúa Trời không giữ lại điều gì có lợi cho việc hình thành phẩm cách để khiến họ trở thành những đại diện của chính Ngài.

“Their obedience to the law of God would make them marvels of prosperity before the nations of the world. He who could give them wisdom and skill in all cunning work would continue to be their teacher, and would ennoble and elevate them through obedience to His laws. If obedient, they would be preserved from the diseases that afflicted other nations, and would be blessed with vigor of intellect. The glory of God, His majesty and power, were to be revealed in all their prosperity. They were to be a kingdom of priests and princes. God furnished them with every facility for becoming the greatest nation on the earth.

Sự vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời sẽ khiến họ trở thành những kỳ tích về sự thịnh vượng trước các dân tộc trên thế giới. Đấng có thể ban cho họ sự khôn ngoan và kỹ năng trong mọi công việc khéo léo sẽ tiếp tục là Thầy của họ, và sẽ làm cho họ trở nên cao quý và được nâng lên thông qua sự vâng phục luật pháp của Ngài. Nếu vâng phục, họ sẽ được gìn giữ khỏi các bệnh tật đã hoành hành các dân tộc khác, và sẽ được ban phước với sinh lực trí tuệ. Vinh quang của Đức Chúa Trời, oai nghi và quyền năng của Ngài, sẽ được bày tỏ trong mọi sự thịnh vượng của họ. Họ sẽ là một vương quốc của các thầy tế lễ và các vương tử. Đức Chúa Trời đã cung cấp cho họ mọi điều kiện để trở thành dân tộc vĩ đại nhất trên đất.

“In the most definite manner Christ through Moses had set before them God’s purpose, and had made plain the terms of their prosperity. ‘Thou art an holy people unto the Lord thy God,’ He said; ‘the Lord thy God hath chosen thee to be a special people unto Himself, above all people that are upon the face of the earth…. Know therefore that the Lord thy God, He is God, the faithful God, which keepeth covenant and mercy with them that love Him and keep His commandments to a thousand generations…. Thou shalt therefore keep the commandments, and the statutes, and the judgments, which I command thee this day, to do them. Wherefore it shall come to pass, if ye hearken to these judgments, and keep, and do them, that the Lord thy God shall keep unto thee the covenant and the mercy which He sware unto thy fathers; and He will love thee, and bless thee, and multiply thee: He will also bless the fruit of thy womb, and the fruit of thy land, thy corn, and thy wine, and thine oil, the increase of thy kine, and the flocks of thy sheep, in the land which He sware unto thy fathers to give thee. Thou shalt be blessed above all people…. And the Lord will take away from thee all sickness, and will put none of the evil diseases of Egypt, which thou knowest, upon thee.’ Deuteronomy 7:6, 9, 11–15.

"Với cách rõ ràng nhất, Đấng Christ qua Môi-se đã trình bày trước họ mục đích của Đức Chúa Trời và làm sáng tỏ các điều kiện cho sự thịnh vượng của họ. 'Ngươi là một dân thánh thuộc về Chúa, Đức Chúa Trời của ngươi,' Ngài phán; 'Chúa, Đức Chúa Trời của ngươi, đã chọn ngươi làm một dân đặc biệt thuộc về chính Ngài, trên hết mọi dân trên mặt đất.... Vậy hãy biết rằng Chúa, Đức Chúa Trời của ngươi, chính Ngài là Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời thành tín, Đấng giữ giao ước và tỏ lòng thương xót với những kẻ yêu mến Ngài và giữ các điều răn của Ngài đến ngàn đời.... Vì vậy, ngươi phải giữ các điều răn, các luật lệ và các phán định mà hôm nay ta truyền cho ngươi, để làm theo. Do đó, sẽ xảy ra rằng, nếu các ngươi lắng nghe những phán định này, gìn giữ và làm theo, thì Chúa, Đức Chúa Trời của ngươi, sẽ giữ với ngươi giao ước và lòng thương xót mà Ngài đã thề với tổ phụ ngươi; và Ngài sẽ yêu thương ngươi, ban phước cho ngươi, và làm cho ngươi gia tăng đông đúc: Ngài cũng sẽ ban phước cho hoa trái của lòng dạ ngươi, hoa lợi của đất đai ngươi, ngũ cốc, rượu và dầu của ngươi, sự sinh sản của bò cái và bầy chiên của ngươi, trong xứ mà Ngài đã thề ban cho tổ phụ ngươi để ban cho ngươi. Ngươi sẽ được phước hơn hết thảy mọi dân.... Và Chúa sẽ cất khỏi ngươi mọi bệnh tật, không giáng trên ngươi những bệnh ác nghiệt của Ai Cập, mà ngươi biết.' Phục Truyền Luật Lệ Ký 7:6, 9, 11-15."

“If they would keep His commandments, God promised to give them the finest of the wheat, and bring them honey out of the rock. With long life would He satisfy them, and show them His salvation.

Nếu họ giữ các điều răn của Ngài, Đức Chúa Trời đã hứa sẽ ban cho họ lúa mì tốt nhất và đem cho họ mật ong từ trong đá. Ngài sẽ làm thỏa lòng họ bằng một đời sống dài lâu và tỏ cho họ thấy sự cứu rỗi của Ngài.

“Through disobedience to God, Adam and Eve had lost Eden, and because of sin the whole earth was cursed. But if God’s people followed His instruction, their land would be restored to fertility and beauty. God Himself gave them directions in regard to the culture of the soil, and they were to co-operate with Him in its restoration. Thus the whole land, under God’s control, would become an object lesson of spiritual truth. As in obedience to His natural laws the earth should produce its treasures, so in obedience to His moral law the hearts of the people were to reflect the attributes of His character. Even the heathen would recognize the superiority of those who served and worshiped the living God.

Vì không vâng lời Đức Chúa Trời, A-đam và Ê-va đã mất vườn Ê-đen, và vì tội lỗi nên cả trái đất đã bị nguyền rủa. Nhưng nếu dân sự của Đức Chúa Trời làm theo sự chỉ dạy của Ngài, đất đai của họ sẽ được phục hồi sự phì nhiêu và vẻ đẹp. Chính Đức Chúa Trời đã ban cho họ những chỉ dẫn về việc canh tác đất đai, và họ phải hiệp tác với Ngài trong việc phục hồi nó. Như vậy, cả xứ, dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời, sẽ trở thành một bài học trực quan về lẽ thật thuộc linh. Cũng như khi vâng theo các luật tự nhiên của Ngài, đất sẽ sinh ra hoa lợi của mình, thì khi vâng theo luật đạo đức của Ngài, lòng dân sẽ phản chiếu những phẩm tính trong bản tánh của Ngài. Ngay cả dân ngoại cũng sẽ nhận ra sự ưu việt của những người phục vụ và thờ phượng Đức Chúa Trời hằng sống.

