When “the light for that time is given” it is either “received” or “rejected.” The separation that is accomplished when the light is introduced is the work of the everlasting gospel, which includes not only the sealing of God’s people, but the separation of the wheat and the tares. The final testing and separation process began at 9/11, when the prophetic question asks, “how long?” and the prophetic answer is, “until the Sunday law.” The last mention of the symbol of “how long” is found in the fifth seal in the book of Revelation.

Khi “ánh sáng cho thời kỳ ấy được ban ra” thì nó hoặc được “đón nhận” hoặc bị “khước từ.” Sự phân rẽ diễn ra khi ánh sáng được trình bày là công việc của Tin Lành đời đời, bao gồm không chỉ việc đóng ấn dân của Đức Chúa Trời mà còn việc phân rẽ lúa mì và cỏ lùng. Quá trình thử nghiệm và phân rẽ cuối cùng bắt đầu vào ngày 11/9, khi câu hỏi tiên tri đặt ra, “bao lâu nữa?” và câu trả lời tiên tri là, “cho đến luật ngày Chủ nhật.” Lần đề cập cuối cùng đến biểu tượng “bao lâu” được tìm thấy trong ấn thứ năm trong sách Khải Huyền.

And when he had opened the fifth seal, I saw under the altar the souls of them that were slain for the word of God, and for the testimony which they held: And they cried with a loud voice, saying, How long, O Lord, holy and true, dost thou not judge and avenge our blood on them that dwell on the earth?

Và khi Ngài mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ các linh hồn của những người đã bị giết vì Lời Đức Chúa Trời và vì lời chứng mà họ giữ. Họ kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa, Đấng thánh và chân thật, đến bao giờ Chúa mới xét đoán và báo thù cho máu chúng tôi trên những kẻ cư trú trên đất?”

And white robes were given unto every one of them; and it was said unto them, that they should rest yet for a little season, until their fellowservants also and their brethren, that should be killed as they were, should be fulfilled. Revelation 6:9–11.

Và mỗi người trong bọn họ đều được ban cho một chiếc áo trắng; và có lời phán với họ rằng họ phải yên nghỉ thêm một thời gian ngắn nữa, cho đến khi số các bạn cùng làm tôi tớ và anh em của họ, là những người cũng sẽ bị giết như họ, được trọn đủ. Khải Huyền 6:9-11.

Inspiration places the answer to the question of “how long” asked by the “souls of them that were slain” in future, when a second group of papal martyrs is made up. That begins at the Sunday law, and for this reason Sister White identifies Revelation chapter eighteen as the fulfilment of the second group of martyrs. There are two “voices” in the first five verses; the first voice marks 9/11 and the second voice calls men and women out of Babylon at the Sunday law. Sister White identifies the symbol of “how long” in the fifth seal with the first five verses of Revelation eighteen to outline 9/11 to the Sunday law. The focus is not on separation and sealing God’s people, but on the judgment of the papacy for murdering the martyrs of past history and those martyrs during the Sunday law crisis that make up the second group of papal martyrs.

Sự linh hứng đặt câu trả lời cho câu hỏi “bao lâu nữa” do “các linh hồn của những người đã bị giết” nêu ra vào tương lai, khi nhóm thứ hai những người tử đạo dưới tay Giáo triều La Mã được lập nên. Điều đó khởi đầu tại thời điểm luật Chủ nhật, và vì lý do này Bà White xác định Khải Huyền chương mười tám là sự ứng nghiệm của nhóm tử đạo thứ hai. Có hai “tiếng” trong năm câu đầu; tiếng thứ nhất đánh dấu 11/9 và tiếng thứ hai kêu gọi nam nữ ra khỏi Babylon vào thời điểm luật Chủ nhật. Bà White gắn biểu tượng “bao lâu nữa” trong ấn thứ năm với năm câu đầu của Khải Huyền chương mười tám để vạch ra giai đoạn từ 11/9 đến luật Chủ nhật. Trọng tâm không phải là sự tách biệt và việc đóng ấn dân của Đức Chúa Trời, mà là sự phán xét Giáo triều La Mã vì đã sát hại các vị tử đạo trong lịch sử trước kia và những người tử đạo trong cuộc khủng hoảng luật Chủ nhật, những người cấu thành nhóm tử đạo thứ hai của Giáo triều.

“When the fifth seal was opened, John the Revelator in vision saw beneath the altar the company that were slain for the Word of God and the testimony of Jesus Christ. After this came the scenes described in the eighteenth of Revelation, when those who are faithful and true are called out from Babylon. [Revelation 18:1–5, quoted.]” Manuscript Releases, volume 20, 14.

"Khi ấn thứ năm được mở ra, Giăng, người nhận khải thị, trong khải tượng thấy dưới bàn thờ có đoàn người đã bị giết vì Lời của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Giê-su Christ. Sau đó là những cảnh tượng được mô tả trong đoạn mười tám của sách Khải Huyền, khi những người trung tín và chân thật được gọi ra khỏi Babylon. [Khải Huyền 18:1-5, trích dẫn.]" Manuscript Releases, quyển 20, 14.

In the other passage where she identifies the martyrs of the fifth seal and the future and second group of martyrs who are made up in the Sunday law crisis, she says those scenes “would be in a period of time in the future.” The two voices of Revelation eighteen represent the “period of time in the future.” The first voice in the beginning at 9/11 and the second voice at the Sunday law

Trong đoạn khác, nơi bà xác định các vị tử đạo của ấn thứ năm và nhóm tử đạo thứ hai trong tương lai, là nhóm được hình thành trong cuộc khủng hoảng đạo luật Chủ nhật, bà nói rằng những cảnh ấy "sẽ diễn ra trong một khoảng thời gian ở tương lai." Hai tiếng nói của Khải Huyền đoạn mười tám đại diện cho "khoảng thời gian ở tương lai." Tiếng thứ nhất khởi đầu vào 9/11 và tiếng thứ hai vào thời điểm đạo luật Chủ nhật.

“‘And when he had opened the fifth seal, I saw under the altar the souls of them that were slain for the word of God, and for the testimony which they held: and they cried with a loud voice, saying, How long, O Lord, Holy and true, doest Thou not judge and avenge our blood on them that dwell on the earth? And white robes were given unto every one of them [They were pronounced pure and holy]; and it was said unto them, that they should rest yet for a little season, until their fellowservants also and their brethren, that should be killed as they were, should be fulfilled’ [Revelation 6:9–11]. Here were scenes presented to John that were not in reality but that which would be in a period of time in the future.

"'Và khi Ngài mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ các linh hồn của những người đã bị giết vì lời Đức Chúa Trời và vì lời chứng mà họ giữ; và họ kêu lớn tiếng mà nói rằng: Lạy Chúa, Đấng Thánh và Chân thật, đến bao giờ Ngài còn chưa xét đoán và báo thù huyết chúng tôi trên những kẻ ở trên đất? Và áo choàng trắng đã được ban cho mỗi người trong họ [Họ được tuyên bố là tinh sạch và thánh khiết]; và người ta nói với họ rằng họ hãy còn nghỉ ngơi ít lâu nữa, cho đến khi số những người đồng tôi tớ của họ và anh em của họ, những người cũng sẽ bị giết như họ, được trọn đủ’ [Khải Huyền 6:9-11]. Ở đây là những cảnh được trình bày cho Giăng, không phải là hiện thực, mà là điều sẽ xảy ra trong một thời kỳ ở tương lai."

Revelation 8:1–4 quoted.” Manuscript Releases, volume 20, 197.

"Khải Huyền 8:1-4 được trích dẫn." Manuscript Releases, tập 20, trang 197.

Sister White associates the fulfillment of the formation of the second group of martyrs in the future and in the other passage she quotes Revelation 18:1–5, which identifies a voice in the first three verses and another voice in verses four and five. The first voice marks 9/11 when the great buildings of New York came down and the second voice is the Sunday law when God’s other flock is called out of Babylon. In the second passage she refers to Revelation chapter eight and the first four verses which identify the opening of the seventh seal, when coals from off the altar are cast to the earth which aligns with Pentecost, when fire came from heaven and illuminated the disciples, just as Elijah’s twelve stones were illuminated and as represented by tongues of fire upon the disciples.