“‘Behold,’ said Moses, ‘I have taught you statutes and judgments, even as the Lord my God commanded me, that ye should do so in the land whither ye go to possess it. Keep therefore and do them; for this is your wisdom and your understanding in the sight of the nations, which shall hear all these statutes, and say, Surely this great nation is a wise and understanding people. For what nation is there so great, who hath God so nigh unto them, as the Lord our God is in all things that we call upon Him for? And what nation is there so great, that hath statutes and judgments so righteous as all this law, which I set before you this day?’ Deuteronomy 4:5–8.

“Kìa,” Môi-se nói, “ta đã dạy các ngươi các luật lệ và phán quyết, theo như Chúa, là Đức Chúa Trời của ta, đã truyền cho ta, để các ngươi làm như vậy trong xứ mà các ngươi sắp đi vào để chiếm hữu. Vậy hãy giữ và làm theo; vì ấy là sự khôn ngoan và sự hiểu biết của các ngươi trước mặt các dân, là những dân sẽ nghe biết mọi luật lệ này và nói: Chắc chắn dân lớn này là một dân khôn ngoan và thông sáng. Vì hỏi có dân tộc nào lớn đến thế, có Đức Chúa Trời ở gần mình như vậy, như Chúa, là Đức Chúa Trời chúng ta, ở gần chúng ta trong mọi điều chúng ta kêu cầu Ngài chăng? Và có dân tộc nào lớn đến thế, có những luật lệ và phán quyết công chính như cả bộ luật này, mà hôm nay ta đặt trước mặt các ngươi chăng?” Phục truyền Luật lệ Ký 4:5-8.

“The children of Israel were to occupy all the territory which God appointed them. Those nations that rejected the worship and service of the true God were to be dispossessed. But it was God’s purpose that by the revelation of His character through Israel men should be drawn unto Him. To all the world the gospel invitation was to be given. Through the teaching of the sacrificial service Christ was to be uplifted before the nations, and all who would look unto Him should live. All who, like Rahab the Canaanite, and Ruth the Moabitess, turned from idolatry to the worship of the true God, were to unite themselves with His chosen people. As the numbers of Israel increased they were to enlarge their borders, until their kingdom should embrace the world.

Con cái Israel phải chiếm hữu toàn bộ lãnh thổ mà Đức Chúa Trời đã chỉ định cho họ. Những dân tộc từ chối sự thờ phượng và phục vụ Đức Chúa Trời chân thật sẽ bị đuổi khỏi đất đai của họ. Nhưng mục đích của Đức Chúa Trời là, qua sự bày tỏ bản tính Ngài qua Israel, loài người sẽ được thu hút đến với Ngài. Lời mời gọi của Tin Lành phải được gửi đến khắp thế gian. Qua sự dạy dỗ về nghi thức tế lễ, Đấng Christ phải được tôn cao trước các dân tộc, và hết thảy những ai ngước nhìn lên Ngài sẽ được sống. Tất cả những ai, như Ra-háp người Ca-na-an và Ru-tơ người Mô-áp, từ bỏ thờ hình tượng để thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật, đều phải hiệp với dân được chọn của Ngài. Khi số dân Israel gia tăng, họ sẽ mở rộng bờ cõi, cho đến khi vương quốc của họ bao trùm cả thế giới.

“God desired to bring all peoples under His merciful rule. He desired that the earth should be filled with joy and peace. He created man for happiness, and He longs to fill human hearts with the peace of heaven. He desires that the families below shall be a symbol of the great family above.

Đức Chúa Trời muốn đưa mọi dân tộc vào dưới sự trị vì nhân từ của Ngài. Ngài muốn cho trái đất tràn đầy niềm vui và bình an. Ngài đã tạo dựng con người để hưởng hạnh phúc, và Ngài khao khát lấp đầy lòng người bằng sự bình an của thiên đàng. Ngài muốn cho các gia đình dưới trần trở thành biểu tượng của đại gia đình trên trời.

But Israel did not fulfill God’s purpose. The Lord declared, ‘I had planted thee a noble vine, wholly a right seed: how then art thou turned into the degenerate plant of a strange vine unto Me?’ Jeremiah 2:21. ‘Israel is an empty vine, he bringeth forth fruit unto himself.’ Hosea 10:1. ‘And now, O inhabitants of Jerusalem, and men of Judah, judge, I pray you, betwixt Me and My vineyard. What could have been done more to My vineyard, that I have not done in it? Wherefore when I looked that it should bring forth grapes, brought it forth wild grapes? And now go to; I will tell you what I will do to My vineyard: I will take away the hedge thereof, and it shall be eaten up; and break down the wall thereof, and it shall be trodden down: and I will lay it waste; it shall not be pruned nor digged; but there shall come up briers and thorns: I will also command the clouds that they rain no rain upon it. For … He looked for judgment, but behold oppression; for righteousness, but behold a cry.’ Isaiah 5:3–7.

Nhưng Y-sơ-ra-ên đã không làm trọn mục đích của Đức Chúa Trời. Chúa phán: "Ta đã trồng ngươi như một cây nho cao quý, hoàn toàn là giống ngay thẳng; sao ngươi lại hóa thành cây nho suy đồi, xa lạ đối với Ta?" Giê-rê-mi 2:21. "Y-sơ-ra-ên là cây nho rỗng không, nó kết trái cho chính mình." Ô-sê 10:1. "Và bây giờ, hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem và người Giu-đa, ta nài xin các ngươi, hãy xét xử giữa Ta và vườn nho của Ta. Còn điều gì có thể làm cho vườn nho Ta mà Ta chưa làm cho nó? Vì sao khi Ta trông mong nó kết nho, nó lại sinh nho dại? Bây giờ, nào; Ta sẽ cho các ngươi biết Ta sẽ làm gì cho vườn nho Ta: Ta sẽ dỡ bỏ hàng rào của nó, để nó bị ăn phá; sẽ phá đổ bức tường của nó, để nó bị giẫm đạp; Ta sẽ khiến nó nên hoang phế; nó sẽ không được tỉa cũng không được cuốc xới; nhưng gai góc và bụi rậm sẽ mọc lên; Ta cũng sẽ truyền cho mây đừng mưa xuống nó. Vì ... Ngài trông đợi công lý, nhưng kìa, áp bức; trông đợi công bình, nhưng kìa, tiếng kêu than." Ê-sai 5:3-7.

“The Lord had through Moses set before His people the result of unfaithfulness. By refusing to keep His covenant, they would cut themselves off from the life of God, and His blessing could not come upon them. ‘Beware,’ said Moses, ‘that thou forget not the Lord thy God, in not keeping His commandments, and His judgments, and His statutes, which I command thee this day: lest when thou hast eaten and art full, and hast built goodly houses, and dwelt therein; and when thy herds and thy flocks multiply, and thy silver and thy gold is multiplied, and all that thou hast is multiplied; then thine heart be lifted up, and thou forget the Lord thy God…. And thou say in thine heart, My power and the might of mine hand hath gotten me this wealth…. And it shall be, if thou do at all forget the Lord thy God, and walk after other gods, and serve them, and worship them, I testify against you this day that ye shall surely perish. As the nations which the Lord destroyeth before your face, so shall ye perish; because ye would not be obedient unto the voice of the Lord your God.’ Deuteronomy 8:11–14, 17, 19, 20.

Đức Giê-hô-va đã, qua Môi-se, cho dân Ngài thấy kết cục của sự bất trung. Bởi từ chối giữ giao ước của Ngài, họ tự tách mình khỏi sự sống của Đức Chúa Trời, và phước lành của Ngài không thể đến trên họ. “Hãy cẩn thận,” Môi-se nói, “chớ quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà không giữ các điều răn, các mệnh lệnh và các luật lệ của Ngài mà ta truyền cho ngươi ngày nay; kẻo khi ngươi đã ăn no nê, đã xây những nhà tốt đẹp và ở trong đó; và khi bầy bò và bầy chiên của ngươi thêm nhiều, bạc và vàng của ngươi được thêm nhiều, và mọi điều ngươi có đều thêm lên; thì lòng ngươi kiêu ngạo, và ngươi quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi... Và ngươi tự nói trong lòng: Quyền năng ta và sức mạnh tay ta đã làm cho ta được của cải này... Và sẽ xảy ra rằng, nếu ngươi quả thật quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, mà đi theo các thần khác, hầu việc chúng và thờ lạy chúng, thì hôm nay ta làm chứng nghịch cùng các ngươi rằng các ngươi chắc chắn sẽ bị diệt vong. Như các dân mà Đức Giê-hô-va diệt trước mặt các ngươi, các ngươi cũng sẽ diệt vong như vậy; vì các ngươi đã không vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.” Phục Truyền Luật Lệ Ký 8:11-14, 17, 19, 20.

The warning was not heeded by the Jewish people. They forgot God, and lost sight of their high privilege as His representatives. The blessings they had received brought no blessing to the world. All their advantages were appropriated for their own glorification. They robbed God of the service He required of them, and they robbed their fellow men of religious guidance and a holy example. Like the inhabitants of the antediluvian world, they followed out every imagination of their evil hearts. Thus they made sacred things appear a farce, saying, ‘The temple of the Lord, the temple of the Lord, are these’ (Jeremiah 7:4), while at the same time they were misrepresenting God’s character, dishonoring His name, and polluting His sanctuary.

Lời cảnh báo đã không được dân Do Thái lưu tâm. Họ quên Đức Chúa Trời và đánh mất ý thức về đặc ân cao cả của họ như những người đại diện của Ngài. Những phước lành họ đã nhận chẳng đem lại phước lành nào cho thế giới. Mọi ưu thế của họ đều được họ dành cho việc tự tôn vinh mình. Họ đã tước đoạt của Đức Chúa Trời sự hầu việc mà Ngài đòi hỏi nơi họ, và tước đoạt của đồng loại sự hướng dẫn thuộc linh cùng tấm gương thánh khiết. Giống như cư dân của thế giới tiền Hồng thủy, họ làm theo mọi ý định của lòng gian ác mình. Như vậy, họ khiến những điều thánh thiêng trở thành trò hề, nói rằng: “Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa, là đây” (Jeremiah 7:4), trong khi cùng lúc đó họ xuyên tạc bản tính của Đức Chúa Trời, làm ô danh Ngài, và làm ô uế đền thánh của Ngài.

“The husbandmen who had been placed in charge of the Lord’s vineyard were untrue to their trust. The priests and teachers were not faithful instructors of the people. They did not keep before them the goodness and mercy of God and His claim to their love and service. These husbandmen sought their own glory. They desired to appropriate the fruits of the vineyard. It was their study to attract attention and homage to themselves.

Những tá điền được đặt coi sóc vườn nho của Chúa đã không trung tín với sự ủy thác. Các thầy tế lễ và các thầy dạy luật đã không trung tín trong việc dạy dỗ dân chúng. Họ đã không luôn đặt trước mắt dân chúng lòng nhân từ và thương xót của Đức Chúa Trời, cùng quyền đòi hỏi của Ngài đối với tình yêu và sự phục vụ của họ. Những tá điền này tìm kiếm vinh quang cho riêng mình. Họ muốn chiếm đoạt hoa lợi của vườn nho. Họ chỉ lo tìm cách lôi kéo sự chú ý và lòng tôn kính về phía mình.

The guilt of these leaders in Israel was not like the guilt of the ordinary sinner. These men stood under the most solemn obligation to God. They had pledged themselves to teach a ‘Thus saith the Lord’ and to bring strict obedience into their practical life. Instead of doing this they were perverting the Scriptures. They laid heavy burdens upon men, enforcing ceremonies that reached to every step in life. The people lived in continual unrest, for they could not fulfill the requirements laid down by the rabbis. As they saw the impossibility of keeping man-made commandments, they became careless in regard to the commandments of God.