Bà White liên hệ việc ứng nghiệm của sự hình thành nhóm tử đạo thứ hai trong tương lai; và trong một đoạn khác, bà trích dẫn Khải Huyền 18:1–5, nơi xác định một tiếng nói trong ba câu đầu và một tiếng nói khác trong các câu bốn và năm. Tiếng nói thứ nhất đánh dấu sự kiện 11/9, khi các tòa nhà lớn ở New York sụp đổ; còn tiếng nói thứ hai là Đạo luật Chủ nhật, khi bầy chiên khác của Đức Chúa Trời được kêu gọi ra khỏi Ba-by-lôn. Trong đoạn thứ hai, bà nhắc đến Khải Huyền chương tám và bốn câu đầu, những câu nói về việc mở ấn thứ bảy, khi than hồng từ bàn thờ được ném xuống đất; điều này tương ứng với Lễ Ngũ Tuần, khi lửa từ trời giáng xuống và soi sáng các môn đồ, giống như mười hai hòn đá của Ê-li được chiếu sáng và được biểu hiện qua những lưỡi lửa trên các môn đồ.

How Long? Zechariah & John

Bao lâu nữa? Dacaria và Gioan

How long is a prophetic symbol of the period of time from 9/11 unto the Sunday law which has been typified in the story of Mount Carmel, the history of the Millerites from 1840 to 1844, the history of Moses’ from the eighth to tenth plague, the witness of the martyrs of the fifth seal and in Zechariah the question is asked “how long” would it be until God had mercy upon Jerusalem that had been in Babylon for seventy years.

“Bao lâu” là một biểu tượng tiên tri cho khoảng thời gian từ 9/11 cho đến luật ngày Chủ nhật, điều đã được điển hình hóa trong câu chuyện về Núi Carmel, trong lịch sử của những người Millerites từ năm 1840 đến 1844, trong lịch sử của Moses từ tai vạ thứ tám đến thứ mười, trong lời chứng của các vị tử đạo dưới ấn thứ năm, và trong sách Zechariah có câu hỏi “bao lâu” nữa thì Đức Chúa Trời sẽ thương xót Jerusalem, thành đã ở trong Babylon bảy mươi năm.

Then the angel of the Lord answered and said, O Lord of hosts, how long wilt thou not have mercy on Jerusalem and on the cities of Judah, against which thou hast had indignation these threescore and ten years?

Bấy giờ thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp rằng: Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, đến bao giờ Ngài mới thương xót Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa, là những nơi Ngài đã nổi giận suốt bảy mươi năm nay?

And the Lord answered the angel that talked with me with good words and comfortable words.

Và Chúa đáp với thiên sứ đã nói chuyện với tôi bằng những lời tốt lành và lời yên ủi.

So the angel that communed with me said unto me, Cry thou, saying, Thus saith the Lord of hosts; I am jealous for Jerusalem and for Zion with a great jealousy. And I am very sore displeased with the heathen that are at ease: for I was but a little displeased, and they helped forward the affliction. Therefore thus saith the Lord; I am returned to Jerusalem with mercies: my house shall be built in it, saith the Lord of hosts, and a line shall be stretched forth upon Jerusalem. Cry yet, saying, Thus saith the Lord of hosts; My cities through prosperity shall yet be spread abroad; and the Lord shall yet comfort Zion, and shall yet choose Jerusalem. Zechariah 1:12–17.

Vậy thiên sứ đã trò chuyện với tôi nói với tôi rằng: Hãy kêu lên mà rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Ta ghen vì Giê-ru-sa-lem và vì Si-ôn với lòng ghen rất lớn. Ta cũng rất giận các dân ngoại đang yên ổn; vì Ta chỉ giận ít thôi, mà họ lại làm cho hoạn nạn tăng thêm. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Ta đã trở lại Giê-ru-sa-lem trong sự thương xót; nhà Ta sẽ được xây tại đó, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, và dây đo sẽ được căng ra trên Giê-ru-sa-lem. Hãy còn kêu lên nữa mà rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Các thành của Ta nhờ sự thịnh vượng sẽ lại được lan rộng; và Đức Giê-hô-va sẽ lại an ủi Si-ôn, và sẽ lại chọn Giê-ru-sa-lem. Xa-cha-ri 1:12-17.

Sister White directly aligns Zechariah’s “threescore and ten years” (seventy years) that literal ancient Israel was in bondage to literal Babylon with the twelve hundred and sixty years from 538 unto 1798 that spiritual Israel (Christians) were in bondage to spiritual Babylon (Roman Catholicism).

Bà White trực tiếp đối chiếu “bảy mươi năm” (bảy mươi năm) của Xa-cha-ri, khi Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen thời cổ bị phu tù dưới Ba-by-lôn theo nghĩa đen, với một nghìn hai trăm sáu mươi năm từ 538 đến 1798, khi Y-sơ-ra-ên thuộc linh (các Cơ Đốc nhân) bị giam cầm dưới Ba-by-lôn thuộc linh (Công giáo La Mã).

“God’s church on earth was as verily in captivity during this long period of relentless persecution as were the children of Israel held captive in Babylon during the period of the exile.” Prophets and Kings, 714.

"Hội thánh của Đức Chúa Trời trên đất quả thật đã ở trong cảnh giam cầm suốt thời kỳ dài bị bách hại không ngừng, cũng như con cái Israel đã bị giam cầm tại Babylon trong thời kỳ lưu đày." Prophets and Kings, 714.

In 1798, at the end of the twelve hundred and sixty years the first of three messages represented as angels in Revelation fourteen arrived. The second arrived on April 19, 1844 and the third on October 22, 1844. The history symbolized by the question, “how long” is from 9/11 unto the Sunday law, and that period of time was typified in the beginning of Adventism in the Millerite movement of August 11, 1840 unto October 22, 1844. That period is symbolically illustrated by John the Revelator in chapter ten when John eats the little book that was sweet in his mouth, but became bitter in his stomach.

Năm 1798, vào cuối một nghìn hai trăm sáu mươi năm, sứ điệp thứ nhất trong ba sứ điệp được biểu tượng như các thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười bốn đã đến. Sứ điệp thứ hai đến vào ngày 19 tháng 4 năm 1844 và sứ điệp thứ ba vào ngày 22 tháng 10 năm 1844. Lịch sử được tượng trưng bởi câu hỏi “đến bao giờ” kéo dài từ ngày 11/9 cho đến luật ngày Chúa nhật, và khoảng thời gian ấy đã được báo trước bằng hình bóng trong buổi đầu của Phục Lâm, trong phong trào Miller, từ ngày 11 tháng 8 năm 1840 đến ngày 22 tháng 10 năm 1844. Khoảng thời gian ấy được Giăng nhà khải thị minh họa cách biểu tượng trong đoạn mười, khi Giăng ăn quyển sách nhỏ vốn ngọt trong miệng nhưng trở nên đắng trong bụng.

And the voice which I heard from heaven spake unto me again, and said, Go and take the little book which is open in the hand of the angel which standeth upon the sea and upon the earth. And I went unto the angel, and said unto him, Give me the little book. And he said unto me, Take it, and eat it up; and it shall make thy belly bitter, but it shall be in thy mouth sweet as honey. And I took the little book out of the angel’s hand, and ate it up; and it was in my mouth sweet as honey: and as soon as I had eaten it, my belly was bitter.

Và tiếng mà tôi đã nghe từ trời lại nói với tôi nữa và bảo: Hãy đi, lấy quyển sách nhỏ đang mở trong tay thiên sứ đang đứng trên biển và trên đất. Tôi bèn đến cùng thiên sứ và thưa với người: Xin cho tôi quyển sách nhỏ. Người bảo tôi: Hãy lấy và ăn; nó sẽ làm bụng ngươi đắng, nhưng trong miệng ngươi sẽ ngọt như mật. Tôi bèn lấy quyển sách nhỏ từ tay thiên sứ và ăn; nó ở trong miệng tôi ngọt như mật, nhưng vừa ăn xong, bụng tôi trở nên đắng.

And he said unto me, Thou must prophesy again before many peoples, and nations, and tongues, and kings. Revelation 10:8–11.

Và người ấy nói với tôi: Ngươi phải lại nói tiên tri trước nhiều dân tộc, nhiều nước, nhiều thứ tiếng và nhiều vua. Khải Huyền 10:8-11.

The history John is illustrating is represented by the book that was eaten, for the eating represented the Millerites coming to understand the message and their experience in proclaiming that message. So, when John is told immediately after that history is set forth that John must prophesy again, the prophesying that is being identified is the history of 1840 to 1844. John is told that the Millerite history from 1840 to 1844 is repeated in the history of the end of Adventism. As soon as John is told that he must prophesy again he is told to measure the temple.