Tội lỗi của những người lãnh đạo này ở Israel không giống như tội lỗi của những tội nhân bình thường. Họ chịu ràng buộc bởi nghĩa vụ hệ trọng nhất trước mặt Đức Chúa Trời. Họ đã cam kết giảng dạy theo lời “Chúa phán như vầy” và đem sự vâng phục nghiêm ngặt vào đời sống thực hành của mình. Thay vì làm điều đó, họ lại xuyên tạc Kinh Thánh. Họ đặt những gánh nặng nặng nề lên người ta, áp đặt những nghi lễ chi phối mọi bước trong cuộc sống. Dân chúng sống trong cảnh bất an liên miên, vì họ không thể đáp ứng các yêu cầu do các thầy rabbi đặt ra. Khi thấy việc giữ các điều răn do loài người lập nên là điều không thể, họ trở nên xem nhẹ các điều răn của Đức Chúa Trời.

“The Lord had instructed His people that He was the owner of the vineyard, and that all their possessions were given them in trust to be used for Him. But the priests and teachers did not perform the work of their sacred office as if they were handling the property of God. They were systematically robbing Him of the means and facilities entrusted to them for the advancement of His work. Their covetousness and greed caused them to be despised even by the heathen. Thus the Gentile world was given occasion to misinterpret the character of God and the laws of His kingdom.

Đức Chúa Trời đã dạy dỗ dân Ngài rằng Ngài là chủ của vườn nho, và rằng mọi tài sản của họ đều được giao phó cho họ để dùng cho Ngài. Nhưng các thầy tế lễ và các thầy dạy đã không thi hành công việc của chức vụ thánh của mình như thể họ đang quản lý tài sản của Đức Chúa Trời. Họ đã, một cách có hệ thống, cướp đoạt của Ngài những nguồn lực và phương tiện đã được giao phó cho họ để mở mang công việc của Ngài. Tính tham lợi và lòng tham lam của họ khiến họ bị khinh bỉ ngay cả bởi dân ngoại. Vì thế, thế giới dân ngoại có cớ để hiểu sai về bản tánh của Đức Chúa Trời và luật pháp của vương quốc Ngài.

“With a father’s heart, God bore with His people. He pleaded with them by mercies given and mercies withdrawn. Patiently He set their sins before them, and in forbearance waited for their acknowledgment. Prophets and messengers were sent to urge God’s claim upon the husbandmen; but instead of being welcomed, they were treated as enemies. The husbandmen persecuted and killed them. God sent still other messengers, but they received the same treatment as the first, only that the husbandmen showed still more determined hatred.

Với tấm lòng của một người cha, Đức Chúa Trời đã nhẫn nại chịu đựng dân Ngài. Ngài khẩn thiết kêu gọi họ bằng những ơn thương xót được ban và những ơn thương xót bị rút lại. Ngài kiên nhẫn vạch ra tội lỗi của họ trước mắt họ, và trong sự khoan dung chờ đợi họ thừa nhận. Các nhà tiên tri và các sứ giả đã được sai đến để nhắc họ về quyền đòi của Đức Chúa Trời đối với các tá điền; nhưng thay vì được đón tiếp, họ bị xem như kẻ thù. Các tá điền bắt bớ và giết họ. Đức Chúa Trời lại sai những sứ giả khác, nhưng họ cũng bị đối xử như những người trước, chỉ có điều các tá điền bộc lộ lòng thù hận còn quyết liệt hơn.

“As a last resource, God sent His Son, saying, ‘They will reverence My Son.’ But their resistance had made them vindictive, and they said among themselves, ‘This is the heir; come, let us kill Him, and let us seize on His inheritance.’ We shall then be left to enjoy the vineyard, and to do as we please with the fruit.

"Như phương sách cuối cùng, Đức Chúa Trời sai Con của Ngài, phán: 'Họ sẽ kính nể Con Ta.' Nhưng sự chống đối đã khiến họ trở nên thù hằn, và họ bàn với nhau rằng, 'Đây là người thừa tự; nào, chúng ta hãy giết Ngài, và chiếm đoạt cơ nghiệp của Ngài.' Khi ấy chúng ta sẽ tha hồ hưởng vườn nho, và muốn làm gì thì làm với hoa lợi."

The Jewish rulers did not love God; therefore they cut themselves away from Him, and rejected all His overtures for a just settlement. Christ, the Beloved of God, came to assert the claims of the Owner of the vineyard; but the husbandmen treated Him with marked contempt, saying, We will not have this man to rule over us. They envied Christ’s beauty of character. His manner of teaching was far superior to theirs, and they dreaded His success. He remonstrated with them, unveiling their hypocrisy, and showing them the sure results of their course of action. This stirred them to madness. They smarted under the rebukes they could not silence. They hated the high standard of righteousness which Christ continually presented. They saw that His teaching was placing them where their selfishness would be uncloaked, and they determined to kill Him. They hated His example of truthfulness and piety and the elevated spirituality revealed in all He did. His whole life was a reproof to their selfishness, and when the final test came, the test which meant obedience unto eternal life or disobedience unto eternal death, they rejected the Holy One of Israel. When they were asked to choose between Christ and Barabbas, they cried out, ‘Release unto us Barabbas!’ Luke 23:18. And when Pilate asked, ‘What shall I do then with Jesus?’ they cried fiercely, ‘Let Him be crucified.’ Matthew 27:22. ‘Shall I crucify your King?’ Pilate asked, and from the priests and rulers came the answer, ‘We have no king but Caesar.’ John 19:15. When Pilate washed his hands, saying, ‘I am innocent of the blood of this just person,’ the priests joined with the ignorant mob in declaring passionately, ‘His blood be on us, and on our children.’ Matthew 27:24, 25.

Các nhà lãnh đạo Do Thái không yêu mến Đức Chúa Trời; vì thế họ tự tách mình khỏi Ngài, và khước từ mọi lời mời gọi của Ngài nhằm đi đến một sự dàn xếp công bình. Đấng Christ, Đấng Yêu Dấu của Đức Chúa Trời, đã đến để khẳng định quyền của Chủ vườn nho; nhưng các tá điền đối xử với Ngài bằng thái độ khinh bỉ lộ liễu, nói rằng: “Chúng tôi không muốn người này cai trị trên chúng tôi.” Họ ghen tị với vẻ đẹp trong phẩm cách của Đấng Christ. Cách dạy dỗ của Ngài vượt xa cách dạy dỗ của họ, và họ sợ hãi trước sự thành công của Ngài. Ngài đã trách bảo họ, vạch trần sự giả hình của họ, và chỉ cho họ thấy những kết quả chắc chắn của con đường họ đang theo. Điều này khiến họ nổi điên. Họ cay đắng trước những lời quở trách mà họ không thể làm cho im bặt. Họ ghét bỏ tiêu chuẩn công chính cao cả mà Đấng Christ liên tục nêu ra. Họ thấy rằng sự dạy dỗ của Ngài đang đặt họ vào chỗ lòng ích kỷ của họ sẽ bị lột trần, và họ quyết định giết Ngài. Họ ghét gương mẫu về sự chân thật và lòng đạo đức của Ngài, cùng đời sống thuộc linh cao thượng bày tỏ trong mọi việc Ngài làm. Cả đời sống của Ngài là một lời quở trách đối với tính ích kỷ của họ, và khi kỳ thử thách cuối cùng đến, một kỳ thử thách đồng nghĩa với vâng phục để được sự sống đời đời hay bất tuân dẫn đến sự chết đời đời, họ đã khước từ Đấng Thánh của Israel. Khi họ được yêu cầu chọn giữa Đấng Christ và Ba-ra-ba, họ kêu lên: “Hãy tha Ba-ra-ba cho chúng tôi!” Lu-ca 23:18. Và khi Phi-lát hỏi: “Vậy ta phải làm gì với Đức Chúa Jêsus?” họ gào thét: “Hãy đóng đinh Ngài vào thập tự giá.” Ma-thi-ơ 27:22. “Ta sẽ đóng đinh Vua các ngươi sao?” Phi-lát hỏi; và từ các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền vang lên câu đáp: “Chúng tôi không có vua nào ngoài Sê-sa.” Giăng 19:15. Khi Phi-lát rửa tay và nói: “Ta vô can về huyết của người công chính này,” các thầy tế lễ đã cùng với đám đông ngu muội kịch liệt tuyên bố: “Huyết của người ấy đổ trên chúng tôi và trên con cháu chúng tôi.” Ma-thi-ơ 27:24, 25.

“Thus the Jewish leaders made their choice. Their decision was registered in the book which John saw in the hand of Him that sat upon the throne, the book which no man could open. In all its vindictiveness this decision will appear before them in the day when this book is unsealed by the Lion of the tribe of Judah.

Vậy các lãnh đạo Do Thái đã đưa ra lựa chọn của mình. Quyết định của họ đã được ghi lại trong cuốn sách mà Giăng thấy trong tay Đấng ngự trên ngai, cuốn sách mà chẳng ai có thể mở. Với tất cả tính chất báo thù của nó, quyết định này sẽ hiện ra trước mặt họ vào ngày cuốn sách này được Sư Tử của chi phái Giu-đa mở ấn.

The Jewish people cherished the idea that they were the favorites of heaven, and that they were always to be exalted as the church of God. They were the children of Abraham, they declared, and so firm did the foundation of their prosperity seem to them that they defied earth and heaven to dispossess them of their rights. But by lives of unfaithfulness they were preparing for the condemnation of heaven and for separation from God.

Người Do Thái nuôi dưỡng ý nghĩ rằng họ là những kẻ được trời ưu ái, và rằng họ sẽ luôn được tôn cao như Hội Thánh của Thiên Chúa. Họ quả quyết mình là con cháu Ápraham, và nền tảng thịnh vượng của họ có vẻ vững chắc đến nỗi họ thách thức cả trời lẫn đất tước đoạt các quyền của họ. Nhưng bằng lối sống bất trung, họ đang tự chuẩn bị cho án phạt từ trời và cho sự lìa xa Thiên Chúa.

“In the parable of the vineyard, after Christ had portrayed before the priests their crowning act of wickedness, He put to them the question, ‘When the Lord therefore of the vineyard cometh, what will he do unto those husbandmen?’ The priests had been following the narrative with deep interest, and without considering the relation of the subject to themselves they joined with the people in answering, ‘He will miserably destroy those wicked men, and will let out His vineyard unto other husbandmen, which shall render Him the fruits in their seasons.’

Trong dụ ngôn về vườn nho, sau khi Đấng Christ đã mô tả trước các thầy tế lễ tội ác tột cùng của họ, Ngài đặt cho họ câu hỏi: "Vậy, khi chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì với những tá điền ấy?" Các thầy tế lễ đã theo dõi câu chuyện một cách hết sức chăm chú, và, không nghĩ đến sự liên hệ của điều ấy với chính mình, họ cùng với dân chúng đáp: "Ông sẽ diệt những kẻ gian ác ấy cách thảm khốc, và sẽ giao vườn nho của mình cho những tá điền khác, là những người sẽ nộp cho ông hoa lợi đúng mùa."

“Unwittingly they had pronounced their own doom. Jesus looked upon them, and under His searching gaze they knew that He read the secrets of their hearts. His divinity flashed out before them with unmistakable power. They saw in the husbandmen a picture of themselves, and they involuntarily exclaimed, ‘God forbid!’

Vô tình, họ đã tự tuyên án cho chính mình. Chúa Giê-xu nhìn họ, và dưới ánh nhìn thấu suốt của Ngài, họ biết rằng Ngài đọc được những điều kín giấu trong lòng họ. Thần tính của Ngài bừng lộ trước mặt họ với quyền năng không thể chối cãi. Họ nhận ra nơi những tá điền hình ảnh của chính mình, và họ buột miệng kêu lên: “Xin Đức Chúa Trời đừng để như vậy!”

“Solemnly and regretfully Christ asked, ‘Did ye never read in the scriptures, The stone which the builders rejected, the same is become the head of the corner; this is the Lord’s doing, and it is marvelous in our eyes? Therefore say I unto you, The kingdom of God shall be taken from you, and given to a nation bringing forth the fruits thereof. And whosoever shall fall on this stone shall be broken; but on whomsoever it shall fall, it will grind him to powder.’

"Với vẻ trang nghiêm và tiếc nuối, Đấng Christ hỏi, 'Các ngươi chưa từng đọc trong Kinh Thánh rằng: Hòn đá mà thợ xây loại bỏ, chính hòn đá ấy đã trở nên đá đầu góc; ấy là việc Chúa làm, và thật kỳ diệu trước mắt chúng ta sao? Vì vậy, Ta nói với các ngươi: Nước Đức Chúa Trời sẽ bị lấy khỏi các ngươi, và được ban cho một dân tộc sinh ra bông trái của Nước ấy. Và ai ngã trên hòn đá này sẽ bị vỡ tan; nhưng hễ ai bị nó rơi xuống, người ấy sẽ bị nghiền nát ra bột.'"