Lịch sử mà Giăng đang minh họa được biểu trưng bởi cuốn sách đã được ăn, vì việc ăn ấy tượng trưng cho việc những người Millerite đi đến chỗ hiểu thông điệp và kinh nghiệm của họ trong việc rao giảng thông điệp đó. Vì thế, khi ngay sau khi lịch sử ấy được nêu ra, Giăng được bảo rằng ông phải nói tiên tri lần nữa, thì việc nói tiên tri được xác định ở đây chính là giai đoạn từ năm 1840 đến 1844. Giăng được cho biết rằng lịch sử của những người Millerite từ 1840 đến 1844 được lặp lại trong lịch sử thời kỳ kết thúc của phong trào Phục Lâm. Ngay khi Giăng được bảo rằng ông phải nói tiên tri lần nữa, ông được bảo phải đo đền thờ.

And there was given me a reed like unto a rod: and the angel stood, saying, Rise, and measure the temple of God, and the altar, and them that worship therein. But the court which is without the temple leave out, and measure it not; for it is given unto the Gentiles: and the holy city shall they tread under foot forty and two months. Revelation 11:1, 2.

Và có ban cho tôi một cây sậy như cây gậy; thiên sứ đứng đó và phán: Hãy đứng dậy, đo đền thờ của Đức Chúa Trời, cùng bàn thờ, và những kẻ thờ phượng trong đó. Nhưng sân ở ngoài đền thờ thì hãy bỏ qua, đừng đo; vì đã giao cho dân ngoại; và thành thánh sẽ bị họ giày đạp trong bốn mươi hai tháng. Khải Huyền 11:1, 2.

The work given to Adventism post-October 22, 1844 was represented by John as measuring or building the temple, in agreement with the promise set forth in Zechariah that “a line would be stretched forth upon Jerusalem” again—for the Lord would “yet choose Jerusalem.” The history represented at the beginning of Adventism with the Philadelphian movement of Millerite Adventism is repeated at the ending of Adventism with the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand. At the great disappointment of October 22, 1844, a period of time, represented as “the days of the voice of the seventh angel” began.

Công việc được giao cho phong trào Tái Lâm sau ngày 22 tháng 10 năm 1844 đã được Giăng mô tả như việc đo lường hoặc xây dựng đền thờ, phù hợp với lời hứa nêu trong sách Xa-cha-ri rằng "một sợi dây đo sẽ lại được giăng ra trên Giê-ru-sa-lem" — vì Chúa sẽ "còn chọn Giê-ru-sa-lem nữa." Lịch sử được thể hiện ở buổi đầu của phong trào Tái Lâm qua phong trào Phi-la-đen-phi của phong trào Tái Lâm Millerite được lặp lại ở phần kết của phong trào Tái Lâm với phong trào Phi-la-đen-phi của một trăm bốn mươi bốn ngàn. Vào cuộc Đại Thất Vọng ngày 22 tháng 10 năm 1844, một giai đoạn thời gian, được gọi là "những ngày của tiếng thiên sứ thứ bảy", đã bắt đầu.

But in the days of the voice of the seventh angel, when he shall begin to sound, the mystery of God should be finished, as he hath declared to his servants the prophets. Revelation 10:7.

Nhưng trong những ngày tiếng của thiên sứ thứ bảy vang lên, khi người bắt đầu thổi kèn, thì sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn tất, như Ngài đã rao truyền cho các đầy tớ Ngài là các tiên tri. Khải Huyền 10:7.

The message was sweet to the Millerites when the Islamic time prophecy of the second woe was fulfilled just as the Millerites had predicted in advance of August 11, 1840. The message turned bitter in the stomach at the great disappointment of October 22, 1844. As soon as John finishes illustrating the history of 1840 to 1844, he is informed that he must do the very same thing (prophesy) again. Then he is told to measure Jerusalem, and when he does so he is aligning with Zechariah’s prophecy of the Lord choosing Jerusalem. From October 22, 1844 onward prophetic history is represented as the “days of the voice of the seventh angel.” The “days” of the message (voice) of the seventh angel (third woe) represent a period of time when the divinity of Christ would be permanently combined with humanity who were to be the one hundred and forty-four thousand. That work was delayed by the rebellion of 1863, and on 9/11 the sounding of the seventh angel (third woe) once again began to sound.

Sứ điệp đã ngọt ngào đối với những người Millerite khi lời tiên tri về thời kỳ Hồi giáo liên quan đến tai vạ thứ hai được ứng nghiệm đúng như những người Millerite đã dự đoán trước ngày 11 tháng 8 năm 1840. Sứ điệp trở nên đắng trong bụng vào Đại Thất Vọng ngày 22 tháng 10 năm 1844. Ngay khi Giăng kết thúc việc minh họa lịch sử từ 1840 đến 1844, ông được cho biết rằng ông phải làm chính điều đó (tiên tri) một lần nữa. Sau đó ông được bảo phải đo Giê-ru-sa-lem, và khi làm như vậy ông đang phù hợp với lời tiên tri của Xa-cha-ri về việc Chúa chọn Giê-ru-sa-lem. Từ ngày 22 tháng 10 năm 1844 trở đi, lịch sử tiên tri được mô tả là "những ngày của tiếng nói của thiên sứ thứ bảy." Những "ngày" của sứ điệp (tiếng nói) của thiên sứ thứ bảy (tai vạ thứ ba) tượng trưng cho một giai đoạn khi thần tính của Đấng Christ sẽ được kết hiệp vĩnh viễn với nhân loại, là những người sẽ trở thành một trăm bốn mươi bốn nghìn. Công việc đó đã bị trì hoãn bởi cuộc phản loạn năm 1863, và vào ngày 9/11 tiếng kèn của thiên sứ thứ bảy (tai vạ thứ ba) một lần nữa bắt đầu vang lên.

In sacred history the Lord chose Jerusalem to place His name there, and his “name” is His character. Jerusalem and Zion are referenced by Zechariah when he states, “I am jealous for Jerusalem and for Zion with a great jealousy” and thereafter with, “the Lord shall yet comfort Zion, and shall yet choose Jerusalem.” Zion is comforted when it receives the Holy Spirit who is the “Comforter.” The comforting of the Holy Spirit began at 9/11 in agreement with Christ breathing on the disciples after His descent from meeting with the Father after His resurrection. The manifestation of the Holy Spirit was greatly increased at Pentecost. That season began with the first fruit offering being resurrected and it ended with the first fruit offering of Pentecost, when the entire world then heard the message.

Trong lịch sử thánh, Chúa đã chọn Jerusalem để đặt danh Ngài tại đó, và “danh” Ngài chính là bản tính của Ngài. Jerusalem và Zion được Zechariah nhắc đến khi ông nói: “Ta rất ghen cho Jerusalem và cho Zion bằng sự ghen lớn,” và sau đó: “Chúa sẽ còn an ủi Zion, và sẽ lại chọn Jerusalem.” Zion được an ủi khi nhận Đức Thánh Linh, là “Đấng An Ủi.” Sự an ủi của Đức Thánh Linh khởi đầu vào 9/11, phù hợp với việc Đấng Christ hà hơi trên các môn đồ sau khi Ngài từ trên trở xuống sau cuộc gặp với Cha sau sự phục sinh. Sự bày tỏ của Đức Thánh Linh được gia tăng rất nhiều vào Lễ Ngũ Tuần. Mùa ấy khởi đầu với trái đầu mùa được sống lại và kết thúc với lễ dâng trái đầu mùa của Lễ Ngũ Tuần, khi cả thế giới khi ấy đều nghe sứ điệp.

Comfort ye, comfort ye my people, saith your God. Speak ye comfortably to Jerusalem, and cry unto her, that her warfare is accomplished, that her iniquity is pardoned: for she hath received of the Lord’s hand double for all her sins. Isaiah 41:1, 2.

Hãy an ủi, hãy an ủi dân Ta, Đức Chúa Trời các ngươi phán. Hãy nói lời êm dịu với Giê-ru-sa-lem và hãy kêu lên cùng nàng rằng: chiến trận của nàng đã chấm dứt, tội ác của nàng đã được tha thứ; vì nàng đã nhận từ tay Chúa gấp đôi cho mọi tội lỗi của mình. Ê-sai 41:1, 2.

The one hundred and forty-four thousand are sealed when “their iniquity is pardoned.” This occurs just before the Sunday law as they are lifted up as the Pentecostal first fruit offering while receiving the outpouring of the Holy Spirit without measure as the disciples typified at Pentecost. The sprinkling of rain that began at 9/11 becomes a full outpouring at the Sunday law. In the history the first fruit offering of 9/11 unto the first fruit offering at the Sunday law when the one hundred and forty-four thousand are sealed and prepared as an offering to be lifted up as an ensign from the Sunday law until the close of probation. That history is represented by the first three verses of Revelation eighteen announcing the fall of Babylon, which is the biblical symbol that represents a ‘doubling.’