“Christ would have averted the doom of the Jewish nation if the people had received Him. But envy and jealousy made them implacable. They determined that they would not receive Jesus of Nazareth as the Messiah. They rejected the Light of the world, and thenceforth their lives were surrounded with darkness as the darkness of midnight. The doom foretold came upon the Jewish nation. Their own fierce passions, uncontrolled, wrought their ruin. In their blind rage they destroyed one another. Their rebellious, stubborn pride brought upon them the wrath of their Roman conquerors. Jerusalem was destroyed, the temple laid in ruins, and its site plowed like a field. The children of Judah perished by the most horrible forms of death. Millions were sold, to serve as bondmen in heathen lands.

Đấng Christ đã có thể ngăn chặn án diệt vong của dân tộc Do Thái nếu dân chúng tiếp nhận Ngài. Nhưng lòng ganh ghét và ghen tị khiến họ trở nên không khoan nhượng. Họ quyết định sẽ không tiếp nhận Giê-su người Na-xa-rét là Đấng Mê-si-a. Họ khước từ Ánh sáng của thế gian, và từ đó trở đi đời sống của họ bị bao phủ bởi bóng tối đen đặc như đêm khuya. Tai họa đã được tiên báo giáng xuống dân tộc Do Thái. Chính những dục vọng dữ dội, không được kiềm chế của họ đã đưa họ đến chỗ diệt vong. Trong cơn thịnh nộ mù quáng, họ tàn sát lẫn nhau. Sự kiêu ngạo phản nghịch, cứng cỏi của họ đã chuốc lấy cơn thịnh nộ của những kẻ chinh phục La Mã. Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, đền thờ bị biến thành đống đổ nát, và nơi ấy bị cày xới như một cánh đồng. Những người con của Giu-đa đã bỏ mạng theo những hình thức chết chóc khủng khiếp nhất. Hàng triệu người bị bán đi, phải làm nô lệ ở các miền đất ngoại giáo.

As a people the Jews had failed of fulfilling God’s purpose, and the vineyard was taken from them. The privileges they had abused, the work they had slighted, was entrusted to others.

Là một dân tộc, dân Do Thái đã không làm trọn mục đích của Thiên Chúa, và vườn nho đã bị lấy khỏi họ. Những đặc ân mà họ đã lạm dụng, công việc mà họ đã xem nhẹ, đã được giao phó cho những người khác.

The parable of the vineyard applies not alone to the Jewish nation. It has a lesson for us. The church in this generation has been endowed by God with great privileges and blessings, and He expects corresponding returns.” Christ’s Object Lessons. 284–296.

"Dụ ngôn về vườn nho không chỉ áp dụng cho dân tộc Do Thái. Nó có một bài học cho chúng ta. Hội thánh trong thế hệ này đã được Đức Chúa Trời ban cho những đặc ân và phước lành lớn lao, và Ngài trông đợi những kết quả tương xứng." Các Bài Học Minh Họa của Đấng Christ. 284-296.

The book of Joel identifies the history of the latter rain at the end of the world. The latter rain is God’s final warning message of the third angel of Revelation fourteen. Although the latter rain represents the message of the third angel, it also represents the communication process between Divinity and humanity as symbolized by Zechariah’s golden oil, the early and latter rains, the fire from the altar and other representations. The latter rain is not only a message, and the communication process between God and man, but it is also the only sanctified “methodology” of Bible study sustained in God’s Word. That methodology is Isaiah’s “line upon line” found in chapter twenty-eight.

Sách Giô-ên phác họa lịch sử của mưa cuối mùa vào thời kỳ tận cùng của thế gian. Mưa cuối mùa là sứ điệp cảnh cáo sau cùng của Đức Chúa Trời, tức sứ điệp của thiên sứ thứ ba trong Khải Huyền mười bốn. Mặc dù mưa cuối mùa tượng trưng cho sứ điệp của thiên sứ thứ ba, nó cũng tượng trưng cho tiến trình thông giao giữa Thần Tính và nhân loại, được biểu trưng bởi dầu vàng của Xa-cha-ri, mưa đầu mùa và mưa cuối mùa, lửa từ bàn thờ, và các biểu tượng khác. Mưa cuối mùa không chỉ là một sứ điệp và là tiến trình thông giao giữa Đức Chúa Trời và loài người, nhưng còn là “phương pháp” duy nhất đã được thánh hóa cho việc nghiên cứu Kinh Thánh, được Lời Đức Chúa Trời minh chứng. Phương pháp ấy là “dòng trên dòng” của Ê-sai, được nêu trong chương hai mươi tám.

At the beginning of ancient and also modern Israel, God, “the husbandman” brought Israel “from the wilderness.” Whether the captivity of four hundred and thirty years captivity in Egypt or the captivity of the Dark Ages from 538 unto 1798, Israel was taken out of “the wilderness,” for a “wilderness” is a symbol of slavery and captivity. Whether ancient literal Israel or modern spiritual Israel God delivered them out of a wilderness captivity and “established” them “as His own chosen possession, the Lord’s vineyard” called to be priests and princes who “were committed” with the privilege of representing “the oracles of God.” The “oracles” for ancient Israel being the Law and to modern Israel being both the Law and the prophecies.

Ngay từ buổi đầu của Israel thời cổ cũng như thời hiện đại, Đức Chúa Trời, "người trồng nho", đã đem Israel "ra khỏi đồng vắng." Dù là cảnh lưu đày bốn trăm ba mươi năm tại Ai Cập hay cảnh giam cầm trong Thời Kỳ Tăm Tối từ năm 538 đến 1798, Israel đã được đưa ra khỏi "đồng vắng", vì "đồng vắng" là biểu tượng của nô lệ và giam cầm. Dù là Israel xưa hay Israel thuộc linh thời nay, Đức Chúa Trời đã giải cứu họ khỏi cảnh lưu đày nơi đồng vắng và "lập" họ "làm cơ nghiệp lựa chọn của Ngài, vườn nho của Chúa", được kêu gọi làm thầy tế lễ và vương tôn, và "được giao phó" đặc ân đại diện cho "các lời phán của Đức Chúa Trời." Đối với Israel xưa, "các lời phán" là Luật Pháp; còn đối với Israel ngày nay, là cả Luật Pháp lẫn các lời tiên tri.

“God has called His church in this day, as He called ancient Israel, to stand as a light in the earth. By the mighty cleaver of truth, the messages of the first, second, and third angels, He has separated them from the churches and from the world to bring them into a sacred nearness to Himself. He has made them the depositaries of His law and has committed to them the great truths of prophecy for this time. Like the holy oracles committed to ancient Israel, these are a sacred trust to be communicated to the world. The three angels of Revelation 14 represent the people who accept the light of God’s messages and go forth as His agents to sound the warning throughout the length and breadth of the earth.” Testimonies, volume 5, 455.

Đức Chúa Trời đã kêu gọi Hội Thánh của Ngài trong thời nay, như Ngài đã kêu gọi Y-sơ-ra-ên xưa, để đứng làm ánh sáng trên đất. Bằng chiếc dao phay quyền năng của lẽ thật, tức là các sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, thứ hai và thứ ba, Ngài đã tách họ khỏi các giáo hội và khỏi thế gian để đưa họ vào sự gần gũi thánh khiết với chính Ngài. Ngài đã khiến họ trở thành những người giữ luật pháp của Ngài và đã giao phó cho họ những lẽ thật vĩ đại của lời tiên tri cho thời kỳ này. Cũng như những thánh ngôn đã được giao phó cho Y-sơ-ra-ên xưa, những điều ấy là một sự ủy thác thánh để được truyền đạt cho thế gian. Ba thiên sứ trong Khải Huyền 14 đại diện cho những người chấp nhận ánh sáng của các sứ điệp của Đức Chúa Trời và ra đi như các đại diện của Ngài để cất tiếng cảnh báo khắp bờ cõi trái đất. Lời Chứng, tập 5, 455.

Modern Israel was ordained to proclaim the loud cry of the third angel under the power of the latter rain, while manifesting the character of Christ in their personal experience under the power of the Holy Spirit. The loud cry of the third angel is fulfilled during the outpouring of the latter rain, during a time when a false peace and safety latter rain message is being promoted by a class of men who are drunken with the wine of Babylon. These are Isaiah’s drunkards of Ephraim and Joel’s drinkers of wine who have the new wine cut off from their mouths. Those receiving the true latter rain message are represented by Daniel, Mishael, Hananiah and Azariah who rejected the Babylonian food for heavenly fare. These are the one hundred and forty-four thousand who sing the song of Moses and the Lamb, but also of the vineyard, for the vineyard parable was fulfilled in the history of Moses in the beginning of ancient Israel’s covenant relationship, and it was fulfilled again at the end of ancient Israel’s covenant relationship in the history of the Lamb.

Israel hiện đại đã được chỉ định để công bố tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba dưới quyền năng của mưa cuối mùa, đồng thời bày tỏ tính cách của Đấng Christ trong kinh nghiệm cá nhân của họ dưới quyền năng của Đức Thánh Linh. Tiếng kêu lớn của thiên sứ thứ ba được ứng nghiệm trong lúc mưa cuối mùa được tuôn đổ, vào thời điểm khi một sứ điệp mưa cuối mùa giả mạo về bình an và an toàn đang được cổ xúy bởi một hạng người say sưa rượu của Babylon. Đó là những kẻ say sưa của Ephraim theo Isaiah và những người uống rượu theo Joel, những kẻ mà rượu mới đã bị cắt khỏi miệng họ. Những người tiếp nhận sứ điệp mưa cuối mùa chân thật được đại diện bởi Daniel, Mishael, Hananiah và Azariah, những người đã từ chối thức ăn của Babylon để chọn thức ăn từ trời. Họ chính là một trăm bốn mươi bốn nghìn người hát bài ca của Moses và Chiên Con, và cũng hát bài ca về vườn nho, vì dụ ngôn về vườn nho đã được ứng nghiệm trong lịch sử của Moses vào buổi đầu mối quan hệ giao ước của Israel cổ đại, và lại được ứng nghiệm lần nữa vào cuối mối quan hệ giao ước của Israel cổ đại trong lịch sử của Chiên Con.

The song of the vineyard concludes with a former covenant people being passed by when a new covenant people are being married to the Lord. The Lord passed by those who died in the forty-year wilderness wandering and entered into covenant with Joshua at the very same time he was divorcing those who would die. The Lord was divorcing ancient Israel at the very same time He was marrying the Christian church. The alpha or beginning history is represented by Moses and the omega is represented by the Lamb. The history they both represent is the history of the vineyard parable, thus Isaiah’s song of the vineyard is John the Revelator’s song of Moses and the Lamb.

Bài ca vườn nho kết thúc với việc một dân giao ước trước kia bị bỏ qua, khi một dân giao ước mới đang được kết hôn với Chúa. Chúa đã bỏ qua những người chết trong bốn mươi năm lang thang nơi hoang mạc và lập giao ước với Giô-suê, ngay cùng lúc Ngài đang ly hôn với những kẻ sẽ phải chết. Chúa đang ly hôn với Y-sơ-ra-ên xưa đúng vào lúc Ngài đang kết hôn với Hội Thánh Cơ Đốc. Lịch sử Alpha, tức khởi đầu, được đại diện bởi Môi-se, và Ômêga được đại diện bởi Chiên Con. Lịch sử mà cả hai đại diện chính là lịch sử của dụ ngôn vườn nho; vì vậy, bài ca vườn nho của Ê-sai chính là bài ca của Môi-se và Chiên Con trong Khải Huyền do Giăng ghi lại.

We will continue these thoughts in the next article.

Chúng tôi sẽ tiếp tục mạch suy nghĩ này trong bài viết tiếp theo.

These are not the words of Sister White, but the words of the Lord, and His messenger has given them to me to give to you. God calls upon you to no longer work at cross purposes with Him. Much instruction was given in regard to men claiming to be Christian when they are revealing the attributes of Satan, counteracting in spirit, word, and action the advancement of truth, and are surely following the path where Satan is leading them. In their hardness of heart they have grasped authority which in no way belongs to them, and which they should not exercise. Saith the great Teacher, ‘I will overturn, overturn, overturn.’ Men say in Battle Creek, ‘The temple of the Lord, the temple of the Lord are we’ but they are using common fire. Their hearts are not softened and subdued by the grace of God.” Manuscript Releases, volume 13, 222.