Một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đóng ấn khi "sự gian ác của họ được tha thứ." Điều này xảy ra ngay trước luật Chủ nhật, khi họ được dâng lên như của lễ đầu mùa của Lễ Ngũ Tuần, đồng thời nhận lãnh sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh không hạn lượng, như các môn đồ đã tiêu biểu tại Lễ Ngũ Tuần. Sự rưới mưa đã bắt đầu vào 9/11 trở thành sự tuôn đổ trọn vẹn tại luật Chủ nhật. Trong lịch sử, của lễ đầu mùa của 9/11 dẫn đến của lễ đầu mùa tại luật Chủ nhật, khi một trăm bốn mươi bốn nghìn người được đóng ấn và được chuẩn bị như một của lễ để được giương lên làm cờ hiệu từ luật Chủ nhật cho đến khi kết thúc thời kỳ ân điển. Lịch sử ấy được thể hiện trong ba câu đầu của Khải Huyền đoạn mười tám, công bố sự sa ngã của Ba-by-lôn, vốn là biểu tượng Kinh Thánh biểu thị cho sự 'nhân đôi'.

And after these things I saw another angel come down from heaven, having great power; and the earth was lightened with his glory. And he cried mightily with a strong voice, saying, Babylon the great is fallen, is fallen, and is become the habitation of devils, and the hold of every foul spirit, and a cage of every unclean and hateful bird. For all nations have drunk of the wine of the wrath of her fornication, and the kings of the earth have committed fornication with her, and the merchants of the earth are waxed rich through the abundance of her delicacies. Revelation 18:1–3.

Và sau những điều ấy, tôi thấy một thiên sứ khác từ trời xuống, có quyền năng lớn; và đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người ấy. Người kêu lớn tiếng, nói rằng: Ba-by-lôn lớn đã sụp đổ, đã sụp đổ, và đã trở nên chỗ ở của các quỷ, sào huyệt của mọi tà linh ô uế, và chuồng của mọi loài chim ô uế và đáng ghét. Vì muôn dân đều đã uống rượu của cơn thịnh nộ do sự tà dâm của nó, các vua trên đất đã phạm tà dâm với nó, và các thương gia trên đất đã trở nên giàu có nhờ sự xa hoa dư dật của nó. Khải Huyền 18:1-3.

Throughout the Scriptures a doubling of phrases or words represents the perfect fulfillment of the fall of Babylon in the last days. It is the signature of Alpha and Omega who always illustrates the end of a thing with the beginning of a thing. Babylon’s two falls are represented as Nimrod and Belshazzar. Nimrod was the beginning of Babylon, when it was simply Babel. Nimrod’s fall represented Belshazzar’s fall and the message of the second angel and the angel of Revelation eighteen is that the fall of Nimrod at the beginning of Babylon represented the fall of Belshazzar at the end, for Alpha and Omega always illustrates the end of a thing with the beginning of a thing

Xuyên suốt Kinh Thánh, việc lặp lại theo cặp các cụm từ hoặc từ ngữ biểu trưng cho sự ứng nghiệm trọn vẹn của sự sụp đổ của Ba-by-lôn trong những ngày sau rốt. Đó là dấu ấn của Alpha và Omega, Đấng luôn minh họa sự kết thúc của một điều bằng sự khởi đầu của điều ấy. Hai lần sụp đổ của Ba-by-lôn được biểu trưng bởi Nim-rốt và Bên-xát-sa. Nim-rốt là khởi đầu của Ba-by-lôn, khi nó chỉ là Ba-bên. Sự sụp đổ của Nim-rốt tượng trưng cho sự sụp đổ của Bên-xát-sa, và sứ điệp của thiên sứ thứ hai cùng thiên sứ trong Khải Huyền đoạn mười tám là rằng sự sụp đổ của Nim-rốt ở buổi đầu của Ba-by-lôn tượng trưng cho sự sụp đổ của Bên-xát-sa về cuối, vì Alpha và Omega luôn minh họa sự kết thúc của một điều bằng sự khởi đầu của điều ấy.

Nimrod’s tower was brought down as a symbol of his fall and he typified the fall of the Twin Towers on 9/11. Belshazzar’s fall was the writing on the wall, marking the end of Babylon’s seventy-year reign as the first kingdom of Bible prophecy, and thus typifying the fall of the United States at the end of Isaiah twenty-three’s symbolic “seventy years, according to the days of one king” representing the history of the United States from 1798 unto the Sunday law. Belshazzar’s writing on the wall, represents when the wall of separation of church and state falls at the Sunday law, which is the very point where the sixth kingdom of Bible prophecy ends, just as Belshazzar was slain on that very night. The handwriting on the wall is the law that is written that overturns the wall of separation of church and state in the Constitution.

Tháp của Nimrod bị đánh sập như một biểu tượng cho sự sụp đổ của ông, và ông là hình bóng cho sự sụp đổ của Tháp Đôi vào ngày 11/9. Sự sụp đổ của Belshazzar chính là dòng chữ trên tường, đánh dấu sự kết thúc của triều đại bảy mươi năm của Babylon với tư cách là vương quốc thứ nhất trong lời tiên tri Kinh Thánh, và qua đó tiêu biểu cho sự sụp đổ của Hoa Kỳ vào cuối giai đoạn "bảy mươi năm, theo số ngày của một vua" mang tính biểu tượng của Isaiah hai mươi ba, đại diện cho lịch sử của Hoa Kỳ từ năm 1798 cho đến đạo luật ngày Chủ nhật. Dòng chữ trên tường của Belshazzar tượng trưng cho thời điểm bức tường ngăn cách giữa giáo hội và nhà nước sụp đổ vào thời điểm đạo luật ngày Chủ nhật, và đó chính là điểm mà vương quốc thứ sáu trong lời tiên tri Kinh Thánh kết thúc, cũng như Belshazzar đã bị giết ngay đêm đó. Chữ viết trên tường chính là đạo luật được viết ra nhằm lật đổ bức tường ngăn cách giữa giáo hội và nhà nước trong Hiến pháp.

The ‘history’ represented from 9/11 unto the Sunday law and thereafter to the close of human probation and the seven last plagues is the historical period that is symbolized within God’s word by a doubling of phrases or words. In that period the Holy Spirit is poured out, beginning with a sprinkling from 9/11 unto the Sunday law and thereafter the full outpouring. The Holy Spirit has been represented by Christ as the “Comforter” who, when he came would show God’s people all things.

“Lịch sử” được trình bày từ 9/11 đến luật Chủ nhật, rồi sau đó đến sự kết thúc thời kỳ ân điển của loài người và bảy tai họa sau cùng, là giai đoạn lịch sử được tượng trưng trong Lời Đức Chúa Trời bằng sự nhân đôi các cụm từ hoặc từ. Trong giai đoạn đó, Đức Thánh Linh được tuôn đổ, bắt đầu bằng sự rưới xuống từ 9/11 đến luật Chủ nhật, rồi sau đó là sự tuôn đổ trọn vẹn. Đức Thánh Linh đã được Đấng Christ gọi là "Đấng An Ủi", Đấng khi Ngài đến sẽ bày tỏ mọi điều cho dân của Đức Chúa Trời.

But the Comforter, which is the Holy Ghost, whom the Father will send in my name, he shall teach you all things, and bring all things to your remembrance, whatsoever I have said unto you. John 14:26.

Nhưng Đấng An Ủi, là Chúa Thánh Thần, Đấng mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Người sẽ dạy anh em mọi điều và nhắc anh em nhớ lại tất cả những gì Thầy đã nói với anh em. Gioan 14:26.

The Holy Spirit is conveyed to the one hundred and forty-four thousand through the “golden oil,” which is also the “rain,” and is also the “Comforter.” When represented as the “Comforter” the Holy Spirit is identifying a special manifestation of the Holy Spirit.

Đức Thánh Linh được ban cho một trăm bốn mươi bốn nghìn qua “dầu vàng”, vốn cũng là “mưa”, và cũng là “Đấng An Ủi”. Khi được trình bày như “Đấng An Ủi”, Đức Thánh Linh đang nói đến một sự bày tỏ đặc biệt của chính Ngài.

God’s people have always possessed the Holy Spirit when they have met the requirements of the gospel, but the times of genuine sacred revival, “as in former years,” when a special manifestation of the Holy Spirit for a corporate body, the Holy Spirit is represented as the Comforter. More importantly the corporate body are having their memories’ exercised by the Comforter as he “brings all things to their “remembrance.” This confirms that those people participating in the manifestation have the genuine experience, for the Holy Spirit is participating in the activities of their minds, for he is influencing the thinking process as he brings “all things to your remembrance.”

Dân sự của Đức Chúa Trời luôn có Đức Thánh Linh khi họ đáp ứng các điều kiện của Tin Lành, nhưng trong những thời kỳ phục hưng thánh khiết chân thật, “như trong các năm trước,” khi có một sự bày tỏ đặc biệt của Đức Thánh Linh cho một tập thể, thì Đức Thánh Linh được trình bày như Đấng Yên Ủi. Quan trọng hơn, tập thể ấy đang được Đấng Yên Ủi vận dụng trí nhớ khi Ngài “nhắc họ nhớ lại mọi điều.” Điều này xác nhận rằng những người tham dự vào sự bày tỏ ấy có kinh nghiệm chân thật, vì Đức Thánh Linh đang tham gia vào các hoạt động của tâm trí họ, bởi Ngài đang ảnh hưởng đến quá trình suy nghĩ khi Ngài “nhắc cho các ngươi nhớ mọi điều.”

Human memory combines to make up the higher nature of man with the other components such as judgment, intelligence, reason and conscience, which the apostle Paul labels as “the mind.” The higher nature is either the carnal mind or it’s the mind of Christ.

Ký ức của con người, cùng với các yếu tố khác như óc phán đoán, trí tuệ, lý trí và lương tâm, kết hợp lại để cấu thành bản tính cao hơn của con người, mà sứ đồ Phao-lô gọi là “tâm trí”. Bản tính cao hơn ấy hoặc là tâm trí xác thịt, hoặc là tâm trí của Đấng Christ.

Because the carnal mind is enmity against God: for it is not subject to the law of God, neither indeed can be. Romans 8:7.

Vì tư tưởng xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời; nó không phục luật pháp của Đức Chúa Trời, lại cũng không thể. Rô-ma 8:7.

For who hath known the mind of the Lord, that he may instruct him? But we have the mind of Christ. 1 Corinthians 2:16.

Vì ai đã biết ý của Chúa để dạy dỗ Ngài? Nhưng chúng ta có ý của Đấng Christ. 1 Cô-rinh-tô 2:16.

The lower nature, or flesh is made up of the nervous, emotional, and hormonal systems associated with the senses which are the “avenues of the soul.” The higher nature is designed to rule over the lower and as such is represented as the fortress, and the fortress is constantly under attack from the senses (the lower nature), and the attacks are made against the fortress through the avenues that lead into the fortress. Within the fortress of the higher nature there is a command center, or what Sister White calls the citadel. The citadel is the Most Holy Place in the sanctuary, which is divided into two basic divisions. The courtyard is the flesh, or lower nature, and to come into the courtyard or also to transfer the blood into the holy place required passing through a curtain or veil. The courtyard is bookended by the veils.

Bản tính thấp hơn, hay xác thịt, được cấu thành bởi các hệ thống thần kinh, cảm xúc và nội tiết gắn liền với các giác quan, là những “ngả đường của linh hồn.” Bản tính cao hơn được định để cai trị bản tính thấp hơn và vì thế được ví như một thành trì; thành trì ấy liên tục bị các giác quan (tức bản tính thấp hơn) tấn công, và các đòn tấn công nhắm vào thành trì được thực hiện qua những ngả đường dẫn vào thành. Bên trong thành trì của bản tính cao hơn có một trung tâm chỉ huy, điều mà Bà White gọi là “thành nội.” “Thành nội” là Nơi Chí Thánh trong đền thánh, vốn được chia thành hai phần chính. Sân ngoài là xác thịt, hay bản tính thấp hơn, và để vào sân ngoài hoặc chuyển huyết vào Nơi Thánh thì phải đi qua một bức màn che. Sân ngoài được giới hạn ở hai đầu bởi các bức màn che.

By a new and living way, which he hath consecrated for us, through the veil, that is to say, his flesh. Hebrews 10:20.

Bởi một con đường mới và sống động mà Ngài đã thánh hiến cho chúng ta, qua bức màn, tức là thân thể Ngài. Hê-bơ-rơ 10:20.

The sanctuary is divided into two parts; the courtyard and sanctuary. The sanctuary in turn is divided into two parts as is the higher nature. The higher nature breaks down into two areas. One of those areas is represented as the holy place and the other the Most Holy Place. The holy place represents the mental activities necessary for humanity to function, but the Most Holy Place is the area where God and Man meet. The Most Holy Place is the throne room of God, and those who are converted are seated in heavenly places with Christ.

Đền thánh được chia thành hai phần: sân và điện thánh. Tương tự, điện thánh lại được chia làm hai phần, cũng như bản tính cao hơn. Bản tính cao hơn được phân thành hai phương diện. Một phương diện được biểu trưng bởi Nơi Thánh và phương diện kia là Nơi Chí Thánh. Nơi Thánh tượng trưng cho những hoạt động của tâm trí cần thiết để con người hoạt động, còn Nơi Chí Thánh là nơi Đức Chúa Trời và con người gặp gỡ. Nơi Chí Thánh là phòng ngai của Đức Chúa Trời, và những người đã được biến đổi được ngồi với Đấng Christ trong các nơi trên trời.

And hath raised us up together, and made us sit together in heavenly places in Christ Jesus. Ephesians 2:6.

Và Ngài đã làm cho chúng ta cùng sống lại, và khiến chúng ta cùng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Ê-phê-sô 2:6.

The verse is taken from a passage where several verses prior, but absolutely in the same flow of thought, Jesus is seated in heavenly places, just as are His people.

Câu này được trích từ một đoạn mà, ở vài câu trước đó nhưng vẫn hoàn toàn trong cùng mạch tư tưởng, có nói rằng Chúa Giê-xu ngự tại các nơi trên trời, cũng như dân sự của Ngài.

Which he wrought in Christ, when he raised him from the dead, and set him at his own right hand in the heavenly places. Ephesians 1:20.

Điều Ngài đã thực hiện trong Đấng Christ, khi Ngài khiến Người sống lại từ cõi chết và đặt Người ngồi bên hữu Ngài tại các nơi trên trời. Ê-phê-sô 1:20.

Christ and His people are seated together in the Most Holy Place. Christ was resurrected and then sat down in heavenly places and His people are raised up and seated in the throne room of the Most Holy Place. Paul identifies that those who are raised in verse six have been resurrected from sin in the previous verse.

Đấng Christ và dân sự Ngài cùng ngồi trong Nơi Chí Thánh. Đấng Christ đã sống lại rồi ngồi tại các nơi trên trời, và dân sự Ngài cũng được cất lên và ngồi trong phòng ngai của Nơi Chí Thánh. Phao-lô xác định rằng những người được cất lên ở câu sáu đã được làm cho sống lại khỏi tội lỗi ở câu liền trước.

Even when we were dead in sins, hath quickened us together with Christ, (by grace ye are saved) And hath raised us up together, and made us sit together in heavenly places in Christ Jesus. Ephesians 1:5, 6.

Ngay cả khi chúng ta còn chết trong tội lỗi, Ngài đã làm cho chúng ta cùng được sống với Đấng Christ (ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu) và khiến chúng ta cùng sống lại, và cho chúng ta cùng ngồi ở các nơi trên trời trong Đấng Christ Giê-xu. Ê-phê-sô 1:5, 6.

The perfect fulfillment of the passage from Ephesians are the two witnesses of Revelation eleven, eleven who are resurrected and then taken up into heaven as an ensign—but also to be seated in heavenly places. In the Most Holy Place the two witnesses are representing humanity in the very presence of God, and their justification for being seated there is the badge which they each possess. That badge is the seal of God, and the seal of God represents that the human has become one with the divine, and that seal is represented by the fact that the Comforter, who is the Holy Spirit is abiding within the Most Holy Place of ‘their’ higher nature. The Most Holy Place is the throne room of God where divine and human are combined, and it represents the human temple whose higher nature includes a Most Holy Place where both divinity and humanity are seated together.

Sự ứng nghiệm trọn vẹn của đoạn trong Ê-phê-sô là hai nhân chứng của Khải Huyền mười một, mười một, những người được sống lại và rồi được cất lên trời như một cờ hiệu—nhưng cũng để được ngồi ở các nơi trên trời. Trong Nơi Chí Thánh, hai nhân chứng đại diện cho nhân loại ngay trước mặt Đức Chúa Trời, và sự biện minh cho việc họ được ngồi tại đó là huy hiệu mà mỗi người mang. Huy hiệu ấy là ấn của Đức Chúa Trời, và ấn của Đức Chúa Trời biểu thị rằng con người đã trở nên một với thần tính, và ấn ấy được thể hiện bởi việc Đấng An Ủi, tức là Đức Thánh Linh, đang ngự trong Nơi Chí Thánh của bản tính cao hơn ‘của họ’. Nơi Chí Thánh là phòng ngai của Đức Chúa Trời, nơi thần tính và nhân tính được kết hợp, và nó tượng trưng cho đền thờ của con người, mà bản tính cao hơn của đền thờ ấy bao gồm một Nơi Chí Thánh, nơi cả thần tính lẫn nhân tính cùng ngồi với nhau.