"Đây không phải là lời của Bà White, mà là lời của Chúa, và sứ giả của Ngài đã trao chúng cho tôi để chuyển lại cho anh em. Đức Chúa Trời kêu gọi anh em không còn làm những việc trái ngược với Ngài nữa. Đã có nhiều lời chỉ dạy được ban ra liên quan đến những người tự xưng là Cơ Đốc nhân, trong khi họ bộc lộ các thuộc tính của Sa-tan, chống đối sự tiến triển của lẽ thật bằng tinh thần, lời nói và hành động, và chắc chắn đang theo con đường mà Sa-tan đang dẫn dắt họ. Trong sự cứng lòng của mình, họ đã nắm lấy quyền bính vốn không hề thuộc về họ, và họ không nên thi hành. Vị Thầy vĩ đại phán: 'Ta sẽ lật đổ, lật đổ, lật đổ.' Người ta ở Battle Creek nói: 'Đền thờ của Chúa, đền thờ của Chúa là chúng ta' nhưng họ đang dùng lửa phàm tục. Lòng họ không được ân điển của Đức Chúa Trời làm mềm lại và khuất phục." Bản Thảo Phát Hành, tập 13, trang 222.

“The patience of God has an object, but you are defeating it. He is allowing a state of things to come that you would fain see counteracted by and by, but it will be too late. God commanded Elijah to anoint the cruel and deceitful Hazael king over Syria, that he might be a scourge to idolatrous Israel. Who knows whether God will not give you up to the deceptions you love? Who knows but that the preachers who are faithful, firm, and true may be the last who shall offer the gospel of peace to our unthankful churches? It may be that the destroyers are already training under the hand of Satan and only wait the departure of a few more standard-bearers to take their places, and with the voice of the false prophet cry, ‘Peace, peace,’ when the Lord hath not spoken peace. I seldom weep, but now I find my eyes blinded with tears; they are falling upon my paper as I write. It may be that erelong all prophesyings among us will be at an end, and the voice which has stirred the people may no longer disturb their carnal slumbers.

Sự nhẫn nại của Đức Chúa Trời có mục đích, nhưng các ngươi đang làm vô hiệu mục đích ấy. Ngài đang để cho một tình trạng sẽ xảy đến mà chẳng bao lâu nữa các ngươi sẽ ước ao được ngăn chặn, nhưng khi đó sẽ quá muộn. Đức Chúa Trời đã truyền Ê-li xức dầu cho Ha-xa-ên, kẻ tàn ác và dối trá, làm vua Sy-ri, để hắn trở thành roi vọt cho Y-sơ-ra-ên thờ hình tượng. Ai biết được liệu Đức Chúa Trời có phó mặc các ngươi cho những sự lừa dối mà các ngươi yêu thích chăng? Ai biết được, biết đâu những người giảng đạo trung tín, vững vàng và chân thật lại là những người sau cùng sẽ rao truyền Tin Lành bình an cho các hội thánh vô ơn của chúng ta? Có thể những kẻ hủy diệt đã được huấn luyện dưới tay Sa-tan và chỉ còn chờ thêm vài người cầm cờ nữa ra đi để thế chỗ họ, rồi với tiếng của tiên tri giả mà kêu rằng, 'Bình an, bình an,' trong khi Chúa chẳng hề phán bình an. Tôi hiếm khi khóc, nhưng giờ đây tôi thấy mắt mình mờ lòa vì lệ; những giọt lệ đang rơi trên tờ giấy khi tôi viết. Có thể chẳng bao lâu nữa mọi lời tiên tri giữa chúng ta sẽ chấm dứt, và tiếng nói từng khuấy động dân chúng sẽ không còn làm xáo động giấc ngủ xác thịt của họ nữa.

“When God shall work His strange work on the earth, when holy hands bear the ark no longer, woe will be upon the people. Oh, that thou hadst known, even thou, in this thy day, the things that belong unto thy peace! Oh, that our people may, as did Nineveh, repent with all their might and believe with all their heart, that God may turn away His fierce anger from them.” Testimonies, volume 5, 77.

“Khi Đức Chúa Trời thực hiện công việc lạ lùng của Ngài trên đất, khi những bàn tay thánh không còn khiêng hòm bia nữa, thì khốn cho dân chúng. Ôi, ước chi ngươi, phải, chính ngươi, trong ngày này của ngươi, đã biết những điều thuộc về sự bình an của ngươi! Ôi, ước chi dân chúng ta, như Ninivê đã làm, ăn năn hết sức mình và tin hết lòng, để Đức Chúa Trời quay cơn thịnh nộ dữ dội của Ngài khỏi họ.” Lời chứng, tập 5, 77.

“If you indulge stubbornness of heart, and through pride and self-righteousness do not confess your faults, you will be left subject to Satan’s temptations. If when the Lord reveals your errors you do not repent or make confession, his providence will bring you over the ground again and again. You will be left to make mistakes of a similar character, you will continue to lack wisdom, and will call sin righteousness, and righteousness sin. The multitude of deceptions that will prevail in these last days will encircle you, and you will change leaders, and not know that you have done so.” Review and Herald, December 16, 1890.

Nếu bạn chiều theo sự cứng lòng, và bởi kiêu ngạo cùng tự cho mình là công chính mà không xưng nhận lỗi lầm của mình, bạn sẽ bị phó mặc cho các cám dỗ của Sa-tan. Nếu khi Chúa bày tỏ những sai lầm của bạn mà bạn không ăn năn hoặc xưng nhận, sự quan phòng của Ngài sẽ dẫn bạn đi lại trên chính con đường ấy hết lần này đến lần khác. Bạn sẽ bị để mặc mà phạm những lỗi lầm cùng loại, bạn sẽ tiếp tục thiếu sự khôn ngoan, và sẽ gọi tội lỗi là công bình, còn công bình là tội lỗi. Muôn vàn sự lừa dối, vốn sẽ thịnh hành trong những ngày sau rốt này, sẽ vây bủa bạn, và bạn sẽ đổi người lãnh đạo mà không biết rằng mình đã làm như vậy. Review and Herald, ngày 16 tháng 12, 1890.