The outpouring of the “Comforter” is the sealing of the one hundred and forty-four thousand and it marks a change in salvational history, for at that time, the church changes from the church militant to the church triumphant. At that time, it changes from the Laodicean movement of the one hundred and forty-four thousand unto the Philadelphian movement of the one hundred and forty-four thousand. At that time, it changes from the experience of the seventh church unto the experience of the sixth church and the sixth church was the Millerites. A prophetic characteristic of the sixth church of Philadelphia as it was fulfilled by the Millerite movement, is that it was never a church. It was only a movement all the way to 1856 when both of the Whites identified the movement as Laodicean. Seven years later the legal church was formed.

Sự đổ xuống của “Đấng Yên Ủi” là sự ấn chứng của một trăm bốn mươi bốn nghìn và nó đánh dấu một sự thay đổi trong lịch sử cứu rỗi, vì vào thời điểm ấy, Hội thánh chuyển từ Hội thánh chiến đấu sang Hội thánh khải hoàn. Khi ấy, phong trào La-ô-đi-xê của 144.000 chuyển sang phong trào Phi-la-đen-phi của 144.000. Khi ấy, nó chuyển từ kinh nghiệm của Hội thánh thứ bảy sang kinh nghiệm của Hội thánh thứ sáu, và Hội thánh thứ sáu là phong trào Miller. Một đặc điểm tiên tri của Hội thánh thứ sáu, tức Phi-la-đen-phi, như đã được ứng nghiệm nơi phong trào Miller, là nó chưa bao giờ là một hội thánh. Nó chỉ là một phong trào cho đến tận năm 1856, khi cả hai vợ chồng White xác định phong trào ấy là La-ô-đi-xê. Bảy năm sau, Hội thánh chính thức được thành lập.

The salvational change at the Sunday law was typified by the salvational change at Pentecost which marked the inauguration of Christ as High Priest.

Sự thay đổi mang tính cứu rỗi tại thời điểm luật ngày Chủ nhật đã được tiêu biểu bởi sự thay đổi mang tính cứu rỗi tại Lễ Ngũ Tuần, sự kiện đánh dấu sự tấn phong Đấng Christ làm Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm.

“The Pentecostal outpouring was Heaven’s communication that the Redeemer’s inauguration was accomplished. According to His promise He had sent the Holy Spirit from heaven to His followers as a token that He had, as priest and king, received all authority in heaven and on earth, and was the Anointed One over His people.” Acts of the Apostles, 38.

“Sự tuôn đổ trong kỳ Lễ Ngũ Tuần là thông điệp từ Trời cho biết rằng lễ tấn phong của Đấng Cứu Chuộc đã hoàn tất. Theo lời hứa của Ngài, Ngài đã sai Đức Thánh Linh từ trời đến với những người theo Ngài như một dấu chứng rằng Ngài, với tư cách là thầy tế lễ và vua, đã nhận lãnh mọi quyền phép trên trời và dưới đất, và là Đấng Được Xức Dầu trên dân sự của Ngài.” Công Vụ Các Sứ Đồ, 38.

When the latter rain is poured out without measure upon the one hundred and forty-four thousand at the Sunday law it will be “Heaven’s communication” that the church militant has ended and the church triumphant has arrived. The inauguration of Christ at Pentecost in the sanctuary above, typifies the anointing of the one hundred and forty-four thousand at the Sunday law.

Khi mưa muộn được tuôn đổ không hạn độ trên một trăm bốn mươi bốn ngàn vào thời điểm Luật Chủ nhật, đó sẽ là "thông điệp của Thiên đàng" rằng Hội thánh chiến đấu đã kết thúc và Hội thánh khải hoàn đã đến. Sự tấn phong của Đấng Christ trong đền thánh trên trời vào Lễ Ngũ Tuần là hình bóng cho sự xức dầu của một trăm bốn mươi bốn ngàn vào thời điểm Luật Chủ nhật.

The “Pentecostal” outpouring identifying that Christ was the Anointed One represented His anointing in the inaugural ceremony in heaven, but He had also been anointed at His baptism. His baptism (9/11) unto Pentecost (the Sunday law) is also represented again three and a half years after His baptism by His actual death, burial and resurrection (feast of first fruits). 9/11 is therefore represented at His baptism and also at His resurrection. His symbolic resurrection and his literal resurrection mark the beginning of two prophetic lines that each end at Pentecost. Both histories begin with the resurrection of the first fruit offering.

Sự tuôn đổ “Ngũ Tuần” xác nhận rằng Đấng Christ là Đấng được xức dầu, tượng trưng cho sự xức dầu của Ngài trong lễ khai mạc trên trời, nhưng Ngài cũng đã được xức dầu khi chịu báp-têm. Từ phép báp-têm của Ngài (9/11) đến Lễ Ngũ Tuần (luật ngày Chủ nhật) cũng được biểu trưng lại ba năm rưỡi sau phép báp-têm của Ngài bởi sự chết, chôn và sống lại thực sự của Ngài (lễ trái đầu mùa). Vì vậy, 9/11 được tượng trưng tại phép báp-têm của Ngài và cũng tại sự sống lại của Ngài. Sự sống lại mang tính biểu tượng của Ngài và sự sống lại theo nghĩa đen của Ngài đánh dấu sự khởi đầu của hai dòng tiên tri, mỗi dòng đều kết thúc tại Lễ Ngũ Tuần. Cả hai lịch sử đều bắt đầu với sự sống lại của của lễ trái đầu mùa.

But now is Christ risen from the dead, and become the firstfruits of them that slept. For since by man came death, by man came also the resurrection of the dead. For as in Adam all die, even so in Christ shall all be made alive. But every man in his own order: Christ the firstfruits; afterward they that are Christ’s at his coming. 1 Corinthians 15:20–23.

Nhưng bây giờ Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết và trở nên trái đầu mùa của những kẻ đã ngủ. Vì bởi một người mà sự chết đến, thì cũng bởi một người mà sự sống lại của kẻ chết đến. Vì như trong A-đam mọi người đều chết, thì cũng vậy, trong Đấng Christ mọi người đều sẽ được sống lại. Nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi đến những kẻ thuộc về Đấng Christ khi Ngài đến. 1 Cô-rinh-tô 15:20-23.

Christ is the first fruit offering at His resurrection marking the beginning of the “Pentecostal season” which ends with the first fruit offering of Pentecost. Christ’s resurrection is barley and the wheat are those who “afterward” “are Christ’s at his coming.” Those who are “afterward” of Christ’s resurrection are “they that are Christ’s at his coming,” thus representing the final ingathering of faithful souls at the end of the world, as represented by those three thousand souls that were gathered at Pentecost.

Đấng Christ là của lễ trái đầu mùa tại sự phục sinh của Ngài, đánh dấu khởi đầu của “mùa Ngũ Tuần”, kết thúc với lễ dâng trái đầu mùa của Lễ Ngũ Tuần. Sự phục sinh của Đấng Christ là lúa mạch, còn lúa mì là những người “về sau” “thuộc về Đấng Christ khi Ngài đến.” Những người “về sau” của sự phục sinh của Đấng Christ chính là “những người thuộc về Đấng Christ khi Ngài đến,” qua đó tượng trưng cho mùa gặt cuối cùng của các linh hồn trung tín vào cuối thế gian, như được minh họa bởi ba nghìn linh hồn đã được quy tụ trong ngày Lễ Ngũ Tuần.

The verse also addresses the resurrection in terms of death. Death began with Adam and passes upon all men, but it does so “in” “order.” In the book of Acts Peter records that when the book of Joel was then being fulfilled, men were to send their sins beforehand to judgment that they might be blotted out, when the times of refreshing came from the presence of the Comforter. Christ was not looking at the books of judgment to blot out sin at that time, for judgment was over eighteen hundred years in the future.

Câu này cũng đề cập đến sự phục sinh xét trong tương quan với sự chết. Sự chết bắt đầu với A-đam và truyền cho tất cả mọi người, nhưng nó xảy ra “theo” “trật tự”. Trong sách Công Vụ, Phi-e-rơ ghi lại rằng khi sách Giô-ên lúc bấy giờ đang được ứng nghiệm, người ta phải đem tội lỗi mình đến trước cho sự phán xét để chúng được xóa sạch, khi những thời kỳ tươi mới đến từ sự hiện diện của Đấng An Ủi. Khi ấy Đấng Christ không nhìn vào các sách phán xét để xóa tội, vì sự phán xét còn hơn một nghìn tám trăm năm nữa mới đến.

The reference to “every man in his order” begins with Adam, and thus identifies the judgment of the dead from Adam onward until the times of refreshing arrive. When the latter rain arrives, the judgment passes from the dead unto the living. In the period of time represented by the verse (from Christ’s resurrection unto Pentecost), from the barley first fruits until the first fruits of the wheat, the rain is falling during the judgment of the living and as the rain falls, the message represented by the rain is separating the wheat from the tares. At the Sunday law, which is Pentecost, the wheat no longer is mixed with tares and the first fruit wheat offering of two wave loaves is lifted up. The purification process from 9/11 unto the Sunday law is also represented in Malachi three when the Messenger of the Covenant purifies and also purges the Levites and He does so by “fire.” “Fire” is a symbol of a message as represented by tongues of fire at Pentecost. In the history under consideration the separation of the two classes which produces the one hundred and forty-four thousand who are the two wave loaves represented by the first fruits of Pentecost were to be thoroughly baked, for they were the only offering that included an emblem of sin.

Sự nhắc đến "mỗi người theo thứ tự của mình" bắt đầu với A-đam, và do đó xác định sự phán xét kẻ chết từ A-đam trở đi cho đến khi thời kỳ tươi mới đến. Khi mưa muộn đến, sự phán xét chuyển từ kẻ chết sang người sống. Trong khoảng thời gian được câu Kinh Thánh ấy biểu trưng (từ sự phục sinh của Đấng Christ cho đến Lễ Ngũ Tuần), từ lễ đầu mùa của lúa mạch cho đến lễ đầu mùa của lúa mì, mưa đang rơi trong thời kỳ phán xét người sống, và khi mưa rơi, sứ điệp được tượng trưng bởi mưa đang tách lúa mì khỏi cỏ lùng. Tại luật Chủ nhật, tức là Lễ Ngũ Tuần, lúa mì không còn lẫn với cỏ lùng nữa và của lễ đầu mùa lúa mì gồm hai ổ bánh dâng đưa qua đưa lại được dâng lên. Tiến trình thanh tẩy từ 9/11 cho đến luật Chủ nhật cũng được trình bày trong Ma-la-chi đoạn ba, khi Sứ giả của Giao ước làm tinh sạch và cũng tẩy luyện người Lê-vi, và Ngài làm như vậy bằng "lửa." "Lửa" là một biểu tượng của một sứ điệp, như được biểu hiện bởi những lưỡi lửa tại Lễ Ngũ Tuần. Trong bối cảnh lịch sử đang được xem xét, sự phân rẽ của hai hạng người, vốn sản sinh ra một trăm bốn mươi bốn ngàn người—là hai ổ bánh dâng đưa qua đưa lại được tượng trưng bởi lễ đầu mùa của Lễ Ngũ Tuần—phải được nướng chín kỹ, vì đó là của lễ duy nhất bao gồm một biểu tượng của tội lỗi.

Those two wave loaves were leavened, and leaven is a symbol of sin. That leaven was destroyed in the fire of the oven, as represented by the refiner’s fire of the Messenger of the Covenant. Isaiah in chapter twenty-seven identifies a debate that begins at 9/11, which he calls “the day of the east wind.” The passage teaches that it is through the debate that the sins of Israel are atoned for. The “debate” is between the true latter rain message and all the other false latter rain messages that exist. A message is “fire,” and “fire” is what the Messenger of the Covenant employs to purify and purge. The debate over the latter rain message removes the leaven from the Pentecostal first fruit wheat offering that is lifted up at the Sunday law. The one hundred and forty-four thousand are the Pentecostal first fruit wheat offering, who overcome by the justification of His blood and the sanctification of their testimony for even though it is the Word that sanctifies it only does so when the word is conveyed as a message. The presentation of the message allows the one hundred and forty-four thousand to live and the presentation of a false latter rain message produces death.

Hai ổ bánh của lễ dâng lắc ấy đã có men, và men là biểu tượng của tội lỗi. Men ấy đã bị tiêu hủy trong lửa của lò, như được biểu trưng bởi lửa luyện lọc của Sứ Giả Giao Ước. Ê-sai trong chương hai mươi bảy xác định một cuộc tranh luận bắt đầu vào 9/11, mà ông gọi là "ngày của gió đông." Đoạn ấy dạy rằng chính qua cuộc tranh luận ấy mà tội lỗi của Y-sơ-ra-ên được chuộc tội. Cuộc "tranh luận" là giữa sứ điệp mưa muộn chân thật và tất cả các sứ điệp mưa muộn giả khác đang tồn tại. Một sứ điệp là "lửa", và "lửa" là điều Sứ Giả Giao Ước dùng để thanh luyện và tẩy sạch. Cuộc tranh luận về sứ điệp mưa muộn loại bỏ men khỏi lễ dâng lúa mì đầu mùa của Lễ Ngũ Tuần, được giơ lên khi luật Chủ nhật được áp đặt. Một trăm bốn mươi bốn nghìn là lễ dâng lúa mì đầu mùa của Lễ Ngũ Tuần, những người chiến thắng nhờ sự xưng công chính bởi huyết Ngài và sự thánh hóa của lời chứng họ, vì dẫu chính Lời mới thánh hóa, Lời chỉ làm điều ấy khi Lời được truyền đạt như một sứ điệp. Việc trình bày sứ điệp khiến một trăm bốn mươi bốn nghìn được sống, còn việc trình bày một sứ điệp mưa muộn giả thì đưa đến sự chết.

And they overcame him by the blood of the Lamb, and by the word of their testimony; and they loved not their lives unto the death. Revelation 12:11.

Và họ đã thắng nó nhờ huyết Chiên Con và nhờ lời chứng của họ; họ chẳng tiếc mạng sống mình cho đến chết. Khải Huyền 12:11.

The one hundred and forty-four thousand follow Christ in overcoming as He overcame, for prophetically they follow Christ.

Một trăm bốn mươi bốn nghìn người noi gương Đấng Christ để đắc thắng như Ngài đã đắc thắng, vì về phương diện tiên tri họ theo Đấng Christ.

These are they which were not defiled with women; for they are virgins. These are they which follow the Lamb whithersoever he goeth. These were redeemed from among men, being the firstfruits unto God and to the Lamb. Revelation 14:4.

Ấy là những người không bị ô uế bởi phụ nữ; vì họ là những người đồng trinh. Ấy là những người theo Chiên Con; hễ Ngài đi đâu thì họ theo đó. Họ đã được chuộc từ giữa loài người, là trái đầu mùa dâng cho Đức Chúa Trời và cho Chiên Con. Khải Huyền 14:4.

Here in verse four of Revelation fourteen the one hundred and forty-four thousand are identified as “first fruits.” They are also identified as “virgins” and inspiration has informed us that the parable of the ten virgins of Matthew twenty-five illustrates the experience of the Adventist people. Not only are they “virgins” they are not “defiled with woman,” for the testing and separation process that produced the one hundred and forty-four thousand produced a distinction between the one hundred and forty-four thousand and “all” the false religions. “These” follow the Lamb whithersoever he goeth, and as first fruit offerings they must follow Christ in His death, burial and resurrection.

Tại đây, trong câu bốn của Khải Huyền chương mười bốn, một trăm bốn mươi bốn ngàn được gọi là "trái đầu mùa." Họ cũng được mô tả là "đồng trinh," và sự soi dẫn cho chúng ta biết rằng dụ ngôn mười người nữ đồng trinh trong Ma-thi-ơ hai mươi lăm minh họa kinh nghiệm của dân sự Phục Lâm. Không những họ là "đồng trinh" họ còn "không bị ô uế với đàn bà," vì tiến trình thử nghiệm và phân rẽ dẫn đến sự hình thành một trăm bốn mươi bốn ngàn đã tạo nên sự phân biệt giữa một trăm bốn mươi bốn ngàn và "mọi" tôn giáo giả dối. "Những người này" theo Chiên Con đi đâu thì họ theo đó, và là của lễ đầu mùa, họ phải theo Đấng Christ trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài.

In Revelation chapter eleven, verse eleven the two witnesses that are to be lifted up as an ensign are first killed, then in three and a half days they are resurrected as a first fruit offering, as was Christ. The first fruit offering that was and is Christ, included the blood of the covenant being shed in order to redeem those who had been bankrupt with a Laodicean experience. In one verse, (verse four) all this brief summary of the various lines of prophetic light associated with the one hundred and forty-four thousand is set forth. And it is set forth in Revelation 144 by the hand of Palmoni, the wonderful numberer. A doubling in Scripture represents the history of the latter rain and the latter rain is where and when the Comforter is poured out upon God’s people.

Trong Sách Khải Huyền chương mười một, câu mười một, hai nhân chứng, là những người sẽ được giương lên như một cờ hiệu, trước hết bị giết; rồi sau ba ngày rưỡi họ được sống lại như một lễ dâng trái đầu mùa, như Đấng Christ. Của lễ trái đầu mùa, vốn đã là và hiện là Đấng Christ, bao gồm việc huyết của giao ước được đổ ra để chuộc những người đã lâm vào cảnh phá sản với kinh nghiệm La-ô-đi-xê. Chỉ trong một câu (câu bốn), tất cả bản tóm lược ngắn gọn này về các dòng ánh sáng tiên tri khác nhau gắn với một trăm bốn mươi bốn ngàn được trình bày. Và điều đó được trình bày trong Khải Huyền 144 bởi tay của Palmoni, Đấng định số diệu kỳ. Sự nhân đôi trong Kinh Thánh tượng trưng cho lịch sử của mưa rào mùa sau, và mưa rào mùa sau là nơi và thời điểm Đấng Yên Ủi được đổ xuống trên dân sự của Đức Chúa Trời.

How beautiful upon the mountains are the feet of him that bringeth good tidings, that publisheth peace; that bringeth good tidings of good, that publisheth salvation; that saith unto Zion, Thy God reigneth! Thy watchmen shall lift up the voice; with the voice together shall they sing: for they shall see eye to eye, when the Lord shall bring again Zion. Break forth into joy, sing together, ye waste places of Jerusalem: for the Lord hath comforted his people, he hath redeemed Jerusalem. The Lord hath made bare his holy arm in the eyes of all the nations; and all the ends of the earth shall see the salvation of our God. Depart ye, depart ye, go ye out from thence, touch no unclean thing; go ye out of the midst of her; be ye clean, that bear the vessels of the Lord. Isaiah 52:7–11.

Đẹp thay trên các núi là chân kẻ rao truyền tin mừng, công bố bình an; kẻ rao tin tốt lành, công bố sự cứu rỗi; nói với Si-ôn rằng: Đức Chúa Trời của ngươi trị vì! Những người canh của ngươi sẽ cất tiếng; đồng thanh họ sẽ hát, vì họ sẽ thấy tận mắt khi Chúa phục hồi Si-ôn. Hỡi các nơi hoang phế của Giê-ru-sa-lem, hãy bừng vui, hãy cùng nhau hát mừng; vì Chúa đã yên ủi dân Ngài, Ngài đã chuộc Giê-ru-sa-lem. Chúa đã bày tỏ cánh tay thánh của Ngài trước mắt muôn dân; khắp cùng bờ cõi đất sẽ thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng ta. Hãy đi ra, hãy đi ra, ra khỏi đó; đừng đụng đến vật ô uế; hãy ra khỏi giữa nó; hỡi những người khiêng đồ thánh của Chúa, hãy giữ mình thanh sạch. Ê-sai 52:7-11.

Zion H6726 is the same as H6725 which means “the sense of conspicuousness; a monumental or guiding pillar: – sign, title, waymark.” Zion is a symbol of the ensign of the one hundred and forty-four thousand and in the passage they have already received the latter rain for they have already published and presented the good tidings of peace. Just as specific to that fact is that they see “eye to eye” which represents the disciples at Pentecost, for the ten days prior to Pentecost represents a period of unification. The Lord “hath,” (representing past tense) has already accomplished three things for those who bring good tidings. He hath “comforted his people,” “redeemed Jerusalem” and “made bare his holy arm in the eyes of all the nations.”

Si-ôn H6726 trùng với H6725, có nghĩa là “ý niệm về tính nổi bật; một cột mốc tưởng niệm hoặc cột chỉ đường: dấu hiệu, tựa đề, mốc chỉ đường.” Si-ôn là biểu tượng cho hiệu kỳ của một trăm bốn mươi bốn nghìn người, và trong đoạn văn này họ đã nhận được mưa cuối mùa vì họ đã công bố và rao truyền tin mừng về sự bình an. Một chi tiết xác nhận cho thực tế ấy là họ nhìn “mắt đối mắt”, điều này tượng trưng cho các môn đồ tại Lễ Ngũ Tuần, vì mười ngày trước Lễ Ngũ Tuần tượng trưng cho một thời kỳ hiệp nhất. Chúa “đã” (biểu thị thì quá khứ) đã hoàn thành ba điều cho những người đem tin mừng. Ngài đã “an ủi dân Ngài,” “chuộc lại Giê-ru-sa-lem” và “bày trần cánh tay thánh của Ngài trước mắt muôn dân.”

He “comforted” His people at 9/11, marking the beginning of a testing process of Malachi chapter three that concludes at the Sunday law when He lifts up the ensign of the first fruit offerings as represented by making “bare his holy arm in the eyes of all the nations.” He comforts, redeems and lifts up the one hundred and forty-four thousand. At 9/11 He comforts and begins the purification process where He redeems His people and then lifts them up as an ensign, or as Malachi says “the offering of Judah and Jerusalem be pleasant” “as in days of old.”

Ngài đã “an ủi” dân Ngài vào 11/9, đánh dấu sự khởi đầu của một tiến trình thử luyện trong Ma-la-chi chương 3, tiến trình kết thúc khi luật ngày Chủ nhật được ban hành, lúc Ngài giương cao tiêu kỳ của các của lễ đầu mùa, được biểu thị bằng việc “trần cánh tay thánh của Ngài trước mắt muôn dân.” Ngài an ủi, cứu chuộc và nâng lên một trăm bốn mươi bốn ngàn. Vào 11/9, Ngài an ủi và khởi đầu tiến trình thanh tẩy, trong đó Ngài cứu chuộc dân Ngài rồi nâng họ lên như một tiêu kỳ, hoặc như Ma-la-chi nói: “của lễ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ được đẹp lòng” “như thuở xưa.”

And he shall sit as a refiner and purifier of silver: and he shall purify the sons of Levi, and purge them as gold and silver, that they may offer unto the Lord an offering in righteousness. Then shall the offering of Judah and Jerusalem be pleasant unto the Lord, as in the days of old, and as in former years. Malachi 3:3, 4.

Ngài sẽ ngồi như một người tinh luyện và thanh tẩy bạc; Ngài sẽ thanh tẩy các con trai của Lê-vi, và tinh luyện họ như vàng và bạc, để họ dâng lên Chúa một lễ vật trong sự công chính. Bấy giờ lễ vật của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem sẽ đẹp lòng Chúa, như trong những ngày xưa, và như trong những năm trước. Ma-la-chi 3:3, 4.

We will bring our considerations of “how long” to a conclusion in the next article.

Chúng tôi sẽ khép lại các cân nhắc về "bao lâu" trong bài viết tiếp theo.

“‘Whose fan is in His hand, and He will throughly purge His floor, and gather His wheat into the garner.’ Matthew 3:12. This was one of the times of purging. By the words of truth, the chaff was being separated from the wheat. Because they were too vain and self-righteous to receive reproof, too world-loving to accept a life of humility, many turned away from Jesus. Many are still doing the same thing. Souls are tested today as were those disciples in the synagogue at Capernaum. When truth is brought home to the heart, they see that their lives are not in accordance with the will of God. They see the need of an entire change in themselves; but they are not willing to take up the self-denying work. Therefore they are angry when their sins are discovered. They go away offended, even as the disciples left Jesus, murmuring, ‘This is an hard saying; who can hear it?’” The Desire of Ages, 392.

"'Cái nia ở trong tay Ngài, Ngài sẽ dọn sạch sân lúa Ngài, và thu lúa mình vào lẫm.' Ma-thi-ơ 3:12. Đây là một trong những thời kỳ sàng sảy. Qua lời của lẽ thật, trấu đang được tách khỏi lúa. Vì họ quá phù phiếm và tự cho mình là công chính để nhận lời quở trách, quá yêu thế gian để chấp nhận một đời sống khiêm nhường, nhiều người đã quay lưng khỏi Chúa Giê-su. Nhiều người vẫn đang làm như thế. Các linh hồn hôm nay cũng được thử thách như các môn đồ trong hội đường tại Capernaum. Khi lẽ thật chạm đến tấm lòng, họ thấy đời sống mình không phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ thấy cần có một sự thay đổi toàn diện nơi chính mình; nhưng họ không sẵn lòng chấp nhận đời sống tự bỏ mình. Bởi vậy họ giận dữ khi tội lỗi mình bị phơi bày. Họ phật ý bỏ đi, cũng như các môn đồ đã lìa bỏ Chúa Giê-su, lẩm bẩm: 'Lời này thật khó; ai nghe được?'" Khát vọng của các thời đại, 392.